1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá một số mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh phú yên

87 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng là giải pháp lâm sinh quan trọng nhằm phục hồi và phát triển vốn rừng tự nhiên đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng ở

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VÕ ĐẠI HẢI

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) thì Việt Nam nằm trong tốp 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu và khi mực nước biển tăng 1m ở Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội GDP Để ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2008 - 2020, trong đó việc bảo vệ và phát triển hệ thống rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Phú Yên là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, toàn bộ ranh giới phía Đông giáp biển Đông Diện tích đồi núi chiếm 70% diện tích toàn tỉnh, địa hình dốc từ Tây sang Đông và bị chia cắt mạnh Vùng đồi núi chạy dọc ven biển tỉnh Phú Yên có vai trò rất quan trong trong việc phòng

hộ môi trường, đặc biệt là chắn gió, bão, giảm thiểu hạn hán, bảo vệ đất và điều tiết nguồn nước ngọt cho cư dân sống ven biển Mặc dù đây là vùng phân bố dân cư không lớn nhưng lại được xem như một vành đai phòng hộ trọng yếu cho khu vực phía trong đất liền vì địa hình khu vực này cao hơn nhiều so với vùng cát nên gió, bão rất mạnh Hiện nay, phần lớn những diện tích vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên đều là trạng thái đất trống, đồi núi trọc đã mất rừng lâu ngày, đất đã bị thoái hóa và xuống cấp nghiêm trọng, mô ̣t số ít diê ̣n tích đã được trồng rừng Keo và Ba ̣ch đàn để che phủ đất Chính vì lý do đó, tỉnh Phú Yên là một trong những địa phương được Chính Phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quan tâm, chỉ đạo sát sao trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng

Trong các giải pháp phục hồi rừng thì khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung được xem là giải pháp lâm sinh rất quan trọng, rẻ tiền và mang lại hiệu quả cao trong phục hồi rừng đặc biệt là đối tượng rừng thứ sinh nghèo kiệt

Phú Yên cũng là một trong bốn tỉnh triển khai Dự án KFW6 - Dự án “Khôi phục

Trang 3

rừng và quản lý rừng bền vững ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên” Dự án KFW6 đã được triển khai từ năm 2006 trên diện tích rừng tự nhiên

vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên tại 1 thị xã và 2 huyện là Thị xã Sông Cầu, Huyện Tuy An và Huyện Đồng Xuân Dự án KFW6 đã đạt được một số kết quả nhất định, theo số liệu thống kê của Dự án cho thấy từ khi triển khai năm 2006 đến năm 2012 tổng diện tích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh đã đạt 1180,35 ha, tổng diện tích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung đạt 505,34 ha Hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng trong các mô hình và cơ cấu loài cây trồng

bổ sung trong các mô hình là các loài Sao đen, Dầu rái, Mây nếp, Lim xanh với các mật độ trồng bổ sung là 500 cây/ha và 1000 cây/ha

Tuy nhiên, hiệu quả phục hồi rừng bằng giải pháp khoanh nuôi phục hồi rừng lại phụ thuộc vào rất nhiều những yếu tố khác nhau như: lập địa, hiện trạng rừng đưa vào khoanh nuôi, biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng, thời gian khoanh nuôi phục hồi rừng,… Việc đánh giá được hiện trạng và hiệu quả phục hổi rừng của các mô hình là việc hết sức cấp thiết để góp phần làm cơ sở khoa học lựa chọn các mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng có hiệu quả hơn Xuất phát từ những

nhu cầu thực tiễn đó, Đề tài: “Đánh giá một số mô hình khoanh nuôi phục hồi

rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên” đặt ra là hết sức cần thiết Đây

là một vấn đề cần thiết khách quan, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn trong công cuộc bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên nói riêng

và vùng Nam Trung bộ nói chung

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo ITTO (2002), phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là quá trình thúc đẩy diễn thế đi lên của hệ sinh thái rừng, nâng cao mức độ đa dạng sinh học, điều chỉnh cấu trúc, sản lượng của chúng thông qua việc bảo vệ không tác động hoặc sử dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như: xúc tiến tái sinh; xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, làm giàu rừng

David Lam (2003) đã phân tích quan điểm về phục hồi rừng qua sơ đồ:

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình phục hồi rừng (David Lamb, 2003)

A: Giai đoạn nguyên sinh B,C: Giai đoạn suy thoái

Theo David Lamb quá trình phục hồi rừng có thể đưa cấu trúc và sản lượng của hệ sinh thái tương đương với hệ sinh thái nguyên thủy Tuy nhiên, mức độ đa dạng sinh học của chúng không thể đạt được mức độ đó (điểm E) Cùng với thời gian, một hệ sinh thái mới (tại điểm D và E) có thể đưa số lượng các loài cây hướng tới điểm A dưới ảnh hưởng của sự xâm nhập của một số loài từ lâm phần lân cận Như vậy, để xúc tiến quá trình phục hồi rừng con người có thể sử dụng các biện pháp kỹ thuật tác động thông qua xúc tiến tái sinh cũng như xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung hoặc nuôi dưỡng rừng (dẫn theo Phan Thị Hồng Nhung, 2010) [26]

Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu

ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) với diện tích ô đo đếm thông thường từ

1 đến 4 m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải

Cấu trúc

Và sản lượng của

hệ sinh thái

Đa dạng sinh học

Trang 5

đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai số trong khi thống

kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) [51] đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân

bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbread, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969 [48]) Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định

Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến

đổi Van steenis (1956) [50] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng

mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng

Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng

Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961, 1963) [51] với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1964) [2] tổng kết trong tác phẩm:

Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa

Trang 6

Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú

ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít

có phân bố Poisson ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế,

do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [8]

Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G.N (1962) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng

và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều

và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy

H Lamprecht (1989) [45] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong

suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.D.yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7

Trang 7

Katherin Wamer, (1991), [43] có những nghiên cứu các kỹ thuật bản địa về canh tác nương rẫy ở các nước nhiệt đới Trên cơ sở đó ông đã đề ra một số giải pháp phục hồi và quản lý rừng ở một số nước nhiệt đới (dẫn theo Nguyễn Quốc Dựng, 2005) [12]

Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của

quần thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [34]

Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng

đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973)

(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [34]

Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lý

Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà

nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban,

2000) [1] Kết quả nghiên cứu của các tác giả Lambert et al (1989), Warner (1991), Rouw (1991) [45] đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: đầu tiên đám

Trang 8

nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thụ các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con Những loài cây gỗ tiên phong chết đi sau 5-10 năm và được thay thế dần bằng các loài cây rừng mọc chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển thành loại hình rừng gần với dạng nguyên sinh ban đầu

Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy từ 1-20 năm ở vùng Tây Bắc ấn Độ, Ramakrishnan (1981, 1992) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ

hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng là giải pháp lâm sinh quan trọng nhằm phục hồi và phát triển vốn rừng tự nhiên đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng ở nước ta Chính vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên (có thể cả một số loại rừng trồng) được các nhà nghiên cứu ở trong nước quan tâm thực hiện, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu cơ bản sau: Khi nghiên cứu về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc đã được Vũ Đình Huề (1975) [22] tổng kết trong báo cáo khoa học: “Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam” Theo báo cáo này, tái sinh rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam cũng mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm kém giá trị Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố

số cây không đều trên mặt đất rừng Từ đó tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta Như vậy, việc phục hồi rừng bằng giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là hoàn toàn có triển vọng

Trang 9

Với tác giả Vũ Tiến Hinh (1991), (2006) [19], [20] khi nghiên cứu về đặc điểm của rừng tự nhiên đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng

và ý nghĩa của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng Từ kết quả đó tác giả cũng đề xuất các loại biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên và tác giả có đưa ra đề nghị: do khó nhận biết tên cây của tầng tái sinh nên có thể sử dụng quan hệ giữa hệ

số tổ thành tầng tái sinh và tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái sinh

Trần Đình Lý (1995) [25] đã nghiên cứu xác định diện tích và hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng Qua đó tác giả đã làm sáng tỏ khái niệm khoanh nuôi phục hồi rừng, xác định đối tượng cụ thể, thời gian

và tiêu chuẩn rừng sau khoanh nuôi, nội dung công việc cần tiến hành trong quá trình khoanh nuôi và tác giả đã xây dựng được bản quy phạm cho khoanh nuôi phục hồi rừng

Lâm Phúc Cố (1995) [10] khi nghiên cứu về mô hình phục hồi rừng sau nương rẫy ở Lâm trường Púng Luông, Mù Căng Chải, Yên Bái, có kết luận là, phục hồi rừng bằng khoanh nuôi có hiệu quả nhất trong việc tạo rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà ở Púng Luông Việc bổ sung một phần những cây mới có chất lượng

để tạo ra một lâm phần gồm những cây gỗ lớn chiếm ưu thế rút ngắn được thời gian diễn thế, nâng cao giá trị rừng khoanh nuôi về phòng hộ đầu nguồn và kinh tế

Phó Đức Đỉnh (1995) [14], khi nghiên cứu xúc tiến tái sinh tự nhiên rừng Thông ba lá ở Lâm trường Đà Lạt – Lâm Đồng, đã tiến hành phân chia rừng Thông

ba lá tại khu vực nghiên cứu thành 5 loại hình xúc tiến tái sinh tự nhiên và xây dựng các biện pháp kỹ thuật cho 5 loại hình này

Trương Hồ Tố (1996) [38] khi nghiên cứu về cấu trúc của quần thể rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng, đã đề xuất là thường xuyên mở tán rừng chính để giải phóng cây tái sinh tự nhiên, đặc biệt quan tâm lớp cây con có đường kính dưới 8 cm nhằm tăng diện tán lá và hạ độ cao lớp phủ thực vật

Võ Đại Hải (1997), [15] khi nghiên cứu các dạng cấu trúc hợp lý cho rừng phòng hộ đầu nguồn tại Việt Nam, đã đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng, khai thác và nuôi dưỡng rừng là; xây dựng rừng hỗn giao nhiều

Trang 10

tầng tán, độ che phủ cao và những nơi xung yếu, trong đó cần chú ý bảo vệ lớp thảm mục và thảm tươi; khi làm đất và xử lý thực bì càn chừa lại những cây tái sinh

và cây phù trợ có chất lượng tốt; trong quá trình nuôi dưỡng cần chú ý đến việc phát dây leo, không được phát cây bụi thảm tươi Nơi có mật độ thưa và phân bố không đều thì cần phải xúc tiến tái sinh tự nhiên theo rạch hoặc theo đám nhưng không đốt

và xử lý thực bì

Trần Cẩm Tú (1998) [39] tiến hành nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh và đã rút ra kết luận: áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu sử dụng tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên, những biện pháp tác động phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng nghĩa với tái sinh rừng, phải chú trọng điều tiết tầng tán của rừng, đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên toàn bộ diện tích rừng Để cải thiện tổ thành rừng loại

bỏ các cây phi mục đích cần phải thực hiện các giải pháp Lâm sinh (chặt mở tán, chặt gieo giống, phát dây leo, cây bụi, ) trước khi khai thác và dọn vệ sinh rừng ngay sau khi khai thác

Trần Ngũ Phương (2000) [27] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “ Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trog khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 2002 [41] khi nghiên cứu về chọn loài cây phục vụ trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng, đã đưa ra 31 loài cây bản địa

để phục vụ cho trồng mới rừng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên

Phạm Ngọc Thường – 2003, [32], đề xuất một số giải pháp kĩ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái nguyên – Bắc cạn trên một số mô hình

Trang 11

Mô hình khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, mô hình này có thời gian phục hồi 7 – 8 năm cho biết được mật độ cây tái sinh và số lượng cây tái sinh có triển vọng/ha Nhưng công trình này không đưa ra số liệu về kích thước cây tái sinh và không có mô hình đối chứng nên chưa đánh giá được hiệu quả của khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đến mức nào? Mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trồng bổ sung cho biết cây trồng

bổ sung có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt nhưng lại không đề cập tới tình hình tái sinh như thế nào thông qua biện pháp kỹ thuật lâm sinh do vậy nó vẫn chưa minh chứng được hiệu quả của mô hình

Những nghiên cứu về phục hồi rừng ở trong nước cũng đã được tiến hành khá bài bản từ những nghiên cứu cơ bản cho đến những nghiên cứu ứng dụng theo trào lưu phát triển KTLS trên thế giới nhưng có sự điều chỉnh áp dụng vào kết quả của nó là những quy trình kỹ thuật đã được ban hành

Phạm Ngọc Thường (2003) [35] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh của thảm thực vật Vầu, Nứa sau nương rẫy tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, kết quả đã cho thấy sau 4 - 6 năm tiến hành các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên thì mật

độ Vầu tái sinh khoảng 5.120 cây/ha và Nứa tái sinh khoảng 7.300 cây/ha, rừng có chất lượng cây tốt chiếm tỷ lệ cao từ 68 - 78% Với kết quả nghiên cứu đã đạt được, tác giả cho rằng với thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy có nguồn gốc là rừng Vầu/Nứa thì chỉ cần áp dụng giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là có thể đảm bảo phục hồi rừng thành công Khi nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên của rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, tác giã đã

đề xuất biện pháp khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, làm giàu rừng và trồng rừng để phục hồi rừng sau canh tác nương rẫy

Theo Nguyễn Văn Tuấn (2003) [40] thì các biện pháp khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên được áp dụng ở nước ta hiện nay bao gồm: Khoanh đóng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, nuôi dưỡng rừng và làm giàu rừng Đây được coi là những giải pháp phục hồi rừng rất có hiệu quả ở nước ta hiện nay Chỉ tính trong vòng 3 năm từ 1999 - 2002 thì bằng các giải pháp khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên đã góp phần tăng 366.192 ha rừng tự nhiên, góp phần tăng độ che phủ của

Trang 12

rừng trên phạm vi cả nước

Theo Phạm Xuân Hoàn, Hoàng Kim Ngũ (2003) [21] thuật ngữ rừng thứ sinh nghèo được dùng khi diễn tả một quần xã thực vật hình thành bởi quá trình phục hồi lại sau khi bị gián đoạn trong chuỗi diễn thế nguyên sinh Đặc trưng của rừng thứ sinh nghèo là tính quy luật trong kết cấu của lâm phần không rõ ràng, cây bụi và dây leo phát triển cực kì mạnh Rừng thứ sinh nói chung và rừng thứ sinh nghèo nói riêng đều có sản lượng và giá trị kinh tế kém Mật độ thiếu đặc biệt mật

độ những loài cây mục đích cũng là một đặc điểm dễ nhận thấy ở rừng thứ sinh Vì vậy cần có các biện pháp để phục hồi và phát triển rừng thứ sinh nghèo nhằm năng cao hiệu quả của rừng mang lại cả về mặt số lượng và chất lượng trong

Đinh Hữu Khánh (2006) [23], đã nghiên cứu cơ sở khoa học xác định và phân loại đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng ở một số tỉnh Nam trung Bộ, đã xác định được 9 nhân tố ảnh hưởng tái sinh rừng và dựa vào các yếu tố chủ yếu; mật độ cây tái sinh, chiều cao trung bình của các loài cây gỗ tái sinh, số tháng hạn trong năm, lượng mưa trung bình năm, cấp đất để phân chia khả năng phục hồi rừng từ trạng thái Ic với các khoảng thời gian > 8 năm; 5 – 8 năm và < 5 năm, v.v…

Theo Võ Đại Hải (2008) [16], (2009) [17] thì Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa

có khả năng tái sinh tự nhiên rất mạnh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy với hệ số tổ thành dao động từ 2,4 - 9,7, tỷ lệ cây tái sinh triển vọng từ 73 - 100% (đối với Vối thuốc) và hệ số tổ thành từ 0,05 - 1,8, mật độ cây tái sinh từ 250 - 1.562 cây/ha (đối với Vối thuốc răng cưa) Vì vậy, tác giả khuyến nghị cần thực hiện giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên đối với các trạng thái rừng này bằng các biện pháp lâm sinh như phát luỗng dây leo bụi rậm, chặt cây tái sinh phi mục đích,… sẽ cho triển vọng phục hồi rừng cao

Nguyễn Quang Dương, 2009 [13] đã tiến hành nghiên cứu xúc tiến tái sinh Keo tai tượng tại các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam đã có kết luận Hiện nay tại khu vực nghiên cứu đã sử dụng 7 biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác nhau trong việc tạo rừng bằng xúc tiến tái sinh tự nhiên sau khai khác là:

- Chặt nhỏ cành, nhánh, rải đều trên toàn bộ diện tích sau khai thác rừng Keo

Trang 13

tai tượng rồi đốt toàn diện

- Chặt nhỏ cành, nhánh sau khai thác rừng Keo tai tượng rồi xếp thành hàng vào các vị trí hàng cây sẽ định trồng sau này rồi đốt

- Chặt nhỏ cành, nhánh sau khai thác rồi xếp thành băng rộng tương đương 5 hàng cây, đốt theo băng

- Xử lý thực bì toàn diện rồi đốt, sau đó trồng rừng phòng hộ theo dự án 661 (Cây bản địa và cây phù trợ Keo tai tượng), cây tái sinh Keo tai tượng được chọn lọc giữ lại để nuôi dưỡng

- Gieo hạt trên đất không có rừng Keo tai tượng khai thác, sau đó xử lý thực

bì toàn diện bằng phát đốt, tiến hành trồng cây nông nghiệp

- Đào hố sắn dưới tán rừng, sau đó chặt nhỏ cành nhánh cho vào hố rồi đốt

- Xử lý thực bì và vật liệu sau khai thác rừng Keo tai tượng rồi đốt toàn diện, trồng rừng cây bản địa, Keo tai tượng tái sinh giữ lại tạo thành rừng hỗn giao với cây bản địa

Võ Đại Hải (2010) [18] đã thực hiện công trình nghiên cứu đặc điểm tái sinh

tự nhiên của loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) dưới các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam tỉnh Bắc Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy: Vối thuốc là loài

có khả năng tái sinh rất mạnh với hệ số tổ thành có nơi lên tới 5,3 đối với trạng thái rừng IIa và dao động từ 2,1 - 3,0 dưới trạng thái rừng IIb; tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng đạt 56%; tỷ lệ cây tái sinh có chất lượng tốt và trung bình lên tới 86 - 100%,… Như vậy, Vối thuốc là loài cây rất có triển vọng trong phục hồi rừng tự nhiên ở huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và nhiều địa phương khác bằng giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên

Nguyễn Anh Dũng (2011) [11] đã tiến hành đánh giá mô hình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tại vùng phòng hộ xung yếu ven hồ thủy điển Hòa Bình cho thấy, giải pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là có triển vọng Sau 5 năm mật độ cây tái sinh dao động trong khoảng từ 6.720 – 12.480 cây/ha Biện pháp tại rạch và đám trống đã mang hiệu quả tái sinh rõ

Trang 14

rệt, nếu được tiếp tục đầu tư thì khả năng phục hồi rừng thành công là rất cao

Rừng thứ sinh nghèo ở nước ta hiện nay đang chiếm một tỷ trọng rất lớn (trên 50%) tổng diện tích rừng tự nhiên Việc phân loại các trạng thái rừng, xác định hiện trạng rừng để đề xuất các giải pháp và biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp là

vô cùng cần thiết đối với quá trình khôi phục và phát triển rừng tự nhiên ở nước ta hiện nay Trải qua quá trình nghiên cứu và đánh giá thực tiễn lâu dài, việc quy định đối tượng tác động, thời gian tác động, biện pháp tác động cũng như tiêu chuẩn công nhận khoanh nuôi rừng phục hồi thành công đã được quy định cụ thể thông qua các quy phạm: Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14 - 92) [4] được Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ NN&PTNT ban hành ngày 31 tháng 3 năm 1993, và Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 21 - 98) [5] ban hành ngày 04 tháng

11 năm 1998 Cụ thể như sau:

* Về đối tượng tác động:

+ Đất rừng sau chặt trắng, nương rẫy bỏ hóa, trảng cỏ cây bụi, bãi bồi có thuận lợi về nguồn giống (nguồn hạt phát tán tự nhiên hoặc chồi gốc, chồi rễ), có thể xúc tiến tái sinh tự nhiên thành công bằng những tác động đơn giản như khoanh nuôi bảo vệ, phát luỗng dây leo bụi rậm,…

+ Rừng hỗn loài tự nhiên không đều tuổi sau khai thác chọn trong khoảng thời gian từ 1/3-2/3 luân kỳ chặt chọn hoặc rừng hỗn loài tự nhiên không đều tuổi sau khai thác chọn không đúng kỹ thuật nhưng số cây có giá trị nuôi dưỡng ở tầng cây cao không đạt mật độ (N) quy định (rừng kinh doanh gỗ lớn N >= 150-200 cây/ha, kinh doanh gỗ nhỏ N > = 500 - 600 cây/ha) nhưng có triển vọng xúc tiến tái sinh thành công thông qua các biện pháp kỹ thuật đơn giản

+ Đất bị mất rừng do bị khai thác kiệt; nương rẫy bỏ hóa còn tính chất đất rừng; trảng cỏ xen cây gỗ, tầng đất mặt > 30 cm thỏa mãn 1 trong 3 điều kiện sau:

Cây con tái sinh mục đích >=300 (cây/ha), cao trên 50cm

Gốc mẹ có khả năng tái sinh chồi >150 (cây/ha)

Cây mẹ gieo giống tại chỗ >25 cây/ha, phân bố tương đối đều

Trang 15

+ Rừng Tre nứa phục hồi sau khai thác, nương rẫy, có độ che phủ trên 20% diện tích và phân bố đều

+ Rừng phòng hộ ở khu vực xung yếu và rất xung yếu có độ che phủ trên 40% và có khả năng tự phục hồi

* Về kết quả:

- Sau quá trình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh để đánh giá quá trình đó thành công hay không cần có những tiêu chí cụ thể cho từng loại rừng, từng đối tượng đưa vào khoanh nuôi Trước yêu cầu đó Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ra Quyết định số 46/2007/QĐ – BNN ngày 28 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đã quy định rõ:

- Đối với rừng phòng hộ, đặc dụng

+ Rừng cây gỗ: sau thời gian khoanh nuôi có ít nhất 400 cây gỗ mục đích/ha,

độ che phủ của cây bụi, thảm tươi và cây gỗ lớn hơn hoặc bằng 50%, tổng diện tích của các đám trống nhỏ hơn hoặc bằng 1000m2/ha

+ Rừng tre nứa, Le, Giang, Vầu, Diễn, Lồ ô, (gọi chung là rừng tre nứa): sau thời gian khoanh nuôi độ che phủ của tre nứa lớn hơn hoặc bằng 60%, tổng diện tích các đám trống nhỏ hơn hoặc bằng 1000m2/ha

- Đối với rừng sản xuất

+ Rừng cây gỗ: sau thời gian khoanh nuôi có ít nhất 500 cây gỗ mục đích/ha, phân bố tương đối đều trên toàn bộ diện tích, chiều cao trung bình lớn hơn hoặc bằng 4m, tổng diện tích các đám trống nhỏ hơn hoặc bằng 1000m2/ha

+ Rừng tre nứa: sau thời gian khoanh nuôi độ che phủ của tre nứa đạt lớn hơn hoặc bằng 70%, số cây đạt tiêu chuẩn khai thác lớn hơn hoặc bằng 20%, tổng diện tích các đám trống nhỏ hơn hoặc bằng 1000m2/ha

- Đối với những loại rừng không khác không thuộc các đối tượng rừng nêu trên thì tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng tiêu chí để thực hiện.Bên cạnh hệ thống văn bản chính sách quyi định về đất đai Nhà nước cũng chú trọng đến chính sách quản lý bảo vệ

rừng nói riêng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 [38] xác định “Rừng là

Trang 16

một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”, đồng thời quy định rõ các loại rừng, trách nhiệm trong công quản lý bảo vệ rừng Quyết định 08 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [29], ban hành quy chế quản lý các loại rừng Quy chế này vừa mới được đổi mới bằng quyết định 186/2006 của Chính phủ [30], về quy chế quản lý rừng

Trần Văn Con và Cộng sự (2005) [9] đã tổng kết ở việt nam hiện nay có một

số biện pháp kỹ thuật áp dụng chính cho phục hồi rừng là:

 Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung

Đây là một giải pháp sử dụng triệt để khả năng diễn thế tái sinh tự nhiên để phục hồi rừng thông qua các biện pháp khoán bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh

và trồng bổ sung khi cần thiết Phạm vi áp dụng được cho cả ba loại rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất Đặc biệt, đã xác định rõ địa bàn áp dụng là nơi đã có quy hoạch sử dụng đất chính thức và đã có chủ thực sự

 Kỹ thuật làm giàu rừng

Làm giàu rừng được hiểu là một giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm cải thiện

tỷ lệ cây mục đích ở rừng nghèo mà không loại bỏ thảm rừng cũ và các cây non mục đích có sẵn (Phạm xuân hoàn 2003) Mục đích của làm giàu rừng là tạo ra một lâm phần mới với cây trồng làm giàu chiếm ưu thế được trồng hỗn giao với các loài cây có giá trị kinh tế có sẵn trong thảm rừng cũ Đối tượng của làm giàu rừng là rừng nghèo kiệt thuộc trạng thái IIIA1, có cấu trúc bị phá vỡ hoàn toàn; số lượng cây tái sinh mục đích không bảo đảm về số và chất lượng Biện pháp kỹ thuật bao gồm: làm giàu rừng theo rạch và làm giàu rừng theo đám

 Cải tạo rừng

Cải tạo rừng là việc thay thế thảm thực vật gốc bằng một thảm thực vật hoàn toàn mới có năng suất và chất lượng cao hơn thảm thực vật gốc Cũng tương tự như làm giàu rừng, cải tạo rừng có thể dựa vào thảm thực vật cũ để điều chỉnh ánh sáng

Trang 17

cho cây trồng và cũng có thể để lại các cây có giá trị kinh tế của thảm rừng cũ Tuy nhiên điểm khác nhau ở đây là cường độ và sự khác biệt giữa thảm thực vật rừng mới với thảm thực vật cũ Trong làm giàu rừng thảm thực vật chỉ được bổ sung thêm các loài có giá trị kinh tế, trong khi đó thì cải tạo rừng hầu như thay thế hoàn toàn thảm thực vật rừng cũ Trong nhiều trường hợp cải tạo rừng còn đồng nghĩa với việc trồng rừng mới sau khi khai thác thảm rừng cũ

Đối tượng của cải tạo rừng bao gồm các diện tích rừng nghèo kiệt thuộc trạng thái II, hay IIIA1, tiềm năng tái sinh thấp, cây gỗ có chất lượng kém Có những khoảng trống lớn trong rừng

 Khai thác đảm bảo tái sinh

Bản chất của việc khai thác rừng là lấy ra khỏi rừng những thế hệ cây già cỗi bắt chước quá trình chết đi tự nhiên để tác động sớm hơn để tận dụng gỗ và tạo điều kiện cho thế hệ cây tái sinh phát triển Vận dụng triệt để quy luật này quy chế khai thác gỗ và lâm sản được ra đời theo quyết định số 02/1999 và bổ sung lại sửa đổi lại theo quyết định 40/2005 Quy chế quy định từng đối tượng rừng khai thác ứng với từng luân kỳ khai thác và cường độ khai thác kèm theo đó là cấp kính khai thác tối thiểu tùy theo từng đối tượng kinh doanh rừng

và được phát triển mạnh trong những năm gần đây Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên cũng đã được nhiều nước áp dụng, đặc biệt là ở các nước có tiềm năng tái sinh rừng tự nhiên lớn như vùng Đông Nam Á Những nghiên cứu này là

cơ sở khoa ho ̣c cũng như kinh nghiệm cho thực tiễn phục hồi và phát triển rừng tự nhiên ở nước ta

Trang 18

- Ở Việt Nam, vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng đang là một yêu cầu bức thiết được đặt ra đối với đối tượng rừng tự nhiên là rừng thứ sinh nghèo kiệt và đây cũng là chủ đề được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Nhiều loài cây đặc biệt là cây bản địa, nhiều mô hình và nhiều hệ thống các biện pháp kỹ thuật

đã được nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng ở nhiều vùng trong cả nước, từ đó đã đúc rút được nhiều quy trình, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng cho nhiều loài cũng như ở các địa phương khác nhau Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp lý liên quan đến khoanh nuôi phục hồi rừng cũng đã ra đời, tạo hành lang pháp lý quan trọng trong việc xây dựng, triển khai các chương trình, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng

- Tuy nhiên, vùng đất đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên là một vùng rất đặc thù, đất đã bị thoái hóa lâu ngày, nghèo dinh dưỡng, thường xuyên chịu nhiều tác động của gió bão, Vì vậy, cần phải có những đánh giá cụ thể về kết quả của các mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng đã triển khai tại địa phương thuộc dự án KFW6 nhằm rút ra những cơ sở khoa học, những bài học kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của các mô hình nhằm áp dụng rộng rãi trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng Xuất phát từ những yêu cầu này, đề tài đặt ra là cần thiết

Trang 19

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Khoanh nuôi phục hồi rừng là các hệ thống giải pháp lâm sinh như: Khoanh

nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung, Làm giàu rừng, Cải tạo rừng, Khai thác đảm bảo tái sinh Tuy nhiên, do dự án KFW6 tại địa bàn nghiên cứu mới

chỉ áp dụng giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung Do vậy, Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu là Các mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên thuộc Dự

án KFW6 thực hiện tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên từ năm 2006 - 2012 cụ thể là:

- Các mô hình rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên tại huyện Tuy An, huyện Đồng Xuân và thị xã Sông Cầu

- Các mô hình rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung sung tại Huyện Đồng Xuân

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về địa bàn nghiên cứu:

Giới hạn nghiên cứu là rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên, tập trung ở 1 thị xã và 2 huyện có triển khai dự án KFW6 là: Thị xã Sông Cầu và huyện

Trang 20

Đồng Xuân, huyện Tuy An Mỗi thị xã hoặc huyện triển khai nghiên cứu tại địa điểm cụ thể là:

- Các mô hình rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên: Được bố trí tại huyện Tuy An, huyện Đồng Xuân và thị xã Sông Cầu

- Các mô hình rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung: Được bố trí tại huyện Đồng Xuân

* Về nội dung nghiên cứu:

- Với các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh không trồng bổ sung chỉ tập trung vào nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc tầng cây cao và cây tái sinh

- Với các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung: Tập trung vào nghiên cứu, đánh giá về sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng cây trồng bổ sung

- Về đề xuất một số biện pháp kỹ thuật và loài cây áp dụng: Đề tài chỉ đề xuất định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh và loài cây áp dụng trong khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Khái quát chung về tình hình thực hiện khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên

vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

- Đánh giá các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên vùng đồi

núi ven biển tỉnh Phú Yên

- Đánh giá các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ xung rừng

tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh và loài cây áp dụng trong

khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp luận

- Mỗi biện pháp kỹ thuật áp dụng trong các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh là khác nhau sẽ dẫn đến kết quả phục hồi rừng khác nhau, do vậy cách tiếp cận của Đề tài là đánh giá theo từng biện pháp kỹ thuật đã áp dụng

Trang 21

- Vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên khá rộng, trải dài theo bờ biển khoảng

189 km và đi qua nhiều huyện của tỉnh Phú Yên nên các điều kiện tự nhiên, kinh tế

- xã hội sẽ khác nhau và điều này sẽ dẫn đến sự ảnh hưởng phục hồi rừng khác nhau, do vậy quan điểm nghiên cứu của Đề tài là sẽ đánh giá trên từng địa điểm cụ thể

- Đối với khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung thì cơ cấu loài cây trồng bổ sung khác nhau cũng sẽ cho hiệu quả phục hồi rừng khác nhau, do vậy phương pháp nghiên cứu của đề tài là sẽ đánh giá theo từng loài cây trồng bổ sung

- Khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh là một quá trình dài tính từ lúc bắt đầu áp dụng các biện pháp kỹ thuật đến khi hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật thể hiện rõ rệt, do vậy cách tiếp cận của Đề tài là kế thừa các số liệu ban đầu đã được thu thập của Dự án KFW6

Trang 22

- Quá trình nghiên cứu được khái quát theo sơ đồ sau đây:

Thu thập, kế thừa các tài

Yên

Đánh giá các mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh và loài cây áp dụng trong khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung rừng

tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát

Trang 23

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa

- Kế thừa các tài liệu, thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tài nguyên rừng của 3 địa điểm nghiên cứu là thị xã Sông Cầu, huyện Đồng Xuân và huyện Tuy An

- Kế thừa các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu đã có về khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung trong và ngoài nước, đặc biệt

là các nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái, cấu trúc và tái sinh

- Kế thừa các mô hình, tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu đã có của dự

án KFW6

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoài hiện trường

 Số lượng ÔTC và địa điểm thiết lập ÔTC

Để tiến hành thu thập số liệu ngoài hiện trường Đề tài sẽ thiết lập các ÔTC để tiến hành nghiên cứu cụ thể như sau:

Đối với các mô hình Rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh không trồng bổ sung

Đề tài lập 4 ÔTC tại mỗi địa điểm trong đó có 3 OTC được thực hiện tại mô hình

và 1 OTC đối chứng với diện tích 2500m2

Đối với các mô hình Rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung Đề tài thiết lập 09 OTC với diện tích mỗi OTC là 100m2 để đánh giá chất lượng cây trồng bổ sung cụ thể là Lim xanh, Dầu rái, Sao đen mỗi loài 03 OTC ở các lặp khác nhau

Nội dung và phương pháp điều tra

Trang 24

- Tiến hành mô tả ÔTC: Vị trí, địa điểm, đặc điểm cây bụi thảm tươi (loài cây, chiều cao), độ tàn che, độ che phủ, độ dốc,

- Phương pháp thu thập số liệu trong ÔTC

+ Tiến hành đo đếm và ghi chép các chỉ tiêu tầng cây cao về: Loài cây, Hvn,

D1.3, Dt, tình hình sinh trưởng, của tất cả các cây có D1.3 trên 6 cm có trong ÔTC Riêng đối với cây trồng bổ sung, thay vì đo đếm D1.3 Đề tài sẽ tiến hành đo đếm và ghi chép D00

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) được đo bằng thước

đo cao có độ chính xác đến 0,1m, đơn vị tính là m

+ Xác định đường kính ngang ngực (D1.3) và đường kính gốc (D0) bằng thước kẹp kính có độ chính xác tới 0,1 cm, đơn vị là cm Đối với cây đa thân cần tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng cho tất cả các thân và có ghi chú rõ

+ Điều tra chất lượng rừng: Điều tra chất lượng cây rừng dựa vào Hvn, D1,3,

độ thẳng thân, khả năng tỉa cành, để đánh giá chất lượng cây (tốt, xấu, trung bình) Cây tốt là cây có Hvn, D1,3 hơn Hvn, D1,3 của những cây trung bình của ÔTC, không sâu bệnh, tỉa thưa tự nhiên tốt, thân thẳng, độ thon thân cây đồng đều Cây xấu là những cây có các chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D1,3 nhỏ hơn cây trung bình

Cấp sinh trưởng được phân ra 3 cấp như sau:

Cấp I: Cây sinh trưởng tốt, sức sống mạnh, không sâu bệnh

Cấp II: Cây sinh trưởng bình thường

Cấp III: Cây sinh trưởng chậm, sức sống kém, bị sâu bệnh làm ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây

+ Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu về cây tái sinh:

Cây tái sinh là những cây còn non sống dưới tán rừng, từ giai đoạn cây mạ cho đến khi chúng bắt đầu tham gia vào tán chính của rừng Tuy nhiên Đề tài chỉ thu thập số liệu của các cây tái sinh có chiều cao > 30cm và đường kính D1.3

< 6cm Cây tái sinh có chiều cao lớn hơn 2m, sinh trưởng phát triển tốt hoă ̣c trung

bình được đánh giá là cây tái sinh có triển vo ̣ng.Các chỉ tiêu về cây tái sinh sẽ được

Trang 25

thu thập như tên cây, D1.3, D00, Hvn, nguồn gốc và phân cấp chất lượng cây tái sinh theo các tiêu chí sau:

Cây tốt (A) là cây có thân thẳng, sinh trưởng tốt, tán lá phát triển tròn đều, cây không bị cụt ngọn hoặc khuyết tật, không bị sâu bệnh

Cây trung bình (B) là những cây có tán lá phát triển bình thường, ít khuyết tật

Cây xấu (C) là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, cây cong queo, cụt ngọn, khuyết tật nhiều, sinh trưởng kém, có thể bị sâu bệnh

+ Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu về cây trồng bổ sung:

Thu thập các số liệu về cây trồng bổ sung như loài cây, đường kính gốc, chiều cao và phân cấp chất lượng cây trồng bổ sung theo các tiêu chí sau:

Cây tốt (A) là cây có thân thẳng, sinh trưởng tốt, tán lá phát triển tròn đều, cây không bị cụt ngọn hoặc khuyết tật, không bị sâu bệnh

Cây trung bình (B) là những cây có tán lá phát triển bình thường, ít khuyết tật

Cây xấu (C) là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, cây cong queo, cụt ngọn, khuyết tật nhiều, sinh trưởng kém, có thể bị sâu bệnh

Mỗi loài được xác định tỷ lệ tổ thành theo chỉ số quan trọng IV% (Importance

Value) theo công thức sau:

Trang 26

Theo Daniel Marmillod, những loài cây nào có chỉ số IV>5% là những loài

có ý nghĩa về mặt sinh thái

Xác định hệ số tổ thành tầng cây cao theo mật độ:

Trong đó: A: Là hệ số tổ thành tầng cây cao

m: Là số cá thể mỗi loài trong ô tiêu chuẩn

n: Là tổng số cây trong ô tiêu chuẩn

 Tính toán các đặc trưng mẫu:

Tính các chỉ tiêu thống kê cho các nhân tố điều tra như mật độ, đường kính bình quân thân cây, đường kính tán, chiều cao bình quân, tổng tiết diện ngang, trữ lượng Những chỉ tiêu này được tính toán bằng phần mềm Excell

Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian phân

bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc được tiến hành thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934)

Xác định độ tàn che: kết hợp quan trắc và phẫu đồ ngang để xác định tỉ lệ che phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng

 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng:

Tổ thành cây tái sinh: Hệ số tổ thành được tính theo công thức sau:

N 10.000

Trang 27

Trong đó: Sdt là tổng diện tích các ô dạng bản điều tra tái sinh (m2)

n là số cây tái sinh điều tra được

Chất lượng cây tái sinh: Tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu được tính theo công thức sau:

N% =

N

n

x 100 (2-5)

Trong đó: N% là tỷ lệ % cây tái sinh theo cấp chất lượng

n là số cây tái sinh theo cấp chất lượng,

N là tổng số cây tái sinh điều tra trong ÔTC

Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao:

Đề tài chia chiều cao thành 4 cấp: Cấp I (H < 1m), cấp II (H từ 1 - 2m), cấp III (H từ 2 - 3m) và cấp IV (H > 3 m)

Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng được tính theo công thức:

X% =

N

n

x 100 (2-6)

Trong đó: n là số cây tái sinh có triển vọng

N là tổng số cây tái sinh điều tra

 Phương pháp nghiên cứu cây trồng bổ sung:

Mật độ cây trồng bổ sung: Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây trồng bổ sung trên một đơn vị diện tích (ha), được xác định theo công thức sau:

ÔTC

S

n ha

N 10.000

Trong đó: S ÔTC là diện tích ÔTC (m2)

n là số cây trồng bổ sung điều tra được

Chất lượng cây trồng bổ sung: Tỷ lệ % cây trồng bổ sung tốt, trung bình, xấu được tính theo công thức sau:

N% =

N

n

x 100 (2-8)

Trong đó: N% là tỷ lệ % cây tái sinh theo cấp chất lượng

n là số cây trồng bổ sung theo cấp chất lượng

Trang 28

N là tổng số cây trồng bổ sung điều tra trong ÔTC

Phân bố số cây trồng bổ sung theo chiều cao:

Đề tài chia chiều cao thành 4 cấp: Cấp I (H < 1m), cấp II (H từ 1 - 2m), cấp III (H từ 2 - 3m) và cấp IV (H > 3 m)

Tỷ lệ cây trồng bổ sung có triển vọng được tính theo công thức:

X% =

N

n

x 100 (2-9)

Trong đó: n là số cây trồng bổ sung có triển vọng

N là tổng số cây trồng bổ sung điều tra

Trang 29

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên

3.1.1 Vi ̣ trí đi ̣a lý, diê ̣n tích, ranh giới

Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý như sau:

- Phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa

- Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và tỉnh Đăk Lăk

- Phía Đông giáp biển Đông

Tỉnh có 9 huyện, thành phố, gồm: Thành phố Tuy Hòa, các huyện Đông Hoà, Tây Hòa, Tuy An, Đồng Xuần, Sông Cầu, Sơn Hòa, Phú Hoà và Sông Hinh

3.1.2 Đi ̣a hình

Địa hình Phú Yên khá phức tạp: diện tích đồi núi chiếm khoảng 70% diện tích toàn tỉnh; đặc biệt có 6 đỉnh núi cao trên 1.000 m và có đỉnh cao nhất là 1.470 m

Nửa phía Tây là sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, vì vậy địa hình của tỉnh thấp dần từ Tây sang Đông Các vùng núi tương đối thấp ở phía Bắc và cao ở phía Nam Dãy núi Chư Mu, Hòn Bà ở biên giới phía Nam cao trên 1.000 m Thung lũng sông Ba, kéo dài từ Gia Lai - Kon Tum, xuyên qua Phú Yên ra đến biển

- Địa hình núi : chiếm 53,3% diện tích toàn tỉnh, trong đó chủ yếu là núi thấp,

phân bố chủ yếu ở các huyện : Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hòa, Tây Hoà và thị xã Sông Cầu, Đặc điểm cấu trúc, hình thái của kiểu địa hình này khá phức tạp, mức độ chia cắt mạnh Độ cao tuyệt đối trung bình 500 - 1.000m Đỉnh cao nhất là 1.636 mét nằm trên ranh giới giữa Phú Yên và Khánh Hòa Độ dốc bình quân phổ biến 15 -25o, dốc nhất là vùng thượng lưu sông Cái trên 25o

Trang 30

- Địa hình bậc thềm: là kiểu địa hình chuyển tiếp giữa miền núi và đồng

bằng, gồm kiểu địa hình đồi gò và bán bình nguyên chiếm 13,0% diện tích toàn tỉnh Phân bố tập trung ở vùng trung tâm thuộc các huyện Sơn Hòa, Sông Hinh, Sông Cầu và Tuy An Đặc trưng hình thái là bề mặt lượn sóng, độ thoáng lớn, có nhiều đồi bát úp và xen kẽ có những núi sót Độ cao tuyệt đối trung bình 150 -200m, độ dốc bình quân phổ biến 10 - 20o

- Địa hình thung lũng (đồng bằng): chiếm 33,7% diện tích toàn tỉnh, phân bố

tập trung ở hạ lưu sông Ba, sông Cái thuộc các huyện Tuy Hòa, Tuy An, đặc biệt là cánh đồng Tuy Hoà, rộng tới 22.000 ha Ngoài ra, còn một số diện tích phân bố rải rác dọc theo ven biển, các sông lớn tạo thành các đồng bằng nhỏ hẹp và các khu dân

cư Đặc trưng của kiểu địa hình này là bằng phẳng, với các loại đất bồi tụ, dốc tụ, rất phù hợp với sản xuất kinh doanh nông nghiệp Một số diện tích bãi cát ven biển phù hợp với trồng rừng phòng hộ chống cát bay và chắn gió

3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

Nhiệt đô ̣ bình quân năm khoảng 25,20c, nhiệt đô ̣ trung bình tháng cao nhất 28,9 - 30,20c (tháng 6), nhiê ̣t đô ̣ bình quân tháng thấp nhất 23,1 - 250c Tổng nhiệt tích ôn trung bình trên 9.0000c phù hợp với sinh thái của nhiều loài cây trồng nông, lâm nghiệp

Lượng mưa trung bình năm biến động từ 1.900 - 2.970 mm Mùa mưa chỉ có

4 đến 5 tháng, nhưng chiếm 70 - 80% tổng lượng mưa cả năm Trong khi đó mùa khô kéo dài tới 7 đến 8 tháng với 20 - 30% lượng mưa cả năm Đây là một bất lợi rất lớn cho sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân đi ̣a phương Theo bản đồ phân bố lượng mưa thì chỉ một phần nhỏ diện tích phía Bắc

Trang 31

và khu vực vùng núi của huyện Tuy Hòa là có lượng mưa trên 1.900 mm/năm Vùng có lượng mưa thấp nhất là Sơn Hòa, do ảnh hưởng của khí hậu thung lũng sông Ba nên chỉ đạt 1.485 mm/năm Đô ̣ ẩm bình quân năm khoảng 81 - 830c

Bão và áp thấp nhiệt đới hàng năm ảnh hưởng hay đổ bộ trực tiếp vào tỉnh Phú Yên 2 - 3 lần, kèm theo mưa lớn và thường gây lũ lụt Những năm gần đây tình trạng lũ lụt xảy ra thường xuyên và với cường độ cao, gây thiệt hại rất lớn về người

và của cho nhân dân trong tỉnh Lũ lụt phá hoại nông nghiệp, đe dọa cuộc sống người dân, phá hủy các công trình thủy lợi, thủy điện và cơ sở hạ tầng

3.1.3.2 Thủy văn:

Hệ thống sông suối của Phú Yên có tổng diện tích lưu vực khoảng 15.906

km2 Mật độ bình quân 0,5 km/km2 Tổng lưu lượng dòng chảy 8.400 tỷ m3

- Lưu vực sông Ba: là sông lớn nhất dài 360 km chảy theo hướng Tây - Đông chảy ra cửa sông Đà Rằng với các nhánh chính như: sông Chùa, sông Đồng bò, sông Cà lúi, sông Hinh, sông Krông năng, sông Con, sông Tha Lưu lượng bình quân 300 m3/s

- Lưu vực sông Bàn Thạch diện tích khoảng 590 km2, chạy dài 68 km

- Lưu vực sông Kỳ lộ có diện tích lưu vực 1.950 km2, chiều dài 105 km, chảy theo hướng Bắc - Đông Nam đổ ra cửa Bình Ba tại Tiên Châu, gồm các nhánh chính là Trà Bương, sông Cô và các nhánh phụ như Nhân Mỹ, sông Phương, sông Hải và sông Hà Lương

- Lưu vực sông Cầu diện tích 146 km2, chảy theo hướng tây Bắc - Đông nam

đổ ra thị trấn sông Cầu với tổng chiều dài 27 km

- Ngoài ra, còn sông Cái, một số nhánh sông suối khác và đầm vịnh ven biển Nhiều sông suối đã được ngăn để xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện phục vụ cho sản xuất và đời sống Riêng phụ lưu sông Hinh hiện nay đang xây dựng nhà máy thủy điện công suất 70.000 Kw với sản lượng 353.000 Kwh/năm

3.1.4 Địa chất, thỗ nhưỡng

Kết quả điều tra cho thấy, đá me ̣ tham gia hình thành đất ta ̣i tỉnh Phú Yên bao gồ m 5 nhóm đất chủ yếu là: Nhóm đá Macma axit, nhóm đá Macma kiềm và trung tính, nhóm đá sét và biến chất, nhóm đá cát, nhóm đá sét

Trang 32

Phú Yên có 15 loại đất khác nhau, trong đó một số loại đất phổ gồm:

- Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá Macma Axit (Fa): Chiếm tỷ lệ diện

tích lớn nhất (59,2 % diện tích toàn tỉnh), phân bố tập trung chủ yếu trên địa hình núi thuộc các huyện: Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hòa, Tuy Hòa và Sông Cầu Đặc điểm của loa ̣i đất này là tầng đất mỏng < 50 cm là phổ biến, nghèo mùn < 1%, nghèo dinh dưỡng khoáng, tỷ lệ đá lẫn dưới 40% chủ yếu là sỏi sạn, thạch anh với đường kính 0,2 - 0,5 mm, tỷ lệ kết von 10 - 15%

- Đất xám trên đá Macma Axit (Xa): Diện tích chiếm 8,4 % diện tích toàn

tỉnh Phân bố chủ yếu trên địa hình bậc thềm thuộc các huyện: Sơn Hòa và Sông Hinh Đặc điểm của loa ̣i đất này là tầng đất mỏng dưới 50 cm là chủ yếu, tỷ lệ mùn

< 1%, nghèo dinh dưỡng khoáng Thành phần cơ giới cát pha hay thịt nhẹ, tỷ lệ đá lẫn cao

- Đất phù sa cổ - Glây (Pg): Diện tích chiếm 5,9 % diện tích toàn tỉnh Phân

bố ven các sông lớn, ven biển thuộc kiểu địa hình thung lũng Đặc điểm củ a nhóm đất này là thường bị úng nước quanh năm hoặc theo mùa, đất có những độc tố như:

Fe2+, H2S, thường gây hại cho cây trồng

- Đất phù sa ven sông suối (Py): Diện tích chiếm 5,5% diện tích toàn tỉnh

Phân bố hầu hết theo các sông suối lớn trong tỉnh Đặc điểm của loa ̣i đất này là tầng đất dày trên 80cm, tỷ lệ mùn trung bình 2 - 4%, thành phần cơ giới thịt nhẹ, ở độ sâu 30- 40 cm thường có ít đá lẫn

- Đất Feralít màu vàng phát triển trên đá Macma kiềm và trung tính (Fu):

Diện tích chiếm 5,2% diện tích toàn tỉnh Phân bố rải rác trên địa hình bậc thềm thuộc các huyện: Sơn Hòa, Sông Cầu, Tuy An và Tuy Hòa Đặc điểm tầng đất mỏng dưới 50 cm là chủ yếu, tỷ lệ đá lẫn 30 - 40% với kích thước lớn hơn 10 mm Cấu tượng hạt thô, rời rạc

- Đất Feralít màu vàng nhạt phát triển trên đá cát (Fe): Diện tích chiếm 4,1%

diện tích toàn tỉnh Phân bố trên địa hình bậc thềm và núi thấp thuộc các huyện: Tuy Hòa, Sơn Hòa, Sông Hinh Ngoài ra, còn một số diện tích nhỏ phân bố rải rác trên khu vực có núi sót và các đảo Đặc điểm tầng đất mỏng dưới 50cm là chủ yếu,

Trang 33

nghèo mùn và dinh dưỡng khoáng như Fe3+và Al3+, tỷ lệ đá lẫn cao và mặt đất thường khô cứng

- Đất Feralít màu nâu thẫm phát triển trên đá Macma kiềm và trung tính

(Ru): Diện tích chiếm 3,6% diện tích toàn tỉnh Phân bố phân bố rải rác trên địa hình bậc thềm và núi thấp thuộc các huyện: Tuy Hòa, Sơn Hòa, Sông Hinh và Tuy

An Đặc điểm tầng đất mỏng đến trung bình, dưới 80 cm, mặt đất thường có màu nâu thẫm, tỷ lệ mùn trung bình 2 - 4 % Đặc điểm lý hóa tính còn tốt

- Đất cát và cồn cát ven biển (Cb): Diện tích chiếm 2,7 % diện tích toàn tỉnh

Phân bố dọc theo bờ biển và các cửa sông lớn Đặc điểm đất nghèo mùn và dinh dưỡng khoáng, không có cấu tượng cũng như khả năng giữ nước

- Đất Feralít đỏ vàng phát triển trên đá Macma Axit (FHa): Diện tích chiếm

2,6 % diện tích toàn tỉnh Phân bố trên địa hình núi trung bình thuộc phía bắc huyện Đồng Xuân và phía Tây Nam huyện Sông Hinh, Tuy Hòa Đặc điểm tầng đất mỏng dưới 50 cm, ở những nơi còn rừng đất có tỷ lệ mùn trên 4%, nhiều rễ cây và có màu vàng đặc trưng ở tầng B

- Các loại đất khác: Ngoài 9 loại đất nêu trên, Phú Yên còn một số loại đất

khác như: Fk, Rk, M, Sm, Fp, Fs, chiếm 5,4% diện tích toàn tỉnh Phân bố rải rác với những diện tích nhỏ khắp trong toàn tỉnh

3.2 Điều kiê ̣n kinh tế - xã hô ̣i

3.2.1 Dân số, dân tô ̣c và lao động

* Dân số: Phú Yên hiê ̣n nay có khoảng 961.100 nhân khẩu và phân bố không

đều giữa các huyện, thị trong tỉnh Các huyện miền núi như Đồng xuân, Sông Hinh, Sơn Hòa là địa bàn chính của sản xuất lâm nghiệp, đất đai rộng lớn nhưng dân cư thưa thớt, chỉ chiếm 17,3% dân số toàn tỉnh, mật độ bình quân từ 40 - 54 người/km2 Trong khi đó, các huyện đồng bằng như: Sông Cầu, Tuy An, Thành phố Tuy Hoà và huyện Tuy Hòa mật độ dân số bình quân từ 183 - 594 người/km2, đông hơn từ 5 đến 10 lần so với các huyện miền núi

* Dân tô ̣c: Tỉnh Phú Yên có trên 30 dân tô ̣c anh em cùng sinh sống như:

Kinh, Ê Đê, Chăm, Ba Na, Tày, Nùng,… trong đó dân tô ̣c kinh chiếm 94,8% dân số

Trang 34

toàn tỉnh, người kinh sống tập trung ở thành phố, thị trấn và khu vực đồng bằng, tham gia hoạt động ở tất cả các ngành kinh tế Một số lớn làm nông nghiệp, với các loại hình canh tác chủ yếu là trồng lúa nước, cây công nghiệp và nương rẫy cố định Ngoài ra, tham gia thương mại dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và công tác ở các công

sở, cơ quan, xí nghiệp Nhà nước Các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ không đáng kể (khoảng 5,2%), sinh sống chủ yếu ở vùng núi Nguồn sống chính là sản phẩm nông nghiệp, phần lớn là sản xuất tự cung tự cấp Một số dân tộc còn duy trì tập quán đốt rừng làm nương rẫy, du canh, du cư, cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

* Lao động: Phú Yên có tổng số lao động trong độ tuổi là 35.216 người,

chiếm 40,8 % dân số, phân bố theo ngành nghề như sau: Nông lâm nghiệp chiếm 31%; thuỷ sản 5,3 %; công nghiệp 6,0 % và dịch vụ 10,8 % tổng số lao động

3.2.2 Kinh tế

Nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực, tốc độ tăng trưởng khá và

ổn định Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm: 10,7% GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 6,04 triệu đồng/người Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng của ngành nông - lâm - ngư, trong đó:

- Giá tri ̣ sản xuất nông nghiê ̣p trung bình tăng 4,7%/năm, đã hình thành nhiều vùng chuyên canh, vùng nguyên liê ̣u phu ̣c vu ̣ cho các nhà máy chế biến nông

sản

- Giá tri ̣ sản xuất lâm nghiê ̣p trung bình tăng 5,6%/năm, đã huy đô ̣ng được

vốn cho công tác phát triển rừng

- Ngành thủy sản phát triển khá, tốc đô ̣ tăng trưởng 7,9%/năm

- Thủ y lợi phát triển, xây dựng được nhiều công trình thủy lợi như: Hồ chứa nước Xuân Bình, nâng cấp hê ̣ thống thủy lợi Đồng Cam,… phu ̣c vu ̣ sản xuất nông - lâm nghiê ̣p

- Công nghiệp phát triển khá, tăng trưởng bình quân 18,6%/năm, hình thành nhiều khu công nghiê ̣p lớn như: Khu công nghiê ̣p Dung Quất, khu công nghiê ̣p Hiệp Hòa,…

Trang 35

3.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng và văn hóa xã hội

- Phú Yên có quốc lộ IA và đường sắt Thống nhất chạy dọc theo chiều dài của tỉnh, nối liền giữa khu chế suất Dung Quất ở phía Bắc và trung tâm kinh tế, du lịch Nha Trang và Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Nam Quốc lộ 25 từ thị xã Tuy Hòa nối với quốc lộ 14 tại Chư sê - Gia Lai, trong tương lai Phú Yên là cửa ngõ về giao lưu kinh tế của vùng Tây nguyên Cửa sông Đà Rằng là nơi hội tụ của đường

bộ, đường biển và đường hàng không, tạo cho Phú Yên một địa điểm thuận lợi để giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng trong nước và quốc tế

- Chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo ngày càng tiến bộ Mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp Toàn tỉnh hiện có 424 trường học và cơ sở đào tạo với đầy

đủ các loại hình; trong đó có trường dạy trẻ khuyết tật, dạy trẻ mồ côi, trường chuyên THPT, 08 trường THPT ngoài công lập, các trường dân tộc nội trú và bán trú, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và trung tâm giáo dục thường xuyên, hệ thống trường và các trung tâm dạy nghề, 6 trường THCN, cao đẳng và Phân viện ngân hàng Toàn tỉnh có hơn 225.000 học sinh từ mầm non đến THPT và 10.000 sinh viên học ở các trường THCN, Cao đẳng, Đại học trong cả nước (trong

đó có 12.874 học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số

- Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển, có 20% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Hệ thống khám chữa bệnh trong toàn tỉnh từng bước được sắp xếp lại và có đầu tư nâng cấp Dịch vụ y tế được mở rộng, tỷ lệ người ốm được chăm sóc về y tế tăng hàng năm, công suất sử dụng giường bệnh đạt từ 98 -100% Việc

khám chữa bệnh cho người nghèo được quan tâm

3.3 Đánh giá và nhận xét chung

* Thuận lợi:

- Phú Yên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung theo tuyến Huế - Đà Nẵng - Quãng Ngãi - Quy Nhơn - Tuy Hòa - Nha Trang và là cửa ngõ của Tây nguyên, vùng kinh tế quan trọng của cả nước Phú Yên có đầy đủ điều kiện giao thông cả về đường bộ, đường biển và hàng không, đặc biệt là Quốc lộ IA và

Trang 36

đường sắt thống nhất chay dọc tỉnh rất thuận lợi cho mở mang và phát triển sản xuất hàng hóa

- Phú Yên là vùng kinh tế tro ̣ng điểm nên được Nhà nước quan tâm đầu tư và

là nơi tâ ̣p trung của nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế trong và ngoài nước

- Trong thời gian qua, đã có một số dự án đầu tư trồng rừng trên những diện tích vùng ven biển, đặc biệt là vùng cát ven biển và bước đầu đã thu được những kết quả tốt, tạo dựng được rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển, góp phần ổn định đời sống người dân ven biển

- Lực lượng lao động dồi dào, nhân công giá rẻ là điều kiện thuận lợi để triển khai các hoạt động xây dựng rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát ven biển, đặc biệt là trên đất vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

* Kho ́ khăn:

- Phú Yên là vùng chịu nhiều tác động của gió bão biển với tần suất và cường độ rất lớn ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân cũng như cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn

- Lượng mưa phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (80% lượng mưa cả năm), trong khi đó mùa khô thường xảy ra khô hạn gây ảnh hưởng bất lợi cho sự phát triển của cây trồng rừng

- Phần lớn diê ̣n tích đất vùng đồi núi, đặc biệt là các diện tích vùng đồi núi ven biển có tầng mỏng, nghèo dinh dưỡng,… do mất rừng lâu ngày nên khôi phục lại rừng trên những diện tích này rất khó khăn và tốn nhiều công sức, đặc biệt là trồng các loài cây bản địa

Từ những phân tích trên cho thấyĐề tài: “Đánh giá một số mô hình khoanh

nuôi phục hồi rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên” đặt ra là hết

sức cần thiết Đây là một vấn đề cần thiết khách quan, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn trong công cuộc bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên nói riêng và vùng Nam Trung bộ nói chung

Trang 37

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Khái quát chung về tình hình thực hiện khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Khoanh nuôi phu ̣c hồi rừng tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên chủ

yếu được thực hiê ̣n trong dự án KFW6 Đây là Dự án Khôi phu ̣c rừng và quản lý

rừ ng bền vững ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Đi ̣nh và Phú Yên được triển khai dướ i sự tài trợ của Chính phủ nước Cô ̣ng hoà Liên Bang Đức Mục tiêu

dài ha ̣n của dự án là nhằm nâng cao mức sống của người dân chủ yếu dựa vào rừng thông qua tạo việc làm, tăng thu nhập nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều hoà nguồn nước tại các vùng được phục hồi rừng và khu vực lân cận, điều hoà khí hậu và tăng tính đa dạng sinh học Mục tiêu trước mắt của dự án là khôi phục và quản lý bền vững cho khoảng 22.700 ha diện tích rừng hỗn giao ở những nơi bị đe doạ về sinh thái và quản lý bền vững khoảng 10.000 ha rừng thứ sinh góp phần bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo thu nhập thường xuyên ổn định cho người dân thông qua việc tạo ra sự đa dạng về sản phẩm rừng

Khoanh nuôi xú c tiến tái sinh tự nhiên và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung được dự án coi là 2 giải pháp lâm sinh mũi nho ̣n có vai trò đă ̣c biê ̣t quan trọng trong phu ̣c hồi rừng tự nhiên vùng dự án trong đó có dải đồi núi ven biển

củ a tỉnh Phú Yên Các biê ̣n pháp kỹ thuâ ̣t lâm sinh được áp du ̣ng chủ yếu ta ̣i dải đồi

nú i ven biển tỉnh Phú Yên được tóm lược như sau

4 1.1 Ky ̃ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên

a) Đối tươ ̣ng tác đô ̣ng:

Giải pháp này được áp du ̣ng với rừng có mô ̣t trong những điều kiê ̣n sau:

- Mật độ cây tái sinh mục đích có triển vọng cao trên 2m: trên 800 cây/ha (Cây tái sinh mục đích có giá trị kinh tế được xác định theo từng tỉnh);

- Có cây mẹ gieo giống tại chỗ: 70-75 cây/ha;

- Có gốc chồi mẹ: 800 cây/ha phân bố tương đối đều;

Trang 38

- Những diện tích nhỏ cục bộ (< 0,25ha) có tầng đất mỏng dưới 30cm, đất xấu trơ sỏi đá; hoặc những diện tích có độ dốc cục bộ trên 350; những nơi điều kiện không thể trồng rừng mới hoặc trồng bổ sung nằm trong khu vực dự án có tác dụng phòng hộ cần bảo vệ

b) Ky ̃ thuâ ̣t tác đô ̣ng

Trong khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh

có trồng bổ sung thì viê ̣c xác đi ̣nh biê ̣n pháp kỹ thuâ ̣t tác đô ̣ng theo từng giai đoa ̣n phát triển của rừng có ý nghĩa rất lớn tới hiê ̣u quả và sự thành công của viê ̣c khoanh nuôi Do vâ ̣y, dự án KFW đã xác đi ̣nh các giai đoa ̣n phát triển của rừng như sau:

Trang 39

Bảng 4.1: Các giai đoạn phát triển của rừng

Đường kính (cm)

Cây bụi, cây tiên phong ưa sáng, tái sinh chồi

2 Phát triển

về chất

Đã khép tán và hình thành hoàn cảnh rừng

Cây cỏ, bụi ưa sáng giảm dần, xuất hiện cây chịu bóng

Đa dạng về loài

Trên các khoảng trống còn lại đã xuất hiện cây tái sinh

> 10 > 15

Trên cơ sở các chỉ tiêu đặc trưng của 4 giai đoạn phát triển trên, dự án đã đề xuất các biê ̣n pháp kỹ thuâ ̣t tác đô ̣ng hợp lý cho khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên ta ̣i khu vực như sau:

* Chăm sóc và bảo vệ rừng trong giai đoạn hình thành rừng

Trong giai đoa ̣n này, biê ̣n pháp tác đô ̣ng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ, không chă ̣t phá cây, không chăn thả gia súc, phòng chống lửa rừng, đánh dấu những cây tái sinh mu ̣c đích để tiê ̣n quản lý, phân đi ̣nh ranh giới và cắm mốc ngoài thực

đi ̣a,…

Những dây leo bám vào cây tái sinh mu ̣c đích cần được cắt bỏ Trong trường

hợp dây leo ta ̣o thành ma ̣ng kín trên tầng tán rừng thì phải cắt gốc những dây leo đó để giải phóng tán, ta ̣o không gian cho cây tái sinh phát triển

Trang 40

Những gốc cây có giá tri ̣ kinh tế có khả năng tái sinh chồi cần tiến hành cắt

gốc cây me ̣ ở đô ̣ cao 7 - 10 cm so với mă ̣t đất để ta ̣o điều kiê ̣n cho gốc cây nảy chồi

* Chăm sóc và bảo vệ rừng trong giai đoạn phát triển về chất:

Trong giai đoa ̣n này, kỹ thuâ ̣t tác đô ̣ng chủ yếu là: Tiếp tu ̣c thực hiê ̣n các biện pháp bảo vê ̣ rừng, phân loa ̣i và đánh dấu cây tái sinh mu ̣c đích mới, cắt dây leo

bám vào cây tái sinh mu ̣c đích, chă ̣t bỏ những cây tái sinh có chất lượng xấu hoă ̣c cây tái sinh phi mu ̣c đích chèn ép cây tái sinh mu ̣c đích có triển vo ̣ng,…

* Chăm so ́c và bảo vê ̣ rừng trong giai đoa ̣n chọn lọc:

Chặt tỉa cây sâu bệnh, hỗ trợ những cây tái sinh mục đích phát triển Chỉ chặt tỉa ở tầng tán, giữ nguyên tầng dưới tán Bắt đầu tiến hành khi chiều cao đạt 12 m

và đường kính ngang ngực đạt 20 cm, khi đó tuổi cây khoảng 12 năm Cây tái sinh mục đích ở giai đoạn này phải đạt những chỉ tiêu sau:

- Sức sống: khoẻ mạnh, chiếm ưu thế, có tán dầy hình nón

- Chất lượng: không bị sâu bệnh, không phải là chồi gốc

Những cây tái sinh mục đích quý hiếm cần được ưu tiên Tuỳ tình hình tái sinh cụ thể mà chọn 50 - 200 cây tái sinh mục đích, không quan tâm đến phân bố cây trên lô Khi có cây tái sinh mục đích bị chèn ép thì tiến hành chặt tỉa hỗ trợ Thường khoảng 5 năm một lần là đủ

* Quản lý trong giai đoạn rừng ổn định:

Khi lâm phần phát triển đến giai đoạn này, được phép chặt tận dụng theo quy trình hướng dẫn hiện hành của Bộ Nông nghiệp và PTNT

4.1.2 Ky ̃ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung

a) Các biện pháp kỹ thuật cho từng giai đoạn phát triển:

Kỹ thuâ ̣t áp du ̣ng tương tự như đối với khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên

sau đó tiến hành các nội dung trồng cây bổ sung

b) Trồng cây bổ sung:

* Trồng theo đám:

- Diện tích đám trống: Áp du ̣ng biê ̣n pháp trồng bổ sung theo đám ở những đám trống có diê ̣n tích từ 500 - 2.500 m2 và mật độ cây tái sinh < 400 cây/ha

Ngày đăng: 01/09/2017, 15:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w