Nghiên cứu về lập địa Vấn đề xác định điều kiện lập địa thích hợp cho các loài cây trồng ở nước ta trong những năm gần đây đã được chú ý và đã được đề cập đến ở các mức độ khác nhau, nổ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HẢI HÒA
Hà Nội - 2014
Trang 3dẫn luận văn TS Nguyễn Hải Hòa đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học Trường Đại học Lâm Nghiệp cùng các thầy cô giáo đã giảng dạy, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn UBND huyện, Hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp huyện Thạch Hà, Ban quản lý KBTTN Kẻ Gỗ, Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Hà Tĩnh, và bà con nhân dân địa phương Xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã hết sức nỗ lực và cố gắng, nhưng bản thân còn hạn chế về trình độ nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cũng như của bè bạn đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Võ Anh Đức
Trang 4ii
MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Những nghiên cứu về lập địa 3
1.1.2 Những nghiên cứu về giống 4
1.1.3 Những nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ 4
1.1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và năng suất rừng trồng 5
1.1.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường 6
1.1.6 Nghiên cứu về xói mòn đất 7
1.2 Ở Việt Nam 9
1.2.1 Nghiên cứu về lập địa 10
1.2.2 Nghiên cứu về giống 11
1.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp làm đất 12
1.2.4 Nghiên cứu ảnh của phân bón đến năng suất rừng trồng 13
1.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng 15
1.2.6 Nghiên cứu về chính sách, kinh tế và thị trường 17
1.3 Phương pháp nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình rừng 22
1.4 Ở Hà Tĩnh 25
Trang 5iii
1.5 Đánh giá chung 26
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 28
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 28
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 28
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 28
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 28
2.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.3.1 Nghiên cứu thực trạng rừng trồng huyện Thạch Hà 29
2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách và thị trường lâm sản tới phát triển rừng trồng khu vực nghiên cứu 29
2.3.3 Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng trong huyện 29
2.3.4 Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển trồng rừng huyện Thạch Hà 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài 30
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu tổng quát 32
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 32
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 44
3.1 Đặc điểm cơ bản của Huyện Thạch Hà - Tỉnh Hà Tĩnh 44
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Huyện Thạch Hà 44
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 48
3.1.3 Thực trạng môi trường 54
3.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội Huyện Thạch Hà - Tỉnh Hà Tĩnh 55
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60
4.1 Thực trạng rừng trồng tại huyện Thạch Hà 60
Trang 6iv
4.1.1 Các giai đoạn phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà 60
4.1.2 Nguồn vốn, mục tiêu và cơ cấu cây rừng trồng ở huyện Thạch Hà 62
4.1.3 Diện tích rừng trồng ở huyện Thạch Hà 65
4.2 Ảnh hưởng của chính sách và thị trường lâm sản đến phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà 73
4.2.1 Ảnh hưởng của các chính sách tới phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà 73
4.2.2 Ảnh hưởng của thị trường lâm sản đến phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà 84
4.3 Đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng trong huyện 88
4.3.1 Đánh giá tính phù hợp các loài cây 88
4.3.3 Đánh giá mô hình rừng trồng điển hình huyện Thạch Hà 94
4.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường của các mô hình điển hình 99
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà 109
4.4.1 Những quan điểm và định hướng chung 109
4.4.2 Các giải pháp về chính sách 109
4.4.3 Các giải pháp về kỹ thuật 111
4.4.4 Các giải pháp về kinh tế- xã hội 112
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 114
1 Kết luận 114
2 Tồn tại 115
3 Kiến nghị 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7v
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
BCR Tỷ suất giữa thu nhập so với chi phí
D1.3 Đường kính cây tại chiều cao 1,3 m
NPV Giá trị hiện tại của lợi nhận ròng
M Năng xuất sinh khối trung bình của m3/ ha/ năm
Trang 84.3 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo nguồn gốc và chức năng 65 4.4 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 68 4.5 Diện tích đất lâm nghiệp đã giao ở huyện Thạch Hà 69 4.6 Diện tích một số loài cây rừng trên địa bàn huyện 70 4.7 Diện tích đất rừng huyện Thạch Hà chia theo xã 722
4.8 Kết quả điều tra, khảo sát một số cơ sở chế biến và sử dụng gỗ
4.9 Phân loại nguyên liệu, sản phẩm gắn với thị trường 877 4.10 Danh mục các loài cây được đưa vào trồng rừng huyện Thạch Hà 899 4.11 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trong các mô hình 91 4.12 Tỷ lệ sống và chất lượng rừng trồng trong các mô hình 95 4.13 Sinh trưởng của rừng trồng trong các mô hình điển hình 97 4.14 Năng suất sinh khối của các mô hình rừng trồng điển hình 98
4.15 Tổng chi phí 1 ha rừng trồng trong các mô hình đến hết chu kỳ
4.16 Bảng tính thu nhập cho 01ha rừng trồng của các mô hình 101
Trang 9vii
4.17 Tổng hợp tổng thu – tổng chi của các mô hình rừng trồng 101 4.18 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các mô hìnhrừng trồng sản xuất điển hình ở huyện Thạch Hà 102 4.19 Mức độ tham gia của người dân vào hoạt động lâm nghiệp 104
4.21 Cường độ xói mòn đất ở các mô hình rừng trồng 107 4.22 Chỉ số hiệu quả tổng hợp của các mô hình 108
Trang 10viii
DANH MỤC HÌNH
4.1 Biểu đồ hiện trạng rừng trồng và rừng tự nhiên 66 4.2 Biểu đồ hiện trạng rừng phân theo chức năng 67 4.3 Biểu đồ rừng và đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 68 4.4 Sơ đồ kênh tiêu thụ sản phẩm rừng trồng 88 4.5 Biểu đồ tỷ lệ sống của mô hình rừng trồng 95
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là nước có địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ vì vậy rừng và đất rừng đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với môi trường sinh thái cũng như đời sống kinh tế của người dân Rừng có giá trị
to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, góp phần vào sự phát triển chung của quốc gia Tuy nhiên, sức ép về kinh tế và dân số đã và đang dẫn đến việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng, đặc biệt là nạn khai thác, chặt phá rừng bừa bãi đã đưa diện tích rừng của Việt Nam từ 14,3 triệu ha với độ che phủ 43% ở thời điểm năm 1943 nhanh chóng xuống còn 9,18 triệu ha với độ che phủ 27,2% vào năm 1990 Tình hình đó làm cho nguồn tài nguyên có thể tái tạo được như rừng và đất rừng sớm bị tàn phá và cạn kiệt Các vai trò quan trọng của rừng đối với cuộc sống của con người như điều hòa khí hậu, cải tạo nguồn nước, hạn chế xói mòn, lũ lụt …cũng nhanh chóng mất đi Môi trường sinh thái rừng nói riêng và môi trường sống nói chung bị suy thoái nghiêm trọng Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, đời sống, sức khỏe của người dân đang sống phụ thuộc vào rừng và gần rừng
Đứng trước thực trạng trên, nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, trồng mới rừng như các dự án 327, 661, Thu hút sự tham gia rộng rãi của toàn dân tích cực bảo vệ rừng tự nhiên và trồng mới rừng Tính đến cuối năm 2009, toàn quốc có gần 13,259 triệu ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339 triệu ha, diện tích rừng trồng là 2.919 triệu ha đã nâng độ che phủ rừng lên 39,1% Diện tích rừng trồng ngày một tăng đã góp phần quan trọng làm tăng tỷ lệ che phủ của rừng lên 11,9% so với năm 1990 Kết quả trên phản ánh được phần nào đóng góp của rừng trồng trong mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc của nước ta
Huyện Thạch Hà có diện tích tự nhiên 35.504 ha trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp 9.999,9 ha Tại đây nhiều mô hình rừng trồng cũng đã
Trang 122
hình thành và thu hút được nhiều đối tượng tham gia vào công tác phát triển rừng góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội của huyện Tuy nhiên, do chưa có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp trong việc chăm sóc và bảo vệ cây trồng đã làm cho khả năng sinh trưởng, phẩm chất và năng suất của rừng trồng còn thấp Các công trình đánh giá về rừng trồng tại địa phương hầu như chưa có, việc đánh giá kết quả trồng rừng nhằm rút ra được các bài học kinh nghiệm và mô hình có triển vọng là rất cần thiết Vì
vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh” nhằm lựa chọn và
xây dựng mô hình rừng trồng mang lại hiệu quả cao, ổn định Góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân địa phương
Trang 133
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Trồng rừng là 1 môn khoa học quan trọng trong công tác xây dựng rừng, nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu
từ rất sớm, có thể điểm qua 1 số công trình nghiên cứu điển hình thuộc các chuyên đề sau đây
1.1.1 Những nghiên cứu về lập địa
Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO, 1984) đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào bốn nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: 1) khí hậu, 2) địa hình, 3) loại đất, 4) hiện trạng thực bì Điển hình là các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1974 và 1992), Pandey (1983), Golcalves J.L.M và cộng sự (2004)
Khi nghiên cứu đặc điểm đất ở Châu Phi, Julian Evans (1974) cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về độ dầy tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối Vì thế, khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất ấy cũng
khác nhau [59] Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P patula ở
Swaziland, Evans, J (1974) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ khá chặt (R=0.81) với các yếu tố địa hình và đất đai [59]
Khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau, Pandey (1983)
đã chỉ cho thấy Bạch đàn E camaldulensis trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu
kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thường chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng ở vùng nhiệt đới ẩm thì có thể đạt tới 30m3/ha/năm [69] Rõ ràng điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau rõ rệt
Trang 144
Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.L.M và cộng sự (2004) cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hôn” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác [62] Ngoài ra, tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan đến các yếu
tố môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng sau đây: nước > dinh dưỡng >
độ sâu tầng đất
Thông qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng
1.1.2 Những nghiên cứu về giống
Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể Điển hình như ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai
(Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt 35m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7 Bằng
con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyptus grandis
đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn đựơc giống
Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm [69] Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E grandis đạt từ 35-40m3/ha/năm, giống E urophylla đạt
trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên đến 70m3/ha/năm [57]
1.1.3 Những nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ
Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng Vấn đề này đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như: Công trình nghiên cứu của Evans, J.(1992), tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau ( 2985 ;1680 ;1075 và
750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được
Trang 155
sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ [60] Có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật độ cao Tại Malaysia năm (1995) người ta tiến hành xây dựng rừng hỗn loài nhiều tầng trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và rừng Tếch với 23 loài bản địa có giá trị, trồng theo băng có chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m
Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh
(1976) ở Brazil cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công
thức không bón phân, nếu bón NPK thì năng suất rừng trồng có thể tăng lên trên 50% [67] Trong một công trình nghiên cứu khác ở South Africa của
Schonau (1985) về vấn đề phân bón cho bạch đàn Eucalyptus grandis đã cho
thấy công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N :P :K= 3 :2 :1 có thể nâng chiều cao trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất [70]
Đối với Thông P caribeae ở Colombia, Bolstad và cộng sự (1988)
cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại hiệu quả rõ rệt cho rừng trồng như Potassium, Phosphate, Boron và Magnesium [56] Khi
Trang 166
nghiên cứu phân bón cho rừng Thông P.caribeae ở CuBa, Herrero và cộng sự
(1988) cũng cho thấy bón Phosphate đã nâng sản lượng từ 56m3 lên 69m3/ha sau 13 năm trồng [63]
1.1.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường
Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất trong đó hiệu quả về kinh tế
là chủ yếu Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài Đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Patrick B Durst (2004), để rừng trồng đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường [71] Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trên quan điểm “Thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng, chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sẽ phải sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá
Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong (2004) đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyết khích tư nhân phát triển trồng rừng như:
- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá
- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước
- Giảm thuế đánh vào các lâm sản
- Đầu tư tái chính cho tư nhân trồng rừng
- Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng [65]
Trang 177
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý chung về vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người dân Có thể nói đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng mà còn gợi ý những định hướng quan trọng cho phát triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahanop (2004) ở Thailand, Ashadi và Nina Mindawati (2004) ở Indonesia Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem
là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân [55], [68] Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần tham gia trồng rừng, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng Vì vậy, quan điểm chung để phát triển rừng trồng
có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng
1.1.6 Nghiên cứu về xói mòn đất
Giữa thế kỷ XVIII, nhiều khu rừng trên thế giới đã bị chặt bỏ, thay thế vào là những diện tích canh tác nông nghiệp Hiện tượng xói mòn do canh tác liên tục đã dẫn đến làm suy giảm độ phì và năng xuất cây trồng Thực tiễn đã thúc đẩy những nghiên cứu nhằm xây dựng các biện pháp chống xói mòn, bảo
vệ đất
Trang 188
Xói mòn đất đã được các nhà khoa học thế kỉ XX nghiên cứu thực nghiệm và khái quát hóa thành công thức toán học như: Phương trình xói mòn mặt đất của Horton (1945), phương trình mặt đất của Musgave (1947), phương trình phá hủy kết cấu của hạt mưa (bằng các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm) của Elison (1945), phương trình mặt đất phổ dụng của Wischmeier và Smith (1958,1978), Trong đó có kết quả của nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất đã xây dựng được phương trình mất đất phổ dụng (USLE) ở trường đại học tổng hợp Pardin (Mỹ) vào cuối năm 1950 [17] Đây
là nghiên cứu quan trọng và sau này phương trình mất đất phổ dụng (USLE) được Wischmeier.W.H (1997) cải tiến (RUSLE) trên cơ sở gộp hệ số độ dốc
và hệ số chiều dài sườn dốc thành hệ số địa hình:
Trong đó:
A: Lượng đất mất đi hàng năm
R: Chỉ số phản ánh năng lực xói mòn của mưa
K: Chỉ số năng lực chống xói mòn của đất
để sử dụng trong nhiều quốc gia
Trang 199
Trong công trình nghiên cứu của Ellison năm 1934, bằng các thí nghiệm trong phòng lần đầu tiên ông đã phát hiện ra nhân tố cực kì quan trọng ảnh hưởng tới xói mòn đất đó là hạt mưa Động năng của hạt mưa, sức bắn phá của nó trên bề mặt đất có vai trò quan trọng nhất, quyết định đến xói mòn Thí nghiệm của Ellison đã chứng minh rằng, việc giảm động năng của hạt mưa bằng các dàn che nhân tạo hoặc tán lá của lớp phủ thực vật có thể làm giảm xói mòn đến hàng trăm lần
Trong những năm gần đây, phát triển của công nghệ viễn thám và GIS cùng với máy tính tốc độ cao đã giúp người ta nâng cao khả năng thu thập và phân tích liên quan đến khả năng bảo vệ đất Người ta đã xây dựng những mô hình toán để phân tích tác động của các nhân tố đến dòng chảy, trong đó có tác động của rừng Một trong những mô hình thường được sử dụng để phân
tích ảnh hưởng của rừng đến dòng chảy và xói mòn là mô hình SWAT(Soil
and Water Assessment Tools) cùng với phần mềm chuyên dụng PLOT32 Đây
là mô hình cho phép cập nhật các thông tin liên quan đến dòng chảy trong lưu vực như bản đồ địa hình, các yếu tố khí hậu, mạng lưới thủy văn, các loại đất đai Sau đó tự động phân tích xác định những tác động của rừng đến dòng chảy và xói mòn đất theo những kịch bản khác nhau
1.2 Ở Việt Nam
Ngành lâm nghiệp nước ta đã có những đổi mới đáng kể trong những năm qua Cùng với những đổi mới về công tác quản lý, các hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng được quan tâm Các chương trình dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước với nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thử nghiệm và phát triển, nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đúc rút và xây dựng quy trình, quy phạm phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, đánh giá liên quan tới trồng rừng ở nước ta thuộc các lĩnh vực sau đây:
Trang 2010
1.2.1 Nghiên cứu về lập địa
Vấn đề xác định điều kiện lập địa thích hợp cho các loài cây trồng ở nước ta trong những năm gần đây đã được chú ý và đã được đề cập đến ở các mức độ khác nhau, nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994), khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, các tác giả căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80% Đặc biệt, thích hợp để phát triển các loài cây cung cấp gỗ công nghiệp như một số loài Bạch đàn
(Eucalyptus) và Keo (Acacia) Ngoài ra, vùng Đông Nam Bộ còn thích hợp để trồng rừng gỗ lớn như Tếch (Tectona grandis), Sao (Hopea odorata) và Dầu nước (D.alatus) [39] Khi nghiên cứu tiêu chuẩn phân chia lập địa cho rừng
trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam, Ngô Đình Quế và cộng sự (2001) cũng đã nhận định có 4 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng công nghiệp, bao gồm: 1) đá mẹ và các loại đất; 2) độ dày tầng đất và tỷ lệ đá lẫn; 3) độ dốc; 4) thảm thực vật chỉ thị [32] Khi nghiên cứu đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã để phục vụ trồng rừng, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2003) cũng đã xây dựng được bộ tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá gồm 6 tiêu chí và 24 chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên và 5 tiêu chí về điều kiện kinh tế xã hội [41]
Nghiên cứu trồng rừng Keo lai trên các loại đất khác nhau ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) cũng đã chỉ ra rằng mặc dù cũng
đã được áp dụng các biện pháp thâm canh như nhau, nhưng trên đất nâu đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ [5] Khi đánh giá năng suất
rừng trồng Bạch đàn (E urophylla) trên 3 loại đất khác nhau ở khu vực Tây
Trang 2111
Nguyên, Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2004) cũng có nhận xét tương tự, trên
đất xám granis ở An Khê và K’Bang rừng trồng E urophylla sau 4-5 năm tuổi
có thể đạt từ 20-24m3/ha/năm, nhưng trên đất nâu đỏ phát triển trên đá macma acid ở Mang Yang sau 6 năm tuổi chỉ đạt 12m3/ha/năm, trên đất đỏ bazal thoái hoá ở Pleiku sau 4 năm tuổi cũng chỉ đạt 11m3/ha/năm [43]
Như vậy, xác định điều kiện lập địa thích hợp cho trồng rừng nói chung là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để nâng cao năng suất rừng trồng
1.2.2 Nghiên cứu về giống
Công tác giống cây rừng trong những năm gần đây phục vụ cho sản xuất trên phạm vi cả nước đã đạt được những kết quả rõ rệt, điển hình là những công trình trong nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Đặc biệt là những công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Khả (1999), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) đã nghiên cứu tuyển chọn các dòng Keo lai tự nhiên, Bạch đàn có năng suất cao và khả năng kháng bệnh Hơn nữa, đã lai giống nhân tạo thành công cho các loài Keo và Bạch đàn, kết quả đã chọn tạo ra các dòng lai có khả năng sinh trưởng gấp từ 1.5-2.5 lần các giống bố mẹ, năng xuất rừng trồng thử nghiệm ở một số vùng đạt từ 20-30m3/ha/năm, có nơi đạt tới 40m3/ha/năm [19], [25]
Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa dạng hơn, phục vụ cho nhiều mục đích kinh doanh khác nhau, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng giống cây bản địa được ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327 và 661 Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tổng hợp và đề xuất được 100 loài cây bản địa phục vụ các chương trình trồng rừng, trong đó có nhiều loài đã được đưa và sản xuất đại trà và
có quy mô lớn như: Quế, Mỡ, trẩu, Sở, Thông đuôi ngựa, Samu nhiều loài khác với quy mô nhỏ hơn như Lim xẹt, Lát hoa, Giổi xanh, Dó giấy [52]
Trang 2212
Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hom cành cây Luồng Thanh Hóa thành công của Lê Quang Liên (1991) đã nâng cao hệ số nhân giống phục vụ sản xuất Đặc biệt, tác giả đã di thực thành công cây Luồng từ Thanh Hóa ra 1 số tỉnh phía Bắc như: Phú Thọ, Hòa Bình, đã bổ sung thêm loài cây trồng trong
cơ cấu các loài cây nguyên liệu giấy phục vụ nhà máy giấy Bãi Bằng, đồng thời là loài cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào ở một số tỉnh miền núi phía Bắc [21]
Trong khoảng 10 năm trở lại đây công tác nghiên cứu giống cây rừng ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhiều giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia đã được công nhận, khả năng sinh trưởng của các giống này vượt trội từ 50-100% về thể tích so với các giống bố mẹ Đặc biệt, gần đây nhiều tác giả đã đi sâu chọn giống theo hướng chất lượng Trên cơ sở các giống có khả năng sinh trưởng nhanh, các tác giả tiếp tục chọn giống theo hướng kháng bệnh, điển hình là công trình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000) đã chọn được 2 dòng Bạch đàn là MS16 và MS23 và đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật [24] Song song với việc chọn giống, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhân giống vô tính nhằm duy trì đặc điểm phẩm chất của cây mẹ đã lựa chọn phục vụ sản xuất có hiệu quả hơn
1.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp làm đất
Trong những năm gần đây, việc áp dụng cơ giới trong trồng rừng, nhất
là trồng rừng công nghiệp đã được các nhà lâm học quan tâm, điển hình là công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001), thông qua thí nghiệm cày ngầm để trồng Bạch đàn uro trên đất thoái hoá ở Phù Ninh (Phú Thọ), tác giả cho thấy năng suất của rừng Bạch đàn được trồng trên đất cày ngầm cao hơn nhiều so với nơi làm đất bằng thủ công, sau 8 tuổi ở nơi làm đất bằng cày ngầm trữ lượng cây đứng của Bạch đàn uro có thể đạt
Trang 2313
16m3/ha/năm, nhưng nơi làm đất bằng thủ công chỉ đạt 5m3/ha/năm [40] Ngược lại, trên đất dốc chưa bị thoái hoá ở Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng
và cộng sự (2005) đã thử nghiệm 2 phương pháp làm đất thủ công và cơ giới
để trồng rừng Keo lai, kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của Keo lai ở phương pháp làm đất thủ công lại tốt hơn phương pháp làm đất cơ giới, sau 3 năm tuổi ở công thức làm đất cơ giới chỉ đạt từ 8,74-8,87cm về đường kính và 9,82-9,92m về chiều cao, nhưng ở công thức làm đất thủ công lại đạt với các trị số tương ứng là 9,40-10,38cm và 11,33-11,71m Tác giả có nhận xét rằng trên đất dốc còn tơi xốp, sử dụng cơ giới để xử lý thực bì, san ủi gốc cây và cày toàn diện sẽ làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi và thúc đẩy quá trình thoái hoá nhanh hơn Vì vậy, phải tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai và địa hình để xác định phương pháp làm đất thích hợp [6]
1.2.4 Nghiên cứu ảnh của phân bón đến năng suất rừng trồng
Bón phân cho cây rừng cũng là một trong những biện pháp thâm canh ở nước ta đã được áp dụng trong khoảng 10-15 năm trở lại đây, bón phân nhằm
bổ sung dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng nhanh trong giai đoạn đầu Đặc biệt, bón phân chuồng không những cải thiện được hoá tính mà còn cải thiện được lý tính của đất, nổi bật là công trình bón phân cho Keo lai ở Cẩm Quỳ của Lê Đình Khả và cộng sự [19] Ngày nay do nguồn phân hữu cơ có hạn, để bón cho rừng trồng thông thường là các loại phân khoáng tổng hợp như NPK, supe lân hoặc phân vi sinh hữu cơ và thường được dùng để bón lót và bón thúc cho rừng trồng trong từ 1-2 năm đầu, có thể điểm qua một số công trình nổi bật nhất trong thời gian gần đây như công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm (2001), tác giả đã bố trí 14 công thức phân khác nhau cho Keo lai trồng trên đất phù sa cổ ở Đông Nam Bộ, sau 2 năm tuổi kết quả cho thấy Keo lai sinh trưởng tốt nhất ở những công thức bón từ 150-200g NPK kết hợp với 100g phân vi sinh, trữ lượng cây đứng có thể đạt
Trang 2414
tới 26m3/ha/năm [40] Tiếp theo là công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Hải (2003) đã bố trí 8 công thức thí nghiệm bón lót khác nhau cho 3 giống
Thông Caribeae (P caribaea var bahamensis -1167; P.caribaea var
hondurensis -1160 và P caribaea var hondurensis - giống Đại Lải) trên đất
nghèo xấu ở Cẩm Quỳ, kết quả thí nghiệm cho thấy sau từ 14-36 tháng tuổi cả
3 giống Thông trên đều sinh trưởng tốt ở công thức bón phân 200g P2O5/gốc [12] Trên đất phèn chua ở Thạnh Hoá (Long An) Phạm Thế Dũng (2003),
cũng đã thử nghiệm các công thức bón lót khác nhau cho các loài Bạch đàn E
camaldulensis và E tereticornis, kết quả cho thấy phân bón có ảnh hưởng khá
rõ rệt đến sinh trưởng của cả 2 loài Bạch đàn nói trên, đặc biệt ở công thức bón phân từ 50-100g NPK kết hợp với 50-100g P/gốc đã làm tăng lượng sinh trưởng về chiều cao từ 31-36% so với đối chứng ở giai đoạn 3,5 tuổi [3] Trong một thí nghiệm khác với Keo lai trồng trên đất feralit vàng xám ở Tân Lập (Bình Phước), Phạm Thế Dũng (2004) cũng đã cho thấy Keo lai sinh trưởng tốt ở công thức bón lót gồm 100g NPK kết hợp với 500g vi sinh Sông Gianh/Gốc [4]
Khảo sát 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Bạch đàn uro từ 1,5-5 tuổi trên
6 địa điểm khác nhau, Nguyễn Đức Minh và cộng sự (2004) đã chỉ ra rằng hiệu lực của phân NPK bao giờ cũng cao hơn phân vi sinh hữu cơ hoặc supe lân bón riêng rẽ, bón 300g NPK/gốc có hiệu lực cao hơn bón 200g NPK/gốc
và 100g NPK/gốc Tương tự như vậy, khảo sát 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Keo lai từ 1,5-5,5 năm tuổi ở 5 tỉnh khác nhau, tác giả cho thấy rừng trồng Keo lai đựơc bón lót 100g NPK/gốc và bón thúc 100g NPK/gốc vào năm thứ
2 cho lượng tăng trưởng cao hơn rừng chỉ bón lót [22]
Ngô Đình Quế và cộng sự (2004) đã tập hợp các công trình nghiên cứu trước đây và nghiên cứu bổ xung đã xây dựng được quy phạm kỹ thuật bón phân cho 4 loài cây chủ yếu là Keo lai, Bạch đàn uro, Thông nhựa và Dầu
Trang 2515
nước [33] Ngoài ra, Lê Quốc Huy (2002) cũng đã nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế biến chế phẩm Rhizobium cho Keo lai, Keo tai tượng trong vườn ươm và rừng non nhằm nâng cao chất lượng cây con và năng suất rừng trồng [18] Gần đây nhất là công trình “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu” của Nguyễn Huy Sơn (2006) đã xây dựng thí nghiệm trồng rừng thâm canh Keo lai ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên trong đó có thí nghiệm bón lót và bón thúc năm thứ 2 gồm: 100g NPK(5:10:3) + 400g VS + 50g vôi bột/gốc, sau 7-8 năm đạt từ 25-30m3/ha/năm Một số loài Bạch đàn bón: 200g NPK(5:10:3) + 100VS + 50g vôi bột/hố, sau 7-8 năm tuổi đạt 25-30m3/ha/năm [44]
Như vậy, bón phân cho rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh đã được tập trung nghiên cứu nhiều, hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng phân bón có ảnh hưởng khá rõ rệt đến khả năng sinh trưởng của các loài cây trồng, nhất là các loài cây trồng rừng nguyên liệu công nghiệp Tuy nhiên, mỗi loài cây trên mỗi dạng lập địa có nhu cầu phân bón khác nhau
1.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng
Mật độ là một trong những yếu tố quyết định năng suất của rừng trồng, Mật độ quá cao sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, nhưng mật độ thấp sẽ lãng phí đất, phải tốn công chăm sóc và diệt cỏ dại Hơn nữa, mật độ thấp cành nhánh phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng gỗ nguyên liệu Mật độ trồng ban đầu như thế nào thì có hiệu quả nhất? Vấn đề này phải căn
cứ vào mục đích trồng rừng, đồng thời tuỳ thuộc vào lập địa nơi gây trồng Tuy nhiên, vấn đề này ở trong nước vẫn còn ít các công trình nghiên cứu, theo kinh nghiệm ở một số công ty trồng rừng nguyên liệu hiện nay thường trồng
từ 1660-2500 cây/ha đối với các loài cây mọc nhanh và trung bình, mật độ này đã phải là tối ưu chưa? Câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời một cách có
Trang 2616
khoa học Khi đánh giá rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau là: 952; 1111; 1142 và 1666 cây/ha, kết quả phân tích cho thấy sau
3 năm trồng năng suất cao nhất ở rừng có mật độ 1666 cây/ha (21m3/ha/năm), năng suất thấp nhất ở rừng có mật độ 952 cây/ha (9,7m3/ha/năm) Tác giả cho rằng đối với Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ nên trồng mật độ từ 1111-1666 cây/ha là thích hợp nhất [5]
Quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên liệu giấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã quy định cho một số loài Thông, Keo lá to và
Bồ Đề mật độ trồng từ 1200-1500 cây/ha, Bạch đàn là 1000 cây/ha, quy trình
trồng rừng thâm canh Bạch đàn E urophylla cũng quy định mật độ trồng từ
1110-1660 cây/ha Quy phạm kỹ thuật trồng rừng Tếch quy định trồng thuần loài từ 2000-2500 cây/ha, trồng xen có thể trồng từ 1000-1250 cây/ha [54] Tuy các quy trình quy phạm trên đây đã quy định các loại mật độ cụ thể cho một số loại rừng trồng thâm canh, nhưng cũng chỉ mang tính chất tạm thời, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào từng loại đất và từng loại giống mới đã được cải thiện và bổ sung,
Để xác định mật độ trồng thích hợp trên loại đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét ở khu vực Bắc Trung Bộ là công trình “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu” của Nguyễn Huy Sơn (2006) đã bố trí thí nghiệm 3 loại mật độ: 1330cây/ha (3x2,5m); 1660 cây/ha (3x2m) và 2500 cây/ha (2x2m), giống hỗn hợp của các dòng Keo lai BV5; BV10 và BV33, nhân giống bằng phương pháp giâm hom Qua thống kê sau 1 năm trồng tỷ lệ sống khá cao, đạt từ 98% - 100%, sau 2 năm tỷ lệ sống ở các công thức thí nghiệm đều giảm những vẫn đạt từ 91,67%- 93,52% Số liệu sinh truởng và kết quả phân tích phương sai cho thấy sau 1 năm mật độ trồng đã bắt đầu có ảnh hưởng rõ đến khả năng sinh
Trang 2717
trưởng cả về đường kính, chiều cao và đường kính tán của Keo lai (Ftt>F05), sau 2 năm tuổi sự ảnh hưởng này càng thể hiện rõ hơn (Ftt>F05), tốt nhất thuộc
về mật độ 1330 cây/ha, tiếp theo ở mật độ 1660 cây/ha và kém nhất ở mật độ
2500 cây/ha [44] Cũng nghiên cứu vê mật độ trồng rừng với mục tiêu nguyên liệu dăm giấy, Nguyễn Huy Sơn (2006) đã bố trí thí nghiệm mật độ trên đất phù sa cổ tại Đồng Nơ (Bình Phước) gồm 3 công thức: 1100 cây/ha (3x3m),
1660 cây/ha (3x2m), 2220 cây/ha (3x1,5m), cây con được nhân giống bằng phương pháp giâm hom hỗn hợp của các dòng TB03 và TB12 với tỷ lệ 1:1:1:1 Xử lý thực bì và làm đất băng phương pháp cơ giới, cày toàn diện sâu 25cm, cày rạch hàng sâu 40cm, bón lót đồng nhất 200g NPK + 100g vi sinh Sau 24 tháng tuổi tỷ lệ sống giữa các công thức mật độ biến động từ 86,46-97,90% Cao nhất ở mật độ 1100 cây/ha và giảm dần theo chiều tăng của mật
độ, thấp nhất ở mật độ 2220 cây/ha Khả năng sinh trưởng đường kính và chiều cao giữa các công thức mật độ sau 24 tháng tuổi đã khác nhau rõ rệt (Ft>F05), cao nhất ở mật độ 1100 cây/ha với đường kính đạt 7,72cm, chiều cao 8,79m, tiếp theo là mật độ 1660 cây/ha có các trị số tương ứng là 6,46cm
và 7,40m, thấp nhất là mật độ 2220 cây/ha có các trị số tương ứng là 5,58cm
và 7,12m [44] Như vậy, mật độ có ảnh hưởng khá rõ đến khả năng sinh trưởng và năng suất rừng trồng
1.2.6 Nghiên cứu về chính sách, kinh tế và thị trường
Cùng với đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp, chính phủ đã ban hành hàng loạt cách chính sách về quản lý rừng như Luật đất đai, Luật bảo vệ
và Phát triển rừng, các nghị định 01/CP, 163CP về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp; các chính sách về đầu tư tín dụng như luật khuyến khích đầu tư trong nước, nghị định 43/1999/NĐ-CP, nghị định 50/1999/NĐ-CP, tín dụng
ưu đãi, tín dụng thương mại, chính sách thuế, chính sách hưởng lợi các chính sách trên đã có tác động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là rừng trồng
Trang 2818
Nhìn chung, những nghiên cứu về chính sách phát triển rừng trồng sản xuất ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng mới chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên cứu nhỏ về thị trường Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình của các tác giả sau đây:
Đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá, Võ Nguyên Huân (1997) đã xác định được các loại hình sản xuất và đưa ra các giải pháp nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong sử dụng và quản lý rừng bền vững Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất và khoán bảo vệ rừng [16]
Nghiên cứu rà soát các chính sách liên quan đến rừng như chính sách
về đất đai, đầu tư tín dụng Phạm Xuân Phương (2003) cũng đã chỉ rõ các chủ trương và chính sách là rất kịp thời và có ý nghĩa, nhưng trong quá trình triển khai còn nhiều bất cập Tác giả cũng định hướng hoàn thiện các chính sách để
có quy hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồng rừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng được trồng với tập đoàn giống tốt [29]
Đánh giá thực trạng trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong thời gian qua Nguyễn xuân Quát và cộng sự (2003)
đã nêu ra được những khó khăn, thuận lợi của công tác trồng rừng phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản [30]
Thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu vì đây là vấn đề có quan hệ mật thiết với sản phẩm trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như: Trong nghiên cứu về thị trường lâm sản rừng trồng miền núi phía Bắc, Võ Đại Hải (2004; 2005a, 2005b) đã chỉ ra rằng, để phát triển thị trường lâm sản rừng trồng cần phát triển công nghệ chế
Trang 291.2.7 Nghiên cứu về xói mòn đất
Nghiên cứu về xói mòn đất ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1960 với việc đo lượng đất xói mòn, trong đó điển hình là nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ngọc Bình, Cao Văn Vĩnh về ảnh hưởng của độ dốc tới xói mòn đất, góp phần đề ra các chỉ tiêu và quy chế bảo vệ, sử dụng và khai thác đất dốc, Chu Đình Hoàng (1962,1963), Bùi Quang Toản ở Tây Bắc (1964,1965), Tôn Gia Huyên (1964), Thái Phiên (1965)
Thực tiễn sản xuất cho thấy trong 7 vùng sinh thái của Việt Nam, các vùng thuộc miền Bắc và miền Trung có nguy cơ xói mòn lớn hơn do chịu tác động của mưa bão tập trung, địa hình dốc, tầng đất mỏng và thực bì bị tàn phá mạnh Do vậy, việc nghiên cứu dự báo tập trung nhiều ở vùng này Các nghiên cứu về xói mòn đất rừng điển hình là của Nguyễn Xuân Quát, Bùi Ngạnh (1964) ở vùng Cầu hai (Phú Thọ), Nguyễn Ngọc Lung, Võ Đại Hải ở Tây Nguyên (1964)
Với sự hòa nhập vào mạng lưới Nghiên cứu quản lý đất quốc tế (IBSRAM), nhiều nghiên cứu về xói mòn đất dưới tán rừng đã được triển khai
ở các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên Các công trình của các tác giả phải kể đến là: Nguyễn Trọng Hà, Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1990- 1997), Võ Đại Hải và Ngô Đình Quế (1982, 1992, 2002), Vương Văn Quỳnh và cộng sự (1994 đến 1999), Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải (1996, 1997), Nguyễn Văn Dũng và Trần Đức Viên (2003), Phạm văn Điển (2006)
Trang 3020
Lương Văn Thanh (2006) đã tiến hành theo hướng thử nghiệm hoặc tính toán các hệ số của phương trình mất đất phỏ dụng của Wischmeier và Smith để kiểm nghiệm và đánh giá hiện trạng trạng xói mòn đất trong khu vực nghiên cứu [45]
Nguyễn Trọng Hà, Nguyễn Thế Hưng (2005) đã kiểm nghiệm phương trình mất đất phổ dụng tại Phú Thọ Kết quả cho thấy rằng: Đối với các mô hình đất canh tác nông nghiệp thì sai số giữa lượng mất đất lý thuyết và thực
tế biến động từ 2,5- 5,3% Tuy nhiên, với mô hình đối chứng (không canh tác) lượng mất đất lý thuyết chênh so với thực tế là 19 lần, điều này được giải thích là do trong quá trình đo xói mòn cỏ dại phát triển mạnh Đây chính là yếu tố có tác dụng làm giảm động năng của hạt mưa vào đất ngăn cản dòng chảy mặt [9]
Nguyễn Trọng Hà, Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1990- 1997) đã nghiên cứu và tính toán các hệ số của phương trình mất đất phổ dụng cho một
số vùng của Việt Nam như: Xuân Mai, Ba vì, Hòa Bình, Tây Hiếu (Nghệ An) [10]
Nghiên cứu của Võ Đại Hải và Ngô Đình Quế (1982, 1992 và 2002) về đánh giá tác động của rừng đến xói mòn và dòng chảy mặt trên một số lưu vực sông miền Trung và Tây nguyên (sử dụng mô hình SWAT) cho rằng: Độ che phủ của rừng có quan hệ mật thiết đến xói mòn, độ che phủ của rừng càng cao thì xói mòn càng giảm và ngược lại Mặt khác, rừng có chất lượng tốt như rừng giàu và rừng trung bình có khả năng điều tiết nước và chống xói mòn đất tốt hơn là rừng có chất lượng kém Đồng thời các tác giả có đề xuất trong công tác xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn, ngoài việc chú ý nâng cao độ che phủ của rừng cần phải chú ý cải thiện và nâng cao chất lượng rừng [11]
Từ năm 1992 đến 1994, tác giả Vương Văn Quỳnh và các cộng sự của Đại học Lâm nghiệp đã nghiên cứu khả năng giữ nước và bảo vệ đất của các
Trang 3121
phương thức canh tác trong hộ gia đình người Dao ở Hàm Yên, Tuyên Quang Một trong những kết quả của đề tài này là phương trình dự báo xói mòn đất dưới rừng và những mô hình canh tác không làm đất hàng năm Sau đó phương trình tiếp tục được hoàn thiện theo hướng bổ sung chỉ số xói mòn của mưa để có thể áp dụng ra những vùng rộng hơn, phương trình như sau:
Trong đó:
d: Cường độ xói mòn, tính bằng mm/năm
: Độ dốc mặt đất, tính bằng độ
TC: Độ tàn che tầng cây cao
H: Chiều cao tầng cây cao, tính bằng m
CP: Tỷ lệ che phủ của lớp thảm tươi cây bụi
TM: Tỷ lệ che phủ mặt đất của thảm khô
Nghiên cứu của tác giả Lương Văn Thanh (2006) tại khu vực hồ Trị
An, lượng xói mòn được tính toán trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của các yếu
tố trong phương trình mất đất phổ dụng (USLE), kết hợp sử dụng GIS và ảnh viễn thám để xây dựng bản đồ hiện trạng xói mòn Tác giả đã thiết lập được các loại bản đồ sau: Bản đồ độ dốc, bản đồ hướng dòng chảy, bản đồ địa hình (LS), bản đồ hệ số lớp phủ thực vật (C), bản đồ hệ số xói mòn đất (k), tính
Trang 3222
toán hệ số mưa Đồng thời tác giả cũng phân cấp cường độ xói mòn trên toàn
bộ lưu vực hồ Trị An [45]
1.3 Phương pháp nghiên cứu đánh giá hiệu quả mô hình rừng
Các phương pháp đánh giá hiệu quả rừng trên thế giới và Việt Nam rất
đa dạng và phong phú Tùy vào mục đích nghiên cứu, các phương pháp sử dụng để đánh giá được lựa chọn và áp dụng một cách thích hợp nhằm đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng về mặt kinh tế - xã hội, môi trường, sinh thái với nhiều đối tượng là mô hình rừng tự nhiên, rừng trồng, thuần loài và hỗn giao
- Tác giả Trần Đức Tuấn (2005) với nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội, sinh thái mô hình rừng trồng tại VQG Ba Vì đã đánh giá trữ lượng, khả năng sinh trưởng phát triển 3 mô hình rừng trồng thuần loài Thông 13 năm tuổi, Keo 6 năm tuổi và tre Điềm trúc 5 năm tuổi Tác giả đã tính được các chỉ tiêu sinh trưởng và trữ lượng các mô hình Đồng thời đánh giá được hiệu quả kinh tế các mô hình thông qua tính toán chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần NPV, tỷ
lệ thu nhập so với chi phí BCR, tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR Đánh được giá hiệu quả xã hội thông qua số công lao động và mức độ chấp nhận của hiệu quả kinh tế Đánh giá được hiệu quả sinh thái bằng phương trình dự báo xói mòn đất của trường Đại học Lâm nghiệp Sau cùng, sử dụng phương pháp đánh giá hiệu quả tổng hợp Ect cho kết quả Ect Thông là 0,583; Ect Keo là 0,724; Ect Tre là 0,684 từ đó đưa ra ưu tiên lựa chọn mô hình rừng trồng Keo
Từ các kết quả trên, tác giả đã đề xuất một số giải pháp về kinh tế, kỹ thuật, chính sách pháp luật để nâng cao hiệu quả phát triển rừng trồng cho khu vực
Ba Vì [50] Tuy vậy, nghiên cứu của tác giả còn tồn tại một số hạn chế đó là:
+ Tác giả chưa đánh giá được nhân tố địa hình có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của mô hình rừng trồng trong khu vực hay không
Trang 3323
+ Chưa có sự nghiên cứu về chính sách, thị trường khu vực nghiên cứu nên vẫn còn những thiếu sót trong đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng cho địa phương
- Tác giả Đặng Văn Dũng (2008) đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh
tế - xã hội của việc trồng Keo lai làm nguyên liệu giấy tại Đăk Lăk, Đăk Nông Nghiên cứu đã tiến hành với 3 mô hình Keo lai trồng thuần loài, 6 năm tuổi, mật độ trồng 2.220 cây/ha tại 3 xã Cư K’Róa huyện M’Đrăk tỉnh Đăk Lăk, xã Đăk Rồ huyện KRông Nô và xã Quảng Khê huyện Đăk Glong tỉnh Đăk Nông Đề tài đã đánh giá được hiệu quả kinh tế - xã hội thông qua NPV, BCR, IRR và công lao động; xác định được lý tính, hóa tính của đất; xác định được các chỉ tiêu sinh trưởng, sản lượng keo lai, đồng thời so sánh được ảnh hưởng của nhân tố địa hình tới sự phát triển và sản lượng rừng Keo của 3 khu vực [7] Tuy nhiên, đề tài vẫn còn một số tồn tại đó là:
+ Tác giả chưa đánh giá đến hiệu quả sinh thái bởi trồng rừng ngoài đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội nhưng cũng phải đáp ứng được cả yêu cầu về môi trường, sinh thái Đó là bảo vệ đất, nguồn nước nhằm đảm bảo cho người dân có thể sản xuất, khai thác nguồn lợi lâu dài, bền vững trên vùng đất canh tác
+ Tác giả chưa đề xuất giải pháp nhằm khắc phục và nâng cao năng suất rừng cho xã Quảng Khê khi kết quả nghiên cứu cho thấy sản lượng Keo
ở đây sau 6 năm chỉ đạt được 96,27 M3/ha Kết quả này tương đối thấp so với
so với 2 xã Cư K’Róa đạt 125,12 M3/ha và xã Đăk Rồ đạt 138,5 M3/ha
- Đánh giá thực trạng rừng trồng sản xuất huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, Tác giả Phạm Văn Tuyên (2012) tiến hành nghiên cứu mô hình rừng trồng thuần loài Keo tai tượng 5 năm tuổi và rừng trồng thuần loài Keo lai 2 năm tuổi làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển rừng bền vững cho khu vực Đề tài đã đánh giá được tình hình sản xuất lâm nghiệp, tìm hiểu được cơ chế chính sách, thị trường lâm sản ở khu vực nghiên cứu thông qua thu thập
Trang 34đã được đề tài nghiên cứu [51] Tuy vậy, quá trình nghiên cứu, đề tài còn một
+ Chưa đánh giá được hiệu quả tổng hợp Ect của các mô hình để làm
cơ sở đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng bền vững cho địa phương
+ Phương pháp đánh giá khả năng bảo vệ đất của rừng trồng chưa có tính thuyết phục Ở phương pháp được đề xuất bởi nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Quát mà tác giả sử dụng được thực hiện bằng cách cho điểm các nhân
tố tự nhiên ảnh đến xói mòn đất gồm điểm độ dốc (B) <80 (10), 80-150 (15),
150-250 (20), 250-350 (25), >350 (30); điểm thành phần cơ giới đất (C) ở các mức nhẹ (10), trung bình (20) và nặng (30); độ tàn che, độ che phủ của rừng (A) Cấp phòng hộ được tác giả dựa vào điểm tổng hợp B+C-A và so sánh với thang điểm <15 (rất tốt), 15-30 (tốt), 30-40 (trung bình), 40-55 (kém), >55 (rất kém) Có thể thấy phương pháp này có ưu điểm dựa vào các nhân tố A, B
và C cho điểm rất nhanh, không phải tính toán phức tạp nhưng nhược điểm
Trang 3525
lớn là phương pháp mang tính định tính, thiên về cảm nhận chủ quan của từng
cá nhân, mỗi cá nhân tùy vào cảm nhận của mình mà cho điểm do đó kết quả chỉ mang tính tương đối
- Để khắc phục những hạn chế mắc phải như các tác giả trên, đề tài
“nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng huyện Thạch hà, tỉnh Hà Tĩnh” được thực hiện thông qua chỉ tiêu đánh giá
tổng hợp Ect Đề tài đã kế thừa một số tài liệu sẵn có, tiến hành điều tra, phỏng vấn người dân địa phương và cán bộ các ban ngành để nắm vững các thông tin về tình hình rừng trồng, các cơ chế chính sách, thị trường lâm sản ở khu vực nghiên cứu Trong quá trình đánh giá sinh trưởng, phát triển, chất lượng rừng cho 3 mô hình rừng trồng thuần loài 7 năm tuổi Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn Uro, tác giả dùng thêm phương pháp phân tích phương sai hai nhân tố và kiểm định 2 (Chi-Square) để xác định địa hình khu vực nghiên cứu có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của rừng trồng hay không Nghiên cứu đánh giá hiệu quả về kinh tế - xã hội, tác giả sử dụng các chỉ tiêu NPV, BCR, IRR, công lao động như các đề tài trên và cùng với đánh giá hiệu quả sinh thái để đánh giá hiệu quả tổng hợp Ect nhằm làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà Tuy nhiên, thực hiện đánh giá hiệu quả sinh thái, tác giả sử dụng phương trình dự báo xói mòn của tác giả Vương Văn Quỳnh nhằm dự báo chính xác lượng đất xói mòn và cho phép đánh giá khả năng phòng hộ của rừng trồng khách quan hơn
1.4 Ở Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ có diện tích rừng và đất lâm nghiệp 362.603 ha (chiếm 60,2% diện tích tự nhiên) với tiềm năng và lợi thế
về rừng và đất lâm nghiệp là rất lớn Tài nguyên thiên nhiên phong phú, tính
đa dạng sinh học cao, với nhiều loài động, thực vật quý, hiếm Từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành về phát triển kinh tế
Trang 3626
lâm nghiệp, thời gian qua lâm nghiệp Hà Tĩnh đã giành được nhiều thành tựu
to lớn, rừng được bảo vệ và phát triển ổn định bền vững, phục hồi nhanh, độ che phủ của rừng năm 2010 đạt 52,8%
Đất rừng có vai trò rất quan trọng trong cung cấp lâm sản và môi trường sinh thái Thời gian qua rừng trồng đã có những đóng góp khá quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân sống gần rừng Tuy vậy, việc phát triển rừng trồng trên địa bàn Hà Tĩnh nói chung và huyện Thạch Hà nói riêng từ trước đến nay mới chỉ dừng lại ở khâu quy hoạch, tự phát của nhân dân Loài cây trồng rừng của huyện phần lớn là các loại Keo, Bạch đàn, Thông nhựa, Cao su,…hướng tới mục đích kinh doanh nhưng sự đầu tư nhỏ lẻ, chưa thỏa đáng nên rừng trồng đạt chất lượng, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của cơ chế thị trường Chưa có bất cứ công trình nào nghiên cứu về cơ chế chính sách cũng như những hiệu quả mà rừng trồng mang lại cho người dân địa phương, chính
vì vậy công tác phát triển rừng trồng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nên chưa phát huy hiệu quả, tiềm năng lợi thế của kinh doanh rừng Xuất phát từ những
vấn đề đó, đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh” được thực hiện nhằm thúc đẩy phát
triển rừng trồng và tháo gỡ những vướng mắc trên địa bàn huyện Thạch Hà
và sản lượng rừng đã được tiến hành đồng bộ tạo cơ sở khoa học cho phát triển rừng trồng ở các nước, đặc biệt với quy mô công nghiệp, góp phần ổn
Trang 37hộ và đặc dụng sang rừng sản xuất Tuy nhiên, để có cơ sở phát triển trồng trong thời gian tới, các địa phương cần phải đánh giá thực trạng rừng trồng của địa phương làm cơ sở định hướng phát triển có hiệu quả hơn
Trang 3828
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng rừng trồng ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh làm cơ
sở khoa học đề xuất các giải pháp phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội
và môi trường của rừng trồng, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân địa phương
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu một số mô hình rừng trồng điển hình huyện Thạch Hà, bao gồm rừng trồng Keo lai, Keo tai tượng và Bạch đàn Uro
- Đánh giá ảnh hưởng của chính sách đất đai, thị trường lâm sản đến phát triển rừng trồng của huyện Thạch Hà
* Phạm vi về không gian:
Trang 3929
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu 5 xã ven Trà Sơn thuộc vùng đồi núi thấp phía tây của huyện Thạch Hà, các xã gồm có Thạch Điền, Nam Hương, Thạch Xuân, Ngọc Sơn và Bắc Sơn
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài tiến hành nghiên cứu một
số nội dung sau đây:
2.3.1 Nghiên cứu thực trạng rừng trồng huyện Thạch Hà
- Các giai đoạn phát triển rừng trồng của huyện từ 1986 đến nay
- Nguồn vốn, mục tiêu, cơ cấu cây trồng
- Diện tích rừng trồng của huyện
2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách và thị trường lâm sản tới phát triển rừng trồng khu vực nghiên cứu
- Ảnh hưởng của chính sách
+ Ảnh hưởng của chính sách giao đất, giao rừng
+ Hình thành một số mô hình tổ chức trồng rừng
+ Ảnh hưởng của chính sách khai thác vận chuyển lâm sản
- Ảnh hưởng của thị trường lâm sản
+ Tình hình chế biến và sử dụng lâm sản trên địa bàn
+ Nhu cầu thị trường mua bán lâm sản
+ Các kênh tiêu thụ sản phẩm rừng trồng
2.3.3 Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng trong huyện
- Loài cây trồng rừng và diện tích một số loài
- Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng
- Tình hình sinh trưởng và năng suất các mô hình rừng trồng điển hình
+ Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng d1.3, hvn, dt
+ Tính trữ lượng cây đứng cho 1ha của mô hình rừng trồng
- Hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường các mô hình rừng trồng
+ Xác định thu nhập của mỗi loại mô hình
+ Xác định công lao động của mỗi mô hình
+ Dự tính cường độ xói mòn đất ở các mô hình
Trang 40- Giải pháp về khoa học - kỹ thuật
- Giải pháp về kinh tế - xã hội
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài
Rừng trồng có sự tham gia của rất nhiều đối tượng như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các BQL rừng, các hộ gia đình,…vì vậy, trong quá trình nghiên cứu cách tiếp cận có sự tham gia của nhóm lợi ích sẽ được áp dụng
Do đối tượng nghiên cứu là rừng trồng nên đề tài sẽ xem xét chủ yếu về mặt năng suất lâm sản và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, với quan điểm phát triển bền vững thì trồng rừng phải đem lại hiệu quả kinh tế nhưng cũng phải đáp ứng được cả yêu cầu về mặt xã hội và môi trường sinh thái
Đề tài phân tích đánh giá tính hiệu quả riêng cho kinh tế - xã hội và sinh thái thông qua số liệu đã thu thập từ một số mô hình rừng trồng điển hình
đã được lựa chọn Sau đó thực hiện đánh giá hiệu quả chung cho kinh tế - xã hội và sinh thái bằng phương pháp đánh giá tổng hợp Ect Mô hình nào cho điểm tổng hợp cao nhất sẽ được lựa chọn khuyến khích phát triển bởi mô hình
đó vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo thu nhập ổn định cho người dân, vừa có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo canh tác được lâu dài, bền vững
Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn nên cách tiếp cận sẽ là kế thừa các số liệu và kết quả nghiên cứu đã có, đề tài nghiên cứu bổ sung những vấn đề cần thiết có liên quan