1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Những vấn đề cơ bản về an toàn trong hoạt động thnh toán quốc tế phần 2

34 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 363,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời điểm khan hiếm ngoại tệ để thanh toán, tỷ giá USD so với VNĐ đột ngột tăng lên như thời điểm tháng 5, tháng 6, tháng 7 năm 2008 vừa qua, để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doan

Trang 1

Trong thời điểm khan hiếm ngoại tệ để thanh toán, tỷ giá USD so với VNĐ đột ngột tăng lên như thời điểm tháng 5, tháng 6, tháng 7 năm 2008 vừa qua, để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp nhập khẩu, các NHTM Việt Nam nói chung và NHNT nói riêng đã phải tạm ứng một khối lượng lớn ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và gặp rủi ro khi không thể mua được lượng ngoại tệ thiếu hụt thấp hơn giá bán ra NH xác nhận bán ngoại tệ cho khách hàng theo tỷ giá đã niêm yết hoặc với các hợp đồng kỳ hạn với tỷ giá thoả thuận trước, tại thời điểm xác nhận giao dịch dự trữ ngoại tệ của NH không

đủ nên buộc phải mua trên thị trường liên NH với tỷ giá cao hơn giá bán cho khách hàng, rủi ro do chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán do NH gánh chịu

Mặt khác, trước tình hình cầu về USD lớn và tỷ giá USD/VNĐ tăng từng ngày, một số NHTM trong nước găm không bán ngoại tệ ra nên các NH muốn có USD phục vụ hoạt động TTQT phải mua của NH nước ngoài thông qua ngoại tệ GBP, EUR, JPY Nếu tỷ giá trên thị trường tài chính quốc tế cao hơn tỷ giá trên thị trường Việt Nam thì các NHTM sẽ chịu rủi ro

NHNT dù nắm giữ một lượng ngoại tệ dồi dào nhưng đợt biến động tỷ giá vừa qua cũng gây ảnh hưởng nhất định trực tiếp đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ và gián tiếp đến hoạt động TTQT của NH Các giao dịch chuyển tiền phải tạm gác lại hoặc thoái thác để ưu tiên cho các giao dịch thường xuyên, trị giá lớn, có liên quan đến cam kết của NH như L/C, nhờ thu

Nhiều NH không thể bán ngoại tệ cho khách hàng theo tỷ giá niêm yết, buộc khách hàng mua USD thông qua EUR để hợp lý hoá việc chênh lệch tỷ giá Các doanh nghiệp không chấp nhận được mức tỷ giá VNĐ/USD cao đột biến dao động từ 17.500 đến 18.500 nên không đồng ý mua ngoại tệ để thanh toán dù đã nhận chứng từ hoặc chứng từ phù hợp nhưng không chịu nhận để

NH thanh toán cho nước ngoài bởi nếu mua ngoại tệ với tỷ giá đó hàng nhập

về sẽ bị lỗ Một bên doanh nghiệp không thể mua ngoại tệ tỷ giá cao, một bên

Trang 2

NH không thể bán ngoại tệ theo tỷ giá công bố nên nhiều bộ chứng từ đã tồn đọng ở NH vài tuần không được xử lý ảnh hưởng lớn đến uy tín của NH

2.2.2.4 Rủi ro pháp lý:

Cơ sở để thực hiện hoạt động TTQT của các NHTM Việt Nam cũng như các nước trên thế giới trước hết phải dựa vào các văn bản pháp lý mang tính quốc tế Các quy tắc và văn bản hướng dẫn thực hiện liên quan đến TTQT do ICC phát hành là văn bản pháp lý quốc tế mà các nước thường lựa chọn để điều chỉnh nhất trong giao dịch quốc tế Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại

có môi trường pháp lý và luật pháp khác nhau nên ở từng nước, giao dịch TTQT còn bị điều chỉnh và chi phối bởi hệ thống pháp luật quốc gia Mức độ vận dụng các tập quán quốc tế vào thực tiễn của từng nước lại rất khác nhau, phụ thuộc vào hệ thống pháp luật nước đó Luật quốc gia thuờng tôn trọng và

ít khi đối đầu với thông lệ quốc tế nhưng không phải không có mâu thuẫn Nếu có sự khác biệt, thậm chí đối nghịch thì luật quốc gia thường được tôn trọng

Ở Việt Nam hiện nay chưa có luật quy định chặt chẽ về TTQT nói chung và phương thức tín dụng chứng từ nói riêng nên trong nhiều trường hợp doanh nghiệp và các NHTM Việt Nam gặp phải rủi ro do xung đột pháp

lý Nếu căn cứ theo UCP thì NH sẽ phải thanh toán cho phía nước ngoài nhưng các cơ quan pháp luật trong nước thì lại không cho trả tiền Đã từng có thời kỳ một số NHTM theo lệnh của các cơ quan trong nước không trả tiền và gây hậu quả là cả hệ thống NHTM Việt Nam bị mất uy tín, xếp loại kém trong TTQT Trong trường hợp khác, để đảm bảo đúng cam kết và giữ uy tín của mình, NH ở Việt Nam vẫn thanh toán cho phía NH bạn và bị quy kết là cố ý làm trái và phải gánh chịu phiền phức

Luật pháp một số nước như Đức, Trung Quốc,… cho phép toà án áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm sự công bằng trong TTQT, bất

kể quyết định đó trái ngược với thông lệ quốc tế Chính điều này đã dẫn tới

Trang 3

xung đột pháp luật trong quá trình tiến hành các giao dịch thanh toán L/C mà thiệt hại có thể xảy ra cho các bên

Một ví dụ điển hình là Công ty lương thực xuất khẩu gạo cho một khách hàng Đức thanh toán bằng L/C do NH Đức phát hành Khách hàng lập

bộ chứng từ hoàn hảo và xuất trình tại chi nhánh của NHNT và chi nhánh đã tiến hành chiết khấu chứng từ cho khách theo uỷ quyền của NH phát hành Khi nhận được bộ chứng từ hoàn hảo và chuẩn bị thanh toán cho Việt Nam thì

NH Đức nhận được lệnh của toà án giam giữ toàn bộ số tiền của L/C này để giải quyết nợ cũ của công ty bên Đức NH Đức trả lời chi nhánh NHNT rằng

họ không thể làm khác được vì đây là phán quyết của toà án quốc gia Hậu quả là Công ty lương thực không thu được tiền hàng từ phía khách hàng nước ngoài và phải hoàn lại tiền cho chi nhánh NHNT theo cam kết chiết khấu có truy đòi Khi đó chi nhánh NHNT phải đứng ra thu xếp với NH nước ngoài để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình Cho đến nay, việc thanh toán L/C này đã được hai bên thương lượng và giải quyết mà không phụ thuộc vào các điều khoản của L/C

2.2.2.5 Rủi ro đạo đức:

Rủi ro đạo đức trong phương thức thanh toán nhờ thu thường thể hiện dưới hình thức chây ì kéo dài thời gian thanh toán hoặc NH nhờ thu cố tình thực hiện sai chỉ thị thanh toán nhờ thu hoặc có sự câu kết giữa người nhập khẩu với NH gây tổn thất cho người xuất khẩu trong nước và NH phía Việt Nam Trong thời gian qua, có nhiều doanh nghiệp Việt Nam xuất hàng theo phương thức thanh toán D/A đã bị NH nước ngoài chiếm dụng vốn trong thời gian khá dài Mặc dù người xuất khẩu đã chấp nhận thanh toán và NH Việt Nam đã chiết khấu bộ chứng từ nhưng đến ngày đáo hạn người nhập khẩu không thanh toán mà thường kéo dài một vài tháng sau mới trả tiền làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thanh toán của các NHTM Việt Nam

Trang 4

Trong phương thức thanh toán L/C, việc thanh toán chỉ căn cứ trên chứng từ mà không căn cứ vào thực tế hàng hoá được giao nên nhiều người xuất khẩu đã lợi dụng khe hở này để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người nhập khẩu và NH Việt Nam Khi người xuất khẩu không giao hàng hoặc cố ý giao hàng không đúng số lượng và quy cách phẩm chất như hợp đồng đã ký nhưng lại xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo thì NH phát hành ở Việt Nam buộc phải thanh toán Người nhập khẩu chỉ có thể kiện người bán trên cơ sở hợp đồng thương mại chứ không thể từ chối thanh toán L/C và NH chỉ có thể đình chỉ việc thanh toán khi có phán quyết của toà án hoặc các cơ quan pháp luật

sở tại Trong thực tiễn hoạt động TTQT, các NH đã gặp khá nhiều trường hợp giả mạo chứng từ khiến cho cả doanh nghiệp và NH mất rất nhiều công sức

và thời gian theo kiện tại toà mới bảo vệ được quyền lợi của người nhập khẩu Việt Nam cũng như uy tín của mình trong TTQT

Về phía người nhập khẩu Việt Nam, nhiều khi do chỉ quan tâm đến lợi trước mắt nên không chịu giữ chữ tín để còn quan hệ kinh doanh lâu dài nên

họ cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với NH phát hành L/C Do không dự đoán được biến động của thị trường nên khi hàng hoá nhập về đến Việt Nam, giá cả hàng hoá có xu hướng hạ xuống, họ lại muốn NH tìm mọi cách để trì hoãn thanh toán, gây sức ép yêu cầu NH phát hành cố tìm bất đồng của bộ chứng từ nhằm gây sức ép với công ty nước ngoài để họ phải giảm giá, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn từ chối thanh toán và không chịu nhận hàng ngay cả khi hàng hoá đã được giao đúng phẩm chất, quy cách, đầy đủ về số lượng và bộ chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp Trong nghiệp vụ bảo lãnh L/C trả chậm, do chưa phải thanh toán ngay với nước ngoài, các doanh nghiệp nhập khẩu có tâm lý xem thường việc quản lý tiêu thụ hàng hoá hoặc khi tiêu thụ được hàng song chưa đến hạn phải thanh toán, doanh nghiệp lợi dụng vốn

để kinh doanh mặt hàng khác mong kiếm lời cao mà không tính đến thời hạn

và nghĩa vụ thanh toán

Trang 5

Rủi ro thường gặp đối với L/C xuất khẩu là bị NH nước ngoài cố tình trì hoãn thanh toán, hoặc người nhập khẩu và NH phát hành cố tình bắt lỗi những sai sót không hợp lý tạo điều kiện cho người mua nước ngoài ép người bán Việt Nam phải giảm giá hàng Đó cũng là rủi ro về đạo đức của NH phát hành

Ngoài ra, có trường hợp khách hàng mang L/C thật nhưng đã đòi tiền rồi đến NH xin chiết khấu Do một sơ suất nào đó, NH thông báo đã không thu hồi lại L/C gốc của đơn vị khi đòi tiền NH nước ngoài nên nếu không kiểm tra lại phía NH thông báo thì sẽ phát sinh rủi ro cho NH

và chi nhánh của các NH mất nhiều chi phí điện thoại cho việc xác nhận tổng

số điện chi nhánh gửi lên và số điện Hội sở chính nhận được Nếu không làm vậy thì có thể sẽ dẫn đến tình trạng những điện mở, sửa đổi L/C, thanh toán L/C hay nhờ thu, điện chuyển tiền của chi nhánh không kịp thời gửi đi trong ngày trong khi chi nhánh vẫn yên tâm là Hội sở chính đã nhận được Hậu quả

là L/C đến NH nước ngoài và người hưởng lợi chậm khiến cho người hưởng lợi không giao hàng đúng tiến độ đã cam kết trong hợp đồng, cũng có thể giá hàng hoá biến động người hưởng lợi không muốn giao hàng; tiền thanh toán chậm cho người hưởng lợi, NH nước ngoài sẽ phạt lãi chậm trả và NH trong nước bị mất uy tín

Việc xử lý điện khi nhận điện đến cần có một sự cẩn trọng thích đáng,

do những lý do kỹ thuật mà các bức điện có thể bị trùng hai lần, nếu không có

Trang 6

chế độ kiểm soát chặt chẽ rất có thể các chi nhánh sẽ chi trả thừa tiền cho khách hàng, điều này đã từng xảy ra ở nhiều chi nhánh NHNT khi tiếp nhận điện

Cũng có trường hợp do trục trặc hệ thống mạng và đường truyền, chi nhánh phải fax điện chuyển tiền, L/C… để Hội sở chính đánh lại, điều này không đảm bảo tính chính xác và an toàn trong quá trình mở, thanh toán L/C, nhờ thu và chuyển tiền Nếu không chi nhánh phải để lại công việc đó đến hôm sau mới giải quyết khiến cho L/C chậm mở, tiền hàng chậm thanh toán… ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của NH và có thể bị khách hàng khiếu nại

2.2.2.7 Rủi ro ngân hàng đại lý:

So với các NHTM khác trong nước, lượng NH nước ngoài liên kết với NHNT nhiều hơn song các quan hệ với các NH đại lý nước ngoài chưa thực

sự phát triển NHNT cũng phải đối mặt với rủi ro trong quan hệ đại lý Khi

mở L/C, NH luôn chọn NH thông báo là NH đại lý của mình, nhưng đôi khi theo sự thoả thuận trên hợp đồng, NH thông báo được chỉ định không phải là

NH đại lý với NH Việt Nam nên việc thông báo sẽ phải chuyển tiếp qua 2 NH (NH đại lý và NH thông báo thứ nhất), từ đó NH thương lượng thường sẽ là

NH thông báo thứ hai Điều này có nhiều bất lợi trong thanh toán hoặc sẽ thiếu độ tin cậy về bộ chứng từ giao hàng khi xuất trình tại một NH ít quan hệ quen biết Các L/C chỉ định NH thông báo như vậy thường là đối với các giao dịch nhập khẩu từ các nước Đông Âu, Tây Âu, Trung Á, Châu Úc… nơi mà mạng lưới ngân hàng đại lý của NHNT còn mỏng

2.2.2.8 Rủi ro khác:

Bên cạnh đó, hoạt động TTQT còn có thể gặp những rủi ro khác như về chính trị, kinh tế, chính sách đối ngoại… khiến cho người xuất khẩu có thể không nhận được tiền hàng hoặc người nhập khẩu không nhận được hàng hoá Một biến động nhỏ trong cơ chế quản lý kinh tế, chính trị sẽ ảnh hưởng đến

Trang 7

khả năng và sự sẵn sàng thực hiện các cam kết của các bên, làm cho quá trình thanh toán bị ngưng trệ, thậm chí bị huỷ bỏ, gây thiệt hại cho các bên

2.2.3 Nguyên nhân gây nên rủi ro - mất an toàn trong hoạt động thanh toán quốc tế:

2.2.3.1 Nguyên nhân khách quan:

và nghĩa vụ của các bên khi xảy ra tranh chấp

Chính sách thương mại không ổn định, các văn bản quy định về công tác xuất nhập khẩu, thuế quan thay đổi thường xuyên gây khó khăn cho NH

và doanh nghiệp Có những mặt hàng năm nay cho phép nhập, nhưng năm sau lại không cho phép nhập nữa làm cho các doanh nghiệp đã ký

Thị trường ngoại tệ chưa phát triển, tỷ giá ngoại tệ mạnh không ổn định Hiên nay, Việt Nam mới chỉ có thị trường ngoại tệ liên NH, hoạt động

của thị trường này còn kém sôi động, nghiệp vụ còn giản đơn và chủ yếu là mua bán giao ngay, chưa phát triển các nghiệp vụ như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hoán đổi tiền tệ, quyền mua, quyền bán… là những công cụ chủ yếu để hạn chế rủi ro về tỷ giá cho doanh nghiệp và NHTM Việt Nam

Quy chế cầm cố, thế chấp, bảo lãnh tài sản vay vốn NH còn nhiều vướng mắc Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp chỉ quy

định doanh nghiệp Nhà nước được quyền dùng tài sản Nhà nước để thế chấp, song chưa có quy định về việc xử lý những tài sản này để thu hồi nợ, vì thế gây khó khăn cho NH Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước được thành lập

Trang 8

lâu năm, tài sản cố định lạc hậu và đã khấu hao gần hết và giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp Nhà nước quá nhỏ so với nhu cầu vay vốn Vì vây, các NH vẫn chủ yếu cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp Nhà nước Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoặc hộ cá thể, việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất hiện nay rất chậm Khi khách hàng mất khả năng thanh toán, không trả được nợ cho NH thì việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ còn gặp nhiều khó khăn

Thông tin tín dụng chưa đầy đủ Trung tâm thông tin tín dụng (CIC)

của NHNN cung cấp số liệu thiếu cập nhật, thiếu tính đầy đủ và chính xác Sự phối kết hợp giữa các NHTM còn hạn chế trong việc cung cấp thông tin, do vậy tạo kẽ hở cho khách hàng lợi dụng để xin bảo lãnh và vay vốn nhiều nơi; pháp lệnh kế toán thống kê chưa đủ hiệu lực buộc các doanh nghiệp thực hiện

chế độ hạch toán thống kê chính xác, kịp thời Do chưa thực hiện chế độ kiểm

soát bắt buộc nên số liệu quyết toán và báo cáo tài chính không phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, mà đây lại là một trong những căn cứ để NH quyết định bảo lãnh cho doanh nghiệp

Từ phía khách hàng:

Thiếu thông tin và thiếu các mối quan hệ với đối tác nước ngoài là một nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam không lựa chọn được những khách hàng tốt, có tín nhiệm trong quan hệ thương mại quốc tế Vì vậy, sau khi xảy ra rủi ro, mới nhờ các cơ quan chức năng xác minh tư cách các đối tác nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong công tác tiếp cận thị trường, thiếu thị trường xuất khẩu và đói thông tin, chưa tìm được bạn hàng lớn, tin cậy, có quan hệ thanh toán sòng phẳng dẫn tới bị phía nước ngoài ép giá, bắt bí hoặc bị lừa đảo

Do trình độ nghiệp vụ còn yếu kém, làm việc theo cảm tính và thiếu nhạy bén trong kinh doanh Nhiều giám đốc và cán bộ chủ chốt trong các

doanh nghiệp này chưa sử dụng thành thạo ngoại ngữ, trình độ nghiệp vụ

Trang 9

ngoại thương, hiểu biết về tập quán quốc tế còn non yếu nên dễ dẫn đến những sơ suất khi ký kết hợp đồng ngoại thương Ngoài ra còn là sự yếu kém trong khâu quản lý, điều hành nguồn vốn, điều hành sản xuất

Sự thiếu trung thực của các khách hàng Việt Nam Một số khách hàng

vì lợi ích trước mắt mà đã vi phạm những cam kết với NH Hàng hoá đã bán hết nhưng họ không nộp tiền vào trả nợ NH mà dùng vào mục đích khác Hoặc lại dùng chính những lô hàng nhập khẩu về để thế chấp vay vốn ở NH khác Nhiều trường hợp khách hàng cố tình chây ì, từ chối thanh toán trái với thông lệ quốc tế làm ảnh hưởng không ít tới uy tín của NH

2.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan:

Trình độ nghiệp vụ còn nhiều hạn chế: Mặc dù là NH giàu kinh nghiệm

trong kinh doanh đối ngoại nhưng NHNT vẫn còn thiếu các chuyên gia về TTQT Nhiều cán bộ thanh toán và tín dụng chưa có đủ kiến thức cần thiết về chuyên môn nghiệp vụ và kinh tế thị trường, không nắm chắc và tuân thủ tập quán quốc tế

Chưa có cơ chế quản lý thống nhất, đồng bộ để đảm bảo khả năng thanh toán như thành lập quỹ dự phòng rủi ro TTQT, dự trữ nguồn ngoại tệ,

cơ chế quản lý hoạt động ngoại bảng về cam kết thanh toán với NH nước ngoài, cơ chế phát triển và quản lý rủi ro NH đại lý

Sự phối hợp giữa các bộ phận, các phòng chức năng còn lỏng lẻo, chưa tạo nên một khâu khép kín giữa thanh toán, tín dụng và kinh doanh ngoại tệ

Kinh doanh ngoại tệ chưa đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ Dự án

“Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán” do World Bank tài trợ mang lại hiệu quả đáng kể cho các NHNT song vẫn còn những hạn chế Công nghệ hiện đại chưa cho phép xử lý tự động các giao dịch, chưa đồng bộ

và phát triển kịp thời so với xu thế phát triển và nhu cầu TTQT, làm ảnh hưởng đến tốc độ thanh toán

Trang 10

Sự nơi lỏng các công tác thẩm định, quản lý tín dụng của NH Công tác thẩm định tính khả thi của phương án kinh doanh, khả năng tài chính của doanh nghiệp vẫn còn mang tính cảm tính, chủ quan, chưa có các công cụ phụ trợ như phần mền phân tích Công tác kiểm tra kiểm soát kém hiệu quả, mang tính hình thức, không phát hiện kịp thời những vi phạm mà nặng về giải trình, thậm chí có nơi phát hiện sai sót song không được xử lý hoặc không có biện pháp xử lý hữu hiệu

2.3 Thực trạng các biện pháp Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam thực hiện để phòng ngừa các rủi ro nêu trên và bảo đảm an toàn trong thanh toán quốc tế:

2.3.1 Ban hành mới, sửa đổi và bổ sung quy trình tác nghiệp:

Để phù hợp với sự vận động của thương mại quốc tế và TTQT, NHNT

đã kịp thời sửa đổi các quy trình tác nghiệp, bổ sung các quy định chặt chẽ đảm bảo tính anh toàn cho NH Với từng nghiệp vụ, NHNT đã ban hành các quy định riêng rạch ròi và có văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể đối với từng quy trình Trong quá trình sửa đổi quy trình, Hội sở chính đều tham khảo, lấy

ý kiến của từng chi nhánh rồi tập hợp lại nghiên cứu và chọn lọc các đề xuất đáng lưu tâm nhằm đưa ra được những quy định vừa chặt chẽ cho NH vừa thuận tiện cho khách hàng Trong quy trình nghiệp vụ TTQT mới đã bao quát toàn bộ các nghiệp vụ thanh toán hàng xuất nhập khẩu, quy định chặt chẽ từng bước các thao tác nghiệp vụ, giúp các chi nhánh tránh được các rủi ro không đáng có trong việc khởi tạo và kiểm soát các bức điện đi, xử lý chứng

từ và các bức điện đến… đã đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng phong phú và đa dạng của hoạt động TTQT

Với xu hướng hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay nhu cầu giao dịch của khách hàng ngày càng đa dạng, để có thể đáp ứng được NHNT đã và đang thực hiện giao dịch với các thị trường mới, các thị trường có tình hình chính trị bất ổn hoặc nằm trong danh sách cấm vận của Mỹ Rủi ro tiềm ẩn

Trang 11

của các thị trường này rất lớn và khó lường Để hạn chế rủi ro, NHNT đã đưa

ra các biện pháp hữu ích là xây dựng giới hạn tín dụng quốc gia, giới hạn tín dụng đối với từng tổ chức tín dụng trong quốc gia đó nhằm kiểm soát chặt chẽ giao dịch với các thị trường này và kịp thời ngăn chặn nguy cơ rủi ro

NHNT cũng kịp thời bổ sung văn bản hướng dẫn xử lý và luân chuyển chứng từ TTQT giữa chi nhánh cơ sở và chi nhánh đầu mối

2.3.2 Thay đổi mô hình hoạt động:

Trong vài năm qua, NHNT đã tiến hành thay đổi mô hình hoạt động TTQT – tín dụng theo hướng bộ phận tín dụng hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc thẩm định, xem xét khả năng tài chính của doanh nghiệp khi phát hành L/C, chiết khấu L/C… phòng TTQT chỉ đảm nhận trách nhiệm tác nghiệp theo thông báo tài trợ thương mại của phòng tín dụng Theo mô hình này, mức độ chuyên sâu về nghiệp vụ được nâng lên rõ rệt, hạn chế được phần nào rủi ro nghiệp vụ Ngay trong bản thân bộ phận tín dụgn cũng được tách thành các phòng có chức năng độc lập nhau Sự tách biệt này đã cải thiện được tình trạng một cán bộ thực hiện trọn gói từ lập hồ sơ đến cho vay, hạn chế được nguy cơ rủi ro đạo đức Chất lượng nghiệp vụ được tăng lên đáng kể nhờ chia quá trình thực hiện nghiệp vụ thành những giai đoạn độc lập Ở NHNT, khối tín dụng được chia thành hai phòng là Phòng Quan hệ khách hàng có trách nhiệm thu thập thông tin và Phòng Quản lý rủi ro tín dụng chịu trách nhiệm kiểm tra thông tin Trên cơ sở đánh giá của hai phòng trên, Hội đồng tín dụng sẽ đưa ra hạn mức tín dụng cho từng khách hàng và duyệt từng phương án kinh doanh cụ thể

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực TTQT, hệ thống NHNT chia thành hai loại

có chức năng khác nhau là chi nhánh đầu mối và chi nhánh cơ sở Chi nhánh đầu mối chịu trách nhiệm tiếp nhận giao dịch của một số lượng nhất định các chi nhánh cơ sở Các chi nhánh cơ sở thuần tuý tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng sau đó hồ sơ này được chuyển lên chi nhánh đầu mối qua fax, scan trong nội

Trang 12

bộ hệ thống Sự phân chia này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cán bộ thanh toán của các chi nhánh mới thành lập, chi nhánh nhỏ, chi nhánh mới được nâng cấp từ cấp 2 lên cấp 1 thường có ít kinh nghiệm, không thành thạo nghiệp vụ nên dễ xảy ra sai sót trong quá trình tác nghiệp hoặc không có khả năng phát hiện các giao dịch có dấu hiệu lừa đảo Bằng kinh nghiệm lâu năm của mình, các chi nhánh đầu mối không chỉ có khả năng phát hành những L/C

rõ ràng và chặt chẽ, tránh được những quy định mơ hồ mà còn tư vấn khách hàng sao cho có lợi và đảm bảo nhất cho họ, qua đó tránh được nguy cơ rủi ro trong khâu thanh toán về sau Mô hình này sẽ giúp NHNT thu hẹp phạm vi xử

lý giao dịch nhờ đó có thể phần nào hạn chế rủi ro

2.3.3 Xây dựng chính sách khách hàng hợp lý:

NH chỉ có thể thành công khi gắn bó và hợp tác chặt chẽ với khách hàng NHNT đang từng bước xây dựng chính sách khách hàng với mục tiêu củng cố và mở rộng quan hệ khách hàng, thu hút thêm khách hàng từ mọi thành phần kinh tế Ta có thể khái quát chính sách khách hàng của NHNT như sau:

Nâng cao chất lượng và đổi mới phong cách phục vụ, giao tiếp văn minh, lịch sự đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm mới phục vụ khách hàng

Củng cố và phát triển khách hàng truyền thống, khách hàng có tín nhiệm, thu hút những khách hàng kinh doanh có hiệu quả, có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân

NHNT đặc biệt quan tâm đến khách hàng trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn, các khách hàng có tiềm năng xuất khẩu mạnh, đề ra nhiều chính sách để thu hút nhóm khách hàng này tạo nguồn ngoại tệ cho NH ví dụ như

áp dụng biểu phí hợp lý và ưu đãi lãi suất cho vay cho từng nhóm khách hàng

Quy định hạn mức tín dụng, hạn mức mở L/C, hạn mức chiết khấu… cho từng đối tượng khách hàng Đối với khách hàng có tín nhiệm trong quan

hệ tín dụng và tình hình tài chính lành mạnh, NHNT sẽ xem xét miễn ký quỹ

Trang 13

hoặc cho mở L/C bằng vốn vay Đối với những L/C mở bằng vốn vay hay vốn

tự có nhưng ký quỹ dưới 100% NH quy định vận đơn lập theo lệnh của NH để đảm bảo quyền kiểm soát chứng từ và quyền định đoạt hàng hoá của NH thông qua việc ký hậu vận đơn

2.3.4 Hiện đại hoá công nghệ thông tin:

Vừa qua, World Bank đã tài trợ cho bốn NH hàng đầu Việt Nam trong

đó có NHNT và một số NH cổ phần dự án “Hiện đại hoá Ngân hàng và hệ thống thanh toán” Dự án đã mang lại hiệu quả đáng kể cho NHNT trong việc kiểm tra kiểm soát, thu thập thông tin về bất cứ khách hàng nào từ trung ương đến chi nhánh, làm tăng độ chính xác và hiệu quả trong công tác báo cáo thống kê

NHNT cũng chú trọng đầu tư nâng cấp và mở rộng mạng SWIFT, đẩy mạnh việc triển khai dự án, củng cố và phát triển lực lượng cán bộ công nghệ thông tin để tiếp nhận công nghệ NH hiện đại Các chương trình phần mềm TTQT được cải tiến và hoàn thiện Chương trình mới được xây dựng thay thế các chương trình cũ đã lỗi thời không còn phù hợp với đòi hỏi thực tiễn, tốc

độ xử lý nhanh chóng và chính xác, đáp ứng các dịch vụ đa dạng về TTQT Các chứng từ thông qua mạng nội bộ sẽ đến tay chi nhánh đầu mối nhanh chóng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các chi nhánh, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và tăng cường khả năng cạnh tranh của NHNT với các tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam

2.3.5 Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ:

Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố nhân lực, NHNT thời gian qua đã rất chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ Trung tâm đào tạo của NHNT thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao trình độ nghiệp

vụ cho cán bộ TTQT như Hội nghị tập huấn TTQT, Hội thảo TTQT… Trước thời điểm hiệu lực của UCP 600, NHNT đã tổ chức rất nhiều buổi tập huấn giúp cho cán bộ TTQT nắm vững được những thay đổi của UCP 600 Các hội

Trang 14

nghị tập huấn hàng năm cũng là dịp để các cán bộ TTQT trao đổi và học hỏi, cập nhật các kiến thức mới Bên cạnh đó, các cán bộ thanh toán cũng được khuyến khích tham gia các buổi hội thảo TTQT do các NH nước ngoài tổ chức Họ được học hỏi thêm các kinh nghiệm làm việc và kỹ năng phòng ngừa rủi ro của các NH uy tín trên thế giới từ các chuyên gia lão luyện và hàng đầu về thanh toán Không chỉ chú trọng công tác đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thanh toán, NHNT còn quan tâm đến việc nâng cao kỹ năng cho các cán bộ tín dụng trong công tác cấp tín dụng liên quan đến TTQT, giúp họ nhận biết các rủi ro tín dụng có thể gặp phải trong quá trình tác nghiệp để phối hợp cùng bộ phận TTQT phòng tránh có hiệu quả

Song song với việc triển khai các chương trình phần mềm TTQT mới, các cán bộ thanh toán cũng được hướng dẫn cụ thể về thao tác trên chương trình mới sao cho công việc đạt được hiệu quả cao nhất

2.3.6 Sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro:

Trên thực tế, NHNT bắt đầu sử dụng các công cụ phái sinh trong hoạt động kinh doanh nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tuy nhiên các giao dịch này không nhiều và kém đa dạng Các hợp đồng phái sinh đầu tiên được ký kết vào năm 1997, chủ yếu là các hợp đồng kỳ hạn mua bán ngoại tệ giữa NHNT với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Có thể thấy thị trường công cụ phái sinh đã hình thành ở Việt Nam nhưng còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến do nhiều nguyên nhân Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ còn thấp, thị trường vốn đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển

2.3.7 Định kỳ kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh:

Công tác kiểm tra, kiểm soát của NHNT trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng Việc kiểm soát được tiến hành thường xuyên ở tất cả các khâu nghiệp vụ và tập trung vào các hoạt động nghiệp vụ trọng yếu Nghiệp vụ kiểm tra nội bộ một mặt được tăng

Trang 15

cường, mặt khác đang được xem xét chuyển đổi mô hình để nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát Hệ thống kiểm toán được hình thành và đi vào sử dụng Hiện nay số lượng cán bộ làm công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ tăng hơn nhiều so với các năm trước Trình độ cán bộ cũng được nâng lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nghiệp vụ, cán bộ có trình độ đại học chiếm tỷ lệ 90%, nhiều cán bộ đã có hai bằng: bằng chuyên môn và bằng pháp lý Chính

vì thế, chất lượng công tác kiểm tra kiểm soát trong toàn hệ thống ngày càng được nâng cao, công tác tư vấn pháp luật đã thu được kết quả tốt Bên cạnh

đó, bộ phận kiểm soát nội bộ của NH còn tư vấn trong nội bộ NH, đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện và nâng cao tính hiệu quả, an toàn trong khi thực hiện các quy trình nghiệp vụ của NH

2.4 Đánh giá công tác bảo đảm an toàn trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam:

2.4.1 Các kết quả đạt được:

Công tác bảo đảm an toàn trong hoạt động TTQT của NHNT nhìn chung đã được quan tâm và đang thực hiện Nhờ có các quy định chặt chẽ, NHNT đã kiểm soát được tình hình mở L/C nhập khẩu của các doanh nghiệp tại các chi nhánh trong hệ thống, tránh tình trạng mở L/C tràn lan, vượt quá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp làm xuất hiện rủi ro tín dụng của khách hàng, đồng thời hạn chế được những rủi ro, mất an toàn vì thiếu nguồn ngoại tệ thanh toán Trong thanh toán L/C nhập khẩu, tỷ trọng nợ quá hạn đã

có chiều hướng giảm xuống

Tỷ lệ sai sót trong kiểm tra chứng từ hàng xuất và hàng nhập có xu hướng giảm chứng tỏ chất lượng chuyên môn của các thanh toán viên đã được chú trọng nâng cao rõ rệt

2.4.2 Các hạn chế và nguyên nhân:

NHNT chưa có chiến lược hợp lý để quản lý rủi ro tổng thể nói chung

và bảo đảm an toàn cho hoạt động TTQT nói riêng

Trang 16

Tình trạng cán bộ của NHNT còn thao tác nghiệp vụ theo thói quen, người trước hướng dẫn người sau chứ không tự nghiên cứu và nắm vững các quy định pháp lý Trừ Hội sở chính, Sở giao dịch và một số chi nhánh ở các thành phố lớn có cán bộ thành thạo nghiệp vụ còn phần lớn ở các chi nhánh trình độ cán bộ còn thấp Việc đào tạo nghiệp vụ cho các chi nhánh còn phiến diện, bản thân các giáo viên tham gia giảng dạy cũng chưa được đào tạo chính quy mà chỉ thông qua thực tiễn rút ra kinh nghiệm sau đó truyền đạt lại

Việc duyệt hợp đồng tín dụng cho vay nhập khẩu được phép xem xét trong 3 ngày làm việc nhưng khách hàng lại rất cần điện phát hành L/C ngay

để thông báo cho bên xuất khẩu giao hàng, nếu chậm trễ theo hiệu lực hợp đồng thì bên mua có thể mất cơ hội nhập hàng Trong trường hợp này nếu không khéo léo phối hợp rất dễ gây khó khăn cho khách hàng hoặc ngược lại gây rủi ro, mất an toàn cho NH

Sự phối hợp giữa ba bộ phận tín dụng - thanh toán - kinh doanh ngoại

tệ còn lỏng lẻo Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của NH khi đến hạn Nhiều bộ chứng từ xuất trình L/C, nhờ thu dù đã quá hạn thanh toán nhưng phòng tín dụng vì lý do nào đó chưa cho nhận nợ hoặc phòng kinh doanh ngoại tệ không lo được ngoại tệ để bán cho khách hàng Việc chậm thanh toán gây ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của NHNT với đối tác

NHNT đã có hệ thống thông tin nội bộ cung cấp thông tin kinh tế - xã hội liên quan đến hoạt động NH song chất lượng thông tin không đầy đủ và cập nhật Việc khai thác các nguồn thông tin khác nhau để phòng chống rủi ro

và điều hành kinh doanh vẫn gặp hạn chế lớn

Thời gian qua, công tác kiểm soát nội bộ tại NHNT thường chú trọng đến công tác tín dụng, công tác kế toán song chưa có chương trình kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất chuyên sâu trên lĩnh vực TTQT

Trang 17

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

3.1 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam:

NHNN Việt Nam đã xây dựng chương trình hành động cho quá trình hội nhập toàn ngành NH Trên cơ sở đó, NHNT cũng đã xây dựng và đang triển khai chiến lược hoạt động kinh doanh đến năm 2010 trên toàn hệ thống Trong đó, chiến lược đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hoạt động TTQT là một trong những chiến lược đang được NHNT quan tâm, đầu tư nhân lực và công nghệ Định hướng chiến lược phát triển hoạt động TTQT của NHNT được tập trung trên một số mặt sau:

Cơ cấu lại mảng hoạt động TTQT theo mô hình NH tiên tiến hiện đại gồm các khối tài trợ thương mại quốc tế, khôi trung tâm chuyển tiền, khối định chế tài chính phù hợp với chiến lược và đề án tái cơ cấu của NHNT

Ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng hoạt động TTQT, nâng cao tính an toàn và bảo mật trong hoạt động TTQT

Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ TTQT cho cán bộ NHNT theo kịp các chuẩn mực và tập quán NH quốc tế trong từng lĩnh vực

Tiếp tục mở rộng mạng lưới NH đại lý, tập trung vào các thị trường Asean, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Châu Phi, Trung Đông, Mỹ La tinh Từng bước mở rộng hoạt động NH đến các vùng biên giới có tiềm năng về biên mậu, phát triển mạng lưới đến các trung tâm NH tài chính quốc tế lớn như Hongkong, Singapore, Mỹ

Thiết kế hệ thống cung ứng dịch vụ thanh toán trọn gói, gắn liền hoạt động tín dụng – TTQT – kinh doanh ngoại tệ Tập trung nâng cao kỹ thuật quản trị rủi ro trong thanh toán bao gồm quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại

Ngày đăng: 01/09/2017, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Xuân Hương (2006), Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốc tế
Tác giả: Trần Thị Xuân Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
2. Nguyễn Văn Tiến (2003), Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
3. Nguyễn Văn Tiến (2008), Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thanh toán quốc tế
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
4. Trần Hoàng Ngân, Nguyễn Minh Kiều (2008), Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh toán quốc tế
Tác giả: Trần Hoàng Ngân, Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
5. Đinh Xuân Trình (2002), Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương
Tác giả: Đinh Xuân Trình
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
6. Lê Thị Phương Liên (2006), “Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại”, Tạp chí hoạt động khoa học, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại”, "Tạp chí hoạt động khoa học
Tác giả: Lê Thị Phương Liên
Năm: 2006
7. Hoàng Xuân Quế (2006), “Về hoạt động Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hoạt động Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Hoàng Xuân Quế
Năm: 2006
10. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (2003, 2004, 2005, 2006, 2007), Báo cáo thường niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên
11. Ngân hàng Nhà nước (2003, 2004, 2005, 2006, 2007), Báo cáo thường niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên
12. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (2008), Báo cáo tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính
Tác giả: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w