Để góp phần giải quyết vấn đề nên trên đề tài: “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa” đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
PÙ LUÔNG, HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2013
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ BẢO LÂM
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian thực hiện nghiên cứu, thu thập số liệu, phỏng vấn các hộ tại các xã Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao huyện Bá Thước, các số liệu, tài liệu liên quan đến
đề tài tại cơ quan Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Chi cục Thống
kê huyện Bá Thước, Quan Hóa và một số hình ảnh thực địa Kết quả xử lý số liệu nội nghiệp trên máy vi tính, đến nay Tôi đã hoàn thành bản luận văn Thạc sỹ Khoa học Lâm nghiệp Luận văn được hoàn thành là nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của Nhà trường, quý thầy, cô, cơ quan chức năng địa phương nơi nghiên cứu, bạn bè đồng nghiệp, gia đình, đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình học tập, thực tập làm luận văn của bản thân
Qua đây, cho phép Tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Bảo Lâm đã trực tiếp Hướng dẫn khoa học; các thầy, cô Trường Đại học Lâm nghiệp
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, cán bộ Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông; UBND huyện Quan Hóa, huyện Bá Thước; Chi cục Thống kê huyện Bá Thước, Quan Hóa; UBND xã Cổ Lũng, Lũng Cao, Thành Lâm huyện Bá Thước và các cơ quan, đơn vị, các hộ gia đình nơi nghiên cứu đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu cũng như cung cấp tài liệu có liên quan thực hiện
đề tài
Trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông, Sở NN&PTNT Thanh Hóa đã tạo điều kiện về thời gian, bố trí công việc đảm bảo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện đề tài
Mặc dù đã tập trung nghiên cứu, nỗ lực bản thân, nhưng do khả năng, năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên Bản luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến quý báu của các thầy, cô, các nhà khoa học, bạn đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 4Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2013
Người thực hiện
Lê Thế Sự
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng quản lý rừng 3
1.1.2 Hiện trạng quản lý các VQG, Khu BTTN và những mâu thuẫn phát sinh 4
1.1.3.Những nghiên cứu về thực trạng sử dụng TNR rừng của cộng đồng ở địa phương 6
1.1.4 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cộng đồng người dân vào tài nguyên rừng trong các VQG, Khu BTTN 6
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 7
1.2.1 Những nghiên cứu về thực trạng quản lý tài nguyên rừng với sự tham gia của người dân địa phương 7
1.2.2 Những nghiên cứu về thực trạng sử dụng TNR của người dân ở địa phương 8
1.2.3 Các chính sách liên quan tới công tác bảo tồn và quyền lợi của người dân khi tham gia vào hoạt động bảo tồn các VQG, Khu BTTN 10
1.3 Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu 13
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15
Trang 6iv
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 15
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu 15
2.3 Giới hạn nghiên cứu 15
2.4 Nội dung nghiên cứu 16
2.5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 17
2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận 17
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu 21
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 33
3.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.1 Vị trí địa lý 33
3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất, thổ nhưỡng 34
3.1.3 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn 34
3.1.4 Đặc điểm thảm thực vật rừng 35
3.1.5 Nhận xét điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến quản lý KBT 35
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37
3.2.1 Tình hình dân số và dân tộc 37
3.2.2 Lao động và phân bố lao động 40
3.2.3 Các hoạt động kinh tế của người dân 42
3.2.4 Cơ sở hạ tầng và văn hoá giáo dục 45
3.2.5 Nhận xét điều kiện KT-XH ảnh hưởng đến quản lý Khu tồn 48
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở địa phương 50
4.1.1 Hiện trạng sử dụng đất của các xã nằm trong KBT 50
4.1.2 Hiện trạng sử dụng đất trong KBT 51
4.1.3 Thực trạng công tác bảo vệ tài nguyên rừng 52
4.2 Thực trạng sử dụng TNR ở địa phương và cáctác động của người dân địa phương đến TNR tại Khu BTTN Pù Luông 60
Trang 7v
4.2.1 Thực trạng sử dụng tài nguyên rừng 60
4.2.2 Các tác động có lợi của người dân địa phương đến TNR tại KBT 63
4.2.3 Các tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR tại KBT 64
4.2.4 Các hoạt động chăn thả gia súc, lấn chiếm đất canh tác của người dân địa phương đến TNR tại Khu BTTN Pù Luông 82
4.3 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ rừng và tổng thu nhập của các HGĐ tại Khu vực nghiên cứu 87
4.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ rừng và đất rừng87 4.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới tổng thu nhập của HGĐ 89
4.4 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong công tác bảo vệ TNR và phát triển kinh tế cho các HGĐ trong khu vực nghiên cứu 92
4.4.2 Những khó khăn 93
4.4.3 Cơ hội và thách thức 94
4.5 Nguyên nhân dẫn tới những tác động có lợi và bất lợi của người dân địa phương đến TNR tại Pù Luông 96
4.5.1.Nguyên nhân dẫn tới những tác động có lợi 96
4.5.2 Nguyên nhân dẫn tới những tác động bất lợi 97
4.6.2 Nhóm giải pháp cụ thể cho từng nhóm hộ gia đình 128
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 133 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9BTTN Pù Luông
39
3.6 Lao động và phân bố lao động của các xã thuộc KBT 40 3.7 Lao động phân theo ngành nghề ở các xã nằm trong KBT 41 3.8 Tình hình sản xuất nông nghiệp tại 9 xã nằm trong Khu BTTN Pù
Trang 10viii
4.13 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới lượng củi khai thác từ rừng 72 4.14 Thống kê số vụ vi phạm do săn bắt động vật hoang dã 73 4.15 Mức độ săn bắn động vật hoang dã của các HGĐ 74 4.16 Tổng hợp các loài lâm sản ngoài gỗ được người dân các thôn khai
thác và sử dụng ở KBT Pù Luông
76
4.17 Mức độ khai thác các loại LSNG khác của các hộ điều tra 78 4.18 Số lượng gia súc- gia cầm tại các thôn 82 4.19 Mức độ chăn thả gia súc của các hộ điều tra 83 4.20 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng chăn thả gia súc của
các hộ điều tra
84
4.21 Mức độ sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy của các HGĐ 86 4.22 Ước lượng độ co giãn của mô hình đối với thu nhập từ rừng và đất rừng 88 4.23 Tổng hợp các yếu tố sản xuất ảnh hưởng đến thu nhập HGĐ 90 4.24 Tổng hợp số hộ thiếu đất canh tác nông nghiệp 97 4.25 Bảng tổng hợp diện tích của các thôn điều tra 98 4.26 Thu nhập của người dân ở các xã nằm trong KBTTN Pù Luông từ
việc quản lý bảo vệ rừng
Trang 11các hộ điều tra
71
4.3 Mức độ khai thác củi phục vụ sinh hoạt và đem bán theo kinh tế hộ
của các hộ điều tra
71
4.4 Mức độ thường xuyên hoạt động săn bắn của các HGĐ 75 4.5 Mức độ khai thác cây thuốc của các hộ điều tra 79 4.6 Mức độ khai thác măng, rau ăn của các hộ điều tra 79 4.7 Mức độ thường xuyên hoạt động khai thác LSNG của các HGĐ 80 4.8 Mức độ chăn thả gia súc theo vị trí của các hộ điều tra 84 4.9 Mức độ chăn thả gia súc theo kinh tế hộ của các hộ điều tra 84 4.10 Cơ cấu diện tích đất Nông nghiệp và Lâm nghiệp tại các thôn 99 4.11 Tỷ lệ thu nhập trung bình từ TNR trong tổng thu nhập của HGĐ 106 4.12 Nhu cầu và khả năng tự đáp ứng lương thực bình quân của các nhóm HGĐ 113 4.13 Nhu cầu và khả năng tự đáp ứng về lượng gỗ của các nhóm hộ gia đình 115 4.14 Nhu cầu và khả năng tự đáp ứng về chất đốt của các nhóm HGĐ 117 4.15 Nhu cầu và khả năng đáp ứng tiền mặt bình quân của các HGĐ 119 4.16 Sơ đồ mặt cắt dọc mô hình Nông Lâm kết hợp 132
Trang 12Từ những thông tin nhỏ bé của hình ảnh đã để lại một vài thực tế rằng:
- Tài nguyên rừng không những có vai trò quan trọng đối với toàn xã hội, có
ý nghĩa Quốc gia, khu vực, toàn Thế giới mà còn là nguồn sinh kế chủ yếu của con người từ bao đời, đặc biệt đối với các cộng đồng sống trong và gần rừng
- Những mối đe dọa chính tới các khu rừng thường xuất phát từ mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn và sinh kế của người dân sống bên trong và bên ngoài ranh giới diện tích rừng Khi những mâu thuẫn này chưa được xác định và giải quyết, thì những vấn đề cơ bản của phát triển bền vững khó có thể giải quyết được
- Nút thắt của những mâu thuẫn trên sẽ phần nào được tháo gỡ và giải quyết hài hòa nếu như công tác quản lý và bảo vệ rừng có sự góp sức từ người dân cũng như cộng đồng dân cư sinh sống gần rừng
Thực tế cho thấy, việc thành lập các Khu bảo tồn thiên nhiên đã làm mất đi nguồn thu nhập nâng cao đời sống của phần lớn các cộng đồng dân cư sống trong và gần các KBT và hậu quả là lâu nay vẫn tồn tại tình trạng người dân khai thác trái phép các nguồn tài nguyên thiên nhiên Đa số người dân sống trong và gần các
Trang 132
VQG, KBT là người nghèo, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập các KBT, VQG không đem lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị thiệt thòi vì không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như trước nữa Thêm vào đó, các nguồn thu nhập của người dân ngày càng bị hạn chế do diện tích canh tác bị thu hẹp, giảm các nguồn thu từ rừng… mà họ chưa có bất cứ nguồn sinh kế nào thay thế Điều đó dẫn đến tác động của người dân tới các tài nguyên rừng ở các VQG, KBT là điều không thể tránh khỏi
Một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà Lâm nghiệp là: Làm thế nào để hài hòa được mục tiêu bảo vệ và phát triển vốn rừng với nhu cầu cuộc sống của người dân sống trong và cạnh các khu rừng? Và vai trò của người dân địa phương trong công tác quản lý và phát triển rừng có ý nghĩa như thế nào? Để góp phần giải quyết vấn
đề nên trên đề tài: “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài
nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa” được lựa chọn nghiên cứu và có thể xem là một công trình nhỏ góp
phần từng bước hoàn thiện giải đáp câu hỏi nói trên
Trang 143
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về sự tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng để phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững có hiệu quả đã được nhiều tác giả nghiên cứu cho các đối tượng, các khu vực, bằng các phương pháp và mục đích khác nhau, từ đó hình thành các hướng giải quyết thông qua các giải pháp là khác nhau Vì vậy, trong khuôn khổ một luận văn Thạc sỹ, tác giả chỉ khái quát một số công trình tiêu biểu trong và ngoài nước có liên quan tới nội dung nghiên cứu của luận văn, để làm cơ sở định hướng cho việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu sau này
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Những nghiên cứu về thực trạng quản lý rừng
Nghiên cứu của Eva Wollenberg, Bruce Campbell, Sheeona Shackletton, David Edmunds,and Patricia Shanley (2004) tạiOrissa và Uttarkhand ở Ấn độ, Bộ Lâm nghiệp cho phép người dân được trực tiếp, tiếp cận với sản phẩm rừng, đất rừng, lợi ích từ tài nguyên rừng Ngược lại thì Nhà nước cho phép người dân hợp tác với họ để quản lý rừng thông qua việc bảo vệ rừng hoặc trồng rừng, yêu cầu người dân chia sẻ lợi nhuận với các cơ quan quản lý rừng của Nhà nước Thông qua việc chia sẻ quyền lợi giữa các nhóm người địa phương với Nhà nước, các chương trình Dự án cũng đã giúp hòa giải sự tranh chấp nguồn tài nguyên giữa người dân và Nhà nước
Ở Uganda khi tiến hành nghiên cứu về lĩnh vực đồng quản lý rừng tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và MgaHinga Gorilla thuộc Uganda hai nhà nghiên cứu Wild và Mutebi, (1996) cho thấy hợp tác quản lý được thực hiện giữa ban quản
lý VQG và cộng đồng dân cư Hai bên thoả thuận ký kết Quy ước cho phép người dân khai thác bền vững một số lâm sản, đồng thời có nghĩa vụ tham gia quản lý bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn của cộng đồng
Thái Lan là một nước được các nước trong khu vực và trên Thế giới đánh giá cao về những thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình BVR trên cơ sở
Trang 154
cộng đồng [45] Ở đây, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân được Chính phủ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có nghĩa vụ và trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm tăng mức độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng khả năng sản xuất của đất
1.1.2 Hiện trạng quản lý các VQG, Khu BTTN và những mâu thuẫn phát sinh
Theo định nghĩa của IUCN đã khẳng định bảo tồn ĐDSH là mục tiêu cơ bản của Khu BTTN:
“Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ Đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”(IUCN 1994)
Công ước ĐDSH (1992) xác định các Khu BTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn Đa dạng sinh học “tại chỗ” Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công ước có các mục qui đinh rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống Khu BTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các Khu BTTNvà quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các Khu BTTN để bảo tồn và sử dụng bền vững
Nguồn gốc của Khu BTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19 VQG Yellowstone
là VQG đầu tiên trên Thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872 VQG này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực
ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ Nhiều Khu BTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên Thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào Khu BTTN và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó Điều
đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa CĐĐP với KBT và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [33]
Trang 16Các mô hình ở Đông Nam Châu Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan Chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR vàKT-XH Việc đưa người dân vốn
quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào "bắt cá khỏi nước"
và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo
vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [35]
Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG, KBT trên Thế giới,
từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo Quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứuvề bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý Khu BTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhiều kết quả nghiên cứu trên Thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn Đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương Ở VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân họ đượcchung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong Ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [43]
Trang 176
1.1.3.Những nghiên cứu về thực trạng sử dụng TNR rừng của cộng đồng ở địa phương
Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng
đồng” các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng
chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả
và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ đất và nước trên vùng đất dốc (FAO, 1996) [35]
Ở Nepal, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của các hoạt động bảo tồn
và động vật hoang dã đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nepal đã được thực hiện Nghiên cứu đã khẳng định, 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn [44]
Ở Madagascar tác giả Shuchenmann 1999 [44] đã đưa ra một ví dụ ở Vườn Quốc gia Andringitra, là vườn Quốc gia thứ 14 của nước Cộng hoà Madagascar Chính phủ có Nghị định đảm bảo các quyền của người dân như: quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chỗ, cho phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng
Để đạt được những thoả thuận trên, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực
1.1.4 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cộng đồng người dân vào tài nguyên rừng trong các VQG, Khu BTTN
Bink Man W (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Tuy nhiên đây là một minh họa rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào
việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996) [44]
Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng”các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng
Trang 187
chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả
và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ đất và nước trên vùng đất dốc (FAO, 1996) [35]
Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình Bảo tồn ĐDSH theo hướng toàn cầu Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và số lượng động vật hoang dã Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nepal đã được thực hiện Nghiên cứu đã khẳng định, 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn [44]
Ở Ấn Độ, diện tích đất Lâm nghiệp đứng thứ hai sau diện tích đất nông nghiệp, và là nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ) Một nghiên cứu về Lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng Đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn [45]
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Bảo tồn ĐDSH và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc Hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền vững
ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về thực trạng quản lý tài nguyên rừng với sự tham gia của người dân địa phương
Đề tài "Những định hướng và giải pháp bước đầu nhằm đổi mới giao đất giao rừng ở miền núi", tác giả Nguyễn Đình Tư đã xem xét phân tích quá trình giao đất giao rừng từ năm 1968-1992, đã góp phần đánh giá được thực trạng rừng
và đất rừng sau khi giao Đề tài đã đưa ra được những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm đổi mới công tác giao đất lâm nghiệp ở miền núi
Trang 198
Trong 2 năm (1998-1999), Bùi Minh Vũ đã tiến hành một nghiên cứu lớn tại
2 Khu BTTN và 8 VQG Đề tài đánh giá điều kiện tự nhiên, tính ĐDSH và KT-XH của các điểm điều tra và đề xuất 3 tiêu chuẩn xác định vùng đệm, đó là: Đường ranh giới phía trong và phía ngoài vùng đệm tối thiểu là 1 km và tối đa là 10 km; Quy
mô đất đai của vùng đệm; Về dân số, lao động và dân tộc Các đề xuất và khuyến nghị của nghiên cứu mang tính phương hướng, chưa cụ thể [40]
Năm 2007, tại Khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Ngô Ngọc Tuyên đã đánh giá hiện trạng sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên Tác giả chorằng, các chương trình thực hiện tại KBT Na Hang, Tuyên Quang chưa hoạt động hiệu quả,
đã không cải thiện được cuộc sống của người dân và không hạn chế được sự tác động của người dân vào TNR Lý do chính là các chương trình đó đã không làm thoả mãn nhu cầu của cộng đồng trong khu vực [34]
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về quản lý vùng đệm tại 3 VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt Nam như: Tình hình KT-XH, tình trạng bảo tồn tại các VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm;
tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm [17]
1.2.2 Những nghiên cứu về thực trạng sử dụng TNR của người dân ở địa phương
Theo Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi
Nguyễn Thị Phương (2003)khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì-Hà Tây” đã chỉ ra rằng: Cộng
đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá, khai thác sản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc….trong đó hình
Trang 209
thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%) [26]
Báo cáo ‘‘Sử dụng tài nguyên hoang dại/bán hoang dại của người dân địa
phương và một số vấn đề sinh thái ở xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái’’ của Phan Thị Anh Đào (2002), đã phân tích mối quan hệ gữa cộng đồng người
dân bản địa với các hệ sinh thái, tập trung vào các hệ sinh thái cung cấp các loại tài nguyên bán hoang dại/hoang dại Đồng thời báo cáo cũng phân tích mối liên quan giữa việc sử dụng tài nguyên với khả năng phục hồi, tính chống chịu của các hệ sinh thái tự nhiên này Trên cở sở của những kết quả phân tích, nghiên cứu và đề xuất những giải pháp cho việc sử dụng bền vững các loại tài nguyên này, kết hợp chặt chẽ với việc quản lý tài nguyên, bảo vệ sinh cảnh/loài Vượn đen trên cơ sở quản lý với sự tham gia của cộng đồng người dân bản địa [18]
Ngô Ngọc Tuyên (2007),đã lượng hóa thể hiện sinh động ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc thực hiện nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến TNR tại Khu BTTN Na Hang, Tuyên Quang Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày
người dân đã tác động tới TNR dưới nhiều hình thức song “sử dụng tài nguyên
rừng” là hình thức có tác động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác
động cũng khác nhau Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh hưởngcủa các yếu tố đến thunhập của HGĐ [34]
Trần Ngọc Hải và cộng sự đã đánh giá vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ (LSNG) ở 2 thôn người Dao tại xã Ba Vì Tác giả cho rằng, LSNG, đặc biệt là nhóm tre, bương và cây dược liệu đóng vài trò rất quan trọng trong kinh tế hộ gia đình [20]
Trong 3 năm (1995-1998), Trần Ngọc Lân và các cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu tại vùng đệm Khu BTTN Pù Mát và dựa trên nghiên cứu này cuốn sách
“Phát triển bền vững vùng đệm Khu BTTN và VQG’’ được ra đời vào năm 1999 Nghiên cứu đã đánh giá áp lực của vùng đệm lên KBT và hệ thống nông hộ tại vùng
Trang 2110
đệm Pù Mát Tác giả kết luận rằng các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn
bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện tại, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ rất ít ở các hộ có sự hiểu biết và có vốn đầu tư
Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999), Đỗ Anh Tuân (2001) được thực hiện tại Khu BTTN Pù Mát đã đưa ra một số kết luận rằng: (1) Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới có rất ít các hộ có hiểu biết và có vốn đầu tư; (2) Hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hàng năm của một HGĐ trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập Khu BTTN (năm 1997) đã làm giảm 30%-71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương; (3) Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại Khu BTTN Pù Mát, song chúng chưa bù đắp được thiếu nguồn thu nhập trong gia đình
từ việc thành lập Khu BTTN gây ra
Phạm Gia Thanh (2012) khi "Nghiên cứu một số giải pháp đồng quản lý
rừng trên lưu vực sông Đà tỉnh Sơn La”cũng đã chỉ ra rằng đói nghèo chính là
nguyên nhân chính gây ảnh hưởng lớn nhất tới TNR thông qua các hoạt động khai thác và sử dụng TNR của các nhóm hộ gia đình trên lưu vực sông Đà Từ đó tác giả
đã đưa ra các giải pháp cụ thể hướng đến cho từng nhóm kinh tế hộ sinh sống trên từng đoạn lưu vực của sông Đà
1.2.3 Các chính sách liên quan tới công tác bảo tồn và quyền lợi của người dân khi tham gia vào hoạt động bảo tồn các VQG, Khu BTTN
Trải qua hơn bốn Thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống Khu BTTN của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 VQG, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu Bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và
Trang 2211
03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng, miền cả nước [9]
Cùng với sự ra đời của hàng loạt các VQG và Khu BTTN rải đều từ VQG Hoàng Liên Sơn hùng vĩ ở vùng núi phía Bắc cho đến VQG ngập nước U Minh Thượng thì hệ thống các thể chế, chính sách về công tác bảo tồn cũng được thiết lập Trước tiên là Luật BV và PTR ban hành ngày 12/08/1991 và được sửa đổi ngày 03/12/2004 [11] Theo đó, rừng đặc dụng bao gồm:
+ Vườn quốc gia
+ Khu BTTN gồm: Khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh + Khu bảo vệ cảnh quan gồm: Khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh
+ Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg, ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 về việc ban hành
Quy chế quản lý rừng, thay thế quyết định số 08/2001/QĐ-TTg Theo Điều 14,
Chương II của Quy chế quản lý rừng: Trong VQG và Khu BTTN được chia thành các phân khu chức năng sau đây:
a) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
- Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên như mẫu chuẩn sinh thái Quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái
- Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí bảo tồn và điều kiện thuỷ văn
b) Phân khu phục hồi sinh thái
Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái rừng thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết
c) Phân khu dịch vụ - hành chính
Trang 23Theo Điều 23 trong Quy chế quản lý rừng đã nêu rõ:
1 Việc ổn định đời sống dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng
2 Diện tích rừng sản xuất nằm xen kẽ trong rừng đặc dụng được bảo vệ, phát triển và sử dụng theo quy định tại Chương IV Quy chế này
3 Diện tích đất ở, ruộng, vườn và nương rẫy cố định của dân cư sống trong rừng đặc dụng không tính vào diện tích rừng đặc dụng nhưng phải được thể hiện trên bản đồ, cắm mốc ranh giới rõ ràng trên thực địa và quản lý theo quy định của Pháp luật về đất đai
Trong Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống Khu BTTN Việt Nam đến năm 2010 đã chỉ rõ:
- Kế hoạch quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động Bảo tồn thiên nhiên phải tham khảo đầy đủ nguyện vọng về kinh tế và thu hút sự tham gia của các cộng đồng dân cư sống xung quanh Khu BTTN
- Làm rõ mối quan hệ giữa vùng đệm và khu bảo tồn thiên nhiên bằng các giải pháp xây dựng Qui chế hoạt động và nguyên tắc phối hợp giữa vùng đệm với khu Bảo tồn thiên nhiên Qui định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia quản lý vùng đệm, đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc trên mỗi địa phương có khu bảo tồn thiên nhiên
Trang 2413
Tiếp theo là Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg, ngày 08/3/2006 về tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép
Nghị định số 109/2003/NĐ-CP, ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước
Quyết định số 62/2005/QĐ- BNN, ngày 12/10/2005 Quy định tiêu chí phân loại rừng đặc dụng
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001- 2010
Như vậy, Việt Nam đã và đang trong quá trình đổi mới công tác quản lý rừng dưới sự đồng thuận của các HGĐ và các tổ chức địa phương (Barney 2005) Chính phủ ngày càng trao cho người dân địa phương nhiều quyền hơn trong công tác quản
lý rừng Tuy nhiên trong môi trường biến động hiện nay, việc nhận thức về quyền của người dân địa phương vẫn còn hạn chế, các cơ quanNhà nước còn ít quan tâm đến kiến thức và quan điểm của địa phương trong quá trình Cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cũng như việc phân cấp quản lý Thách thức được đặt ra là làm thế nào để các bên tham gia hiểu rõ hơn về quan điểm của các cộng đồng dân cư sống trong hoặc gần khu bảo tồn Bên cạnh đó, việc xác định rõ năng lực của địa phương trong công tác quản lý rừng đặc biệt là quản lý các khu rừng đặc dụng, nhằm đảm bảo việc ra quyết định đạt hiệu quả cao là hết sức cần thiết
1.3 Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu
Các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu là phân tích, đánh giá sự phụ thuộc của người dân địa phương vào rừng và đất rừng Nhưng vấn đề nhìn nhận từ góc độ người dân địa phương đối với tài nguyên rừng còn chưa được nghiên cứu nhiều Một số nghiên cứu trong những năm gần đây đã đề cập đến vấn đề tác động của người dân địa phương với tài nguyên rừng nhưng chỉ giới hạn ở tác động của người dân địa
phương vùng đệm đến các VQG hoặc Khu BTTN
Mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với công tác bảo tồn ở các khu rừng đặc dụng đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn khác nhau Một số nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn khá đầy đủ cũng như đã lượng
Trang 2514
hóa được hình thức và mức độ tác động của cộng đồng người dân tới tài nguyên rừng của một số khu rừng đặc dụng Các nghiên cứu khác lại tập trung vào phân tích mức độ phụ thuộc của người dân vào TNR
Ngoài ra các nghiên cứu chỉ đưa ra các giải pháp chung chung, mang tính chất định hướng, chưa giải quyết các mâu thuẫn phát sinh từ thực tế
Một số khu rừng đặc dụng được nhận định không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn
Việc ngăn cấm người dân xâm nhập, tiếp cận nguồn tài nguyên trong khu rừng đặc dụng sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương, khu rừng đặc dụng với mục đích bảo tồn
Tăng cường sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt những người sống trong rừng, gần rừng, phụ thuộc vào rừng sẽ góp phần mang lại thành công trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học
Hiện nay, số lượng khu rừng đặc dụng của nước ta ngày càng tăng lên (164 khu rừng đặc dụng-theo thống kê của IUCN), trong khi đó mỗi khu rừng đặc dụng lại có đặc trưng về quy mô, sinh thái, phân bố dân cư, tình hình kinh tế, xã hội, phong tục tập quán….khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với các khu rừng đặc dụng nhằm đề xuất các giải pháp thu hút người dân tham gia công tác bảo tồn ở mỗi VQG, Khu BTTN trên phạm vi cả nước
là việc cần thiết
Trang 2615
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
3) Đề xuất được các giải pháp phát huy tác động tích cực và giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút người dân tham gia vào quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững TNR tại Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác động của các hộ gia đình đồng bào dân tộc Thái, Mường vào TNR; Các yếu tố kỹ thuật và KT-XH liên quan đến quản lý TNR ở Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
2.3 Giới hạn nghiên cứu
-Về địa điểm nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu trong Khu BTTN Pù Luông
gồm 06 thôn: 02 thôn vùng lõi, 02 thôn vùng đệm và 02 thôn phục hồi sinh thái
thuộc địa phận huyện Bá Thước, Thanh Hóa
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những tác động của người dân địa phương tới Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, Thanh Hóa,chủ yếu là
Trang 2716
những tác động bất lợi, những tác động tích cực cũng được đề cập đến nhằm tạo nền tảng cho việc đề xuất các biện pháp bảo vệ, quản lý và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu
+ Luận văn chỉ giới hạn ở việc xác định những tác động, nguyên nhân, mức
độ tác động của cộng đồng sống trong vùng đệm Khu BTTN Pù Luông, những cộng đồng dân tộc sống ngoài khu vực này không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
+ Luận văn đề cập tới 4 loại kinh tế hộ chính của cộng đồng là hộ: rất nghèo,
hộ nghèo, hộ thoát nghèo (hộ trung bình) và hộ khá Việc xác định loại kinh tế hộ không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
2.4 Nội dung nghiên cứu
1) Nghiên cứu thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở địa phương
- Hiện trạng sử dụng đất của các xã nằm trong KBT
- Nghiên cứu các hình thức và mức độ tác động có lợi
- Nghiên cứu các hình thức và mức độ tác động bất lợi
3) Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ rừng và tổng thu nhập của các HGĐ tại Khu vực nghiên cứu
- Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ rừng và đất rừng
- Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới tổng thu nhập của HGĐ
4) Nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong công tác bảo vệ TNR và phát triển kinh tế cho các HGĐ trong khu vực nghiên cứu
5) Nghiên cứu các nguyên nhân dẫn tới tác động tích cực và bất lợi của người dân địa phương tới TNR
- Nghiên cứu các nguyên nhân dẫn tới tác động tích cực
Trang 2817
- Nghiên cứu các nguyên nhân dẫn tới tác động bất lợi
6)Nghiên cứu một số giải pháp góp phần hình thành sinh kế bền vững cho người dân và giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR Khu BTTN Pù Luông
2.5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quan điểm và phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên: (1) Lý luận về lý thuyết hệ thống; (2) Quan điểm sinh thái - nhân văn; (3) Quan điểm bảo tồn - phát triển và (4) Tiếp cận
có sự tham gia
Một là, vận dụng lý luận về lý thuyết hệ thống: Hệ thống được hiểu là một cấu
trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi
là hệ thống phụ Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống
kinh tế xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác động của người dân địa phương gắn liền với các hoạt
động kinh tế của con người như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định
tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương Ngược lại, mức độ giàu có
và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế Đây là lý do đề tài hướng vào tìm hiểu các nguyên nhân kinh tế có liên quantới những tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiểu sự tác động bất lợi này
Trang 2918
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì các
hoạt động này là của con người Sự tác động này bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen trong sử dụng TNRSự tác động của người dân địa phương đến TNR còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với người dân trong KBT, VQG, hệ thống quản lý TNR, việc thực thi luật BV&PTR Các tổ chức cộng đồng và những quy định của cộng đồng cũng có ảnh hưởng tới những tác động của người dân địa phương vào TNR Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc quản lý bảo vệ TNR Những tác động của người dân địa phương đến TNR liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội
Vì vậy đề tài tiến hành nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi phối sự tác động của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội nhằm làm giảm thiểu những tác động bất lợi này
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ
tươngtác chặt chẽ Bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài tới TNR cũng dẫn đến sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ thống TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động củacon người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi tới nó
Hai là, quan điểm sinh thái - nhân văn: Thực tế cho thấy, các hoạt động
KT-XH trong cộng đồng hay trong mỗi HGĐ rất đa dạng và phong phú Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ KT-XH Các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Để giải thích tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR, đề tài sử dụng tháp sinh thái - nhân văn của Park (1936) đã được Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001) mô phỏng [35]
Mô hình sinh thái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các
Trang 3019
hoạt động xó hội của cộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của cỏc nhúm nhõn tố theo trỡnh tự: Bậc sinh thỏi, bậc kinh tế, bậc thể chế chớnh sỏch và bậc đạo đức Mụ hỡnh này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc cỏc nhúm nhõn tố với cỏc hoạt động của cỏ nhõn và sự bền vững
Dựa trờn hỡnh thỏp này (Hỡnh 2.1) cú thể giải thớch: Quan hệ giữa tỏc động bất lợi của cộng đồng đến TNR và phỏt triển KT-XH địa phương; bảo tồn TNR là quan
hệ cú xu hướng nghịch Tức là khi KT-XH địa phương càng phỏt triển, điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và cụng tỏc bảo tồn TNR được thực hiện tốt thỡ những tỏc động bất lợi tới TNR sẽ càng giảm Sự tỏc động bất lợi của người dõn địa phương vào TNR đều cú cơ sở sinh thỏi và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu
tố KT-XH
Hỡnh 2.1 Thỏp sinh thỏi nhõn văn trong nghiờn cứu sự tỏc động
của người dõn địa phương đến TNR
Cơ sở sinh thỏi được giải thớch bằng cỏc yếu tố vật lý sinh học, được chia làm
2 loại: Những yếu tố khụng thể kiểm soỏt được như khớ hậu, thuỷ văn, địa hỡnh và những yếu tố cú thể kiểm soỏt được hoặc hạn chế được như xúi mũn, lũ lụt, sõu bệnh, lửa rừng, hạn hỏn, Những yếu tố kiểm soỏt hoặc hạn chế được cần được
nghiờn cứu bằng cỏc giải phỏp khoa học cụng nghệ
hội địa ph-ơng và bảo tồn TNR
Bậc đạo đức Bậc thể chế Bậc kinh tế Bậc sinhthái
- Các yếu tố văn hoá
-Các yếu tố thể chế, chính sách -Các yếu tố kinh
tế -Các yếu tố sinh thái, công nghệ
Trang 3120
Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu
thị trường ,những nhân tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địa
phương tới TNR
Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng
đồng ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến TNR
Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa là
văn hoá của các cộng đồng Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay
đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng
Theo tháp sinh thái - nhân văn (Hình 2.1) thì bất kỳ một giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển bền vững TNR đều dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về KT-XH của người dân địa
phương
Ba là, quan điểm bảo tồn - phát triển: Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản
(1999) [28, tr.9], quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) sau:
- Thứ nhất là: nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảm
bớt và tài nguyên được bảo tồn: "Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế"
- Thứ hai là: nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng sống vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền KT-XH của họ đủ tốt để họ
có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: "Cách tiếp cận phát triển kinh tế"
- Thứ ba là: cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch
và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên một
cách hợp lý và bền vững: "Cách tiếp cận tham gia quy hoạch"
Trang 32Bốn là, tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu: Sự tham gia được định
nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về TNR với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các triển vọng được nêu ra Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ của sự tham gia từ thấp đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia qua hình thức
tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức
tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng TNR, các giải pháp giải quyết xung đột
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu
2.5.2.1 Nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp
Các tài liệu liên quan đến khu vực vùng đệm Khu BTTN Pù Luông và các xã được nghiên cứu:
* Hệ thống chính sách về quản lý rừng đặc dụng:
Luật BV&PTR 2004 (29/2004/QH11);
Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm;
Trang 3322
Nghị định 163/1999/NĐ-CP, ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ vềviệc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;
Nghị định số: 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng;
Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ
về việc ban hành Quy chế quản lý rừng; Thông tư số 99/2006/QĐ-BNN ngày 06 tháng 11 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế quản lý rừng;
Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007-2010; Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;
Quyết định số 2370/QĐ/BNN-KL, ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng; Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Đề án về chương trình đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn
2008 - 2020;
Luật Đa dạng sinh học ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2008 theo Lệnh của Chủ tịch nước số 20/2008/QH12 (được Quốc hội khóa XII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 4 ngày 13 tháng 11 năm 2008
Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020;
Quyết định số 104/QĐ-BNN, ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Bộ NN&PTNT ban hành Quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, Khu BTTN;
Trang 3423
Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN&PTNT
về việc quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ;
Quyết định số 3114/QĐ-UBND ngày 06/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng khu BTTN Pù Luông giai đoạn 2011-2015;
Quyết định số 1339/QĐ-UBND, ngày 09/5/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành về trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt quy hoạch trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa;
Quyết định số 221/QĐ-UBND, ngày 20/01/2009 của UBND tỉnh Thanh Hóa
về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hạ tầng du lịch Khu BTTN Pù Luông giai đoạn 2008-2020;
Quyết định số 3614/QĐ-UBND, ngày 14/10/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt chủ trương lập dự án đầu tư xây dựng Trung tâm du khách và Trung tâm Thông tin du khách Khu BTTN Pù Luông;
Quyết định số 2584/QĐ-UBND, ngày 14/8/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng Công trình Khu hành chính Dịch vụ Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước và Báo cáo số 214/BC-UBND ngày 26/12/2012 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc báo cáo đề nghị thẩm định nguồn vốn và phần vốn dự án sử dụng ngân sách trung ương của địa phương, trái phiếu Chính phủ phê duyệt quyết định đầu tư điều chỉnh;
Trang 3524
Quyết định số 2150/QĐ-UBND, ngày 11/07/2012 của UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt “Đề cương quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Luông đến năm 2020”;
Kế hoạch số 54/KH-UBND, ngày 13/6/2012 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc Triển khai thực hiện Nghị định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa;
Căn cứ Quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của các huyện Bá Thước và Quan Hoá;
2.5.2.2 Xác định và chọn địa điểm nghiên cứu
1) Xác định số xã và số thôn trong các xã đã được chọn để nghiên cứu (xác định dung lượng mẫu)
- Xác định dung lượng mẫu tiến hành nghiên cứu áp dụng công thức tính
X = 0,8 x Y , X: số mẫu cần khảo sát; Y: tổng số mẫu có trong vùng đệm; 0,8
là hệ số (có thể là 0,2; 0,6 hoặc 0,8) phụ thuộc vào tổng dung lượng mẫu có trong tổng thể; tổng số dung lượng mẫu có trong tổng thể càng nhiều thì hệ số càng bé
Số dung lượng mẫu (xã) cần tiến hành khảo sát X = 0,8 x 9 # 3 xã (9 là
- Nguyên tắc chung: Điểm nghiên cứu (xã, thôn) phải là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu
- Nguyên tắc cụ thể:
+ Các xã được lựa chọn có đủ 2 dân tộc hiện đang sinh sống là Thái, Mường Thành phần dân tộc có ảnh hưởng tới việc lựa chọn hệ thống sản xuất, sinh kế của cộng đồng và đặc biệt là các hình thức tác động của cộng đồng tới TNR Dân tộc và
Trang 3625
tập tục văn hoá có thể ảnh hưởng đến quá trình đổi mới, việc chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt động phát triển
+ Mỗi xã đại diện cho điều kiện về mức độ gần rừng, điều kiện giao thông,
cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận để phát triển kinh tế
+ Các thôn được lựa chọn đảm bảo đại diện cho xã và các hộ gia đình được lựa chọn phỏng vấn, thảo luận đảm bảo đại diện cho thôn
+ Các xã, thôn đều đảm bảo có đủ 4 loại kinh tế hộ: (1)Hộ khá hay hộ thoát nghèo ở mức cao; (2) Hộ thoát nghèo hay hộ trung bình; (3) Hộ nghèo; (4) Hộ rất nghèo
- Kết quả lựa chọn các xã và thôn nghiên cứu:
+ Thành phần dân tộc là yếu tố được lựa chọn làm tiêu chí chọn xã, thôn nghiên cứu điểm trong đề tài này Các số liệu dựa theo các báo cáo về dân sinh kinh
tế của Khu BTTN Pù Luông, 3 xã: Lũng Cao, Cổ Lũng và Thành Lâm huyện Bá Thước và 6 thôn: Thôn Nủa, Thôn Cao xã Lũng Cao; Thôn Hiêu, thôn Khuyn xã Cổ Lũng; Thôn Cốc, Thôn Đanh Xã Thành Lâm Các thôn này có đầy đủ cả 02 dân tộc sinh sống Thái, Mường
+ Tính đại diện của các thôn như: Vị trí tương đối của thôn theo độ cao; Mức
độ gần rừng; Mức độ thuận tiện về giao thông và có khả năng tiếp cận phát triển kinh tế hướng ra bên ngoài
+ Kết quả chọn xã và thôn như sau:
Bảng 2.1 Kết quả lựa chọn các xã nghiên cứu điểm tại Khu BTTN Pù Luông
TT Tên xã, Huyện, tỉnh Vị trí Dân tộc Chú thích
1 Lũng Cao Bá Thước Vùng đệm Mường, Thái Lựa chọn
2 Cổ Lũng Bá Thước Vùng lõi Mường, Thái Lựa chọn
3 Thành Lâm Bá Thước Phục hồi sinh thái Mường, Thái Lựa chọn
Với 3 xã được lựa chọn trên, các thông tin cơ bản về số hộ, thành phần dân tộc được tổng hợp và trình bày dưới đây làm cơ sở cho việc xác định số dung lượng mẫu điều tra, phỏng vấn
Trang 37Số HGĐ chia theo dân tộc
Số thôn lựa chọn khảo sát
Ghi chú Mường Thái
- Lựa chọn được 6 trong tổng số 31 thôn của 3 xã, làm địa điểm nghiên cứu
cụ thể, danh sách các thôn và tính đại diện của các thôn được thể hiện ở Bảng 2.3
Bảng 2.3 Kết quả lựa chọn các thôn nghiên cứu điểm tại Khu BTTN Pù Luông
Tên xã Tên
thôn Hộ dân tộc/Tổng hộ thôn Tính đại diện của thôn nghiên cứu
Mường Thái (1) (2) (3) (4) Lũng Cao Cao 59 238 2 2 1 2
Nủa 25 106 2 2 1 2
Cổ Lũng Khuyn 11 48 3 3 0 3
Hiêu 10 35 3 3 0 3 Thành Lâm Cốc 35 151 1 1 1 1
Đanh 23 77 1 1 1 1 Ghi chú: Về tính đại diện của thôn nghiên cứu, được chú giải như sau:
(1) Vị trí tương đối của thôn theo độ cao: 1=Thấp (độ cao từ 200 m đến 250 m); 2=Trung bình (độ cao từ 250 m đến 300 m); 3=Cao (độ cao từ 350 m đến 400 m)
(2) Mức độ gần rừng của Khu BTTN Pù Luông: 1= Xa rừng; 2= Gần rừng; 3= Trong rừng
(3) Mức độ thuận tiện về giao thông, đi lại: 1=Thuận tiện; 0=Không thuận tiện (4) Có khả năng tiếp cận phát triển kinh tế hướng ra bên ngoài: 1=Tốt, 2=Trung bình, 3=Không tốt
Trang 3827
2.5.2.3 Xác định số hộ (dung lượng mẫu) điều tra
Với nghiên cứu này, đề tài chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp lại
theo công thức sau:
Với nghiên cứu này, đề tài chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp lại
theo công thức sau: n = 2 2 22 2
.
.
S t N
S t N
(2.1)
Trong đó: n: Số hộ điều tra (dung lượng mẫu điều tra)
N: Tổng số hộ có trong xã điều tra
t: Là hệ số ứng với mức tin cậy của kết quả (t=95%)
: Sai số mẫu (cho trước =5%)
S2: Phương sai của tổng thể (cho trước S2=0,25) Kết quả tính toán số HGĐ cần lựa chọn phỏng vấn theo các xã được xác định:
- Xã Lũng Cao là 32 HGĐ;
- Xã Cổ Lũng là 36 HGĐ
- Xã Thành Lâm là 40 HGĐ
Căn cứ vào dung lượng mẫu, xác định được tỷ lệ chọn và tính toán được số
HGĐ cần điều tra, phỏng vấn theo từng dân tộc, như Bảng 2.4 dưới đây:
Bảng 2.4 Số hộ điều tra tại 3 xã nghiên cứu điểm
2.5.2.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường
Đề tài đã sử dụng các công cụ điều tra có sự tham gia như: Thảo luận nhóm
nông dân, thảo luận với cán bộ địa phương, phân tích SWOT, 5 Whys khảo sát thực
Trang 3928
địa, phỏng vấn kinh tế hộ, để thu thập những thông tin cơ bản của 3 xã Thông tin
cơ bản bao gồm:
- Điều kiện tự nhiên KT-XH của xã, những đặc điểm chính của thôn nghiên cứu
- Tình hình quản lý đất đai hiện nay: Ranh giới, chủ sở hữu, thời gian, cơ sở chính sách Quyền sử dụng và hiện trạng rừng, đất rừng
- Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất, quản lý rừng, đất rừng
* Sử dụng các công cụ PRA sau đây để thu thập các thông tin và số liệu ngoài hiện trường:
- Phỏng vấn cán bộ Khu BTTN Pù Luông, Hạt kiểm lâm, cán bộ của 3 xã Nghiên cứu điểm để nắm bắt những thông tin như: Tình hình đất đai, tài nguyên rừng, công tác QLBVR, cây trồng, vật nuôi, tình hình phát triển KT-XH của địa phương
- Phỏng vấn các trưởng thôn, bản của các cộng đồng nghiên cứu Phỏng vấn
hộ gia đình Tiến hành phỏng vấn tổng số 108 HGĐ trên địa bàn 03 xã Theo thành phần dân tộc, phỏng vấn HGĐ người Thái 90 HGĐ, người Mường 18 HGĐ Các HGĐ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống
- Thảo luận nhóm, phân tích SWOT, 5 Whys: Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn HGĐ
2.5.2.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Số liệu được tổng hợp và mã hóa bằng phần mềm Excel và phần mềm SPSS 13.0 nhằm phân tích các nội dung như sau:
+ Phân tích cơ cấu đất đai, cơ cấu kinh tế (chi phí - thu nhập) của các HGĐ trong khu vực nghiên cứu
+ Phân tích các hình thức và mức độ tác động của người dân sống trong và cạnh KBT đến TNR thuộc KBT
Sau đó số liệu nghiên cứu được chuyển sang các phần mềm SPSS 13.0 để tính toán:
+ Mã hóa các biến: Tên biến và nhãn của biến được đặt rõ ràng thuận lợi cho việc phân tích
Trang 40Đề tài sử dụng hàm sản xuất Cobb - Douglas (hàm có hệ số co dãn không
đổi) để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến tổng thu nhập của các
HGĐ Hàm sản xuất có dạng như sau:
(2.2)
Trong đó:
Y: là biến số phụ thuộc- thể hiện kết quả sản xuất
X1, X2, , Xn: là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đây là các biến
số độc lập)
β 1, β2 βn: là hệ số đóng góp của các yếu tố đầu vào trên
a: hằng số thể hiện năng suất lao động tổng hợp
Zi: là các yếu tố hiệu quả hay các yếu tố khác ngoài yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
γ: là các hệ số đóng góp của các yếu tố hiệu quả Zi
Để tính toán, hàm số (2.2) được biến đổi về dạng tuyến tính đối với tham số,
bằng việc lấy Logarit tự nhiên cả hai vế (2.3)
Trong đó: LnY: Là hàm tuyến tính với các tham số
1 , 2, n Là các hệ số thể hiện độ co dãn của Y đối với Xi, điều này được giải thích:
Khi X1 thay đổi 1% thì Y thay đổi 1%
Khi X2 thay đổi 1% thì Y thay đổi 2%
Z i
n
X X
X a
a LnY 0 1 1 2 2 1 1 2 2