1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu bảo tồn các loài cây thuộc ngành thông (pinophyta) tại khu bảo tồn thiên nhiên pù huống, tỉnh nghệ an

101 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Được sự nhất trí của trường Đại học lâm nghiệp và đơn vị tiếp nhận là Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An, tôi đã tiến hành thực tập luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứ

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Được sự nhất trí của trường Đại học lâm nghiệp và đơn vị tiếp nhận là

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An, tôi đã tiến hành thực tập

luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu bảo tồn các loài cây thuộc ngành Thông

(Pinophyta) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An”

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của

các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học, bạn bè đồng nghiệp, lãnh đạo, cán bộ

kiểm lâm Khu BTTN Pù Huống, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của 2 thầy

giáo TS Hoàng Văn Sâm; TS Lê Viết Lâm

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS

Hoàng Văn Sâm, TS Lê Viết Lâm đồng thời tôi cũng xin gửi tới ban lãnh

đạo, các phòng chuyên môn và cán bộ kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù

Huống, tỉnh Nghệ An lời cảm ơn chân thành nhất

Do thời gian có hạn, năng lực bản thân còn hạn chế nên bài luận văn

chắc sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ

sung từ phía các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để bài luận văn hoàn

thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 03 năm 2013

Học viên

Trần Đức Dũng

Trang 3

MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa

LỜI NÓI ĐẦU i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Nghiên cứu trên thế giới 3

1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 5

1.3 Nghiên cứu tại Khu BTTN Pù Huống 11

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Mục tiêu nghiên cứu 13

2.3 Nội dung nghiên cứu 13

2.4 Phương pháp nghiên cứu 14

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 14

2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 14

2.4.3 Phương pháp nội nghiệp 19

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21

3.1 Điều kiện tự nhiên Khu BTTN Pù Huống 21

3.1.1 Vị trí địa lý 21

3.1.2 Địa hình, địa mạo 22

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 23

3.1.4 Khí hậu, thủy văn 23

3.1.5 Tài nguyên rừng và đất rừng 24

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

Trang 4

3.2.1 Dân số, dân tộc 28

3.2.2 Lao động và tập quán 30

3.2.3 Văn hoá xã hội 31

3.2.4 Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng 32

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Kết quả nghiên cứu t hành phần và xác định sự phân bố của các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) theo đai cao tại Khu BTTN Pù Huống 33

4.1.1 Thành phần các loài thuộc ngành Thông tại Khu BTTN Pù Huống 33

4.1.2 Xác định sự phân bố của các loài theo đai cao 36

4.2 Hiện trạng bảo tồn các loài thuộc ngành Thông tại Khu BTTN Pù Huống 38

4.3 Kết quả nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái, khả năng tái sinh và hiện trạng của các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) điều tra tại Khu BTTN Pù Huống 40

4.3.1 Pơ mu 40

4.3.2 Dẻ tùng Vân Nam 46

4.3.3 Đỉnh Tùng 50

4.3.4 Thông tre lá dài 54

4.3.5 Thông nàng 58

3.5.6 Kim giao núi đá 63

3.5.7 Kim giao núi đất 67

3.5.8 Sa mộc dầu 70

4.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) tại Khu BTTN Pù Huống 74

4.4.1 Giải pháp kỹ thuật 75

4.4.2 Giải pháp về kinh tế - xã hội 76

4.4.3 Giải pháp về cơ chế, chính sách và thu hút nguồn vốn đầu tư 77

4.4.4 Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật 79

KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

hội Bảo vệ Thiên nhiên thế giới KHTN – ĐHQGHN Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam trong so sánh với thế giới 6

3.2 Hiện trạng các loại rừng và sử dụng đất đai tại Khu BTTN Pù

3.3 Hiện trạng dân số, dân tộc các bản cung quanh Khu BTTN Pù

4.1 Thành phần các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) điều tra

4.2 Hiện trạng bảo tồn các loài thuộc ngành Thông tại Khu BTTN

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.2 Hình thái cành và nón (a), cây tái sinh (b) và thân cây (c)

4.4 Hình thái nón cái còn non (a), nón đực (b) và thân cây (c)

4.6 Hình thái nón đực (a), hạt sắp chín (b), cành lá và thân cây

4.8 Hình thái hạt non (a), hạt chín (b) và tán lá (c) của loài

4.12 Hình thái quả chín (a), cành lá (b) của Kim giao núi đá 64

4.16 Hình thái cành mang nón cái (a), hạt nảy mầm (b) thân cây

4.17 Bản đồ phân bố của loài Sa mộc dầu tại Khu BTTN Pù

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học có ý nghĩa chiến lược trong thời đại hiện nay Hội nghị thượng đỉnh Rio De Janeiro ngày 05 tháng 06 năm 1992 là tiếng chuông thức tỉnh toàn thế giới “Hãy cứu lấy trái đất” vì sự đa dạng sinh vật liên quan đến sự sống của trái đất (ghi theo Richard B Primack, 1999)

Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, trong những năm qua tài nguyên đa dạng sinh vật bị khai thác quá mức và tàn phá nặng nề, nên vấn đề bảo tồn đa dạng sinh vật là một yêu cầu cấp bách ở nước ta hiện nay

Khu BTTN Pù Huống được thành lập theo Quyết định 342 QĐ/UB ngày 25/01/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An là 1 trong 3 khu rừng đặc dụng có quy mô diện tích lớn và có giá trị đa dạng sinh học cao của tỉnh Nghệ An

Khu BTTN Pù Huống đang được che phủ trên 83,1% diện tích rừng tự nhiên Tại đây qua nhiều đợt điều tra nghiên cứu, các nhà khoa học đã ghi nhận và thống kê có 1.122 loài thực vật và 327 loài động vật có xương sống, trong đó có nhiều loài động thực vật vừa có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học trong nước và quốc tế vừa có giá trị kinh tế

Nằm cách 30 km về phía Bắc của dãy Trường Sơn, bị ngăn cách bởi thung lũng sông Cả và trải dài trên địa bàn các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Qùy Hợp, Tương Dương và Con Cuông, Khu BTTN Pù Huống có diện tích là 40.127,7 ha Nơi đây là một kho tàng về các nguồn gen hoang dã, quý

Những năm gần đây, ở Pù Huống cũng giống tình trạng của các khu rừng đặc dụng khác ở nước ta, hoạt động của con người đã làm mất hoặc suy thoái phần lớn diện tích rừng tự nhiên Đáng chú ý là khai thác chọn gỗ và phá rừng lấy đất canh tác Khai thác gỗ thương mại diễn ra vào những năm

1960 cũng đã tác động đến rừng và làm mất rừng Khai thác gỗ hiện nay chủ

Trang 9

yếu phục vụ cho nhu cầu sử dụng của gia đình, phần lớn dùng để xây nhà (Kemp và Dilger, 1996) Chính những nguyên nhân này đã làm hệ sinh thái rừng suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là các loài thực vật quan trọng Như vậy, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống khá đa dạng về các loài thực vật ngành Thông, là nơi còn sót lại một số loài đặc hữu quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam cũng như Sách Đỏ thế giới Trong thời gian gần đây mặc

dù các cấp, các ngành chức năng, cũng như nhân dân các dân tộc địa phương trong vùng đã rất cố gắng trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh học, song do nhiều nguyên nhân khác nhau và do chưa tìm được giải pháp hữu hiệu nhất nên nguồn tài nguyên thực vật rừng nói chung và thực vật ngành Thông nói riêng ở đây vẫn bị tàn phá nặng nề, nhiều vụ đốt rừng làm nương rẫy thường xuyên xảy ra và đặc biệt là tệ nạn khai thác và buôn bán tài nguyên thiên nhiên trái phép với số lượng lớn vẫn diễn ra đã làm suy giảm nghiêm trọng số lượng cũng như nơi sống của các loài này Vì vậy, vấn đề nghiên cứu bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành Thông ở đây là rất cần thiết, không những có ý nghĩa về mặt khoa học sâu sắc mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn lao

Xuất phát từ những thực tiễn trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu

bảo tồn các loài cây thuộc ngành Thông (Pinophyta) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An” là cần thiết, phù hợp với tình hình, điều

kiện thực tiễn ở địa phương, góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của tỉnh Nghệ An nói riêng và trên toàn quốc gia, thế giới nói chung

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Thế giớ i thực vâ ̣t thâ ̣t phong phú và đa da ̣ng với khoảng 250.000 loài thực vâ ̣t bâ ̣c cao, trong đó thực vâ ̣t ngành Thông chỉ chiếm có trên 600 loài,

một con số đáng khiêm tốn [7], [14]

Cây thuộc ngành Thông là những loài cây có nguồn gốc cổ xưa nhất, khoảng trên 300 triệu năm Các vùng rừng cây ngành Thông tự nhiên nổi

tiếng thường được nhắc tới ở Châu Âu với các loài Vân sam (Picea), Thông (Pinus); Bắc Mỹ với ca ́c loài Thông (Pinus), Cù tùng (Sequoia, Sequoiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và Nhật Bản với các loài Tùng bách (Cupressus, Juniperus) và Liễu sam (Cryptomeria) Các loài cây thuộc ngành Thông đã đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của một số nước như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, New Zealand Lịch sử lâu dài của Trung Quốc cũng đã ghi lại nguồn gốc các cây ngành Thông cổ thụ hiện còn tồn tại đến ngày nay mà có thể dựa vào nó để đoán tuổi của chúng Chẳng hạn trên núi Thái Sơn (Sơn Đông) có cây Tùng ngũ đại phu do Tần Thủy Hoàng phong tặng tên; cây Bách Hán tướng quân ở thư viện Tùng Dương (Hà Nam), cây Bạch quả đời Hán trên núi Thanh Thành (Tứ Xuyên); cây Bách nước Liêu (còn gọi là Liêu bách) trong công viên Trung Sơn (Bắc Kinh) Đồng thời, nhiều nơi khác trên thế giới cũng có một

số cây cổ thụ nổi tiếng như cây Cù tùng (Sequoia) có tên “cụ già thế giới” ở California (Mỹ) đã trên 3.000 năm tuổi, cây Tuyết tùng (Cedrus deodata) trên

đảo Ryukyu (Nhật Bản) qua máy đo đã 7.200 năm tuổi Tại Li Băng hiện còn

một đám rừng gồm 400 cây Bách Libăng (Cedrus) nổi tiếng từ thời tiền sử, trong đó có 13 cây cổ địa có hàng nghìn năm tuổi [18]

Trang 11

Cây trong ngành Thông là một trong những nhóm cây quan trọng nhất trên thế giới Các khu rừng cây ngành Thông rộng lớn của Bắc bán cầu là nơi lọc khí cacbon, giúp làm điều hòa khí hậu thế giới Rất nhiều dãy núi trên thế giới gồm rừng các loài cây ngành Thông chiếm ưu thế đóng một vai trò quyết định đối với việc điều hòa nước cho các hệ thống sông ngòi chính Những trận lụt lội khủng khiếp gần đây ở các vùng thấp như ở các nước Trung Quốc

và Ấn Độ có quan hệ trực tiếp tới việc khai thác quá mức rừng cây ngành Thông phòng hộ đầu nguồn Rất nhiều loài thực vật, động vật và nấm phụ thuộc vào cây ngành Thông để tồn tại, do đó không có cây ngành Thông thì những loài này sẽ bị tuyệt chủng Ngành Thông cung cấp một phần chính gỗ cho xây dựng, ván ép, bột và các sản phẩm giấy của thế giới Nhiều loài còn cho gỗ quí với những công dụng đặc biệt như dùng đóng tàu hay làm đồ mỹ nghệ Phần lớn cây thuộc ngành Thông có gỗ dễ gia công, bền Ở Chi Lê cây

Fitzroya cupressoides là một loài cây ngành Thông rừng ôn đới có chiều cao đạt tới trên 50m và tuổi trên 3.600 năm Thân cây này được tìm thấy từ các đầm lầy nơi chúng đã bị chôn vùi từ trên 5.000 năm trước nhưng gỗ vẫn có giá trị sử dụng tốt Loài cây được dùng trồng rừng nhiều nhất trên thế giới là

Thông Pinus radiata, là nguyên liệu cơ bản cho công nghiệp rừng của châu

Úc, Nam Mỹ và Nam Phi, với tổng diện tích lớn hơn cả diện tích Việt Nam Tại sinh cảnh nguyên sản của cây ở California loài chỉ có ở 5 đám nhỏ còn sót lại và đang bị đe do ̣a nghiêm trọng Cây thuộc ngành Thông còn là nguồn cung cấp nhựa quan trọng trên toàn thế giới Hạt của nhiều loài còn là nguồn thức ăn quan trọng cho dân địa phương ở các vùng xa như ở Chi Lê, Mexico, Úc và Trung Quốc Phần lớn các cây thuộc ngành Thông có chứa các hoạt chất sinh hoá mà đang ngày càng được sử dụng làm thuốc chữa các căn bệnh

Trang 12

thế kỷ như ung thư hay HIV Cây thuộc ngành Thông còn có vai trò quan trọng trong các nền văn hoá cả ở phương Đông và phương Tây Các dân tộc Xen-tơ và Bắc Âu ở châu Âu thờ cây Thông đỏ Taxus baccata như một biểu

tượng của cuộc sống vĩnh hằng Người Anh Điêng ở Pehuenche, Chi Lê tin rằng

các cây đực và cây cái loài Bách tán (Araucaria araucana) mang các linh hồn tạo

nên thế giới của họ [7], [18]

Hiện tại có trên 200 loài cây thuộc ngành Thông được xếp là bị đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn thế giới [20] Rất nhiều loài khác bị đe dọa trong một phần phân bố tự nhiên của loài Những đe do ̣a hay gặp nhất là việc khai thác quá mức lấy gỗ hay các sản phẩm khác, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống cho con người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng Tầm quan trọng đối với thế giới của cây thuộc ngành Thông làm cho việc bảo tồn chúng trở nên có ý nghĩa đặc biệt Sự phức tạp trong các yếu tố đe dọa gặp phải đòi hỏi cần có một loạt các chiến lược được thực hành để bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cây này Bảo tồn tại chỗ thông qua các cơ chế như hình thành các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt, có hiệu quả đối với những khu vực lớn còn rừng nguyên sinh Công tác bảo tồn đòi hỏi sự cộng tác của mọi người từ các ngành nghề và tổ chức khác nhau Những người làm công tác này đều phụ thuộc vào việc định danh chính xác loài cây mục tiêu hay các sinh vật khác có liên quan

và vào các thông tin cập nhật ở các mức độ địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế

1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Hiện tại có khoảng 29 loài cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam Mặc dù chỉ dưới 5% số loài cây trong ngành Thông đã biết trên thế giới được tìm thấy

Trang 13

ở Việt Nam nhưng ngành Thông Việt Nam lại chiếm đến 27% số các chi và 5 trong số 8 họ đã biết [18] (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 Cây thuộc ngành Thông ở Việt Nam trong so sánh với thế giới

trên thế giới

Số chi ở Việt Nam

Số loài / loài đặc hữu ở Việt Nam

* một loài Thông mới vừa mới phát hiện ở Việt Nam và có thể là loài đặc hữu;

** số lượng các loài Thông tre ở miền Bắc Việt Nam chưa được xác định chắc chắn

– có thể có 2-3 loài chưa được mô tả và những loài này có thể là loài đặc hữu

Tất cả các loài cây ngành Thông ở Việt Nam đều có ý nghĩa lớn Chi Bách

vàng mới chỉ được phát hiện vào năm 1999 trong khi loài Thuỷ tùng chỉ còn 2 quần thể nhỏ với tổng số cây ít hơn 250 cây thuộc tỉnh Đắk Lắk Loài này là đại diện cuối cùng cho một dòng giống các loài cây cổ Hoá thạch của những cây này

đã được tìm thấy ở những nơi cách rất xa như ở nước Anh Năm 2001 một quần

thể nhỏ gồm hơn 100 cây của chi đơn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania cryptomerioides) được tìm thấy ở tỉnh Lào Cai Trước đây chi này chỉ được biết

có ở Đài Loan, Vân Nam và Đông Bắc Myanma Những quần thể lớn loài Sa mộc

dầu Cunninghamia konishii, một chi cổ khác chỉ gồm 2 loài, vừa được tìm thấy ở

Nghệ An và các vùng phụ cận của Lào Bốn trong số 6 loài Dẻ tùng (Amentotaxus) được biết (họ Thông đỏ - Taxaceae) đã thấy có ở Việt Nam Hai

Trang 14

loài trong số đó là cây đặc hữu (Dẻ tùng pô lan A poilanei và Dẻ tùng sọc nâu A hatuyenensis) và những quần thể chính của hai loài khác cũng nằm ở Việt Nam

(Dẻ tùng sọc trắng A argotaenia và Dẻ tùng Vân Nam A yunnanensis) Thậm chí

những loài cây không phải là đặc hữu của Việt Nam nhưng vẫn có ý nghĩa lớn

Thông ba lá (Pinus kesiya) gặp từ Đông Bắc Ấn Độ qua Philippin nhưng các xuất

xứ ở Việt Nam lại cho thấy có năng suất cao nhất trong các khảo nghiệm ở châu Phi và châu Úc Những thực tế này thể hiện tầm quan trọng của các loài thuộc ngành Thông Việt Nam đối với thế giới [7], [18]

Tầm quan trọng của ngành Thông Việt Nam được xác định bởi tính ổn định tương đối về địa chất và khí hậu của Việt Nam trong vòng hàng triệu năm, kết hợp với địa mạo đa dạng hiện tại của đất nước và nhiều kiểu dạng sinh cảnh kèm theo Nhìn chung, khí hậu trái đất đã trở nên khô và lạnh hơn, nhiều loài cây trong ngành Thông vốn thích nghi với điều kiện ấm và ẩm bị tuyệt chủng Tuy vậy, một

số loài đã di cư được đến các vùng thích hợp hơn như ở Tây Nam Trung Quốc và

miền Bắc Việt Nam Sa mô ̣c (Cunninghamia), Bách tán Đài Loan (Taiwania) và

Dẻ tùng (Amentotaxus) là những ví dụ của những chi trước đây có phân bố rất

rộng trên thế giới Phạm vi vĩ độ của Việt Nam (8o - 24o) gồm các nơi từ gần xích đạo cho đến vùng cận nhiệt đới cùng với phạm vi độ cao của các hệ núi chính có nghĩa là các sinh cảnh thích hợp vẫn còn tồn tại và các loài như vậy có khả năng sống sót Các thay đổi khí hậu trên Bắc bán cầu có ảnh hưởng đến các nhóm cây ngành Thông rất khác nhau Một số bị tuyệt chủng hay phải di cư tới các vùng mà còn có khí hậu thích hợp, trong khi đó một số loài khác tiến hoá và đã có thể sống được ở những sinh cảnh đã thay đổi trong điều kiện khí hậu mới Các loài Thông

ở Việt Nam là ví dụ cho cả hai hình thức này Loài Thông lá dẹt (Pinus krempfii)

được coi là một loài cây cổ tàn dư còn lại mà không có loài nào có quan hệ gần

gũi còn sống sót, trong khi đó Thông ba lá (P kesiya) là loài mới tiến hóa gần đây

Sự gần gũi của Việt Nam về địa lý với vùng nhiệt đới còn có nghĩa là những loài

Trang 15

phát tán hạt nhờ chim chóc của một số họ trong ngành Thông ở Nam bán cầu như

họ Kim giao (Podocarpaceae) đã có khả năng di cư lên phía Bắc Hệ thực vật ngành Thông Việt Nam do đó chứa đựng một sự pha trộn kỳ lạ giữa các loài cây thuộc ngành Thông cả Bắc và Nam bán cầu

Ngành Thông Việt Nam gặp ở 4 vùng chính sau:

Hình 1.1: Các vùng phân bố chính của Thông ở Việt Nam

(Nguồn: Cây lá kim Việt Nam)

Hầu như tất cả các loài Thông tự nhiên của Việt Nam đều bị đe doạ ở những mức độ nhất định Phần lớn các loài này cho gỗ quí rất thích hợp cho

sử dụng làm đồ mỹ nghệ (Pơ mu Fokienia, Bách vàng Xanthocyparis) hay cho xây dựng (phần lớn các loài Thông Pinus, Du sam Keteleeria, Pơ mu Fokienia, Sa mộc dầu Cunninghamia), trong khi đó các loài khác lại có giá trị

làm hương liệu quí (Hoàng đàn Cupressus, Pơ mu Fokienia, Bách xanh Calocedrus) hoặc được dùng làm thuốc cả trong y học truyền thống (Kim

1: Đông Bắc 2: Hoàng Liên Sơn 3: Tây Bắc và Bắc Trung bộ 4: Tây Nguyên

1

2

3

4

Trang 16

giao Nageia) hay y học hiện đại (Thông đỏ Taxus) Một số loài chỉ được sử dụng tại địa phương nhưng thường đây là những loài có phân bố hạn chế (ví

dụ như Bách vàng Xanthocyparis) Đe dọa do khai thác trực tiếp còn kèm

theo việc biến đổi những diện tích rừng lớn thành đất nông nghiệp, đặc biệt ở các vùng núi có độ cao khoảng 800 đến 1.500m nơi mà các loài cây trong

ngành Thông như Du sam (Keteleeria) và Bách xanh (Calocedrus) thường

sinh sống Việc chia cắt rời rạc các cánh rừng là một vấn đề có liên quan khác Các đám rừng nhỏ còn sót lại dễ bị cháy hơn và dễ bị ảnh hưởng do tính

di truyền suy giảm, các loài có các quần thể tự nhiên nhỏ đặc biệt rất nhạy cảm với những đe dọa này Những loài có các quần thể phân bố rộng (ví dụ như phần lớn các loài thuộc họ Kim giao - Podocarpaceae), trong một số

trường hợp còn phân bố cả ở nước khác (như Du sam Keteleeria), có thể tạo

ra cảm tưởng rằng loài ít bị đe dọa hơn so với thực tế vì việc khai thác quá mức và nạn phá rừng là những vấn đề của tất cả các nước ở Đông Nam Á

Loài cây trong ngành Thông bị đe dọa nhất ở Việt Nam có lẽ là Hoàng

đàn (Cupressus funebris) ở vùng Đông Bắc Hiện tại trong vòng 5 năm qua

mới chỉ tìm thấy được 1 cây còn lại trong tự nhiên Các cây khác đều đã bị

chặt lấy gỗ và bị đào rễ làm hương Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) là loài

chỉ được biết ở hai khu bảo tồn nhỏ của tỉnh Đắk Lắk Phần lớn những cây còn lại (số này ít hơn 250 cây) đều đã bị ảnh hưởng của lửa rừng Hầu như toàn bộ sinh cảnh của loài trên đầm lầy đã bị chuyển thành vườn cà phê và không thấy có cây tái sinh, hai loài này đang đứng trước sự tuyệt chủng Tình

trạng của một loạt các loài khác (Bách tán Đài Loan Taiwania cryptomerioides

và Bách vàng Xanthocyparis vietnamensis) có thể sẽ trở nên ở mức tương tự nếu

không có những hành động bảo tồn toàn diện được tiến hành

Trong vòng 15 năm qua có nhiều Vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được thiết lập ở Việt Nam Một số nơi này có các quần thể cây trong ngành

Trang 17

Thông bị đe dọa Bên ngoài các khu vực này các qui định pháp luật được ban

hành nhằm ngăn chặn việc khai thác trái phép Mặc dù vậy, việc khai thác tại địa phương, cả hợp pháp và trái phép vẫn còn là vấn đề nan giải Các loài có giá trị kinh tế cao hay có công dụng đặc biệt thường là những loài có nguy cơ lớn Vì vậy, bảo tồn tại chỗ cần được bổ sung bởi bảo tồn chuyển vị và các chương trình lâm sinh chung Những chương trình này cần gồm cả kế hoạch

về giáo dục cũng như thu hái và bảo quản hạt giống, trồng phục hồi và làm giàu rừng trong và xung quanh các khu bảo tồn Các loài cây dẫn nhập có thể

có vai trò trong việc hỗ trợ cho bảo tồn tại chỗ

Như vậy đã có 2 loài cây trong ngành Thông đang trên bờ vực tuyệt chủng và việc ngăn chặn những loài cây khác tiếp tục nhập vào danh sách này

là mối quan tâm của tất cả mọi người

Nhiều loài Thông có ý nghĩa kinh tế và khoa học đã được nghiên cứu phục vụ công tác bảo tồn và trồng rừng Trong số 30 loài Thông được biết ở Việt Nam đã có hơn một nửa số loài được thử nghiệm nhân giống bằng giâm hom Hai tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến cho thấy tại Lâm Đồng đã tiến hành thử nghiệm nhân giống bằng hom cho các loài Bách xanh

(Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsii) và Thông đỏ (Taxus wallichiana) với vật liệu hom Bách xanh thu hái từ cây 2 tuổi và 7-8 tuổi, Pơ mu

cây non 1 tuổi và Thông đỏ từ cây lớn tuổi trong rừng tự nhiên và các hom được

xử lý với nhiều loại chất điều hòa sinh trưởng với các nồng độ khác nhau.[12]

Huỳnh Văn Kéo, Lương Viết Hùng, Trương Văn Lung đã nghiên cứu

giâm hom loài Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum) đã sử dụng IBA với các

nồng độ khác nhau làm chất điều hòa sinh trưởng cho thấy với loài Hoàng đàn giả có khả năng nhân giống bằng hom và tỷ lệ ra rễ của hom thu hái từ cây trưởng thành thấp hơn cây non[12]

Đã có nhiều nghiên cứu về thực vật ngành Thông tại Việt Nam như:

Bộ thực vật chí Đông Dương do H Lecomte chủ biên (1907-1952) các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có

Trang 18

mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương trong đó các loài ngành Thông đã được giới thiệu và mô tả khá rõ tại đây

Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, gần đây bộ thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960-1997) cùng với nhiều tác giả khác đã công bố rất nhiều các loài cây có mạch Trong đó các loài ngành Thông đã được giới thiệu

Trong thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được thống kê lại bởi các nhà thực vật Liên Xô và Việt Nam trong kỳ yếu cây có mạch của thực vật Việt Nam – Vassular Plants Synopiss of Vietnamese Flora tập 1-2 (1996) và tạp chí Sinh học số 4 chuyên đề (1994 và 1995)

Đáng chú ý nhất là phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng

Bộ (1991-1993) xuất bản tại Canada và được tái bản có bổ xung tại Việt Nam trong 2 năm (1999-2000) Đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ngành Thông Việt Nam

Gần đây nhất là cuốn sách: Cây lá kim Việt Nam của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004), hay cuốn Thông Việt Nam nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004 Nguyễn Tiến Hiệp cùng các cộng sự Đây chính là các cuốn sách nghiên cứu,

mô tả sâu sắc tỉ mỉ một số loài cây lá kim, cũng như đưa ra được hiện trạng và công tác bảo tồn một số loài cây thuộc ngành Thông tại Việt Nam

1.3 Nghiên cứu tại Khu BTTN Pù Huống

Những nghiên cứu cụ thể về các loài Thông Khu BTTN Pù Huống không

có Tuy nhiên những nghiên cứu về khu hệ và thảm thực vật tại Khu Bảo tồn

từ trước đến nay đã có một số tài liệu điều tra bước đầu bao gồm: Điều tra xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn Pù Huống của Viện điều tra quy hoạch rừng; dự án bảo bảo vệ rừng và quản lý lưu vực sông (Danida) (2002-2006); Võ Minh Sơn, Lê Tiến An (Khu BTTN Pù Huống), Nguyễn Sinh Khang, Nguyễn Tiến Vinh (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật), GS –

Trang 19

TS Phan Kế Lộc và TS Nguyễn Tiến Hiệp trong đề tài góp phần bổ sung các loài Thông tại Khu BTTN Pù Huống phát hiện tại Khu BTTN Pù Huống 8 loài thuộc 5 họ (họ Thông tre có nhiều loài nhất, đến 4 loài là Thông tre, Thông lông gà, Kim giao núi đất và Kim giao núi đá; 4 họ còn lại, mỗi họ chỉ

có 1 loài: Họ Bụt mọc chỉ có 1 loài Sa mộc dầu, họ Hoàng đàn chỉ có 1 loài

Pơ mu, họ Đỉnh tùng chỉ có 1 loài Đỉnh tùng và họ Thông đỏ chỉ có 1 loài Sam hoa bông sọc nâu) Hầu hết các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào điều tra, kiểm kê về thành phần loài nói chung và các thảm thực vật mà chưa có đánh giá về hiện trạng bảo tồn của các loài, đặc biệt là các loài thuộc lớp Thông và lớp Tuế

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thực vật thuộc ngành Thông hiện có tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

2.2.1 Mục tiêu tổng quát

Cung cấp thông tin, cơ sở dữ liệu về thành phần, phân bố và hiện trạng của các loài thực vật ngành Hạt trần (Pinophyta) làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển chúng tại Khu BTTN Pù Huống

Đề xuất được các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Thông hiện có tại đây

2.3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài và giá trị bảo tồn của thực vật thuộc ngành Thông ở Khu BTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An

Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn các loài cây thuộc ngành Thông ở khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học một số loài thực vật thuộc ngành Thông có giá trị bảo tồn cao tại khu vực nghiên cứu

Trang 21

Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Thông tại khu vực nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Những thông tin, tư liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

Những kết quả nghiên cứu, những văn bản có liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu về các loài cây thuộc ngành Thông tại Khu BTTN Pù Huống và ở Việt Nam trong những năm trước đây

2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp

2.4.2.1 Điều tra thu thập số liệu theo tuyến

Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến điều tra được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn

Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản

đồ và đánh dấu trên thực địa bằng sơn, phấn hoặc dây có màu dễ nhận biết

Căn cứ vào điều kiện địa hình, lập địa của Khu BTTN Pù Huống và tham vấn ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ có kinh nghiệm thực địa của Khu bảo tồn như kinh nghiệm công tác thực địa của bản thân Nhằm đảm bảo các tuyến được thiết lập đi qua các dạng địa hình khác nhau đại diện cho khu vực nghiên cứu củng như có khẳ năng bắt gặp các loài quan tâm cao nhất Đợt khảo sát thứ nhất xuất phát từ bản Khì (xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp) Ngoài tuyến chính có 4 tuyến cắt ngang đi qua các dạng sinh cảnh của khu vực Khe Cô

Đợt khảo sát thứ hai xuất phát từ bản Siềng (xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông) Ngoài tuyến chính có 4 tuyến cắt ngang đi qua các dạng sinh cảnh của khu vực Khe Mét

Trang 22

Đợt khảo sát thứ ba xuất phát từ bản Cướm (xã Diên Lãm, huyện Quỳ Châu) đến bản Na Kho (xã Nga My, huyện Tương Dương) Ngoài 2 tuyến chính có 6 tuyến cắt ngang đi qua các dạng sinh cảnh của khu vực Trảng Tanh, giông chính Pù Huống và Khe Khó

Đợt khảo sát thứ tư xuất phát từ bản Na Ngân (xã Nga My, huyện Tương Dương) đến bản Tạ (xã Quang Phong, huyện Quế Phong) bản Khuổi Phừng (xã Cắm Muộn, huyện Quế Phong) Ngoài 4 tuyến chính có 11 tuyến cắt ngang đi qua các dạng sinh cảnh của khu vực Khe Pông, Khe Ngàn, đỉnh Pù Lon, khe Huổi Khoỏng và khe Ton

Các tuyến khảo sát được mô tả ở phụ lục luận văn

Trên các tuyến điều tra tiến hành thu thập các thông tin về các loài thực vật quan tâm Các thông tin bao gồm tên loài, xác định tọa độ và độ cao phân bố bằng máy định vị GPS map 78, xác định sơ bộ diện tích đám phân bố, hiện trạng quần thể, thu tiêu bản, chụp ảnh Các thông tin được ghi chép và phiếu điều tra như sau

Mẫu biểu 01: Biểu điều tra các cây theo tuyến

Tuyến số:……… Kiểu rừng chính:………

Độ cao:……….Độ dốc:……….Hướng dốc:………….…… Ngày điều tra:……… Người điều tra:……… ………

TT Tên loài D 1.3

(cm)

Hvn (m)

Ht (m) Độ cao Sinh trưởng Ghi chú

1

2

3

2.4.2.2 Điều tra thu thập số liệu theo Ô tiêu chuẩn

a) Điều tra cá thể tầng cây cao

Trang 23

Điều tra, thu thập tiêu bản, đo tính tất cả các cá thể loài Thông được tìm thấy có đường kính ngang ngực (D1.3) lớn hơn hoặc bằng 6cm

Đo D1.3 bằng thước kẹp kính

Đo chiều cao vút ngọc (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước

đo cao Blummleiss

Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây - Nam Bắc

Đối với những cây khó tới gần (do địa hình hiểm trở) sử dụng phương pháp mục trắc theo kinh nghiệm từ những cây đã đo

Số liệu điều tra cây tầng cao được ghi vào biểu như sau:

Mẫu biểu 02: Biểu điều tra theo ô tiêu chuẩn

- Ngày điều tra: - Nhóm điều tra: - Khu vực điều tra:

- Số ô tiêu chuẩn: - Vị trí - Tọa độ - độ dốc - Hướng phơi

VN

Tên khoa học

D 1.3 (cM)

D Tán (m) H (m)

Sinh trưởng

1

2

b) Điều tra, đo đếm cây tái sinh

Điều tra các loài Thông tái sinh tự nhiên theo tuyến

Số liệu điều tra cây tái sinh được ghi vào biểu như sau:

Mẫu biểu 03: Biểu điều tra cây tái sinh tự nhiên theo tuyến

Tuyến số:……… Trạng thái rừng:……… Người đo đếm:……….Ngày đo đếm:………

TT Loài cây Cấp chiều cao (cm) Nguồn gốc

tái sinh Sinh trưởng

Trang 24

<50 50-100 >100 Hạt Chồi Tốt TB Xấu

1

2

- Điều tra các loài Thông tái sinh tự nhiên quanh gốc cây mẹ

Thiết lập các ô dạng bản kích thước 4m2 (2m x 2m) quanh gốc cây mẹ theo bốn hướng, 04 ô trong tán, 04 ô ngoài tán

Xác định mật độ cây tái sinh: Mật độ cây (N) được tính theo công thức:

N =(N/S)×10.000 (cây/ha) Trong đó:

N: số cây đếm được trong diện tích S (cây) S: diện tích đo đếm (ha)

c) Xác định sự phân bố theo đai cao

Sử dụng định vị toàn cầu (GPS) để xác định độ cao phân bố của từng cá thể các Thông Căn cứ vào kết quả điều tra sự phân bố của các loài và bản đồ địa hình đã được số hoá theo các độ cao khác nhau để phân chia theo các đai cao phù hợp và chính xác

d) Xác định loài cạnh tranh: Trên tuyến điều tra, gặp cây Thông nào lấy làm cây trung tâm Lấy6 cây xung quanh để tính chỉ số cạnh tranh

Sử dụng công thức của Hegyi (1974) áp dụng để tính chỉ số cạnh trạnh cho cây trung tâm:

Trong đó:

CI là chỉ số cạnh tranh của loài cây j đối với cây trung tâm, CI càng lớn cạnh tranh với cây trung tâm càng mạnh

Dj là các đường kính ngang ngực của cây cạnh tranh j

Di là đường kính ngang ngực của cây trung tâm

Lij là khoảng cách từ cây trung tâm đến cây cạnh tranh j

Bán kính của ô = đường kính tán lớn nhất có thể của cây trung tâm

Trang 25

2.4.2.3 Phần phỏng vấn

a) Phỏng vấn chuyên gia, mô tả, định loại

- Làm việc với các chuyên gia lâm nghiệp, bảo tồn thiên nhiên, tài nguyên và môi trường ở địa phương, đặc biệt là các cán bộ chuyên môn của Khu BTTN Pù Huống để thảo luận về:

+ Thành phần loài có mặt trong Khu BTTN Pù Huống từ đó sơ bộ xác định phân bố các loài trên bản đồ (bản đồ phân bố lý thuyết)

+ Phân bố của một số loài trong Khu BTTN Pù Huống và những điểm quan trọng khác

- Tiến hành phỏng vấn người dân để thu thập thông tin về phân bố quần thể của các loài cây cần nghiên cứu

- Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu

- Căn cứ các dẫn liệu thu thập được từ nghiên cứu thực địa, sử dụng các tài liệu chuyên khảo về Thông, Tuế Việt Nam và thế giới, Sách đỏ Việt Nam 2007(phần thực vật), các công bố liên quan trong Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam; Thực vật chí Trung Quốc, Thái Lan, cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999)….và tham vấn các chuyên gia đầu nghành về thực vật của Trung tâm Bảo tồn Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp, Trung tâm đa dạng sinh học (ĐH Lâm nghiệp)

để định tên và mô tả chính xác các loài

b) Nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng và đánh giá nhanh nông thôn thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương

PRA (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân), sử

dụng nhiều công cụ (cách) tiếp cận cho phép người dân cùng chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập

Trang 26

kế hoạch và hành động Cần phải kết hợp cả phương pháp này để phát huy tối

đa năng lực của cộng đồng thông qua sự tham gia tích cực của họ vào hoạt động điều tra trên thực địa, đồng thời phân tích những áp lực lên tài nguyên rừng và tìm các giải pháp bảo tồn và phát triển

RRA (Đánh giá nhanh nông thôn): là quá trình nghiên cứu được coi

như là điểm bắt đầu cho sự hiểu biết tình hình địa phương Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) với công cụ chính là bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc để phỏng vấn các đối tượng sau: nông dân, dân sống sát rừng; cán bộ quản lý, bảo vệ rừng; cán bộ, lãnh đạo chính quyền địa phương; cán bộ quản lý Khu BTTN Pù Huống; kiểm lâm; cán bộ khoa học kỹ thuật

- Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý theo phương pháp thống kê, tên các loài được hiệu đính theo các tài liệu: Danh mục các loài thực vâ ̣t Viê ̣t Nam 2001, tập I và Tên cây rừng Việt Nam 2000

2.4.3 Phương pháp nội nghiệp

2.4.3.1 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel

Tính trị số trung bình của các loài: D1.3(cm), Hvn (m), Hdc (m), Dt (m) Dùng phương pháp so sánh cặp đôi để đánh giá kết quả

2.4.3.2 Phương pháp bản đồ, sơ đồ

Sử dụng các phần mềm MapInfor, Arsgis và một số phần mền liên quan để tính toán xác định diện tích cư trú, diện tích phân bố và xây dựng bản đồ phân bố của các loài nghiên cứu

2 4.3.3 Phương pháp đánh giá tình trạng bảo tồn các loài

Sử dụng các cấp đánh giá của Sách đỏ Việt Nam, 2007 (Phần II-Thực vật), các tiêu chuẩn đánh giá của IUCN (2012), quy định của pháp luật Việt Nam tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ và Quyết

Trang 27

định 74/2008/QĐ-BNN ngày 20/6/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; của Quốc tế tại Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Để đánh giá hiện trạng bảo tồn của các loài theo các thứ hạng như sau:

1 EX - Tuyệt chủng - Extinct

2 EW - Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên - Extinct in the wild

3 CR - Rất nguy cấp - Critically Endangered

4 EN - nguy cấp - Endangered

5 VU - sẽ nguy cấp - Vulnerable

6 LR - ít nguy cấp - Lower risk

7 DD - thiếu dẫn liệu - Data deficient

8 NE - Không đánh giá - Not evaluated

Trang 28

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên Khu BTTN Pù Huống

3.1.1 Vị trí địa lý

- Khu BTTN Pù Huống nằm trong toạ độ địa lý:

Từ 19015' đến 19029' vĩ độ bắc

Từ 104013' đến 105016' kinh độ đông

- Khu BTTN Pù Huống nằm trong vùng giáp ranh của 5 huyện:

Phía Bắc giáp huyện Quế Phong, Quỳ Châu

Phía Đông giáp huyện Quỳ Hợp

Phia Tây giáp huyện Tương Dương

Phía Nam giáp huyện Con Cuông

- Vùng lõi của Khu BTTN Pù Huống có diện tích 40.127,7 ha; Thuộc địa bàn hành chính của 5 huyện; thuộc 7 xã miền Tây - Tây Bắc tỉnh Nghệ An

+ Huyện Quế Phong có diện tích 4.405,2 ha; Thuộc xã Quang Phong (Gồm 4 tiểu khu: 147, 148, 149, và 150)

+ Huyện Quỳ Châu có diện tích 11.696,0 ha; Thuộc 2 xã: Châu Hoàn

và Diên Lãm (Gồm 10 tiểu khu: 224, 227, 228, 232, 230, 235, 236, 238, 239

Trang 29

+ Huyện Tương Dương có 15.305,2 ha; Thuộc xã Nga My (Gồm 17 tiểu khu: 580, 587, 563, 568, 576, 577, 581, 584, 587, 592, 593, 598, 604,

607, 617, 626 và 627)

- Văn phòng Khu BTTN Pù Huống đóng tại Thị trấn Quỳ Hợp, Cách Thành phố Vinh 130 km về phía Tây Bắc

Hình 3.1 Bản đồ hành chính Khu BTTN Pù Huống

3.1.2 Địa hình, địa mạo

Pù Huống là một dãy núi cao nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

Độ cao trung bình toàn khu vực từ 200 - 800m Dãy núi chính Pu Lon - Pù Huống cũng là dông núi cao nhất với các đỉnh Pu Lon 1.447m, Pù Huống 1.200m Các dông núi cao là ranh giới hành chính phân cách các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông và Tương Dương

Trang 30

Địa hình Khu BTTN Pù Huống bị chia cắt mạnh và sâu, độ dốc phổ biến từ 150 đến 350 tạo nên nhiều sông suối dốc và hiểm trở như Nậm Quàng, Nậm Gươm, Huổi Khì, Huổi Nây (Phía bắc); Nậm Chao, Huổi Kít, Nậm Ngàn (Phía Nam)

Pù Huống là đầu nguồn của sông Cả và sông Hiếu Địa hình chia cắt tạo nên sự khác biệt khí hậu giữa sườn Bắc và sườn Nam Pù Huống

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng

Điều kiện lập địa Khu BTTN Pù Huống rất đa dạng, các yếu tố địa hình địa mạo, vị trí sườn Bắc, sườn Nam, độ dốc, độ dày tầng đất ảnh hưởng lớn đến chất lượng lập địa

Đất đai Khu BTTN Pù Huống chủ yếu là đất Feralít phát triển trên nền

đá mẹ khác nhau, hình thành nên 8 kiểu phụ khác nhau: Phát triển trên nền đá Mácma axít; Phát triển trên nền đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn, hạt thô; Phát triển trên đá Vôi; Phát triển trên đá Phún xuất feralít mùn; Và kiểu phụ đất hình thành từ phù sa mới nơi địa hình bằng, bãi bồi

Trong khu bảo tồn có một số khe suối, như khe Ngân (Tương Dương), khe Ton (Quế Phong) có phù sa khoáng và vàng trong đất nên thường bị đào đãi, khai thác trái phép

3.1.4 Khí hậu, thủy văn

3.1.4.1 Khí hậu

- Khí hậu Khu BTTN Pù Huống thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa

- Thuộc vùng khí hậu thủy văn Bắc Trường Sơn

- Khí hậu phân hóa theo độ cao, đồng thời có sự khác biệt rõ giữa sườn Bắc (Số ngày mưa, lượng mưa, độ ẩm, số ngày mưa phùn cao hơn) so với sườn nam Pù Huống; Ngược lại lượng bốc hơi, nhiệt độ mặt đất, nhiệt độ không khí sườn nam lại cao hơn sườn bắc Chi tiết có biểu dưới đây:

Trang 31

Bảng 3.1: Một số nhân tố khí hậu xung quanh Khu BTTN Pù Huống

Stt Nhân tố khí hậu Châu Quỳ Hợp Quỳ Cuông Con Tương Dương

2 Nhiệt độ không khí cao nhất

(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn)

Sự đa dạng khí hậu trên đây đã tạo nên sự đa dạng phong phú các loài thực vật tại Khu BTTN Pù Huống

3.1.4.2 Thuỷ văn

Do chịu khí hậu nhiệt đới gió mùa và chia cắt phân hoá sâu sắc của địa hình nên các khe suối ở Pù Huống đều dốc, ngắn Là đầu nguồn của Sông Hiếu (Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp) và đầu nguồn của sông Cả (Tương Dương, Con Cuông) Mùa khô các khe suối nước giảm sút, mùa mưa nước dâng nhanh dễ tạo nên lũ ống, lũ quét

3.1.5 Tài nguyên rừng và đất rừng

Kết quả điều tra gần đây nhất của Khu BTTN Pù Huống cho biết, tài nguyên rừng và đất rừng vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống có

Trang 32

tổng diện tích 40.128,5 ha, trong đóphân khu bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 35.509,6 ha vàphân khu phục hồi sinh thái chiếm 4.676,9 ha Hiện trạng các loại rừng và sử dụng đất đai tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống được thể hiện cụ thể ở Bảng 3.2

Bảng 3.2: Hiện trạng các loại rừng và sử dụng đất đai KBT Pù Huống

T.T L.đất, L.rừng M.S

Tổng diện tích KBTTN

Phân khu bảo vệ Nghiêm ngặt

Phân khu phục hồi Sinh thái Diện tích TN 0000 40.186,5 35.509,6 6.928,9

Trang 33

Theo kết quả điều tra, phúc tra kiểm kê rừng hiện có cho thấy Pù Huống là một trong những khu rừng có tài nguyên rừng giàu về trữ lượng, phong phú về thành phần loài

3.1.5.1) Tổng diện tích đất lâm nghiệp khu BTTN: 40.127,7 ha

Trong đó:

* Đất có rừng: 31.668,9 ha Chiếm 78,9%

Chia ra:

+ Rừng lá rộng thường xanh: 24.299,7 ha Gồm:

- Rừng giàu: 7.519,4 ha; Chiềm 23,7% đất có rừng

- Rừng trung bình: 8.365,8 ha; Chiếm 26,4% đất có rừng

- Rừng nghèo và rừng phục hồi: 8.414,5 ha; chiếm 26,6% đất có rừng + Rừng hỗn giao (Cây gỗ + tre nứa): 4.770,5 ha; chiếm 15% đất có rừng + Rừng tre nứa tự nhiên: 2.598,7 ha; Chiếm 8,3% đất có rừng

* Đất chưa có rừng: 8.458,8 ha; Chiếm 21,1% đất lâm nghiệp Gồm:

- Đất có cây gỗ tái sinh: 4.995,6 ha; Chiếm 59% đất chưa có rừng

- Đất có cây bụi: 2.498,5 ha; Chiếm 29,5% đất chưa có rừng

- Đất trống, trảng cỏ: 964,7ha; Chiếm 11,5% đất chưa có rừng

3.1.5.2) Tổng trữ lượng rừng: 3.586.700 m3 gỗ; 45.556 ngàn cây tre nứa Trong đó: - Rừng lá rộng thường xanh: 3.205.100 m3; Trung bình 132 m3/ha

- Rừng tre nứa: 22.089 ngàn cây

- Rừng hỗn giao (gỗ+nứa): 381.600 m3 và 21.467 ngàn cây tre nứa

3.1.5.3) Về thảm thực vật: Bao gồm các kiểu rừng chính:

+ Rừng nhiệt đới mưa ẩm lá rộng thường xanh: Phân bố ở độ cao từ

200 đến 900m với các họ ưu thế là Re (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Ba mảnh

vỏ (Euforbiaceae), Đậu (Fabaceae), Cà phê (Rubiaceae), Dầu (Dipterocarpaceae)

Trang 34

+ Rừng kín thường xanh á nhiệt đới: Phân bổ từ độ cao trên 900m với các loài thực vật điển hình của ngành hạt trần như Pơ mu, Sa mộc, Thông tre, Kim giao

Kiểu phụ rừng lùn: Là kiểu phụ với độ cao trên 1.200m

Kiểu phụ rừng tre nứa

Kiểu phụ rừng thứ sinh sau khai thác

Kiểu phụ rừng trên núi đá vôi

Kiểu phụ rừng thứ sinh sau nương rẫy

Về công dụng đã thống kê bước đầu như sau:

Cây cho tinh bột: 12 loài; Cho dầu béo: 15 loài; Cho quả và hạt ăn được:

40 loài; Cây làm rau và gia vị: 41 loài; Cây cho chất nhuộm: 6 loài; Cây cho ta nin: 21 loài; Song mây có giá trị: 4 loài; Cây làm cảnh: 39 loài; Nhóm cây cho gỗ: 220 loài

- Về khu hệ động vật:

Trang 35

Khảo sát bước đầu đã phát hiện tại Khu BTTN Pù Huống có 291 loài động vật có xương sống

Trong đó: Lớp thú có 63 loài thuộc 24 họ, 9 bộ

Lớp chim có 176 loài thuộc 44 họ, 14 bộ

Lớp bò sát có 35 loài thuộc 14 họ, 2 bộ

Lớp lưỡng thê có 17 loài thuộc 6 họ, 1 bộ

Khu BTTN Pù Huống có 30 loài thực vật, 45 loài động vật được xếp vào Sách đỏ Việt Nam Theo tiêu chí xếp loại của tổ chức bảo vệ thiên nhiên quốc tế IUCN, Pù Huống có 42 loài động, thực vật có nguy cơ đe doạ mang tính toàn cầu

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc

Sau khi rà soát 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/CT-TTg, Khu BTTN Pù Huống đã được điều chỉnh từ 49.806 ha (Quyết định 2452/QĐ-UB ngày 11/7/2002) xuống còn 40.127,7 ha

Vùng lõi Khu BTTN Pù Huống thuộc phạm vi 8 xã: 1-Xã Quang Phong (H Quế Phong); 2- Xã Châu Hoàn, 3- xã Diên Lãm (H Quỳ Châu); 4- Xã Châu Cường, 5- xã Nam Sơn (H Quỳ Hợp); 6- Xã Bình Chuẩn (H Con Cuông); 7- Xã Nga My, 8- xã Xiêng My (H Tương Dương)

Ngoài 8 xã trên còn có các xã Cắm Muộn (Quế Phong), Châu Thái, Châu Thành (Quỳ Hợp), Yên Tĩnh (Tương Dương) tiếp giáp vùng lõi, nằm trong vùng đệm Khu BTTN Pù Huống

Theo số liệu điều tra mới nhất (Năm 2011) tình hình kinh tế - xã hội liên quan của các xã trong vùng được thể hiện ở bảng 3.3:

Trang 36

Bảng 3.3: Hiện trạng dân số và dân tộc các bản ở xung quanh khu bảo tồn

Stt Địa

Phương

Tổng diện tích tự nhiên (ha)

Đất lâm nghiệp (ha)

Đất nông nghiệp (ha)

Số thôn bản

S.bản trong vùng lõi

Tổng số hộ

Số khẩu

Tổng

hộ

Hộ nghèo

Hộ trong vùng lõi H.Quế

- Tổng diện tích tự nhiên (Vùng lõi và vùng đệm): 143.999,29 ha

- Đất lâm nghiệp: 118.575,37 ha

Trang 37

- Đất nông nghiệp và đất khác: 25.423,92 ha

- Số thôn bản trong vùng lõi Khu BTTN: 2 thôn bản và một số hộ du

cư (làm trại)

- Tổng số hộ trong Khu BTTN: 322 hộ Trong đó:

+ Hộ định cư: 236 hộ

+ Hộ du cư (làm trại): 86 hộ

- Số khẩu định cư trong Khu BTTN: 1.357 người

- Dân tộc (Hộ): 100% là người dân tộc Thái

Khả năng về di dân tái định cư các bản, các hộ trong Khu BTTN:

+ Tại xã Nga My huyện Tương Dương có 2 bản Na Ngân 95 hộ (595 khẩu), bản Na Kho 141 hộ (762 khẩu) nằm sâu trong vùng lõi Trong điều

kiện kinh tế hiện tại không thể di dời mà phải bóc tách để tạo thành "vùng dân sinh, đất dân sinh trong vùng lõi"

+ Tại xã Bình Chuẩn huyện con Cuông và xã Quang Phong huyện Quế phong hiện có 86 hộ dân sống rải rác trong rừng hàng chục năm nay tại các tiểu khu 150, 148, 149, 728, 726, 729 Các hộ này có nhà chính tại bản cũ ở ngoài Khu BTTN và có nhà phụ, rẫy ruộng ao cá trong vùng lõi

Về cơ bản, hiện tại đa phần dân trong vùng đã định canh định cư, nhưng vẫn còn một số ít sống du canh du cư Tập quán canh tác nương rẫy,

Trang 38

sản xuất chủ yếu dựa vào độ phì tự nhiên sẵn có của đất, không sử dụng phân bón, kể cả phân hữu cơ là nguồn tại chỗ Giống mới đã được đưa vào nhưng chưa được sử dụng rộng rãi, vì thế năng suất thấp, đời sống chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên

Hiện tượng du canh, phát nương làm rẫy đã làm giảm diện tích rừng một cách nhanh chóng Cùng với các hoạt động khác như khai thác gỗ, củi, lâm sản, dược liệu,… nên trở thành các mối đe dọa cho nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học và mất rừng

3.2.3 Văn hoá xã hội

Văn hoá: cộng đồng dân cư sống trong và giáp ranh với Khu BTTN Pù

Huống gồm nhiều dân tộc khác nhau như Thái, Thổ, Khơ Mú, Ơ Đu, Mông….,

vì vậy các hoạt động văn hoá cũng rất đa dạng và mang những đặc điểm riêng Tuy nhiên, do điều kiện giao thông khó khăn, kinh tế còn nghèo nàn, phương tiện thông tin đại chúng còn thiếu thốn nên công việc tuyên truyền giáo dục, bài trừ các

hủ tục, phát huy thuần phong mỹ tục còn hạn chế

Giáo dục: nạn thất học, mù chữ đã giảm đáng kể, công tác xoá mù thực

hiện có hiệu quả Cơ sở vật chất, trường lớp ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của học sinh sống tại đây Đội ngũ giáo viên

ít lại không được quan tâm đúng mức nên số lượng học sinh và chất lượng giáo dục không được nâng cao đáng kể

Y tế: cũng như giáo dục, tình hình y tế cũng xuống cấp nghiêm trọng

Cơ sở y tế nghèo nàn, thuốc men thiếu thốn, đội ngũ mỏng, không đáp ứng được nhu cầu phòng và chữa bệnh cho đồng bào vùng cao Công tác vệ sinh, phòng bệnh chưa được chú ý đúng mức các loại bệnh như bướu cổ, sốt rét… còn phát triển

Xã hội: các tệ nạn xã hội còn phổ biến như nghiện hút, cờ bạc, mê tín dị

đoan trước đây đã bị xoá bỏ cơ bản nay lại tái diễn và có xu thế phát triển

Trang 39

Những vấn đề trên gây trở ngại nghiêm trọng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học của vùng

3.2.4 Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng

Quanh khu bảo tồn có hệ thống đường quốc lộ 7C nối đường 7A với đường 48, qua Nga My Bình Chuẩn về Quỳ Hợp, đường miền Tây nối Châu Thôn, Cắm Muộn, Quang phong (Quế Phong) qua Châu Hoàn, Diễn Lãm (Quỳ Châu) về Châu Thành, Châu Cường (Quỳ Hợp) đang khảo sát thiết kế; đường từ Châu Phong vào Diên Lãm (Quỳ Châu), từ Mậu Đức, Đôn Phục vào Bình Chuẩn (Con Cuông) đang khảo sát mở mang thi công

Với điều kiện giao thông ngày một phát triển xung quanh Khu bảo tồn như thế này cũng là một áp lực đáng kể lên suy giảm đa dạng sinh học Khu bảo tồn

Trang 40

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả nghiên cứu thành phần và xác định sự phân bố của các

loài thuộc ngành Thông (Pinophyta) theo đai cao tại Khu BTTN Pù

Huống

4.1.1 Thành phần các loài thuộc ngành Thông tại Khu BTTN Pù Huống

Chúng tôi tiến hành điều tra 11 loài thuộc ngành Thông tại Khu BTTN

Pù Huống trên 4 tuyến chính và 21 tuyến phụ Tổng hợp kết quả điều tra đươ ̣c trình bày ở bảng 4.1:

Bả ng 4.1 Thành phần các loài thuộc ngành Thông (Pinophyta)

điều tra được tại Khu BTTN Pù Huống

TT Tuyến điều tra Tên phổ

monfanum Markgf.) 600

Gắm Chùm to Gnetum macrostachyum Hook.f 300 - 500

3 Khe Cô – Khe

Khò Khé Gắm Chùm to Gnetum macrostachyum Hook.f 300 - 500

Ngày đăng: 01/09/2017, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viê ̣n Khoa ho ̣c và Công nghê ̣ Viê ̣t Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam, PhầnII - Thực vật, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viê ̣n Khoa ho ̣c và Công nghê ̣ Viê ̣t Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2000), Tên cây rừng Việt Nam. Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội
Năm: 2000
4. Bộ NN&amp;PTNT và Birdlife International in Indochina với sự hỗ trợ tài chính của Đại sứ quán Vương Quốc Hà Lan, Hà Nội và Ngân hàng Thế giới (2004).Thông tin các khu bảo vệ và đề xuất ở Việt Nam, tập I, tập II, miền Bắc Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin các khu bảo vệ và đề xuất ở Việt Nam
Tác giả: Bộ NN&amp;PTNT và Birdlife International in Indochina với sự hỗ trợ tài chính của Đại sứ quán Vương Quốc Hà Lan, Hà Nội và Ngân hàng Thế giới
Năm: 2004
5. Chính phủ Việt Nam và Dự án của Qũy Môi trường toàn cầu -VIE/95/G31 (1995), Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam
Tác giả: Chính phủ Việt Nam và Dự án của Qũy Môi trường toàn cầu -VIE/95/G31
Năm: 1995
6. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2006. Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm 7. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích (1997), “Nhân giống Bách xanh bằng hom”, Tạpchí Lâm nghiệp, Trang 3, 5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống Bách xanh bằng hom
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2006. Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm 7. Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích
Năm: 1997
12. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến (2002), “Kết quả nhân giống hom Bách xanh, Pơ mu, Thông đỏ ở Lâm Đồng”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trang 530-531 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nhân giống hom Bách xanh, Pơ mu, Thông đỏ ở Lâm Đồng
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến
Năm: 2002
14. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật. Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội
Năm: 1997
15. Nguyễn Nghĩa Thìn (2000), Đa dạng sinh học và tài nguyên di truyền thực vật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và tài nguyên di truyền thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
16. Phan Kế Lộc (1984), “Các loài thuộc lớp Thông Pinopsida của hệ thực vật Việt Nam”, Tạp chí Sinh học, Trang 6(4), 5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài thuộc lớp Thông Pinopsida của hệ thực vật Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Lộc
Năm: 1984
18. Phan Kế Lộc (1984), “Các loài thuộc lớp Thông Pinopsida của hệ thực vật Việt Nam”, Tạp chí Sinh học, Trang 6(4), 5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài thuộc lớp Thông Pinopsida của hệ thực vật Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Lộc
Năm: 1984
2. Bộ Lâm nghiệp (1971 – 1988), Cây gỗ rừng Việt Nam, Tập 1-7, Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội Khác
8. Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas, Alios Farjon, Leonid Averyanov và Jacinto Regalado Jr (2004), Thông Việt Nam nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004), Cây lá kim Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 10. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên), 2003. Danh lục các loài thực vật Việt Nam; tập 2.Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên), 2005. Danh lục các loài thực vật Việt Nam; tập 3. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999), Bảo tồn ĐDSH, Nxb. Nông nghiệp Hà Nội Khác
19. Phan Kế Lộc (1985), Thử vận dụng khung phân loại của UNESCO để xây dựng khung phân loại thảm thực vật Việt Nam. Tạp chí Sinh học,1- 5 Khác
20. Phan kế Lộc (1998), Tính đa dạng của hệ thực vật Việt Nam, Kết quả kiểm kê thành phần loài. Tạp chí Di truyền học và ứng dụng, số II, 10 - 15 Khác
21. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, quyển I, II, III. Nxb. Trẻ. Thành phố Hồ Chí Minh Khác
22. Philip Ian Thomas, Nguyễn Đức Tố Lưu (2004), Cây lá kim Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội Khác
23. IUCN, UNEP, WWF (1996), Cứu lấy Trái đất - Chiến lược cho cuộc sống bền vững, Nxb. Khoa học &amp; Kỹ thuật Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w