MỞ ĐẦU1.Lý do lựa chọn đề tài:Đồng tính là chủ đề tính dục khá nhạy cảm nhưng không còn mới mẻ, xa lạ trong xã hội hiện nay, đặc biệt là một vài năm trở lại đây, nhiều người đồng tính không chỉ công khai giới tính thật, mà còn khẳng định, bảo vệ quyền lợi của chính họ và cộng đồng đồng tính nói chung. Trước đây dư luận coi đồng tính là một vấn nạn của xã hội, một thứ tệ nạn cần bài trừ giống như ma túy, mại dâm,…Tuy nhiên, cho đến nay, sự phát triển của các xu hướng biểu hiện của đồng tính cùng với việc xã hội ngày càng đề cao tính khoa học và nhân văn về các vấn đề liên quan đến con người, đã khiến đồng tính trở thành một vấn đề xã hội ngày càng được quan tâm và đề cập nhiều hơn. Kéo theo sự phổ biến của vấn đề đồng tính trong nước và trên thế giới, dư luận xã hội đối với đề tài này cũng nảy sinh nhiều vấn đề. Đặc biệt khi các phương tiện truyền thông đại chúng, tiêu biểu là báo chí, khai thác chủ đề đồng tính trên nhiều phương diện, nó càng gây được sự chú ý và nhận được nhiều phản ứng trái chiều từ dư luận. Dù cho xã hội đã có cái nhìn “thoáng” hơn nhưng người đồng tính vẫn bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Thông qua những hoạt động xã hội của các diễn đàn, câu lạc bộ về người đồng tính, các hội thảo nghiên cứu, cũng như việc đề xuất luật hôn nhân cho người đồng giới, công nhận người chuyển giới,… người đồng tính phần nào đã được xã hội chấp nhận và ủng hộ. Tuy nhiên, để xóa bỏ định kiến và kỳ thị người đồng tính từ trong ý thức để tiến tới công nhận họ và đối xử bình đẳng với họ là cả một quá trình khó khăn, lâu dài và cần có sự nhận thức lại từ cộng đồng xã hội. Đặc biệt, để xem xét đồng tính như một vấn đề của xã hội hơn là vấn đề cá nhân, xóa bỏ hiểu nhầm họ là nhóm yếu thế tức là “bình thường hóa” vấn đề đồng tính, như hội thảo về người đồng tính ở Việt Nam do Viện nghiên cứu kinh tế, xã hội và môi trường Việt Nam (iSEE) đã khẳng định “Bình thường hóa ở đây không có nghĩa là sự chuyển đổi từ cực này sang cực kia mà đơn giản đó là nhu cầu chính đáng từ những người có giới tính không thuộc về số đông: được xã hội tôn trọng sự riêng tư và nhìn nhận một cách hoàn toàn bình đẳng” thì những nghiên cứu về đồng tính càng nên được quan tâm và đề xuất. Đối tượng thanh niên, đặc biệt là sinh viên, là đối tượng có cơ hội tiếp cận thông tin nhiều nhất và là bộ phận quan trọng của dư luận xã hội. Tìm hiểu nhận thức của họ sẽ cho thấy phần nào nhận thức xã hội đối với vấn đề đồng tính. Từ tầm quan trọng và những lý do cấp thiết trên, đề tài “Nhận thức và thái độ của sinh viên hiện nay về đồng tính (Qua khảo sát sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền)” xin được đưa ra xem xét và nghiên cứu để làm rõ nhận thức và thái độ của sinh viên đối với chủ đề này.2.Tổng quan tài liệu nghiên cứu:Đồng tính và những vấn đề liên quan đến người đồng tính ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Tuy nhiên, với tính nhạy cảm và khó tiếp cận của vấn đề, khách thể nghiên cứu mới chỉ bó hẹp trong cộng đồng đồng tính ở phạm vi nhỏ, cơ sở định lượng của nhiều nghiên cứu còn thiếu tính đại diện, các nhóm xã hội khác có liên quan thường được nhắc đến rất ít trong khi các vấn đề cộng đồng, văn hóa, xã hội xung quanh người đồng tính rất đáng được lưu tâm. Bên cạnh đó, các đề tài nghiên cứu thường khắc họa chân dung người đồng tính, xoay quanh các vấn đề về sức khỏe tình dục, phòng chống HIVAIDS cho người đồng tính, nghiên cứu về sự kỳ thị và định kiến xã hội ảnh hưởng như thế nào đến người đồng tính, quyền, nhu cầu và cơ hội tiếp cận với các nguồn lực xã hội của họ. Theo những thu thập bước đầu về tổng quan tài liệu, có thể thấy rằng số lượng những nghiên cứu trong nước ít hơn nhiều so với các tài liệu của nước ngoài và các nghiên cứu tập trung về nhận thức, thái độ của cộng đồng xã hội về người đồng tính còn rất ít. Sau đây tác giả xin điểm qua một vài nghiên cứu theo trình tự báo cáo nghiên cứu, khóa luận, báo chí; ở Việt Nam và trên thế giới về người đồng tính và một số vấn đề liên quan có ích cho đề tài này.Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam (MSM) và HIVAIDS ở Việt Nam (Vũ Ngọc Bảo Philippe Girault – Chuyên san giới tình dục và sức khỏe tình dục, 2005). Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin về tình dục đồng giới nam (MSM) ở Việt Nam, thực trạng và nguy cơ lây nhiễm HIV bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm MSM và bối cảnh xã hội của MSM Việt Nam. Các kết quả dựa trên tổng quan chọn lọc các bài viết và báo cáo nghiên cứu xã hội học từ năm 1990 đến năm 2000, đa số được tiến hành tại các thành phố lớn TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. Các thông tin về đặc điểm xã hội, văn hóa, bối cảnh xã hội thu thập được từ nghiên cứu định tính xã hội học, do Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc Tế (FHI) và Ủy ban Phòng chống AIDS TP.HCM thực hiện năm 2004. Báo cáo tập trung nhấn mạnh về việc không có các chương trình dự phòng HIV cho MSM, đồng thời với sự kỳ thị và phân biệt đối xử đi kèm, MSM đang đi vào bóng tối vô thức về nguy cơ và các biện pháp dự phòng HIV cho bản thân họ. Đặc biệt, việc bộc lộ khuynh hướng và đặc tính tình dục hạn chế họ trong việc tiếp cận các nguồn lực như giáo dục, y tế,… khiến họ bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Bên cạnh đó nghiên cứu còn đưa ra khuyến nghị về các chương trình, chính sách nhằm công nhận sự tồn tại của MSM. Tuy nhiên báo cáo chỉ nhằm tập trung nghiên cứu vào nhu cầu dự phòng HIV của MSM nên tác giả nhấn mạnh “Để ra các quyết định đúng đắn cần có thêm các nghiên cứu ước tính quần thể, các khía cạnh văn hóa xã hội của MSM,…”
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài:
Đồng tính là chủ đề tính dục khá nhạy cảm nhưng không còn mới mẻ, xa
lạ trong xã hội hiện nay, đặc biệt là một vài năm trở lại đây, nhiều người đồngtính không chỉ công khai giới tính thật, mà còn khẳng định, bảo vệ quyền lợicủa chính họ và cộng đồng đồng tính nói chung Trước đây dư luận coi đồngtính là một vấn nạn của xã hội, một thứ tệ nạn cần bài trừ giống như ma túy,mại dâm,…Tuy nhiên, cho đến nay, sự phát triển của các xu hướng biểu hiệncủa đồng tính cùng với việc xã hội ngày càng đề cao tính khoa học và nhânvăn về các vấn đề liên quan đến con người, đã khiến đồng tính trở thành mộtvấn đề xã hội ngày càng được quan tâm và đề cập nhiều hơn
Kéo theo sự phổ biến của vấn đề đồng tính trong nước và trên thế giới,
dư luận xã hội đối với đề tài này cũng nảy sinh nhiều vấn đề Đặc biệt khi cácphương tiện truyền thông đại chúng, tiêu biểu là báo chí, khai thác chủ đềđồng tính trên nhiều phương diện, nó càng gây được sự chú ý và nhận đượcnhiều phản ứng trái chiều từ dư luận Dù cho xã hội đã có cái nhìn “thoáng”hơn nhưng người đồng tính vẫn bị kỳ thị và phân biệt đối xử Thông quanhững hoạt động xã hội của các diễn đàn, câu lạc bộ về người đồng tính, cáchội thảo nghiên cứu, cũng như việc đề xuất luật hôn nhân cho người đồnggiới, công nhận người chuyển giới,… người đồng tính phần nào đã được xãhội chấp nhận và ủng hộ Tuy nhiên, để xóa bỏ định kiến và kỳ thị người đồngtính từ trong ý thức để tiến tới công nhận họ và đối xử bình đẳng với họ là cảmột quá trình khó khăn, lâu dài và cần có sự nhận thức lại từ cộng đồng xãhội Đặc biệt, để xem xét đồng tính như một vấn đề của xã hội hơn là vấn đề
cá nhân, xóa bỏ hiểu nhầm họ là nhóm yếu thế tức là “bình thường hóa” vấn
đề đồng tính, như hội thảo về người đồng tính ở Việt Nam do Viện nghiên
cứu kinh tế, xã hội và môi trường Việt Nam (iSEE) đã khẳng định “Bình
thường hóa ở đây không có nghĩa là sự chuyển đổi từ cực này sang cực kia
mà đơn giản đó là nhu cầu chính đáng từ những người có giới tính không thuộc về số đông: được xã hội tôn trọng sự riêng tư và nhìn nhận một cách hoàn toàn bình đẳng” thì những nghiên cứu về đồng tính càng nên được quan
tâm và đề xuất Đối tượng thanh niên, đặc biệt là sinh viên, là đối tượng có cơ
Trang 2hội tiếp cận thông tin nhiều nhất và là bộ phận quan trọng của dư luận xã hội.Tìm hiểu nhận thức của họ sẽ cho thấy phần nào nhận thức xã hội đối với vấn
đề đồng tính Từ tầm quan trọng và những lý do cấp thiết trên, đề tài “Nhận
thức và thái độ của sinh viên hiện nay về đồng tính (Qua khảo sát sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền)” xin được đưa ra xem xét và nghiên cứu
để làm rõ nhận thức và thái độ của sinh viên đối với chủ đề này
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu:
Đồng tính và những vấn đề liên quan đến người đồng tính ngày càngđược quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Tuy nhiên, với tính nhạy cảm và khótiếp cận của vấn đề, khách thể nghiên cứu mới chỉ bó hẹp trong cộng đồngđồng tính ở phạm vi nhỏ, cơ sở định lượng của nhiều nghiên cứu còn thiếutính đại diện, các nhóm xã hội khác có liên quan thường được nhắc đến rất íttrong khi các vấn đề cộng đồng, văn hóa, xã hội xung quanh người đồng tínhrất đáng được lưu tâm Bên cạnh đó, các đề tài nghiên cứu thường khắc họachân dung người đồng tính, xoay quanh các vấn đề về sức khỏe tình dục,phòng chống HIV/AIDS cho người đồng tính, nghiên cứu về sự kỳ thị và địnhkiến xã hội ảnh hưởng như thế nào đến người đồng tính, quyền, nhu cầu và cơhội tiếp cận với các nguồn lực xã hội của họ Theo những thu thập bước đầu
về tổng quan tài liệu, có thể thấy rằng số lượng những nghiên cứu trong nước
ít hơn nhiều so với các tài liệu của nước ngoài và các nghiên cứu tập trung vềnhận thức, thái độ của cộng đồng xã hội về người đồng tính còn rất ít Sau đâytác giả xin điểm qua một vài nghiên cứu theo trình tự báo cáo nghiên cứu,khóa luận, báo chí; ở Việt Nam và trên thế giới về người đồng tính và một sốvấn đề liên quan có ích cho đề tài này
Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam (MSM) và HIV/AIDS ở Việt Nam (Vũ Ngọc Bảo & Philippe Girault – Chuyên san giới tình dục và
sức khỏe tình dục, 2005) Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin vềtình dục đồng giới nam (MSM) ở Việt Nam, thực trạng và nguy cơ lây nhiễmHIV/ bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm MSM và bối cảnh xãhội của MSM Việt Nam Các kết quả dựa trên tổng quan chọn lọc các bài viết
và báo cáo nghiên cứu xã hội học từ năm 1990 đến năm 2000, đa số được tiếnhành tại các thành phố lớn TP Hồ Chí Minh và Hà Nội Các thông tin về đặcđiểm xã hội, văn hóa, bối cảnh xã hội thu thập được từ nghiên cứu định tính
Trang 3xã hội học, do Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc Tế (FHI) và Ủy ban Phòngchống AIDS TP.HCM thực hiện năm 2004 Báo cáo tập trung nhấn mạnh vềviệc không có các chương trình dự phòng HIV cho MSM, đồng thời với sự kỳthị và phân biệt đối xử đi kèm, MSM đang đi vào bóng tối vô thức về nguy cơ
và các biện pháp dự phòng HIV cho bản thân họ Đặc biệt, việc bộc lộ khuynhhướng và đặc tính tình dục hạn chế họ trong việc tiếp cận các nguồn lực nhưgiáo dục, y tế,… khiến họ bị kỳ thị và phân biệt đối xử Bên cạnh đó nghiêncứu còn đưa ra khuyến nghị về các chương trình, chính sách nhằm công nhận
sự tồn tại của MSM Tuy nhiên báo cáo chỉ nhằm tập trung nghiên cứu vàonhu cầu dự phòng HIV của MSM nên tác giả nhấn mạnh “Để ra các quyếtđịnh đúng đắn cần có thêm các nghiên cứu ước tính quần thể, các khía cạnhvăn hóa xã hội của MSM,…”
Báo cáo “Hình ảnh người đồng tính trên báo mạng và báo in”, Ths.
Nguyễn Thị Tuyết Minh, Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Tuyên truyền(Các bài báo và công trình nghiên cứu về đề tài tính dục tại Học viện Báo chí
và Tuyên truyền năm 2008-2009)
Có thể nói báo cáo trên là cơ sở dữ liệu quan trọng, góp phần định hướngcho việc nghiên cứu và phân tích ảnh hưởng của báo chí truyền thông đếnnhận thức và thái độ của sinh viên đối với vấn đề đồng tính Thông quanghiên cứu trường hợp trên 502 bài báo in và báo mạng trong năm 2004, 2006
và đầu năm 2008, báo cáo đã đưa ra những phát hiện quan trọng Mặc dù sốlượng bài viết về nhóm đồng tính tăng lên theo thời gian song phần lớn cácbài viết này sử dụng đồng tính như một chi tiết gây sự chú ý của người đọctheo hướng bất lợi cho người đồng tính (71% trong tổng số 500 bài báo), điềunày có thể là một trong những nguyên nhân gây nên sự kỳ thị trong xã hội.Không quá bất ngờ khi báo cáo chỉ ra rằng các khái niệm liên quan đến đồngtính vẫn bị nhầm lẫn tuy nhiên điểm đáng nói là sự thiếu hiểu biết về vấn đềđồng tính của một số tác giả kéo theo việc gán nhãn sai cho nhóm người đồngtính, điều này có xu hướng gây định kiến hoặc sự kỳ thị với nhóm này Bêncạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy, các bài viết chuyên sâu về đồngtính còn nặng về lý giải nguyên nhân đồng tính với thái độ thường là lên án,chân dung người đồng tính thường được khắc họa theo định kiến giới hai giátrị, chân dung cộng đồng đồng tính phiến diện và tiêu cực, mức độ kỳ thị còn
Trang 4cao khi khắc họa hình ảnh người đồng tính (41%/ 502 bài báo), ngôn ngữ mô
tả mang định kiến có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực (39% năm 2004
so với 16% năm 2008) Với hướng tiếp cận và phân tích đa chiều, đa dạng,báo cáo này đã đặt ra những vấn đề cấp bách cần tiếp tục giải quyết: Nhữngthông điệp truyền thông chưa đầy đủ và thiếu chính xác về người đồng tính vàcác vấn đề liên quan (đặc biệt là trên báo in và báo mạng) dễ gây ra sự hiểunhầm, thái độ kỳ thị của công chúng đối với nhóm người này Tuy nhiên, xét
về mặt thời gian, số lượng các bài viết về chủ này này cùng với thái độ trungtính hay khách quan ngày càng tăng, đặt ra câu hỏi: Liệu có sự chuyển đổitheo hướng tích cực về nhu cầu quan tâm, nhận thức và thái độ của côngchúng đối với đồng tính? Những lý do nào dẫn đến sự chuyển đổi ấy và liệu
nó có bền vững? Quan điểm trong báo cáo cho rằng “Người đồng tính e dèkhi công khai mình dễ được thông cảm hơn là người không giấu mình” có cònđúng ở thời điểm hiện tại và với đối tượng tiếp nhận như thế nào?
Khóa luận tốt nghiệp: “Hòa nhập xã hội của người đồng tính tại Việt Nam” (2009), Phan Thị Thu Trang, Khoa xã hội học K25, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền
Nghiên cứu đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về người đồng tính,xây dựng chân dung người đồng tính qua lăng kính của chính họ Đây là mộtcách tiếp cận khá quan trọng, bổ sung vào việc thống nhất, tập hợp các quanđiểm về người đồng tính, các vấn đề xã hội liên quan và đặc biệt là đã chạmtới góc khuất trong đời sống của người đồng tính Đóng góp quan trọng của
đề tài là đã khẳng định được nhu cầu hòa nhập xã hội của người đồng tính,những nhu cầu rất đỗi bình thường và cơ bản của một con người: nhu cầukhẳng định bản thân, nhu cầu về tình yêu, tình dục và hôn nhân, nhu cầu đượctôn trọng và công bằng xã hội, nhu cầu về giao tiếp và giải trí Thông quaphương pháp phân tích tài liệu và phỏng vấn sâu 10 đồng tính nam và đồngtính nữ từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2009 ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, kếtquả nghiên cứu cho thấy, định kiến xã hội, gia đình và sự kỳ thị của cộngđồng là những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến sự hòa nhập xã hội của ngườiđồng tính, đặc biệt là vai trò của cộng đồng xã hội và những người xungquanh Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những điểm hạn chế đó là thiếu những
Trang 5nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định lại kết quả định tính và cần thiết phải
có nghiên cứu đối chiếu với nhận thức và thái độ cộng đồng xã hội
Khóa luận tốt nghiệp: “Nhận thức và thái độ của sinh viên Học viện Báo chí Tuyên truyền với đồng tính nam” (2009), Đặng Thị Thu Thủy,
Khoa Xã hội học K25, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Với mục đích là khảo sát nhận thức và thái độ của sinh viên Học việnBáo chí Tuyên truyền với đồng tính nam, thông qua điều tra và nghiên cứu,tác giả đã phân tích các yếu tố tác động từ đó đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao nhận thức giúp cho sinh viên có thái độ tích cực hơn Kết quảnghiên cứu cho thấy rằng đa phần sinh viên HVBCTT nhận thức còn hạn chế
và sai lệch về đồng tính nam, dẫn đến những thái độ tiêu cực đối với chủ đềnày Cho tới thời điểm nghiên cứu (tháng 4/2009) phần lớn sinh viên có thái
độ kỳ thị với đồng tính nam, chiếm 81,2% trên tổng số 208 người tham gianghiên cứu Có đến 41,3% sinh viên đồng tình với ý kiến xã hội không nêntồn tại đồng tính nam Đặc biệt, tác giả đã đưa ra được phát hiện quan trọng,bên cạnh yếu tố năm học và xuất thân tác động gián tiếp đến nhận thức và thái
độ kỳ thị của sinh viên trong các khía cạnh cụ thể của nghiên cứu, thì yếu tốngành/ khoa sinh viên học có tác động rõ rệt đến nhận thức của sinh viên vềđồng tính nam, cụ thể là những khoa nghiệp vụ có nhận thức đầy đủ hơn cáckhoa lý luận (vì có chương trình giảng dạy lồng ghép các vấn đề về tính dục,
ví dụ khoa xã hội học có tỷ lệ sinh viên nhận thức đầy đủ về nguy cơ đối vớiđồng tính nam là 14,5% so với khoa Triết 0%) Ngoài ra, các phương tiệntruyền thông đại chúng cũng có tác động rất lớn đến nhận thức của sinh viên(63,9% sinh viên nghe thông tin về đồng tính nam từ sách báo và internet).Tuy nhiên nghiên cứu chưa đưa ra được kết luận đâu là yếu tố tác động mạnh
mẽ nhất Ngoài ra, nghiên cứu này chỉ tập trung vào đồng tính nam, vì vậychưa có cái nhìn bao quát về nhận thức và thái độ đối với vấn đề đồng tínhnói chung (trong đó có đồng tính nữ), cũng như so sánh thái độ đối với đồngtính nam và đồng tính nữ trong sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường vănhóa – xã hội Nhìn chung, các kết quả trên của nghiên cứu có vai trò rất quantrọng trong việc xác định hướng và trọng tâm nghiên cứu cơ bản, cụ thể là đặtnền tảng cho việc xây dựng giả thuyết nghiên cứu về nhận thức và thái độ của
Trang 6sinh viên, cũng như những bước tiếp theo để cải thiện hơn nữa nhận thức vàthái độ của sinh viên về đồng tính.
Quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới và iSEE 2012
(isee.org.vn | 25/12/2012, Bình Lê)
Qua bài viết “Quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới vàiSEE 2012” của tác giả Bình Lê đăng ngày 25/12/2012, có thể thấy rõ sự lantỏa và hiệu quả của các hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền của cộng đồngthiểu số tính dục trong năm 2012 Điều này đã thể hiện sự quan tâm rất lớncủa toàn xã hội và nhà nước đối với mục tiêu đánh giá đúng và xóa bỏ kỳ thịđối với người đồng tính Bài viết đã chỉ ra rằng, cuộc thảo luận trên báo chí vàtrong xã hội về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT)
đã được khai thông theo hướng tích cực nhờ thông tin về việc Bộ tư pháptham vấn các cơ quan chính phủ về hôn nhân cùng giới, đẩy cuộc thảo luận từ
“Đồng tính có phải là bệnh không?” qua “Có nên cho phép người đồng tínhkết hôn hay không?” Đây là bước tiến quan trọng nhờ những nỗ lực của bảnthân cộng đồng LGBT trong hơn bốn năm và sự ủng hộ, định hướng dư luận
xã hội đúng đắn của giới truyền thông báo chí Đã có nhiều sự kiện tập thể vàhoạt động nhằm đưa kiến thức đúng về cộng đồng LGBT cho sinh viên và xãhội nói chung Các buổi giao lưu, hội thảo, tọa đàm với sinh viên các trườngđại học đã tạo cơ hội để sinh viên có kiến thức đúng và ủng hộ sự bình đẳngcho cộng đồng LGBT Bên cạnh đó, những hoạt động nhân đạo mà cộng đồngLGBT tham gia đã làm thay đổi xã hội theo hướng tích cực, thừa nhận và tôntrọng cộng đồng LGBT và gia đình họ Sự lên tiếng của Hội cha mẹ có con làđồng tính, song tính và chuyển giới (PFLAG) đã thuyết phục được nhiều nhàlàm luật cũng như xã hội về sự cần thiết phải hợp pháp hóa quan hệ cùng giới
và bảo vệ quyền bình đẳng của người LGBT và hạnh phúc gia đình Nhữngthành quả trên cần được toàn cộng đồng và xã hội tiếp tục ủng hộ và thúc đẩyhơn nữa để bảo vệ quyền bình đẳng của người đồng tính, song tính và chuyểngiới trong hôn nhân gia đình cũng như trong giáo dục, y tế và công ăn việclàm
Ảnh hưởng của những rào cản từ xã hội và luật pháp đến sự quan tâm, khuyến khích việc nâng cao sức khỏe tình dục và về HIV/AIDS cho
Trang 7nam giới có quan hệ tình dục với nam giới ở Bangladesh và Ấn Độ (Nhà
xã hội học Shivananda Khan và Aditya Bondyopadhyay)
Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng số lượng MSM bị lạm dụng, bạo hành vàcưỡng hiếp là rất cao Trong đó, môi trường xã hội và luật pháp đã có nhữngảnh hưởng tiêu cực đến những can thiệp về sức khỏe tình dục cho MSM.Những rào cản này đã trực tiếp dẫn đến thực trạng làm gia tăng khả năng dễlây nhiễm HIV và các bệnh khác cho MSM Bên cạnh đó, những rào cản nàycòn là tác nhân khiến thực trạng bạo lực và vi phạm quyền con người đối vớicác MSM gia tăng đồng thời vô hình tạo ra sự sợ hãi cho họ Nghiên cứu này
đã góp phần đưa ra chiến lược nhằm giảm thiểu sự phân biệt đối xử và tìnhtrạng bị quấy rối cho MSM Một lần nữa, những vấn đề về nhân quyền vànguy cơ bệnh tật lại được đặt ra đối với người đồng tính, khi mà xã hội thiếu
sự cảm thông, quan tâm và nhìn nhận lại vấn đề đồng tính
Như vậy, qua tổng quan một số tài liệu nghiên cứu, ta có thể hình dungphần nào tình hình nghiên cứu về đề tài đồng tính cũng như thấy được vị trí
và tầm quan trọng của những nghiên cứu về nhận thức và thái độ cộng đồng
đối với vấn đề đồng tính Điều này đã đặt ra cho đề tài “Nhận thức và thái độ
của sinh viên hiện nay về đồng tính” những yêu cầu về việc nghiên cứu tổng
quát và cụ thể nhận thức và thái độ của sinh viên đối với vấn đề này; cũngnhư phân tích thái độ của sinh viên đối với sự kỳ thị, phản đối của nhữngngười xung quanh người đồng tính; tìm hiểu được những yếu tố ảnh hưởngđến sự nhận thức và thái độ đó của sinh viên Các vấn đề của đồng tính vốn
đã rất đa dạng, trong bối cảnh văn hóa Việt Nam mang đậm các giá trị truyềnthống thì việc cấp thiết phải có những nghiên cứu sâu rộng hơn, tập trungnhiều hơn vào mức độ quan tâm, quan điểm, thái độ của thanh niên sinh viên– nhóm đối tượng có nhu cầu nhận thức các vấn đề xã hội, hưởng ứng vàtham gia vào các hoạt động xã hội rất lớn Để bổ sung thêm những dữ liệuđịnh lượng về nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính, cũng như cungcấp những số liệu có thể so sánh với các nghiên cứu trước, hy vọng rằng đềtài sẽ góp phần thúc đẩy những nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ hơn sau này
Trang 83 Mục đích – nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu và xác định được mức độ nhận thức của sinh viên đối với vấn
đề đồng tính, mức độ quan tâm, thái độ của sinh viên đối với những vấn đềliên quan đến người đồng tính như thế nào (ủng hộ/ phản đối)
- Tìm hiểu về những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến nhậnthức và thái độ đó của sinh viên
- Đánh giá được thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên từ đó đề rađược các khuyến nghị với nhà trường cũng như một số giải pháp để khắc phục
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài làm cơ sở cho tìm hiểunhận thức của sinh viên về đồng tính Khảo sát các tài liệu, báo cáo, nghiêncứu có liên quan nhằm đưa ra định hướng, cách tiếp cận cho đề tài
- Mô tả thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính và cácvấn đề liên quan
- Trên cơ sở các kết luận khách quan, chỉ ra và lý giải được các nguyênnhân dẫn đến nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính
- Đưa ra các khuyến nghị giúp nhà trường nâng cao và cải thiện hơn nữanhận thức, thái độ của sinh viên về đồng tính thông qua:
+ Chương trình giảng dạy lồng ghép các vấn đề về đồng tính, quyền vànhu cầu chính đáng của họ
+ Các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức của Đoàn trường,các hoạt động thường niên, câu lạc bộ,… nhằm giúp giảm bớt sự kì thị đối vớingười đồng tính
4 Đối tượng- khách thể - phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức và thái độ của sinh viên hiện nay
về đồng tính
4.2 Khách thể nghiên cứu: Sinh viên Học viện Báo Chí Tuyên Truyền.
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian tiến hành điều tra: từ ngày 1/4/2013 đến 7/4/2013.
- Địa điểm: Học viện Báo chí tuyên truyền.
Trang 95 Phương pháp luận- phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận:
- Phương pháp luận chung: Vận dụng những nguyên tắc và phương phápluận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên cơ sở hệ thống các quan điểm,pháp luật của Đảng và Nhà nước về quyền con người và hôn nhân gia đình
- Phương pháp luận chuyên biệt: Một số lý thuyết về chuẩn mực xã hội,định kiến và kỳ thị xã hội, Thuyết tương tác ba ngôi của George Mead
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin:
- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiêncứu định tính, trong đó nghiên cứu định lượng là phương pháp chủ yếu để thuthập thông tin, phương pháp định tính góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nghiêncứu định tính Các thông tin thu thập được từ nghiên cứu định tính sẽ được sửdụng để làm dẫn chứng, giải thích thêm cho số liệu định lượng
- Đề tài sử dụng bộ công cụ thu thập thông tin:
+ Nghiên cứu định lượng: bảng hỏi (Anket)
+ Nghiên cứu định tính: hướng dẫn phỏng vấn sâu
5.2.2 Phương pháp chọn mẫu:
+ Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Từ danh sách các lớp trong HV BC&TT, sử dụng phương pháp chọnmẫu ngẫu nhiên hệ thống chọn ra 15 lớp, mỗi lớp lấy ngẫu nhiên ra 20 mẫu
Số lượng mẫu được chọn là 300 mẫu
+ Chọn mẫu (cho nghiên cứu định tính):
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, lựa chọn phỏng vấnsâu 10 sinh viên từ 4 khoa
+ Phương pháp xử lý dữ liệu thông tin: SPSS11.5
Trong quá trình xử lý, bên cạnh việc chạy tần suất và tương quan đểphân tích dữ liệu, tác giả còn sử dụng cách tính trung bình cộng để tiện sosánh các mức độ đồng tình của sinh viên trong các trường hợp cụ thể
Trang 106 Giả thuyết nghiên cứu – Khung lý thuyết – Biến số:
6.1 Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Đa số sinh viên HV BC&TT hiện nay có nhận thức sailệnh về khái niệm người đồng tính và nguyên nhân dẫn đến đồng tính
- Giả thuyết 2: Đa số sinh viên HV BC&TT hiện nay vẫn còn thái độ kỳthị với người đồng tính
- Giả thuyết 3: Mức độ quan tâm của sinh viên HV BC&TT hiện nay đếnnhu cầu và quyền lợi của người đồng tính còn thấp
- Giả thuyết 4: Đa phần sinh viên không đồng tình với thái độ phản đối
và kỳ thị của gia đình, bạn bè, TTĐC đối với người đồng tính
Trang 11- Truyền thông đại chúng.
- Người xung quanh.
- Các chương trình, hội thảo vì quyền của người ĐT.
Nơi ở hiện tại.
Người trong gia đình/
- Nghĩ đến dạng
ĐT nào đầu tiên.
- Xu hướng về người đồng tính.
- Những nguyên nhân của đồng tính.
Thái độ của sinh viên về:
Mức độ chấp nhận Thái độ của gia đình, bạn bè, hàng xóm, lãnh đạo – Đoàn thể, TTĐC đối với người đồng tính.
6.2 Khung lý thuyết:
Trang 126.3 Biến số:
6.3.1 Biến số độc lập:
-Đặc điểm nhân khẩu học: giới tính, nơi sinh sống thuộc khu vực (nông thôn/ thành thị), nơi ở hiện tại (ký túc xá/ ở trọ/ ở cùng gia đình).
-Người trong gia đình/ người thân/ bạn bè là người đồng tính (có/không).
-Tham gia các hoạt động xã hội/ tình nguyện (có/không).
-Có người yêu hay không (có/không).
-Số lần đọc các thông tin về đồng tính trên các phương tiện TTĐC (Dưới 3 lần/ Từ 3 đến 5 lần/ Trên 5 lần).
-Tham gia các hội thảo về đồng tính, viết bài về đồng tính (có/không).
6.3.2 Biến số phụ thuộc: Nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính:
- Nhận thức về đồng tính bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên trong giới hạn của nghiên cứu tác giả chỉ tìm hiểu nhận thức của sinh viên ở các vấn đề sau:
Khái niệm về người đồng tính.
Khi nhắc đến đồng tính nghĩ đến đầu tiên là đồng tính nam/ đồng tính nữ/ cả 2/ lưỡng tính/ chuyển giới.
Tỷ lệ người đồng tính trong cộng đồng.
Xu hướng tăng, giảm người đồng tính.
Xu hướng tăng, giảm sự quan tâm của mọi người đến vấn đề.
Tỷ lệ người đồng tính HIV tăng.
Quyền của người đồng tính đc chấp nhận.
Cho rằng người đồng tính giàu – nghèo, hạnh phúc – đau khổ.
Những nguyên nhân của đồng tính.
- Thái độ của sinh viên về các vấn đề sau với mức độ chấp nhận (RKĐT, KĐT, BT,
ĐT, RĐT):
Khi một người là người đồng tính (người xa lạ, bạn bè, người thân).
Luật pháp công nhận (quyền của người đồng tính, hôn nhân đồng tính, gia đình người đồng tính).
Thái độ của sinh viên khi gia đình của người đồng tính:
Kịch liệt phản đối (có sử dụng vũ lực).
Phản đối (bằng lời nói).
Khuyên giải họ quay trở về giới tính ban đầu.
Để cho họ thế nào cũng được.
Ủng hộ họ bộc lộ.
Thái độ của sinh viên khi bạn bè của người đồng tính (ở 2 mức độ riêng): bạn bè ở trường và bạn bè xung quanh (nhóm, hội…):
Xa lánh, kỳ thị.
Trang 13 Khuyên giải họ trở về giới tính ban đầu.
Không quan tâm.
Ủng hộ họ bộc lộ.
Thái độ của sinh viên khi hàng xóm:
Xa lánh, kỳ thị.
Không quan tâm.
Khuyên giải họ trở về giới tính ban đầu.
Thái độ của sinh viên khi nhà nghiên cứu:
Quan tâm, chia sẻ
6.3.3 Biến số can thiệp:
- Môi trường xã hội, văn hóa, pháp luật.
- Những người xung quanh.
- Các phương tiện truyền thông đại chúng.
- Các chương trình, hội thảo, hoạt động xã hội vì quyền của người đồng tính.
- Người đồng tính.
Kết cấu khóa luận
Trong kết cấu của khóa luận, bên cạnh các phần mở đầu, kết luận, danhmục tài liệu tham khảo và danh mục bảng, biểu thì phần nội dung nghiên cứubao gồm những chương cơ bản sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Nhận thức của sinh viên về đồng tính
Trang 14Chương 3 Thái độ của sinh viên về đồng tính.
Chương 4 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của sinhviên về đồng tính
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Thao tác hóa khái niệm:
Trong nghiên cứu này, việc làm rõ khái niệm nhận thức và khái niệmthái độ giúp cho người nghiên cứu hiểu chính xác và đầy đủ nội dung của haikhái niệm này để từ đó xây dựng những chỉ báo quan trọng cho đối tượngnghiên cứu là nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính
Khái niệm nhận thức:
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhận thức là kết quả của quá trình phản ánh
và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, kết quả con người nhận biết, hiểu biếtthế giới khách quan; Nhận ra, biết được, hiểu được [10; 917].
Còn theo Từ điển xã hội học Oxford, nhận thức, ý thức (cognition,cognitive) là quá trình của sự biết (suy nghĩ), đôi khi được dùng để phân biệtvới cảm nhận (cảm xúc) và ý chí (ý muốn) trong một cặp ba các quá trình tinhthần của con người [11, 407].
Khái niệm thái độ:
Theo Từ điển Tiếng Việt, Thái độ được định nghĩa là tổng thể nói chung
những biểu hiện của ý nghĩ, tình cảm được thể hiện ra bên ngoài qua nét mặt,
cử chỉ, lời nói, hành động trước một đối tượng, một sự việc nào đó; cách nghĩ,cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề haymột tình hình cụ thể [10;1170].
Theo từ điển xã hội học, định nghĩa phổ biến của Milton Rokeach mô tảthái độ là “một tổ chức niềm tin tương đối bền bỉ xung quanh một đối tượnghay một tình huống khiến người ta phản ứng lại theo một kiểu ưu tiên nào đó”
[11; 642].
Như vậy, có thể hiểu nhận thức của sinh viên về đồng tính là quá trình
họ biết và hiểu về đồng tính để từ đó có những thái độ (ủng hộ hay phảnđối,…) đối với vấn đề này Trong khi đó, sự hình thành của dư luận xã hộiphụ thuộc rất nhiều vào trạng thái định hình của thái độ xã hội về vấn đề mà
nó đề cập đến, chịu tác động và có cơ sở là thái độ của cá nhân [4,163].
Khái niệm đồng tính:
Trang 15Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về đồng tính, tuy nhiên tác giả
đã cố gắng tìm ra những đặc điểm chung nhất trong các định nghĩa đó để vậndụng vào đánh giá nhận thức của sinh viên về khái niệm đồng tính, mà ởchương sẽ được nói rõ hơn Dưới đây một số định nghĩa hay được sử dụng khinhắc đến đồng tính:
Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường: Người chịu sự hấp dẫncủa người cùng giới tính gọi là người đồng tính luyến ái [8; 11].
Theo Lawrence J Hatterer, tác giả quyển Để thay đổi xu hướng tình dục
đồng giới ở nam giới, thì đồng tính luyến ái là nói đến một người trưởng
thành bị hấp dẫn về mặt giới tính đối với người cùng giới và thường màkhông phải nhất thiết có quan hệ tính dục với người cùng giới Tuy nhiên địnhnghĩa này còn khá mơ hồ về nhận diện người đồng tính là “người trưởngthành” vì chưa có xác nhận chính xác về độ tuổi chủ yếu của những ngườiđồng tính, tức là những người đồng tính vẫn có thể có ở độ tuổi vị thành niên,thậm chí là nhỏ hơn Điều này cũng phủ nhận đồng tính là do bẩm sinh
Theo ICS - Tổ chức thúc đẩy và bảo vệ Quyền LGBT Việt Nam, Đồngtính là chỉ việc bị hấp dẫn bởi người cùng giới, đồng tính là một trong những
xu hướng tính dục [12]
1.2.Cơ sở lý thuyết:
Thuyết tương tác ba ngôi của George Mead:
Việc nghiên cứu nhận thức và thái độ của sinh viên trong đề tài này làtập trung tìm hiểu những kiến thức, quan điểm, mức độ quan tâm của họ đốivới người đồng tính Tuy nhiên, tác giả muốn đi sâu khai thác thái độ, phảnứng của sinh viên bằng cách để cho họ đánh giá các mức độ biểu hiện thái độcủa những người xung quanh người đồng tính Điều này có thể giúp làm rõthái độ của sinh viên đối với những phản ứng tiêu cực của những người xungquanh người đồng tính, đồng thời tìm hiểu được thái độ của họ trong nhữngtình huống đó như thế nào
Cách nghiên cứu này dựa trên lý thuyết tương tác ba ngôi của GeorgeMead (1934) Ông cho rằng, “cái tôi” là một cấu trúc xã hội nảy sinh từ kinhnghiệm xã hội mà cá nhân đã trải qua trong mối quan hệ ba ngôi của: cá nhânvới bản thân, cá nhân với người khác và cá nhân với xã hội Các biểu hiện của
cơ chế hành động của cá nhân (tương tác với bản thân và người khác) là việc
Trang 16đặt mình vào vị trí của người khác, đóng vai người khác để hiểu và tham giavào các quá trình xã hội [2; 329].
Nhận thức và thái độ của một cá nhân về một vấn đề nào đó luôn nằmtrong tương quan với môi trường văn hóa xã hội, hệ thống các chuẩn mực, giátrị tồn tại trong xã hội ấy Vì vậy nhận thức và thái độ của sinh viên về đồngtính cũng chịu sự tri phối rất lớn của điều kiện phát triển xã hội hiện tại, cũngnhư những giá trị thước đo chuẩn mực có sẵn mà ở đây chính là những địnhkiến và kỳ thị về người đồng tính
Định kiến xã hội:
Định kiến xã hội là những quan điểm, quan niệm tiêu cực để phản ứnglại những nhóm xã hội nhất định theo những cách nhất định Đó là thái độ,quan điểm hình thành dựa trên cơ sở những thông tin khuyết thiêu hoặc khôngđầy đủ Thông thường định kiến xã hội được hình thành theo cách thức: dựatrên sự chọn lọc một số đặc điểm và phớt lờ đi một số đặc điểm khác Địnhkiến thông thường có xu hướng dẫn đến sự phân biệt đối xử
Kỳ thị xã hội:
Dovidio: Major & Gocker (2000) & Arboleda-Florez (2003): Kỳ thị làmột quá trình mà ở đó các cá nhân, nhóm đánh mất giá trị xã hội của bảnthân Quá trình này diễn ra các bước như: gán nhãn cho các khuôn mẫu hành
vi, tách biệt, đánh mất vị thế xã hội và phân biệt đối xử Sự kỳ thị được địnhnghĩa là hội tụ hầu hết các yếu tố này
Chuẩn mực xã hội:
Theo cuốn Xã hội học về dư luận xã hội của Nguyễn Quý Thanh, thìchuẩn mực xã hội là quy tắc điều chỉnh, là thước đo hành vi của cá nhân vànhóm mà được xã hội chia sẻ Đó là những đòi hỏi mong muốn của xã hội, là
sự cụ thể hóa các giá trị xã hội, sự cụ thể hóa ở các nhóm khác nhau thườngkhông giống nhau Dư luận xã hội tạo ra các chuẩn mực xã hội mới và loại bỏnhững chuẩn mực lỗi thời Như vậy, mỗi khi xuất hiện bất kỳ một hành vi nàokhác với những chuẩn mực đang có thì trong xã hội sẽ xuất hiện những ý kiếnkhác nhau, căn cứ vào nhận thức của xã hội về xu thế phát triển, về tính tấtyếu của hành vi này Nếu như xã hội cho rằng một hành vi thực sự là “lệchlạc”, cho dù nhận định đó đúng hay sai thì hành vi này vẫn sẽ bị phản đối vàhành vi này không thể chuyển thành một hành vi “chuẩn”, do đó không thể
Trang 17tạo ra một chuẩn mực mới Và chuẩn mực xã hội mà dư luận xã hội căn cứvào đó để đưa ra đánh giá của mình tồn tại rất lâu và không dễ gì thay đổi
là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật vềđiều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn"; và Khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhângia đình năm 2000 còn quy định "nghiêm cấm việc kết hôn giữa những ngườicùng giới tính" Do đó, khi những cặp đồng tính tổ chức đám cưới và chungsống với nhau như vợ chồng là vi phạm pháp luật Năm 2002, Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội kêu gọi liệt kê đồng tính luyến ái trong các "tệ nạn xãhội" cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy
Tháng 7 năm 2012, Bộ Tư pháp đưa ra đề xuất sửa đổi Luật Hôn nhân vàGia đình, trong đó có thể công nhận hôn nhân đồng tính; việc này làm nhiềubáo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam có khả năng trở thành nước châu Áđầu tiên công nhận hôn nhân đồng tính Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cườngcho biết "Việc công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính cần phảidựa trên những nghiên cứu hết sức cơ bản, những đánh giá tác động nghiêmtúc trên rất nhiều khía cạnh xã hội và pháp lý như quyền tự do cá nhân, sựtương thích với văn hóa, tập quán của xã hội và gia đình Việt Nam, tính nhạycảm, hậu quả xã hội của quy định pháp luật… Các vấn đề này đang đượcnghiên cứu trong quá trình chuẩn bị dự án Luật Hôn nhân và Gia đình."
1.4 Bối cảnh xã hội ảnh hưởng tới quan niệm về đồng tính và cộng đồng người đồng tính.
Trong nhiều nền văn hóa trước đây quan hệ đồng tính rất phổ biến.Trong lịch sử, đồng tính luyến ái, dưới góc độ cá nhân, từng được ca tụnghoặc lên án vì mỗi xã hội có những chuẩn mực tình dục khác nhau Ở nhữngnơi đồng tính được ủng hộ, những quan điểm đó được coi là một cách làm
Trang 18cho xã hội tiến bộ Ở những nơi đồng tính bị lên án, những hành vi cụ thể bịcoi là tội lỗi hoặc bệnh hoạn và một số hành vi đồng tính bị luật pháp trừngtrị
Mặc dù đồng tính luyến ái đã không còn bị coi là phạm pháp nhiều nơi ởphương Tây, như Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển 1944 và Anh
1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp cho đến giữa nhữngnăm 70 Một bước ngoặt quan trọng là vào năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa
Kỳ đưa đồng tính luyến ái ra khỏi Danh sách các rối loạn tâm thần Năm
1977, Quebec tại Canada đã trở thành bang đầu tiên cấm kỳ thị dựa trên thiênhướng tình dục Những năm 80 và 90, nhiều nước phát triển đã hợp pháp hóađồng tính luyến ái và cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cư trú vàdịch vụ Tính tới năm 2012, trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trênthế giới, có 11 quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, 21 nước chấpnhận hình thức đăng ký sống chung Tới năm 2012, chưa có quốc gia Châu Ánào công nhận hôn nhân đồng tính hoặc đăng ký sống chung Tại Thái Lan cócộng đồng LGBT sôi nổi, nhưng điều này chỉ có ở ngành kinh doanh giải tríthu lợi nhuận vốn tách biệt với nền chính trị và xã hội Thái bảo thủ Ở nhữngquốc gia Hồi giáo như Indonesia đã ban hành luật cấm nghiêm khắc chống lạingười đồng tính Quan hệ tình dục đồng tính có thể bị phạt 20 năm tù và bịđánh roi ở Malaysia Ở Singapore, quan hệ tình dục đồng tính nam là bất hợppháp tuy nhiên luật này thường không được thực thi Năm 2003 ở Đài Loan,một dự luật được đưa ra để công nhận hôn nhân đồng tính đã không đạt đủ sốphiếu để thông qua Ở Nhật Bản, văn hóa và những tôn giáo lớn không có thái
độ thù ghét những cá nhân đồng tính, nước này không có luật nào chống lạiđồng tính luyến ái nhưng hôn nhân đồng tính thì không được công nhận.Người LGBT ở Việt Nam bao gồm những người đồng tính, lưỡng giới
và chuyển đổi giới tính ở Việt Nam Một nghiên cứu do tổ chức phi chính phủCARE thực hiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính,chiếm khoảng 0,06 đến 0,15% dân số Trong hội thảo “Kinh nghiệm Quốc tế
về bảo vệ quyền của LGBT trong quan hệ hôn nhân và gia đình” 21/12/2012,Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) đã cung cấp cácthông tin và số liệu về khoảng 1.65 triệu người đồng tính, tức là khoảng 1,8%dân số là người đồng tính
Trang 19Hiện nay, tuy không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính, nhưng luậthôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 10 – Những trường hợp cấm kết hôn cócấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính Năm 2012, Bộ Tư pháp chorằng "xét về đảm bảo quyền tự do cá nhân thì việc kết hôn của những ngườicùng giới tính cần được công nhận", nhưng cũng nói thêm "Xét về văn hóatập quán của gia đình Việt Nam, tính nhạy cảm xã hội của vấn đề, hậu quả xãhội của quy định pháp luật chưa được dự báo hết; thì ở thời điểm này việcthừa nhận người cùng giới tính có quyền kết hôn với nhau ở Việt Nam là cònquá sớm" Vì vậy, việc các cặp đôi đồng tính tổ chức đám cưới tạo nên nhữngluồng dư luận trái chiều, bên cạnh những cá nhân bày tỏ sự ủng hộ cũng rấtnhiều ý kiến phản đối Nhiều người cho rằng chuyện kết hôn giữa nhữngngười đồng giới là không thể chấp nhận, việc tổ chức đám cưới chỉ mang tínhhình thức nên vô nghĩa… TS Nguyễn Minh Anh, Viện Xã hội học cũng chobiết: Ở một đất nước mà hôn nhân và quan hệ đồng giới không được pháp luậtthừa nhận thì hôn nhân giả mạo là một cách đối phó đầy sáng tạo của cộngđồng người đồng tính trước áp lực phải tuân theo khuôn phép
Hiện nay, nhiều người cho rằng những người có xu hướng yêu ngườiđồng giới xuất hiện nhiều hơn xưa Nguyên nhân là vì trong xã hội thời nay,nhất là sau khi Việt Nam hội nhập với thế giới, việc giao lưu, tiếp xúc vớinhiều nền văn hóa khác nhau đã khiến cho quan niệm của nhiều người trở nêncởi mở hơn Chính vì thế, xu hướng những người đồng tính dám lộ diện đểđược sống là chính mình cũng nhiều hơn
Mặc dù đồng tính đang trở thành chủ đề được quan tâm nhiều hơn trướcnhưng chưa có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của đồng tínhluyến ái, đặc biệt là về thái độ của cộng đồng xã hội đối với người đồng tính.Đại bộ phận người dân còn kỳ thị cũng như có những suy nghĩ sai lệch vềngười đồng tính Điều này có thể tác động xấu đến không chỉ những ngườiđồng tính mà còn đến xã hội nói chung Mặc dù đồng tính luyến ái ngày càngđược đề cập, nghiên cứu cũng như một số hoạt động dành cho giới này được
tổ chức nhiều hơn, tuy nhiên vấn đề này ở Việt Nam chưa thực sự được xã hộiquan tâm đầy đủ và đúng cách để có cái nhìn tích cực đối với người đồngtính
Trang 20CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ ĐỒNG TÍNH
Đồng tính và các vấn đề liên quan đến người đồng tính đang được xã hộirất quan tâm tuy nhiên vẫn còn nhiều người nhận thức chưa đúng và thiếu sót
về vấn đề này Bên cạnh trình độ học vấn, quan niệm của mỗi cá nhân và cácchuẩn mực giá trị chung của xã hội thì nhận thức về đồng tính cũng ảnhhưởng đến thái độ xa lánh và kì thị của xã hội đối với cộng đồng thiểu số giớitính này
2.1 Nhận thức chung của sinh viên về đồng tính:
2.1.1 Nhận thức của sinh viên về khái niệm đồng tính:
Trước hết, việc tìm hiểu mức độ hiểu biết của cá nhân về khái niệm đồngtính rất quan trọng, đó là cơ sở để xác định tính đúng đắn trong nhận thức vềngười đồng tính và đánh giá được thái độ của cá nhân đó đối với người đồngtính Bởi không định nghĩa được hoặc định nghĩa sai về đồng tính, thườngkhiến họ nhầm lẫn trong nhận thức và dễ dẫn đến quy kết đồng tính là sự sailệch so với chuẩn mực xã hội Khi đề cập đến việc cá nhân nào đó là ngườiđồng tính có nghĩa là đang đề cập tới nhân dạng tình dục của họ Tuy nhiên,theo một nghiên cứu, các bài báo khi viết hoặc đề cập tới khái niệm đồng tính
có sự nhầm lẫn giữa nhân dạng tình dục/định hướng tình dục và hành vi tìnhdục Trong số 308 bài báo có đề cập tới nội hàm khái niệm đồng tính thì cótới 68% trong số này đồng thời gắn hành vi vào nhân dạng nhóm đồng tính.Việc gắn/đồng nhất hành vi tình dục với nhân dạng tình dục cũng xem nhưmột kiểu gán nhãn cho một nhóm xã hội nào đó Kiểu gán nhãn này có xuhướng gây định kiến hoặc sự kỳ thị với nhóm này [3; 138].
Để tìm hiểu nhận thức của sinh viên về vấn đề này tác giả đưa ra cáckhái niệm khác nhau về đồng tính Mặc dù chưa có sự thống nhất về kháiniệm đồng tính song có một số đặc điểm chung đã được xác định, đó là người
có tình yêu hoặc ham muốn tình dục với người đồng giới(1) Những kháiniệm còn lại là sai hoặc không đầy đủ: “Đồng tính luyến ái là nói đến ngườichỉ yêu người đồng giới”(2) – không đủ, “Đồng tính luyến ái là nói đến người
có tình dục đồng giới”(3) – chỉ MSM, “Đồng tính luyến ái là nói đến ngườichỉ yêu người khác giới”(4) – sai
Trang 21Biểu 2.1 Định nghĩa của sinh viên về đồng tính theo tỷ lệ (N=300)
Trang 22Theo kết quả nghiên cứu, có thể thấy rằng đa số sinh viên trả lời chọnkhái niệm chuẩn xác nhất về đồng tính, chiếm 58,6% trên tổng số 300 sinhviên Tuy nhiên số sinh viên nhầm lẫn hoặc định nghĩa sai về đồng tính cònkhá lớn (18.7% chọn (2), 8% chọn (3) và 14.7% chọn (4)), điều này cho thấynhững sinh viên này còn mơ hồ và nhầm lẫn về tình yêu và xu hướng tình dụccủa người đồng tính, đặc biệt là khi họ cho rằng những người có quan hệ tìnhdục cùng giới đều là người đồng tính, trong khi những người này bao gồm cảgay hoặc người nam bình thường Những hiểu nhầm như vậy có thể khiếnngười đồng tính bị kỳ thị và phân biệt đối xử hơn trong cộng đồng xã hội Cácphỏng vấn sâu được tiến hành với 10 sinh viên đã cho thấy sự đa dạng trongsuy nghĩ và cách lý giải của họ về những nhận định mà mình đưa ra Trongmột phỏng vấn sâu, sinh viên này cho rằng người đồng tính chỉ nảy sinh tìnhcảm với người cùng giới, nhưng xu hướng tình dục thì vẫn là với người khácgiới do bản chất sinh lý cơ thể không thay đổi, điều này có thể là một lý dogiải thích cho việc sinh viên chọn khái niệm thiếu (2)
“Theo mình hiểu là sự thay đổi tâm lí, thể trạng cơ thể, những người đồng tính có xu hướng nảy sinh tình cảm với người đồng giới, sờ soạng vuốt
ve Nhưng mình nghĩ vì chức năng cơ thể nên họ vẫn có thể có ham muốn tình dục với người khác giới dù không có tình cảm” (PVS1, nữ, sinh viên năm thứ
4 khoa Xã hội học)
Hay có sinh viên nhìn nhận theo cách phản ánh chủ quan và cá biệt của
phim ảnh nên nhận định người đồng tính thiếu chính xác: “Tớ thì tớ không
biết lắm nhưng xem phim thì thấy những người bị gay họ hay ăn mặc đồng bóng, tán tỉnh rồi quan hệ với con trai…” (PVS2, nữ, sinh viên năm 3 khoa Quan hệ công chúng)
Trang 23Qua kết quả nghiên cứu, có thể thấy rằng phần lớn sinh viên định nghĩađúng về đồng tính, tuy nhiên vẫn còn nhiều sinh viên chưa hiểu được mộtcách khoa học về khái niệm đồng tính, cũng như nhận thức sai lệch về ngườiđồng tính Quan niệm của sinh viên về đồng tính phần nào phản ánh quanniệm phổ biến trong xã hội về vấn đề này
2.1.2 Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân đồng tính:
Nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức của sinh viên về nguyên nhân củađồng tính, tác giả đã đưa ra một vài yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởngđến xu hướng tính dục của người đồng tính để sinh viên tự đánh giá xem mức
độ đúng đắn của các yếu tố này
Bảng 2.1 Đánh giá của sinh viên về nguyên nhân của đồng tính (%).
toàn Chủ yếu Một phần Không
Gia đình có đông anh/ em
Những sinh viên trong nghiên cứu đánh giá khá thấp yếu tố tâm thần vàgia đình có đông anh em trai/chị em gái, tương ứng với tỷ lệ 49,3% và 56%sinh viên cho rằng đây không phải là nguyên nhân của đồng tính Tuy vẫn cònnhiều tranh cãi trong giới chuyên môn về việc đâu là nguyên nhân chính xáccủa đồng tính nhưng từng có thời điểm các nhà khoa học và cộng đồng chorằng yếu tố tâm thần, tâm lý cá nhân là nguyên nhân chính dẫn đến đồng tính.Quan điểm này xuất phát gián tiếp từ định kiến giới tính chỉ bao gồm nam và
nữ, vì vậy những xu hướng tính dục không nằm trong hai giới này đều bị quy
là lệch lạc về tâm lý (một dạng của tâm thần) hoặc do môi trường tác động,điều này ảnh hưởng khiến mọi người thường sợ hãi, kì thị và ngại tiếp xúc
Trang 24người đồng tính Những sinh viên theo luồng ý kiến này cho rằng đồng tính làmột biểu hiện của bệnh tật và có thể bị lôi kéo, nhận thức này còn mang nặngtính chủ quan và phiến diện, chưa hiểu rõ về bản chất của đồng tính.
“Theo tớ đồng tính là một căn bệnh cả về tâm lí và sinh lí, ở gần họ lâu ngày cũng sẽ bị kéo vào cộng đồng đồng tính của họ.” (PVS1, nữ, sinh viên năm thứ 4 khoa Xã hội học)
“Từ xưa đến nay, con người luôn được phân định rõ ràng thành hai giới, nếu không được định hướng đúng đắn sẽ dễ bị chạy theo mốt, lệch lạc,
đi đôi đồng giới với nhau, giả vờ yêu nhau giống như một cách để làm mình trở nên nổi bật giữa đám đông vậy” (PVS 5, nam, năm thứ 4 khoa Truyền hình)
Chính việc gắn đồng tính với các nguyên nhân cụ thể như là bệnh tâm lí,hoặc bị lôi kéo, ảnh hưởng mà người trả lời nhầm lẫn rằng “đồng tính” là mộtloại bệnh cần phải được chạy chữa, và có thể bị lây nếu tiếp xúc nhiều với họ.Như vậy, ở đây ta thấy xuất hiện thêm một quan điểm cho rằng hiện nay xuấthiện đồng tính giả [14;45-54]. Chính việc cho rằng đồng tính là giả, đua đòi,chạy theo mốt sẽ dẫn đến việc khinh thường, phản đối những người đồng tính.Đây cũng là một ý kiến thể hiện thái độ kì thị đối với người đồng tính
Nhìn chung sinh viên cho rằng đồng tính chủ yếu là do bẩm sinh, tiếptheo là do lối sống buông thả, bị lôi kéo hoặc do môi trường Yếu tố đượccho là ít ảnh hưởng nhất là gia đình có đông anh em trai hoặc chị em gái Điềunày cho thấy sinh viên khá hiểu biết về vấn đề này, bởi Học viện Nhi khoaHoa Kỳ (American Academy of Pediatrics) khẳng định rằng “Thiên hướngtình dục chỉ được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnhhưởng môi trường” Các nhà tâm lý học xác nhận rằng sự hình thành thiênhướng tình dục do nhiều nhân tố Tuy nhiên những cách nhìn nhận chưa đúngđắn thường vì cho rằng đồng tính là bất thường và chưa phân biệt rõ ràng giữanhận dạng tình dục và hành vi tình dục [15].
2.2 Nhận thức của sinh viên về thực trạng và xu hướng biến đối về
số lượng người đồng tính:
2.2.1 Nhận thức của sinh viên về tỉ lệ người đồng tính trong cộng đồng hiện nay:
Trang 25Việc đánh giá đúng về cộng đồng người đồng tính giúp tăng sự côngnhận của xã hội, giảm bớt định kiến và sự kì thị, mang đến một cái nhìn tíchcực hơn đối với nhóm giới tính thiểu số này Theo Viện Nghiên cứu Xã hội,Kinh tế và Môi trường (iSEE) trong hội thảo “Kinh nghiệm Quốc tế về bảo vệquyền của LGBT trong quan hệ hôn nhân và gia đình” 21/12/2012, có khoảng1,8% dân số là người đồng tính Dựa trên cơ sở này, tác giả đã đưa ra các tỷ lệ
để đánh giá mức độ quan tâm, nhận thức của sinh viên về vấn đề này
Biểu 2.2 Tỷ lệ sinh viên đánh giá số lượng người đồng tính trong cộng
đồng hiện nay (%).
Biểu đồ trên cho thấy không nhiều sinh viên nhận thức đúng về tỷ lệngười đồng tính trong cộng đồng và phần lớn sinh viên không biết về vấn đề
này (45%); tỷ lệ sinh viên chọn phương án ‘trên 2%’ cũng khá cao (31.7%)
và chỉ có 15.7% sinh viên lựa cho rằng người đồng tính chiếm ‘khoảng 1 đến
2%’ dân số nước ta (phương án gần nhất với số liệu đã đưa ra) Trong quá
trình phỏng vấn sâu, tất cả những người được hỏi đều trả lời là không biết
hoặc họ tự phán đoán, ước lượng nhưng không đưa ra được con số cụ thể Vì
vậy, có thể thấy đa số sinh viên không có kiến thức và không quan tâm về tỉ lệngười đồng tính hiện nay ở nước ta
2.2.2 Nhận thức của sinh viên về xu hướng biến đối về số lượng người đồng tính:
Theo kết quả của nghiên cứu định lượng, đa số sinh viên cho rằng tỷ lệngười đồng tính hiện nay tăng so với những năm trước (92%/ n=263) Tuynhiên quá trình phỏng vấn sâu của nghiên cứu lại cho thấy một khía cạnhkhác của vấn đề này Có một số sinh viên trả lời phỏng vấn không khẳng định
tỷ lệ người đồng tính tăng so với những năm trước, mà thay vào đó họ lạikhẳng định người đồng tính công khai giới tính thật nhiều hơn trước và tần
Trang 26suất xuất hiện những thông tin về người đồng tính tăng hơn so với trước đây.Điều đó có thể đã tác động đến suy nghĩ của họ về việc số lượng người đồngtính tăng hay giảm.
“Mình cũng không rõ, nhưng mình nghĩ là có vì bây giờ thấy người đồng tính công khai cũng nhiều, thông tin về họ cũng nhiều hơn, chắc là số lượng tăng lên nên mới vậy.” (PVS1, nữ, sinh viên năm thứ 4 khoa Xã hội học)
“Tăng hay giảm không rõ nhưng bây giờ bóng lộ nhiều hơn chứ trước toàn bóng kín.” (PVS2, nam, sinh viên năm 3 khoa Quan hệ công chúng)
Điều này có thể lý giải bởi môi trường xã hội và các phương tiện truyềnthông đại chúng đã ảnh hưởng khá lớn đến nhận thức của sinh viên Vấn đềnày tác giả sẽ phân tích sâu hơn ở chương sau
Những nhận định về xu hướng phát triển, biến đổi không đơn thuần chỉ
là dự đoán chủ quan của cá nhân mà nó cũng xuất phát từ sự am hiểu, căn cứvào những thông tin mà cá nhân đó nắm được để hình thành nên Với mốcthời gian là 5 năm, có đến 85.7% sinh viên (n=259) cho rằng số người đồngtính sẽ tăng lên Sở dĩ số người đồng tình cao như vậy là vì họ cho rằng trongthời gian qua những người đồng tính đã tăng lên thì đó cũng sẽ là xu hướngtrong tương lai gần
Một sinh viên giải thích quan điểm này khá khoa học về việc con cáicủa người đồng tính cũng có thể trở thành người đồng tính do ảnh hưởng
từ cha mẹ chúng: “Theo tớ người đồng tính ngày càng đông, chưa kể bây
giờ nhiều người đồng tính cũng kết cặp và nhận con nuôi hoặc nhờ y học can thiệp để sinh con, con cái họ khi có cha mẹ là người đồng tính thì cũng sẽ ảnh hưởng một phần tâm lí nên có thể sẽ có một số trẻ em con cái của cặp đôi đồng tính sẽ bị đồng tính giống cha mẹ chúng.” (PVS 5, nam,
năm thứ 4 khoa Truyền hình)
Có 93.6%/ n=281 sinh viên đồng tình với quan điểm cho rằng vấn đềđồng tính ngày càng được quan tâm nhiều hơn Trước hết, có thể vì chính
họ cũng quan tâm ở mức độ nào đó với vấn đề đồng tính, đồng thời điềunày cũng dễ hiểu khi càng ngày người đồng tính càng trở nên cởi mở hơnvới xã hội, thông tin liên quan cũng xuất hiện nhiều hơn trên các phươngtiện truyền thông đại chúng, một số người nổi tiếng sau khi công khai giới
Trang 27tính thật của mình thì trở thành chủ đề nóng trên báo chí và nhận đượcnhiều ý kiến từ dư luận
"Bản thân mình thấy mọi người kể nhiều bây giờ cũng tò mò về người đồng tính, tuy không mấy khi tìm hiểu thông tin và cập nhật kiến thức nhưng
mà những tin hay ho về người đồng tính trên báo mạng mình cũng hay đọc.” (PVS 3, nữ, sinh viên năm 4 khoa Báo in)
“Thỉnh thoảng tớ và bạn bè lại ngồi bàn tán với nhau về mấy ca sĩ, diễn viên đồng tính Có anh ca sĩ mà tớ rất thích, trông đẹp trai manly thế tự dưng bây giờ lại đồng tính.” (PVS1, nữ, sinh viên năm thứ 4 khoa Xã hội học)
Một số kết quả phỏng vấn sâu khác cũng cho thấy, sinh viên quan tâm vềnhững câu chuyện của người đồng tính nổi tiếng và những bài báo viết vềcuộc sống hay những vấn đề xung quanh họ hơn là việc cập nhật, tăng cườngkiến thức về người đồng tính để ủng hộ và hiểu họ hơn Đây mới chỉ là sựquan tâm ở mức độ tò mò và tuỳ đề tài, chứ không phải sự quan tâm mangtính chất toàn diện về kiến thức
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên không biết về
tỷ lệ người đồng tính trong cộng đồng hiện nay, bên cạnh đó sinh viên chorằng tỷ lệ người đồng tính có xu hướng tăng lên và vấn đề đồng tính ngàycàng được xã hội quan tâm Điều đó cho thấy, họ đã công nhận và quan tâmhơn đến cộng đồng thế giới thứ 3 Tuy nhiên sự quan tâm đó mới chỉ dừng ởmức độ tò mò, hiếu kì vì người đồng tính chỉ chiếm thiểu số trong cộng đồngnên điều này đã kích thích sự quan tâm của công chúng Các phương tiệntruyền thông và sự hiện diện của những người đồng tính nổi tiếng đóng vai tròrất quan trọng, tác động mạnh mẽ đến nhận thức của người trả lời về đồngtính luyến ái Sự hiểu biết của sinh viên nói chung về đồng tính đa phần đềuthông qua các phương tiện thông tin đại chúng
2.3 Nhận thức của sinh viên về cộng đồng người đồng tính:
Trong báo cáo “Hình ảnh người đồng tính trên báo mạng và báo in” năm
2008 của Ths.Nguyễn Thị Tuyết Minh, qua những thông điệp của truyềnthông đại chúng về người đồng tính, chân dung cộng đồng đồng tính phần nàođược khắc khọa như là những người đô thị, là thanh niên, liên quan đến vănhóa-nghệ thuật, khó có được tình yêu đích thực, có nguy cơ lây truyền HIVcao, …v…v… Nhằm khái quát được nhận thức của sinh viên về cộng đồng
Trang 28này, tác giả đã để cho sinh viên chọn quan điểm đồng tình hoặc không đồngtình đối với những nhận định trên
Biểu 2.3 Tỷ lệ Sinh viên đồng tình với những nhận định
về người đồng tính (%).
63.3 64.9 65.8 38.8
65.6
0 20 40 60 80 Thường sống ở đô thị
Thường là thanh niên
Liên quan đến văn hóa-nghệ
Theo nghiên cứu “Hình ảnh người đồng tính trên báo mạng và báo in”
của Ths.Nguyễn Thị Tuyết Minh, đa số các bài báo viết hoặc mô tả ngườiđồng tính là thanh niên (80%) và thường sống ở đô thị (86,1% cả ở và di cư)
[3;144] thì đa phần sinh viên cũng đồng tình với các quan điểm này (64,9% và63,3%) (Biểu 2.3) Số sinh viên đồng tình với nhận định nghề nghiệp củangười đồng tính liên quan đến nghệ thuật cũng chiếm tỷ lệ khá cao (65,8%).Tuy nhiên, các bài viết đề cập tới nguy cơ HIV từ hành vi tình dục không
an toàn của người đồng tính chỉ gần 7% [3;153] trong khi đó số sinh viên đồngtình với nhận định tình dục đồng giới nam có nguy cơ lây nhiễm HIV rất caochiếm 65,6% Mặc dù vậy, số lượng người không đồng tình và không biếtchiếm tới hơn một nửa số người trả lời Từ đó có thể nhận thấy kiến thức vềnguy cơ lây nhiễm HIV ở người đồng tính của sinh viên còn nhiều hạn chế,thông tin về vấn đề này cũng chưa hoặc ít đến được với sinh viên
Riêng nhận định người đồng tính khó có được tình yêu đích thực thì đaphần sinh viên không đồng tình: 61,2% Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấyquan niệm của sinh viên hiện nay về tình yêu đồng giới khá tích cực, họ chorằng người đồng tính cũng có cảm xúc yêu đương và khát khao hạnh phúc lứađôi như bao cặp nam nữ khác Đây có thể nói là sự tiến bộ trong nhận thứccủa sinh viên về vấn đề này vì hôn nhân và các mối quan hệ đồng giới hiệnnay còn gặp nhiều trở ngại từ phía gia đình, xã hội và pháp luật
Trang 29Để tìm hiểu cảm nhận của sinh viên về đời sống vật chất cũng như tinhthần của người đồng tính, trong bảng hỏi ở nghiên cứu định lượng, tác giảcũng đưa ra câu hỏi về người đồng tính giàu có hay nghèo khổ, hạnh phúc haybất hạnh, kết quả cho thấy phần lớn sinh viên không đồng tình với bất kỳnhận định nào, tương ứng với nhận định người đồng tính thường giàu có:90,1%(n=243), nghèo khổ: 91,6%, hạnh phúc: 85,9%(n=226) và bất hạnh:84,1% Trong trường hợp này điều tra định lượng khó nắm rõ được quan điểmcủa sinh viên vì họ không thể trả lời hoặc cho rằng người đồng tính có đờisống vật chất tình cảm bình thường.
Tuy nhiên kết quả phỏng vấn sâu lại chỉ ra một số sinh viên nhận thứcrằng người đồng tính chịu nhiều thiệt thòi cũng như khó có được hạnh phúcbởi sự kì thị của xã hội và những khó khăn phải đối mặt trong cuộc sống
“Mình không nghĩ là họ hạnh phúc, phải che giấu con người thật của mình thì sẽ rất đau khổ, nếu công khai thì làm cha mẹ đau lòng thất vọng, bị người đời chê cười…” (PVS1, nữ, sinh viên năm thứ 4 khoa Xã hội học)
“Hạnh phúc của người đồng tính nếu có cũng không được trọn vẹn nhưng bằng cách nào đó họ cũng sẽ tìm được hạnh phúc của riêng mình thôi” (PVS 5, nam, năm thứ 4 khoa Truyền hình)
Tóm lại, qua kết quả nghiên cứu có thể thấy đa phần sinh viên đã nhậnthức đúng về khái niệm đồng tính, tuy nhiên tỉ lệ nhận thức sai vẫn còn cao(41,4%) Sinh viên cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đồng tính là "bẩmsinh", tuy nhiên vẫn còn một bộ phận sinh viên hiểu chưa đầy đủ hoặc hiểusai về đồng tính khi nhầm lẫn khái niệm này với hành vi tình dục Sinh viêncho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đồng tính là "bẩm sinh", các nguyênnhân chính tiếp theo là lối sống buông thả và bị lôi kéo, điều này cho thấynhận thức về nguyên nhân dẫn đến đồng tính còn chưa đầy đủ và còn mangđịnh kiến cá nhân Đa số sinh viên chưa có kiến thức về tỉ lệ người đồng tính
và còn mơ hồ về cuộc sống của cộng đồng này Phần lớn sinh viên cho rằngcộng đồng người đồng tính ngày càng phát triển và tỉ lệ người đồng tính có xuhướng tăng lên Truyền thông đại chúng có ảnh hưởng nhất định đến nhậnthức của sinh viên về đồng tính
Trang 30CHƯƠNG 3: THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI ĐỒNG TÍNH
Từ xưa đến nay, xã hội loài người chỉ biết đến và chấp nhận tồn tại haigiới tính đó là nam giới và nữ giới Thêm vào đó, do ảnh hưởng bởi những giátrị truyền thống của tư tưởng Á Đông, những người thuộc giới tính thiểu sốcàng khó được chấp nhận, khiến họ phải sống khép kín, che giấu giới tính thậtcủa mình Cho đến khi người đồng tính trên thế giới bắt đầu được chấp nhận
ở nhiều quốc gia, điều này đã tác động không nhỏ tới cộng đồng đồng tínhtrên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Không nằm ngoài sự biếnđộng này, sinh viên là đối tượng có nhu cầu và mức độ quan tâm nhất địnhđến người đồng tính cũng như các vấn đề liên quan đến đồng tính
Chương này tập trung đánh giá thái độ của sinh viên thông qua tìm hiểumức độ đồng tình của họ về người đồng tính và các vấn đề liên quan, đối vớicách ứng xử của những người xung quanh người đồng tính, bao gồm: gia đình,bạn bè (bạn bè ở trường, bạn bè chơi theo hội/nhóm), hàng xóm, cơ quan Đoànthể địa phương, nhà nghiên cứu và truyền thông đại chúng Cách tiếp cận nàynhư là một cách để họ thử đặt mình vào vị trí của bạn bè, người thân, hàngxóm… của người đồng tính, không những giúp đi sâu khai thác những thái độ,kiểu phản ứng của sinh viên mà còn giúp làm rõ thái độ sinh viên đối với nhữngphản ứng tiêu cực của những người xung quanh người đồng tính, đồng thời tìmhiểu được thái độ của họ trong những tình huống đó như thế nào
3.1 Thái độ của sinh viên về vấn đề đồng tính nói chung:
3.1.1 Thái độ của sinh viên đối với người đồng tính:
Theo kết quả điều tra, thái độ của sinh viên đối với người đồng tính chủyếu được thể hiện đối với cộng đồng người đồng tính nói chung chứ khôngphân định rạch ròi như đồng tính nam hay đồng tính nữ Khi được hỏi: “Nhắcđến người đồng tính bạn nghĩ đến đầu tiên là?” thì có đến 73,7% sinh viên
chọn là ‘cả đồng tính nam và đồng tính nữ’, 17,7% là ‘đồng tính nam’, 3,3%
là ‘đồng tính nữ’, chỉ có 3% sinh viên chọn ‘lưỡng tính’ và 2,3% chọn
‘chuyển giới’ Trong điều tra định lượng về người đồng tính và các vấn đề
liên quan, có bao gồm đồng tính nam và đồng tính nữ với mẫu nghiên cứu là
300 sinh viên, chỉ có 3,3% sinh viên tỏ thái độ khác biệt giữa đồng tính nam
và đồng tính nữ, vì vậy tác giả không sử dụng số liệu của 3,3% sinh viên này
Trang 31Biểu 3.1 Trung bình cộng sinh viên đồng tình với người đồng tính
và luật pháp công nhận người đồng tính.
độ RKĐT=0, KĐT=1, BT=3, ĐT=5 và RĐT=7 Qua Biểu 3.1 có thể thấy rõ,những vấn đề luật pháp về người đồng tính nhận được sự đồng tình cao hơn
so với việc công nhận một cá nhân là người đồng tính
Để đánh giá khái quát về thái độ của sinh viên đối với người đồng tính,tác giả đã đặt ra câu hỏi “Bạn hãy cho biết mức độ đồng tình của bản thân vềviệc ai đó không quen biết/ người thân/bạn bè là người đồng tính?” với cácmức độ là: rất đồng tình, đồng tình, bình thường, không đồng tình, rất khôngđồng tình
Bảng 3.1 Mức độ đồng tình của sinh viên đối với việc bạn bè, người thân và ai đó (không quen biết) là người đồng tính (%).
Trang 32Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên đa số có thái độ bình thường vàkhông đồng tình với việc ai đó là người đồng tính Sinh viên có thái độ bìnhthường đối với việc người không quen biết, người thân, bạn bè là người đồngtính chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là: 49%, 40,4% và 45% Nhất là với nhữngngười đồng tính hoàn toàn xa lạ thì sinh viên có thái độ khá ủng hộ Trong khi
đó, số sinh viên có thái độ đồng tình và rất đồng tình khá ít, cao nhất trong sốnày cũng chỉ chiếm 3,1% là đối với bạn bè, còn thấp nhất là với người thânchỉ chiếm 2,1% Đặc biệt có thể thấy từ kết quả điều tra, sinh viên có vẻ khótính hơn trong việc chấp nhận người thân mình là người đồng tính, chỉ có11.4% sinh viên đồng tình so với 48.5% phản đối Ở những thái độ tích cực(bình thường, đồng tình, rất đồng tình) thì ít hơn còn ở những thái độ thiếutích cực (không đồng tình, rất không đồng tình) thì tỷ lệ lại cao hơn so vớinhóm bạn bè hay người xa lạ Có thể nói, sinh viên thể hiện thái độ tương đốicởi mở với việc người không quen biết hay bạn bè là người đồng tính song lạikhó chấp nhận hơn khi người thân trong gia đình mình là người đồng tính
3.1.2 Thái độ của sinh viên đối với việc luật pháp công nhận quyền của người đồng tính, hôn nhân và gia đình của người đồng tính
Việc đánh giá khái quát về thái độ của sinh viên đối với người đồng tínhcòn được nghiên cứu dựa trên thái độ của họ đối với luật pháp về quyền củangười đồng tính, về hôn nhân đồng tính và gia đình đồng tính Đa số sinh viên
có thái độ tương đối tích cực với người đồng tính nói chung nên cũng khá cởi
mở khi được hỏi về vấn đề này Với vấn đề luật pháp liên quan đến ngườiđồng tính, thái độ sinh viên đa phần là đồng tình, cao nhất là với quyền củangười đồng tính, chiếm tỉ lệ 50.7%, số ngưởi ủng hộ hôn nhân đồng tính vàgia đình đồng tính là như nhau: 35,8% Tuy nhiên với vấn đề hôn nhân củangười đồng tính thì tỷ lệ sinh viên phản đối cao hơn với thái độ không đồngtình 19,8% và rất không đồng tình 8,5% so với vấn đề quyền và gia đình vớithái độ tương ứng chỉ 13%, 3,8% và 15,9%, 6,2% Trong khi đó ở vấn đềcông nhận gia đình người đồng tính, có vẻ sinh viên giữ thái độ trung lậpnhất, có 42,1% sinh viên chọn đồng tình bình thường chiếm tỷ lệ bình thườngcao nhất trong cả 3 vấn đề
Trang 33Bảng 3.2 Mức độ đồng tình của sinh viên về việc luật pháp công nhân quyền của người đồng tính, hôn nhân đồng tính và gia đình đồng tính (%).
Mức độ đồng tình Luật pháp công nhận về người đồng tính
Nhìn chung, thái độ của sinh viên HV BC&TT đối với đồng tính là chưathật sự cởi mở Tuy nhiên điều này ngược lại khi điều tra về thái độ của sinhviên đối với các quyền của người đồng tính, hôn nhân đồng tính và gia đìnhđồng tính, thái độ ủng hộ chiếm tỷ lệ khá cao Đặc biệt là số lượng sinh viên
có thái độ không đồng tình giảm dần theo mức độ Điều này chứng tỏ, sinh