1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả một số mô hình khuyến lâm trồng cây lâm sản ngoài gỗ (ba kích, mây nếp, tre bát độ) tại tỉnh quảng ninh, giai đoạn 2006 2011

105 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển Khuyến lâm là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007 là: Nâng cao trình đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN KIÊM

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM TRỒNG CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ (BA KÍCH, MÂY NẾP, TRE BÁT ĐỘ) TẠI TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2006 - 2011

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN VĂN KIÊM

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM TRỒNG CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ (BA KÍCH, MÂY NẾP, TRE BÁT ĐỘ) TẠI TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2006 - 2011

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Mã số: 60 62 02 11

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN MINH HỢI

Hà Nội, 2013

Trang 3

Trong đó, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Trần Minh Hợi - người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu và dành cho tác giả những tình cảm tốt đẹp trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong

thời gian thực hiện luận văn Tấm gương lao động và các ý tưởng khoa học

mới của thầy là bài học quí giá đối với bản thân tác giả

Xin chân thành cảm ơn các cán bộ Khoa Đào tạo Sau đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và làm luận văn

Tác giả xin cảm ơn cán bộ viên chức Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh Quảng Ninh, Trạm khuyến nông các huyện Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Hoành Bồ, Vân Đồn, Cô Tô, Móng Cái, Đông Triều, UBND và những các hộ gia đình các xã Quảng Sơn, Nam Sơn, Đồng Văn, Đồng Lâm, , Vạn Yên, Thanh Lâm, Ninh Dương, Vĩnh Thực, Tân Việt, Thanh Sơn, đã cung cấp thông tin và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả triển khai thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn

Tôi xin cam đoan số liệu dẫn chứng là trung thực, các kết quả nghiên cứu là của riêng tôi và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà nội, ngày 5 tháng 6 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Văn Kiêm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Khái niệm và một số định nghĩa về khuyến lâm 3

1.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở trên thế giới và ở Việt Nam 3

1.2.1 Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm trên thế giới 3

1.2.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở Việt Nam 10

1.3 Về khuyến lâm 16

1.4 Nhận xét, đánh giá chung 17

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 19

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận 20

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 21

Trang 5

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP CỦA TỈNH 25

3.1 Điều kiện tự nhiên 25

3.1.1 Vị trí địa lý 25

3.1.2 Địa hình địa thế 26

3.1.3 Khí hậu - thuỷ văn 26

3.1.4 Địa chất - thổ nhưỡng 28

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29

3.2.1 Đặc điểm dân tộc - dân số và lao động 29

3.2.2 Thực trạng kinh tế chung của tỉnh 30

3.2.3 Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng 31

3.3 Thực trạng ngành lâm nghiệp 32

3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai và tài nguyên rừng 32

3.3.2 Hiện trạng sản xuất lâm nghiệp 38

3.3.3 Vai trò của ngành LN trong sự phát triển KTXH của tỉnh 41

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

4.1 Thực trạng tổ chức triển khai xây dựng mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2011 44

4.2 Kết quả của các mô hình 45

4.2.1 Tổ chức triển khai xây dựng và quản lý mô hình khuyến lâm 45

4.2.2 Đánh giá kết quả chuyển giao 60

4.3 Đánh giá tác động của một số mô hình Mây nếp, tre Bát độ, Ba kích tại tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 – 2011 69

4.3.1 Tác động về xã hội 69

4.3.2 Tác động tới phát triển kinh tế - xã hội 74

4.4 Phân tích thuận lợi, khó khăn trong xây dựng các mô hình khuyến lâm 76

4.4.3 Cơ hội: 83

Trang 6

4.4.4 Thách thức 84

4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm nghiệp, làm cơ sở nhân rộng 84

4.5.1 Giải pháp về tổ chức thực hiện hoàn thiện bộ máy khuyến nông 84 4.5.2 Giải pháp về phát triển nguồn lực con người 85

4.5.3 Giải pháp về kỹ thuật 86

4.5.4 Giải pháp về chính sách 86

4.5.5 Giải pháp về cách thức triển khai 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

1 Kết luận 93

2 Kiến nghị 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

14 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

22 CCRĐ Cải cách ruộng đất

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.2 Hiện trạng đất lâm nghiệp phân theo 3 loại rừng 35 3.3 Phân loại đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 37 3.4 Giá trị sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành lâm nghiệp 42

4.3 Hoạt động tập huấn kỹ thuật trong mô hình khuyến lâm 52 4.4 Hoạt động thông tin tuyên truyền trong mô hình khuyến lâm 54 4.5 Một số yêu cầu kỹ thuật đối với cây trong mô hình khuyến lâm 58

4.7 Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng 63 4.8 Nhận thức của người dân khi có mô hình khuyến lâm 70

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.2 Biểu đồ so sánh Hvn loài cây Mây nếp tuổi 5 giữa hai loại mô hình 64 4.3 Biểu đồ so sánh sản lượng loài cây Mây nếp tuổi 5 giữa hai

4.15 Hiệu quả kinh tế từ mô hình trồng tre Bát Độ 74

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dân số nước ta vào khoảng 86 triệu người, trong đó có khoảng 6 triệu hộ gia đình sống tại vùng miền núi (25 triệu người) Các xã nghèo miền núi có diện tích chiếm khoảng 50 % tổng diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó 66

% là rừng và đất rừng Người dân và các cộng đồng ở miền núi sống phụ thuộc vào rừng, tuy nhiên hiện nay các dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo cao

nhất trong cả nước

Phát triển Khuyến lâm là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007 là: Nâng cao trình độ chuyên môn về quản lý, bảo vệ rừng cho 80% hộ nông dân; Thu hút 50% thành phần kinh tế khu vực

tư nhân và các tổ chức đoàn thể tham gia các hoạt động khuyến lâm; Bố trí ít nhất một cán bộ khuyến lâm chuyên trách hoặc kiểm lâm cho mỗi xã nhiều rừng và tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến lâm tự nguyện; Cải tiến và cập nhật nội dung, phương pháp khuyến lâm để phù hợp với trình độ của nông dân, đặc biệt hộ nghèo và dân tộc ít người; Xây dựng mối liên kết giữa

hệ thống khuyến lâm và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản

Từ những nhiệm vụ trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án phát triển khuyến lâm giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu trung hạn là: Phát triển nguồn nhân lực cho đội ngũ làm công tác khuyến lâm từ Trung ương đến thôn bản, ưu tiên cho khuyến lâm cơ sở; thúc đẩy quá trình chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho nông dân; Tăng cường đào tạo, huấn luyện và nâng cao nhận thức cho các chủ rừng; Phát triển tổ chức và

tăng cường xã hội hoá công tác khuyến lâm

Trang 11

Trong những năm qua Nhà nước có nhiều chính sách phát triển kinh tế

xã hội, có liên quan đến phát triển lâm nghiệp như các chương trình 327, 661,

135, 134, 30a,… Với mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi, thông qua nhiều phương pháp tiếp cận chuyển giao tiến bộ khoa học

kỹ thuật khác nhau trong đó nhiều mô hình khuyến lâm đã được triển khai xây dựng ở các địa phương Kinh phí cho hoạt động khuyến lâm ngày càng tăng, tính từ 2006 - 2011 đã có trên 98 tỷ đồng từ kinh phí khuyến lâm trung ương được đầu tư triển khai cho các mô hình khuyến lâm tại địa phương Trong đó tỉnh Quảng Ninh được đầu tư với kinh phí là 3,35 tỷ đồng cho các mô hình khuyến lâm đặc biệt là mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu đánh giá nào một cách có hệ thống và đầy đủ về các mô hình khuyến lâm đã được xây dựng, những khó khăn, bất cập gì trong quá trình chuyển giao? Qua đó, cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin đầy đủ, khách quan để hoạch định những chính sách, kế hoạch khuyến lâm phù hợp cho giai đoạn 2012 - 2020 Xuất phát từ thực tiễn

đó, đề tài “Đánh giá hiệu quả một số mô hình khuyến lâm trồng cây lâm

sản ngoài gỗ (Ba kích, Mây nếp, Tre bát độ) tại tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn

2006 - 2011” được thực hiện là cần thiết và có ý nghĩa

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và một số định nghĩa về khuyến lâm

- Khuyến lâm là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường,

để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn

- Khuyến lâm là một quá trình chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng và những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân để họ có đủ khả năng quản lý

và bảo vệ được nguồn tài nguyên rừng tại cộng đồng

- Khuyến lâm là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân Là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo, cho nông dân theo nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt; đồng thời đó là quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng một cách dần dần và tự giác của nông dân

1.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm trên thế giới

1.2.1.1 Anh

Ngày 01/9/1919, Luật Lâm nghiệp đã có hiệu lực và Ủy ban Lâm nghiệp (Khuyến lâm) được thành lập, chịu trách nhiệm về rừng ở Anh, Scotland, Wales và Ireland Toàn bộ tổ chức thành mười phòng với 29 nhân viên cấp trung ương và cấp huyện và 110 kiêm lâm viên

Sau 10 năm đã có 152 khu rừng được quản lý với diện tích khoảng 600.000 mẫu Anh và hơn 138,000 mẫu Anh đã được trồng

Năm 1939, Ủy ban Lâm nghiệp tách thành Cục Kiểm lâm, và Cục

Trang 13

Khuyến lâm Sau 90 năm hệ thống khuyến lâm được thành lập, hoạt động khuyến lâm đã góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng của toàn nước Anh lên 5%, hiện có khoảng 2.982.000 ha, chiếm 13% diện tích đất của nước Anh [17])

1.2.1.2 Nhật Bản

Hoạt động khuyến nông lâm của Nhật Bản được hình thành và đi vào hoạt động từ những năm 1900 Lúc đầu khuyến nông lâm được thực hiện bởi các trường học và các trang trại của chính phủ thông qua việc tiến hành thử nghiệm và đưa các công nghệ mới vào sản xuất Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, lâm nghiệp hoạt động khuyến nông lâm ở Nhật đã được chính thức hóa bằng pháp luật và đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm được xây dựng và củng cố Các giai đoạn tiếp theo, do sự cải cách hệ thống xã hội, nông dân đã buộc phải áp dụng các hướng dẫn kỹ thuật và kiến nghị của cán

bộ khuyến nông lâm - được gọi là "Khuyến nông bắt buộc" Đến năm 1948, dịch vụ khuyến nông chính thức được khôi phục tại Nhật Bản với tên gọi là

“Dịch vụ Khuyến nông Hợp tác xã” và phát triển đến nay

Dịch vụ khuyến nông tại Nhật Bản có ba vai trò chính: (1) là để cải thiện

kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp, (2) là cải thiện các tiêu chuẩn sống của cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn và (3) là giáo dục thế hệ trẻ ở nông thôn

Hệ thống tổ chức: Bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Thủy sản (MAFF) theo Hà Thanh Tùng (2010) [13] là cơ quan giúp Chính phủ Nhật bản thực hiện dịch vụ khuyến nông lâm trên phạm vi toàn quốc Đội ngũ cán bộ khuyến nông lâm của Nhật Bản hiện nay có khoảng 10.000 người, Đội ngũ cán bộ này làm việc như các chuyến gia cố vấn và được phân bổ chủ yếu ở 47

cơ quan khuyến nông cấp tỉnh và 630 cơ quan khuyến nông lâm cấp huyện Mỗi tỉnh có một trung tâm đào tạo nông dân

Chính sách hỗ trợ:

Trang 14

+ Chính phủ tạo hành lang pháp lý về khuyến nông lâm, phát triển nông thôn, với phương châm “thể chế mạnh và minh bạch”;

+ Kinh phí: hỗ trợ 40% kinh phí cho các hoạt động dịch vụ khuyến nông của các tổ chức khuyến nông địa phương Phần còn lại là sự đóng góp của người dân hoặc doanh nghiệp và thậm chí là sự huy động của tổ chức khuyến nông lâm

1.2.1.3 Mỹ

Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm nước Mỹ được hình thành từ năm

1843 theo tác giả Alfred Charles True (1928) [16] viết trong cuốn Lịch sử khuyến nông nước Mỹ Khởi đầu tại NewYork nhà nước cấp kinh phí cho Hội đồng bang thuê những nhà khoa học nông nghiệp có kỹ năng thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức

về khoa học và thực hành nông lâm nghiệp cho nông dân

Từ cuối năm 1980 Chính phủ Mỹ đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông lâm trong trường đại học Năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông lâm đại học Đến năm 1907 ở

Mỹ đã có 42 trường/39 bang có đào tạo khuyến nông lâm Năm 1910 có 35 trường có bộ môn khuyến nông, khuyến lâm

Năm 1914, Mỹ ban hành luật khuyến nông lâm và thành lập Hệ thống khuyến nông khuyến lâm quốc gia Giai đoạn này đã có 8861 Hội nông dân, với khoảng 3.050.150 hội viên

1.2.1.4 Ấn Độ

Hội khuyến nông Ấn độ được thành lập năm 1820 (William Carey khởi sướng) và đề xuất cải tiến ngành Nông nghiệp Cục Lâm nghiệp Hoàng gia được thành lập ở Ấn Độ vào năm 1864 Lâm luật được thông qua năm 1865, lúc đó Luật này chỉ đơn giản là thiết lập ranh giới chủ rừng, đến 1878 nó được

bổ sung và hoàn thiện Hệ thống khuyến nông lâm Ấn Độ được thành lập

Trang 15

tương đối sớm vào năm 1960 Trong những năm 1970, Ấn Độ tuyên bố chiến lược dài hạn cho phát triển lâm nghiệp với mục tiêu: giảm xói mòn đất và lũ lụt, cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của các sản phẩm ngành công nghiệp gỗ trong nước và cung cấp các nhu cầu chất đốt của của dân cư nông thôn, gỗ nhỏ, rừng sản xuất Ủy ban Quốc gia về Lâm nghiệp được thành lập năm 1976, các sở lâm nghiệp được tổ chức lại Thành lập Ủy ban lâm nghiệp

xã hội, với mục tiêu thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp truyền thống và phát triển rừng cộng đồng thông qua các hoạt động của cơ quan lâm nghiệp cộng đồng chịu trách nhiệm các trang trại lâm nghiệp, quản lý gỗ, khuyến lâm, trồng rừng

Trong năm 1980, lâm nghiệp xã hội được khuyến khích bởi các cơ quan lâm nghiệp cộng đồng Chính sách lâm nghiệp quốc gia được phê duyệt năm

1988 một trong những chính sách đó là Chương trình quản lý rừng, trong đó gắn trách nhiệm cụ thể cho Bộ Lâm nghiệp, từ quản lý các lô rừng cụ thể Đặc biệt, việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của người dân Đến năm 1992, mười bảy tiểu bang của Ấn Độ tham gia vào quản lý rừng Năm 2006, Luật chủ rừng được ban hành [19]

1.2.1.5 Trung Quốc

Hệ thống khuyến nông khuyến lâm Trung Quốc được thành lập năm

1970 nhưng công tác đào tạo khuyến nông Trung Quốc rất được quan tâm Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 – 1978 nên giai đoạn này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX Nội dung khuyến nông giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp của Đảng và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT nông nghiệp, xây dựng các

mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng

Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc quyết định áp dụng những chính sách tập trung hỗ trợ nông nghiệp sản xuất sản phẩm chất lượng cao Các chương

Trang 16

trình khuyến nông lâm chuyển giao giống cây rừng, lúa lai chất lượng cao Hai mươi năm gần đây, Nhà nước Trung Quốc đã đầu tư đồng bộ cả về hệ thống tổ chức, cơ sở thiết bị nghiên cứu cho khuyến nông khuyến lâm, nhờ vậy điều kiện làm việc và mức sống của khuyến nông lâm viên được nâng cao Tác giả Phạm Kim Oanh (2004) [10] cho biết tính đến hết năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc, đã có tới hơn 48.500 tổ chức khuyến nông khuyến lâm, với hơn 317 nghìn khuyến nông - khuyến lâm viên (từ trung ương tới tỉnh, huyện xã và làng bản) Khuyến nông lâm viên phối hợp hoạt động cùng khoảng 400 nghìn tổ chức nông dân (chiếm 20% số làng ở Trung Quốc) với hơn một triệu nông dân là kỹ thuật viên và với 6,6 triệu mô hình trình diễn của nông dân

1.2.1.6 Campuchia

Công tác khuyến nông lâm của Campuchia do Cục Khuyến nông (DAE) thuộc Tổng cục Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (MAFF) đảm nhiệm DAE có chức năng quản lý nhà nước về khuyến nông, phát triển hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến cấp huyện, phù hợp với nhu cầu của Campuchia Một mục tiêu chiến lược trong phát triển khuyến nông là xây dựng một hệ thống khuyến nông tới các xã và thôn bản DAE triển khai, thúc đẩy và điều phối các hoạt động khuyến nông thông qua các bộ phận kỹ thuật và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu, cơ quan cấp tỉnh, phi chính phủ và khu vực tư nhân với mục tiêu là lợi ích tốt nhất của các nhà sản xuất, người nông dân Hoạt động khuyến nông lâm tại Campuchia sử dụng phương pháp tiếp cận phát triển hệ thống canh tác qui mô trang trại, đào tạo và khuyến nông có sự tham gia và cách tiếp cận mở rộng Trong đó tập trung vào (i) Lập kế hoạch và đánh giá có sự tham gia, (ii) Phát triển công nghệ có sự tham gia; (iii) Đào tạo và mở rộng; (iv) Phát triển mở rộng và phổ biến tài liệu; (v) Phát triển các tổ chức nông dân [11]

Trang 17

1.2.1.7 Inđônêsia

Là một nước có nền nông nghiệp tương đối phát triển trong khu vực Trung tâm khuyến lâm (thuộc Bộ Lâm nghiệp) quản lý các vấn đề liên quan đến hoạt động khuyến lâm từ các dịch vụ đến phát triển lâm nghiệp bền vững Theo tác giả Nur Hidayat (2009) [18], hiện nay Inđônêsia có trên 30.000 cán

bộ khuyến nông, trong đó có trên 5.200 khuyến lâm viên

1.2.1.8 Malaysia

Khi nghiên cứu về hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia, tác giả Hà Thanh Tùng (2011)[14] cho biết hình thức triển khai hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia được tổ chức dưới dạng dự án theo các chuyên ngành và khu vực riêng theo hình thức tư vấn cho trưởng làng/bản hoặc người đứng đầu doanh nghiệp Mở các lớp tập huấn cũng được chú trọng trong hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia với các khóa tập huấn mang tính quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và theo từng chuyên đề Hình thức tập huấn chủ yếu là

"đạo tạo tại hiện trường" và "cầm tay chỉ việc" Về nội dung hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia tập trung vào tuyên truyền, giáo dục và đào tạo các kỹ thuật liên quan đến giấp chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm như GAP, GMP, truy xuất nguồn gốc, và trang trại hữu cơ

1.2.1.9 Myanmar

Là đất nước nông nghiệp đóng góp 45,1% GDP, hoạt động khuyến nông lâm được xem là giải pháp hàng đầu để phát triển nông lâm nghiệp bền vững Các hoạt động chủ yếu ở nước này là xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn,

và thông tin tuyên truyền Tại Mi-an-ma đặc biệt quan tâm hệ thống nhóm 10

hộ nông dân, trong đó có 1 nhóm trưởng thường xuyên liên hệ với cán bộ khuyến nông và chuyên gia Hệ thống tổ chức khuyến nông lâm của Mi-a-ma được tổ chức ở Trung ương và 5 trung tâm ở 5 vùng lãnh thổ, các cán bộ khuyến nông lâm chủ yếu trực thuộc 5 trung tâm vùng này Các hoạt động

Trang 18

xây dựng mô hình, tập huấn cũng được tổ chức tại các trung tâm vùng

1.2.1.10 Philippin

Hệ thống khuyến nông khuyến lâm được thành lập năm 1976 Hoạt động khuyến nông lâm của Phi-lip-pin do Viện đào tạo nông nghiệp trực thuộc Cục Nông nghiệp đảm nhiệm và triển khai các hoạt động về khuyến nông khuyến lâm Tại các vùng có 17 trung tâm đào tạo, không tổ chức theo địa danh hành chính Hoạt động khuyến nông của Philippin được gọi là “khuyến nông điện tử” theo nhận xét của Hà Thanh Tùng (2011) [14] Với hình thức chuyển tải thông tin và chuyển giao công nghệ chủ yếu thông qua các phương tiện điện

tử như Internet, đài, báo điện tử, truyền hình, băng video và cát-sét Hầu hết các nội dung hoạt động khuyến nông lâm đều tập trung vào sản xuất nông lâm nghiệp hữu cơ, giảm thiểu biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế bền vững Chính phủ chi phí xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, băng đĩa hình, internet phục vụ khuyến nông Trong xây dựng mô hình, Chính phủ chỉ hỗ trợ 50% chi phí giống, Cán bộ khuyến lâm của Philippin chủ yếu được đào tạo từ Trường Đại học Los Banõs

1.2.1.11 Lào

Lào có mô hình khuyến lâm tương tự như mô hình khuyến lâm của Việt Nam Mọi hoạt động khuyến lâm của Lào được điều hành bởi bộ Lâm nghiệp Lào Cán bộ khuyến lâm của Lào được đào tạo chủ yếu tại khoa Lâm nghiệp trường Đại học quốc gia Viêng Chăn, các cán bộ cấp cao đều được sự hỗ trợ đào tạo tại Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt nam

1.2.1.12 Thái Lan

Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông lâm khá tiêu biểu Hệ thống

Trang 19

khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967

Hiện Thái lan có 3 tổ chức chính hoạt động có liên quan đế khuyến lâm,

đó là Cục lâm nghiệp Hoàng gia, Hội nông dân, Hội phát triển cộng đồng Hoạt động khuyến lâm được thực hiện và chỉ đạo bởi các Phòng lâm nghiệp Quốc gia, bao gồm 21 cơ quan cấp vùng và 72 cơ quan cấp tỉnh

Cán bộ khuyến lâm của Thái lan chủ yếu được đào tạo từ Trường Đại học Kasetsart và Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng RECOFTC

1.2.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở Việt Nam

từ việc khuyến khích khai hoang mở rộng diện tích, thực hiện chính sách

"Ngụ binh ư nông", miễn giảm thuế cho nông dân những năm mất mùa hay sau khi kết thúc các cuộc chiến tranh giữ nước để nuôi dưỡng sức dân, cho đến việc nhà vua cày ruộng "tịch điền", làm lễ trừ sâu, lễ tế côn trùng, xem gặt lúa, Đều nói lên sự quan tâm thường trực của nhà nước phong kiến đối với việc phát triển nông nghiệp Có thể nói, chính sách khuyến nông chính là một trong những chuẩn mực cơ bản để đánh giá năng lực và sự thịnh suy của các triều đại phong kiến Việt Nam

- Theo Cổng thông tin điển tử tỉnh Hà Nam [7] và tác giả Đào Xuân Ánh (2008) [1] khẳng định năm 987, Lê Hoàn là ông vua đầu tiên dưới chế độ phong kiến Việt Nam tiến hành lễ cày tịch điền, nhằm mục đích khuyến khích sản xuất nông nghiệp Ruộng tịch điền thuộc quyền quản lý trực tiếp của triều

Trang 20

đình, giống lúa cấy trên ruộng được chọn để cho loại gạo ngon dùng vào việc

tế lễ, đặc biệt là tế thần nông và thần xã tắc Cày tịch điền dưới thời phong kiến là một trong những biện pháp khuyến nông

- Ở thời kỳ nhà Trần (1226) lập ra các chức quan để trong coi việc phát triển nông nghiệp như: Hà đê sứ, đồn điền sứ, khuyến nông sứ, Nhờ đó nông nghiệp Việt Nam lúc bấy giờ phát triển tương đối mạnh, có thể nói là thời kỳ hưng thịnh của nông nghiệp Việt Nam lúc đó

- Năm 1475, bên cạnh cải tổ cơ chế Nhà nước, Lê Thánh Tông đặc biệt chú ý các biện pháp phát triển kinh tế, sửa đổi chế độ thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, mở đồn điền, khai khẩn đất hoang Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển đất nước của Lê Thánh Tông

đã được phản ánh khá rõ qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế, Cùng năm, ông đặt

ra chức quan Hà đê để trông coi đê điều và chức quan Khuyến nông để đôn đốc nhân dân việc cày cấy

- Năm 1789 vua Quang Trung ban bố "chiếu khuyến nông" với những nội dung rất cụ thể như kêu gọi nhân dân tích cực sản xuất, không được bỏ ruộng hoang, người đi phiêu tán phải trở về quê cũ,… Điểm độc đáo trong chính sách kinh tế của Quang Trung là "trọng nông" nhưng không "ức thương" Sau 3 năm có "chiếu khuyến nông", ruộng bỏ hoang đã được phục hoá, mùa màng bội thu, nông nghiệp được phục hồi và nông dân an cư lạc nghiệp [3]

- Vua Gia Long (1802 – 1820), sau khi thống nhất đất nước, đã sửa sang việc triều chính, định binh chế, quan chế, tài chính, đinh điền nông nghiệp, công vụ, pháp luật, học hành, ngoại giao,… Gia Long là một vị vua coi trọng khá toàn diện đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn Ông đã khoan thư sức dân (giảm thuế); giữ gìn và mở rộng diện tích, cải tạo đất canh tác nông

Trang 21

nghiệp (cấm bán công điền, công thổ; đào sông, thuỷ lợi, trị thuỷ, khai hoang phục hoá); có chiến lược an ninh lương thực (lập kho dự trữ để cấp phát cho dân khi mất mùa, đói kém),…

Từ 1820 - 1840, triều đại của Minh Mạng, năm 1821, dựng lại Quốc Tử Giám, mở thi hội và thi đình Thực thi các chính sách khuyến nông, tìm hiểu

kỹ thuật đóng tàu của châu Âu

- Tác giả Lê Sỹ Trung (2010) [12] cho biết vào tháng 4 năm 1945, Hồ Chủ Tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã căn dặn: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”

- Năm 1955-1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp nước ta Chúng ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ,…, 106.448 trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158

hộ nông dân và nhân dân lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc) Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất

- Năm 1960 ở miền Bắc thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX) bậc thấp, năm 1968 HTX bậc cao, năm 1974 HTX toàn xã Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao

Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã giúp cho Đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước

Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX Phương pháp khuyến nông chủ yếu đưa TBKT vào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng -Thái Bình

- Dưới chế độ Sài Gòn cũ (1960) có nha khuyến nông chuyên lo phát

Trang 22

triển nông nghiệp, phát triển nông thôn

- Từ năm 1964-1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yếu do chiến tranh Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miềm Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Mặt khác sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực tế bất cập mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản suất

- Trước thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1981, Chỉ thị 100 của Ban CHTW Đảng:

“Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”, còn gọi là “Khoán 100” được ra đời Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” Đảng ta xem xét rút kinh nghiệm: “Khoán 100” có nhiều ưu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Trên đồng ruộng, ao hồ, chuồng trại chăn nuôi người nông dân chưa có thể chủ động sản xuất kinh doanh vì những khâu then chốt như giống, phân bón nông dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX Có nhiều hộ nông dân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo do bởi nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn; do gặp rủi ro trong cuộc sống; do trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ sản nhiều vụ, nhiều năm,… Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ chính trị BCH TW Đảng khóa V ra Nghị quyết 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán 10” Nghị quyết 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp Ruộng đất giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông nghiệp, 50 năm đối với đất lâm nghiệp Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập thể tự cung tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại Người

Trang 23

nông dân chủ động sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước Nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh

- Năm 1992, Để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông trên toàn quốc, Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối Khuyến nông” Do nhu cầu bức xúc từ thực tế sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/NĐ-CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư

1.2.2.2 Sau năm 1993

Ngày 02 tháng 3 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/NĐ-CP

về công tác khuyến nông (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) Hệ thống khuyến nông - khuyến ngư Việt Nam chính thức hình thành Ở Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục Khuyến nông - Khuyến lâm vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước vừa làm nhiệm vụ khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Việc một đơn vị đồng thời làm nhiệm vụ quản lý nhà nước và dịch vụ công tỏ ra nhiều bất cập Chính vì vậy, ngày 18 tháng 7 năm 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 86/NĐ-CP, cho phép tách Cục Khuyến nông - Khuyến lâm thành hai đơn

vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT là Cục Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Đến năm 2007, trên cơ sở Chính phủ hợp nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT với Bộ Thuỷ sản thành Bộ Nông nghiệp và PTNT và theo Nghị định số 01/2008/NĐ-CP, ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

đã cho phép thành lập Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia trên cơ

sở hợp nhất giữa Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-BNN-TCCB ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của

Trang 24

Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia thực hiện theo Quyết định số 43/2008/QĐ-BNN ngày 11/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về Khuyến nông quy định tổ chức khuyến nông Trung ương đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với tên gọi là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Ngày 28/6/2010, Bộ Nông nghiệp

và PTNT đã có Quyết định số 1816/QĐ-BNN-TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp, có các nhiệm vụ chủ yếu là tham gia đề xuất và ban hành các chính sách, cơ chế về khuyến nông, khuyến ngư; các định mức kinh tế-kỹ thuật; chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thông qua xây dựng mô hình trình diễn, thông tin tuyên truyền, huấn luyện đào tạo, công tác dịch vụ

và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khuyến nông, khuyến ngư

Tính đến tháng 11/2010 có 33.260 cán bộ khuyến nông, trong đó có 5.638 cán bộ có trình độ đại học, chiếm 16,7%

Hệ thống khuyến nông ở địa phương được tổ chức thành 4 cấp: Tỉnh - Huyện - Xã và Thôn bản:

Ở cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan quản lý nhà nước về khuyến nông Sau 15 năm hoạt động, 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập Trung tâm Khuyến nông, Khuyến ngư tỉnh với tổng số 2.754 người

Ở cấp huyện: hiện nay, hầu hết các huyện trên cả nước có Trạm Khuyến nông huyện trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh hoặc UBND huyện với tổng số 4.600 người

Ở cấp xã: Đa số các xã có cán bộ khuyến nông xã với tổng số 10.543 người

Ở cấp thôn, bản: Hiện cả nước có 15.749 khuyến nông viên thôn, bản

Trang 25

Một số tỉnh có lực lượng khuyến nông viên thôn, bản tương đối đầy đủ như

Hà Giang, Quảng Ninh , Sơn La, Lai Châu

1.3 Về khuyến lâm

Từ năm 1993 - 1995, ở Trung ương bộ phận khuyến lâm được thành lập thuộc Vụ Lâm sinh thuộc Bộ Lâm nghiệp, từ năm 1996 đến năm 2000 thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Khuyến nông khuyến lâm Từ năm

2001 đến năm 2004 thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Phát triển lâm nghiệp [6], từ năm 2005 đến năm 2010 thành lập phòng Khuyến lâm thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Ở địa phương: trong 63 tỉnh thành, chỉ có một số tỉnh thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Mỗi Trung tâm chỉ có từ 1-2 cán bộ được đào tạo lâm nghiệp trong tổng số 20-25 cán bộ khuyến nông

Theo số liệu báo cáo ở Trung ương chỉ có 4/73 người, cấp tỉnh có 96/1431 người, cấp huyện 295/2813 người, khuyến nông viên xã 1.942/15.362 người được đào tạo về lâm nghiệp Xét về mặt số lượng cán bộ khuyến lâm chỉ chiếm khoảng 10% tổng số cán bộ khuyến nông chuyên trách

Do vậy hệ thống khuyến lâm vừa thiếu về số lượng và yếu về chất lượng do cán bộ khuyến lâm đa phần được được đào tạo sâu về chuyên ngành, thiếu kiến thức liên ngành và các kiến thức khuyến lâm cơ bản

Kinh phí hoạt động cho hoạt động khuyến lâm nằm trong kinh phí cấp theo các chương trình khuyến nông được phê duyệt

Giai đoạn 1993-2005: khi mới thành lập (1993) đã được Chính phủ đầu

tư hỗ trợ 1,268 tỷ đồng, con số này tăng lên 97,8 tỷ (2005), bình quân năm sau tăng hơn năm trước 8,04 tỷ đồng tương đương trên 12% Tính đến năm

2005, kinh phí hỗ trợ cho hoạt động khuến nông là 542,931 tỷ đồng trong đó kinh phí hỗ trợ cho hoạt động khuyến lâm là 66,6 tỉ đồng (chiếm khoảng 12,6%) Đã triển khai trên tổng diện tích xây dựng mô hình là 19.940 ha với

Trang 26

20.804 hộ tham gia Nổi bật là một số chương trình như: Chương trình trồng tre lấy măng; Chương trình trồng cây nguyên liệu giấy; Chương trình trồng cây đặc sản

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011)[5] cho biết trong 5 năm (2006-2011), chương trình khuyến lâm đã triển khai ở 55 tỉnh, với 51.575 hộ tham gia mô hình, tổng kinh phí: 76 tỷ đồng trên tổng số 843,880

tỷ đồng cấp cho toàn bộ hoạt động khuyến nông (chiếm 9%), với một số chương trình như: Trồng rừng thâm canh cây nguyên liệu; trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn; trồng rừng thâm canh cây lâm sản ngoài gỗ; và trình tập huấn nghiệp vụ khuyến lâm cho cán bộ kiểm lâm

Trong nhiều năm qua, việc quản lý kinh phí khuyến lâm ở trung ương còn phân tán với nhiều đầu mối thực hiện, như: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối, Cục Lâm nghiệp, Cục Trồng trọt, Cục Chăn nuôi Kinh phí khuyến lâm bao gồm nhiều hạng mục, có

sự khác biệt giữa các vùng, miền Các vùng miền núi và vùng đặc biệt khó khăn được ưu tiên hỗ trợ 60% chi phí giống, 40% chi phí vật tư, trong khi vùng đồng bằng chỉ được hỗ trợ tương ứng là 40% và 20% trong xây dựng

mô hình

Các địa phương đều quan tâm và có chính sách đối với khuyến nông, khuyến lâm viên cơ sở, tuy nhiên việc áp dụng chế độ chính sách chưa có sự thống nhất, và chủ yếu do tuỳ thuộc vào nguồn kinh phí của từng địa phương

Trang 27

phí mạnh mẽ cho công tác khuyến lâm và nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất Kết quả đạt được là vô cùng to lớn trong việc phát triển hệ thống lâm nghiệp và đảm bảo đời sống cho người dân, phát triển lâm nghiệp và nhất là hạn chế sự nóng lên của trái đất

Ở Việt Nam, công tác khuyến nông lâm cũng rất được chú trọng, ngay từ thời các vua chúa phong kiến công tác này đã đặc biệt được coi trọng trong việc phát triển nông lâm nghiệp Những giai đoạn sau đó, trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử nhưng công tác khuyến nông lâm vẫn luôn được

ưu tiên phát triển để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp Nhiều bộ phận chuyên trách như: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia;

hệ thống các trung tâm khuyến nông thuộc các tỉnh, huyện, xã được thành lập với đội ngũ cán bộ khuyến lâm đông đảo Khuyến lâm là một nội dung quan trọng trong công tác khuyến nông đặc biệt đối với nước ta có tới 3/4 diện tích

là đồi núi, đời sống người dân phụ thuộc rất lớn vào rừng Xuất phát từ thực

tế đó, nhiều mô hình khuyến lâm đã được triển khai thực hiện trong phạm vi

cả nước với mục tiêu cải thiện sinh kế cho cộng đồng, xóa đói giảm nghèo và phát triển rừng bền vững

Hằng năm, chính phủ đầu tư nhiều tỷ đồng cho công tác khuyến lâm từ trung ương tới địa phương Vậy có phải tất cả các mô hình khuyến lâm đều mang lại hiệu quả tốt? Những bất cập trong quá trình chuyển giao những

mô hình khuyến lâm này là gì?,… Việc trả lời những câu hỏi này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển khuyến lâm trong giai đoạn tiếp theo Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài được thực hiện là rất cần thiết

Trang 28

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả xây dựng mô hình khuyến lâm với các loài cây lâm sản ngoài gỗ, góp phần nâng cao đời sống của người dân ở tỉnh Quảng Ninh

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Đánh giá được hiệu quả của một số mô hình trồng cây LSNG do địa

phương thực hiện : mô hình trồng Ba kích (Morinda officinalis How), Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance), tre Bát độ(Dendrocalamus latiflorus) tại

tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011

Đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng mô hình khuyến lâm nói chung và mô hình trồng cây LSNG nói riêng

từ đó có thể áp dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, làm cơ sở để nhân rộng

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG , cụ thể mô hình trồng Ba kích

(Morinda officinalis How), Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance), tre Bát độ(Dendrocalamus latiflorus) tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài đặt ra các nội dung sau: + Đánh giá thực trạng tổ chức triển khai xây dựng mô hình khuyến lâm trồng cây lâm sản ngoài gỗ (Ba kích, Mây nếp, Tre bát độ) ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 -2011 cacs

Trang 29

+ Đánh giá kết quả của mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG đã xây dựng (mô hình trồng Ba kích, Mây nếp, tre Bát độ) tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2011

+ Đánh giá tác động của một số mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2011 (Ba kích, Mây nếp, tre Bát độ)

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG xây dựng tại tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn này

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm nghiệp

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận

Hoạt động khuyến lâm là rất cần thiết, đặc biệt đối với một quốc gia có 3/4 diện tích là đồi núi và một bộ phận không nhỏ dân cư sống phụ thuộc vào rừng như nước ta Tuy nhiên, hiệu quả của một mô hình khuyến lâm được đưa

ra phụ thuộc rất nhiều yếu tố, nhiều mô hình khuyến lâm đưa ra được hưởng ứng rất nhiệt tình của người dân nhưng cũng có những mô hình tỏ ra không phù hợp Nguyên nhân không thành công có thể do chất lượng của mô hình mang lại hiệu quả kinh tế kém, do khâu tổ chức thực hiện hoặc do công tác tuyên truyền chưa được thực hiện tốt,… Như vậy, khi đánh giá hiệu quả của

mô hình khuyến lâm nhất là mô hình trồng cây LSNG cần phải đánh giá trên quan điểm toàn diện, tổng hợp các yếu tố và đối tượng có liên quan Để làm được điều này thì cách tiếp cận điều tra từ trên xuống và đánh giá từ dưới lên được thực hiện trong đề tài Do thời gian nghiên cứu và kinh phí có hạn nên quan điểm kế thừa các công trình nghiên cứu có liên quan và tiến hành điều

Trang 30

tra bổ xung những nội dung còn thiếu được thực hiện xuyên suốt trong đề tài Các nội dung được đánh giá theo sơ đồ sau:

Hình 2.1: Sơ đồ các nội dung đánh giá:

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu

- Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu trên, đề tài kế thừa các nguồn thông tin, số liệu sau:

+ Số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh + Các thông tin, tài liệu, báo cáo, nghiệm thu có liên quan tới tình hình thực hiện các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG (Ba kích, Mây nếp, Tre bát độ) ở tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006- 2011 được thu thập ở Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ninh và ở Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Nội dung đánh giá

Bối cảnh

Đầu vào

Tiến trình

Kết quả Tác động, Ảnh

hưởng

Trang 31

+ Các văn bản pháp quy có liên quan tới chính sách và tổ chức thực hiện hoạt động khuyến nông, khuyến lâm ở Việt Nam 2006 - 2011

2.4.2.2 Đánh giá thực trạng tổ chức triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG ở tỉnh Quảng Ninh , giai đoạn 2006 – 2011

Để đánh giá thực trạng các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG (Ba kích, Mây nếp, tre Bát độ) được triển khai tại Quảng Ninh giai đoạn 2006-

2011, đề tài kế thừa số liệu và làm việc với các đơn vị để thu thập những thông tin

Phương pháp chủ đạo để thu thập những thông tin được đề tài sử dụng là

bộ công cụ PRA để điều tra phỏng vấn các đối tượng có liên quan và các nguồn thông tin, tài liệu sơ cấp thu thập được Làm việc với lãnh đạo của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia để tiến hành làm rõ các vấn đề sau:

- Chủ trương của Đảng, nhà nước và của ngành lâm nghiệp về vấn đề khuyến lâm trong giai đoạn 2006 - 2011 và trong giai đoạn tiếp theo

- Trong giai đoạn 2006 - 2011 ngành lâm nghiệp đã thực hiện bao nhiêu

dự án khuyến lâm? Xây dựng được bao nhiêu mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG? Địa điểm thực hiện các dự án, mô hình khuyến lâm thuộc các tỉnh nào? Quy mô về diện tích, nguồn vốn đầu tư? Loài cây trồng, biện pháp kỹ thuật áp dụng trong các mô hình? Đơn vị thực hiện,…

Thông qua đó cần điều tra làm rõ những thuận lợi, khó khăn của ngành khi triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG này? Trong các

mô hình khuyến lâm đã xây dựng thì có bao nhiêu mô hình đã được đánh giá là thành công? Người dân địa phương có chấp nhận và nhân rộng các mô hình này không?,…

2.4.2.3 Đánh giá kết quả của một số mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2011

* Lựa chọn mô hình đánh giá:

Trang 32

Để đánh giá được các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại Quảng Ninh giai đoạn 2006-2011, đề tài tiến hành lựa chọn các mô hình :

- Mô hình trồng cây Ba kích, mô hình trồng cây Mây nếp, mô hình trồng tre Bát độ

- Mô hình đánh giá phải nằm trên các địa bàn các huyện khác nhau

- Trên cùng một xã trong huyện, có điều kiện tự nhiên, lập địa giống nhau, tại cùng thời điểm trồng và chăm sóc để so sánh giữa MHKL và mô hình đại trà

* Đánh giá mô hình:

- Đối với mỗi mô hình đề tài đánh giá khâu tổ chức triển khai thông qua

so sánh kế hoạch triển khai và nghiệm thu kết quả về diện tích, tỷ lệ sống, công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo tập huấn

- Để đánh giá tình hình sinh trưởng, đề tài tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính 1,3m, chiều cao vút ngọn của cây, số cây/bụi (Đối với Tre bát độ và Mây nếp), số kg củ (đối với tre Bát độ và Ba kích), mật độ,

tỷ lệ sống…

+ Đối với mỗi mô hình trồng thuần loài, đề tài bố trí OTC diện tích 500

m2, trên OTC thu thập các số liệu sinh trưởng, đảm bảo số cây >=30 cây + Đối với các mô hình trồng xen, đề tài đo 30 cây ngẫu nhiên/loài;

+ Đối với mô hình Mây nếp đề tài đo theo băng, đếm số cây/bụi; mô hình tre Bát Độ đếm số cây/bụi

2.4.2.4.Đánh giá tác động của một số mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG (Ba kích, Mây nếp, Tre bát độ) tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2011

* Tác động về nâng cao độ che phủ của rừng

* Tác động về thu hút sự tham gia của hộ gia đình

* Tác động về nâng cao nhận thức của người dân

* Tạo công ăn việc làm cho người dân

Trang 33

* Dự báo tác động về kinh tế

2.4.2.5 Phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG tại tỉnh Quảng Ninh

Đề tài tiến hành sử dụng mô hình phân tích S.W.O.T (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để tiến hành phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm trồng cây LSNG tại tỉnh Quảng Ninh

Trang 34

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

VÀ THỰC TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP CỦA TỈNH

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Ninh là tỉnh biên giới, miền núi, hải đảo thuộc vùng Đông Bắc của đất nước Nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ và chạy dài theo cánh cung từ Đông Triều đến Bình Liêu - Móng Cái tiếp giáp với vùng Thập Vạn Đại sơn Trung Quốc Quảng Ninh có biên giới đất liền (dài 132,8 km) và hải phận giáp nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Trung tâm của tỉnh nằm cách thủ đô Hà Nội 153 km theo đường QL 18

- Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và Trung Quốc

- Phía Đông giáp biển Đông

- Phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Giang

- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương

- Phía Nam giáp TP Hải Phòng

Quảng Ninh có vị trí địa lý rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật với Thủ đô Hà Nội, các tỉnh Bắc Bộ, cả nước và Quốc tế Tổng diện tích tự nhiên là: 607.813 Km2

Trang 35

3.1.2 Địa hình địa thế

Địa hình địa thế ở Quảng Ninh có thể chia thành 3 vùng chính:

3.1.2.1 Vùng núi thấp và trung bình Nam Mẫu - Bình Liêu

Điển hình của vùng này là hai dãy Nam Mẫu (Yên Tử) và Bình Liêu được ngăn cách nhau bởi thung lũng các sông Ba Chẽ, Phố Cũ và Tiên Yên Hai dãy núi này gọi là cánh cung Đông Triều của vùng Đông Bắc Việt Nam

3.1.2.2 Vùng đồi và đồng bằng duyên hải

- Ở đây gồm các đồng bằng phù sa và thung lũng xen đồi núi thuộc phía Đông các huyện Quảng Hà, thị xã Móng Cái, Tiên Yên, Hoành Bồ, Yên Hưng, Đông Triều và thị xã Uông Bí So với các vùng đồng bằng, ở đây là những dải hẹp nhất, nơi rộng nhất 10 km

- Dải thung lũng xen đồi núi chạy song song với phía Tây của vùng đồng bằng có độ cao phổ biến từ 50 - 200 m, độ dốc thoải, có nhiều đỉnh dông bằng phần lớn có nguồn gốc từ phù sa cổ

3.1.2.3 Vùng quần đảo

Bao gồm 2000 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, kéo dài thành hình cánh Cung song song với cánh cung Đông Triều Trong đó có các đảo lớn như: Kế Bào, Cái bàn, Cái Chiên, Ba Mùn, Cô Tô

3.1.3 Khí hậu - thuỷ văn

Trang 36

20c, xuất hiện nhiều sương muối, lượng mưa trung bình hàng năm là 2317

mm

- Vùng đồng bằng ven biển Đông bắc: Là dải đồng bằng ven biển ở phía nam cánh cung Đông Triều - Móng Cái, mùa hạ thời tiết mát hơn các vùng khác, mưa nhiều Lượng mưa trung bình hàng năm là 2488 mm và thường bị ảnh hưởng của gió, bão và thuỷ triều

- Vùng hải đảo : Mang tính chất khí hậu Đại dương, nhưng gần lục địa lượng mưa hàng năm trung bình là 1733 mm, chịu ảnh hưởng nhiều của gió, bão Vào mùa Đông thường có sương mù xuất hiện ảnh hưởng đến sản xuất

vụ đông

Nhìn chung, khí hậu của Quảng Ninh thuận Lợi cho sản xuất đa dạng các loại cây trồng nông - lâm nghiệp song hạn chế chính của khí hậu là: lượng mưa lớn lại tập trung theo mùa gây xói mòn và rửa trôi lớn ở những vùng núi cao dốc, các lưu vực sông suối do đó cần tạo ra những vùng phòng hộ đầu nguồn để giữ đất, giữ nước và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

3.1.3.2 Thuỷ văn

- Quảng Ninh có nhiều sông suối nhưng phần lớn là nhỏ, lòng sông hẹp

và dốc, cự ly ngắn lại chạy thẳng từ vùng núi ra biển nên hầu hết sông trong tỉnh không có vùng trung lưu, cửa sông khá rộng

- Bao gồm 8 con sông chảy trên địa bàn tỉnh đó là: sông Bạch Đằng, sông Đá Bạc, sông Diễn Vọng, sông Hà Cối, sông Ba Chẽ, sông Phố Cũ, sông Tiên Yên và sông Đầm Hà

Nhìn chung các sông đều có diện tích lưu vực nhỏ, độ dốc lớn và khả năng điều tiết nước yếu Các sông này đều bắt nguồn từ vùng núi cánh cung Đông Triều, độ chênh cao khá lớn, nhiều gềnh thác

Mạng lưới suối khá dày đặc, mật độ 1,6 km/1km2 Tuy diện tích lưu vực các sông suối nhỏ nhưng đặc điểm thuỷ văn cũng tương đối phức tạp, sự phân

Trang 37

bố dòng chảy trong năm không đều Mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa cạn bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4, lượng nước chảy trên sông, suối chủ yếu dựa vào nguồn nước ngầm là chính Do vậy cần phải xây dựng các hồ đập chứa nước lớn nhỏ, xây dựng một hệ thống rừng phòng hộ hợp lý, lâu bền có ý nghĩa lớn cho việc cung cấp nước để phát triển sản xuất cây trồng lâm - nông nghiệp

3.1.4 Địa chất - thổ nhưỡng

Theo các tài liệu điều tra nghiên cứu về đất, Quảng Ninh hiện có 5 nhóm đất chính:

Nhóm đất Feralít mùn vàng nhạt trên núi trung bình (FH)

Nhóm đất Feralít mùn vàng đỏ trên núi thấp (F)

Nhóm đất Feralít đỏ vàng điển hình vùng đồi (F)

Nhóm đất phù sa thung lũng và đồng bằng ven biển

- Các loại phiến thạch sét, phù sa cổ và phù sa mới khá màu mỡ nhưng diện tích lại ít, phần nhiều bị ảnh hưởng của nước mặn ven biển nên sẽ bị hạn chế trong canh tác nông - lâm nghiệp

- Các diện tích núi đá, bãi cát, đầm, hồ nước tuy chúng không thuận lợi cho sản xuất nông - lâm nghiệp nhưng mặt mạnh của chúng chỉ ở Quảng Ninh mới có như tạo thành những quần thể cảnh quan du lịch, phục vụ công nghiệp

và nuôi trồng thuỷ sản

Trang 38

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

Sự đa dạng về tài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh học sẽ tạo điều kiện cho Quảng Ninh phát triển đa dạng các loài cây trồng

Quảng Ninh có hệ sinh thái tự nhiên biển với nhiều cảnh quan có giá trị bảo tồn thiên nhiên, giá trị thẩm mỹ cao là động lực cho phát triển du lịch Đất lâm nghiệp chiếm 71,3% diện tích tự nhiên, là tiềm năng để phát triển lâm nghiệp

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Đặc điểm dân tộc - dân số và lao động

3.2.1.1 Dân tộc

Quảng Ninh có 8 dân tộc chung sống, trong đó: dân tộc Kinh chiếm 97%, Tày 0,52%, Dao 0,3%, các dân tộc khác như: Hoa, Sán Dìu, Nùng, Mường chiếm 2,18%

3.2.1.2 Dân số

Có 10 huyện, thị xã và 4 thành phố với 184 xã, phường, thị trấn Tổng dân số là 1.081.363 người

- Dân số nông thôn và nông nghiệp chiếm 37%, trên địa bàn lâm nghiệp

có 130/184 xã, phường, dân số 400.000 người với 104.683 hộ

- Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh 183 người/km2 song dân số phân bố không đều lại tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn, ven đường giao thông

- Tỷ lệ tăng dân số trung bình toàn tỉnh 1,02% Cao nhất ở các huyện có nhiều dân tộc ít người như: Ba Chẽ 1,66%, Bình Liêu 1,64%, các thành phố

và thị xã như: Uông Bí chỉ đạt (0,89%), Cẩm Phả (0,77%), thành phố Hạ Long (0,96%)

Trang 39

3.2.1.3 Lao động

Tổng số lao động trong tỉnh 398.762 người chiếm 36,9% dân số, trong đó: lao động nông- lâm - ngư nghiệp 209.366 người, chiếm 52,5% Trên địa bàn đất lâm nghiệp, lao động nông lâm nghiệp là chủ yếu

Trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là nghề trồng trọt, đây là lực lượng lao động rất lớn, ngoài sản xuất nông nghiệp có thể tham gia phát triển lâm nghiệp xã hội, trong đó có trồng rừng, nông lâm kết hợp, khoanh nuôi tái sinh rừng

3.2.2 Thực trạng kinh tế chung của tỉnh

Những năm qua Quảng Ninh đã phát huy lợi thế tiềm năng cho phát triển, kết quả đạt được: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP theo giá so sánh) bình quân giai đoạn 2005-2010 đạt 12,7%/năm, năm 2011 đạt 12,1% So với năm 2005, quy mô kinh tế (theo giá so sánh) năm 2011 gấp 205 lần; GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2011 đạt 2.264 USD, gấp 3,1 lần Tổng thu ngan sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 5 năm 2005 - 2010 tăng bình quân 35,16%/năm; năm 2011 cao nhất từ trước tới nay và đứng thứ 5 toàn quốc Tổng GDP toàn tỉnh đạt trên 29.000 tỷ đồng, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng; năm 2011

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011)

Trang 40

Cơ sở vật chất, trang thiết bị nhà trường đã dần được hoàn thiện, trình

độ dân trí ngày được cao hơn Tuy nhiên trình độ dân trí ở một số xã vùng cao vẫn còn thấp kém

3.2.3.4 Y tế

Cho đến nay cơ sở y tế trong toàn tỉnh đã dần được hoàn thiện, 100% số xã

có trạm y tế, các huyện thị xã, thành phố đều có cơ sở bệnh viện công lập

Ngày đăng: 01/09/2017, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Xuân Ánh (2008), “Nhân Festival Huế: Nghĩ về chính sách Gia Long khuyến nông”, Tạp chí Việt Nam hương sắc, (Số 12), Tr 1-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân Festival Huế: Nghĩ về chính sách Gia Long khuyến nông”, "Tạp chí Việt Nam hương sắc
Tác giả: Đào Xuân Ánh
Năm: 2008
7. Cổng thông tin điện tử Hà Nam, Lê Hoàn, nhà vua đầu tiên cày tịch điền 8. Nguyễn Chí Hải (1997), Một số vấn đề về nội dung của lịch sử tư tưởngkinh tế Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Hoàn, nhà vua đầu tiên cày tịch điền" 8. Nguyễn Chí Hải (1997), "Một số vấn đề về nội dung của lịch sử tư tưởng "kinh tế Việt Nam
Tác giả: Cổng thông tin điện tử Hà Nam, Lê Hoàn, nhà vua đầu tiên cày tịch điền 8. Nguyễn Chí Hải
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
9. Vũ Thị Lan (2007), Giáo trình khuyến nông lâm, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khuyến nông lâm
Tác giả: Vũ Thị Lan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
10. Phạm Kim Oanh (2004), “Kinh nghiệm khuyến nông của Trung Quốc”, Bản tin khuyến nông Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (Số 3), tr. 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm khuyến nông của Trung Quốc”, Bản tin khuyến nông Việt Nam”", Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Kim Oanh
Năm: 2004
11. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (2011), Phương pháp khuyến nông, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp khuyến nông
Tác giả: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2011
12. Lê Sỹ Trung (2010), Đánh giá hiệu quả chuyển giao khoa học kỹ thuật của các mô hình khuyến lâm, Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả chuyển giao khoa học kỹ thuật của các mô hình khuyến lâm
Tác giả: Lê Sỹ Trung
Năm: 2010
13. Hà Thanh Tùng (2010), Báo cáo tổ chức hoạt động khuyến nông của Nhật Bản, Hội thảo của tổ chức JCA Nhật Bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổ chức hoạt động khuyến nông của Nhật Bản
Tác giả: Hà Thanh Tùng
Năm: 2010
14. Hà Thanh Tùng (2011), Báo cáo tổ chức hoạt động khuyến nông một số nước ASEAN, Hội thảo của tổ chức JCA Nhật Bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổ chức hoạt động khuyến nông một số nước ASEAN
Tác giả: Hà Thanh Tùng
Năm: 2011
15. UBND tỉnh Quảng Ninh (2011), Niên giám thống kê năm 2011, tỉnh Quảng NinhTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2011
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2011
16. Alfred Charles True (1928), A histrory of agricultural extension work in the United State, United States government printing office Washington, Washington.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: A histrory of agricultural extension work in the United State
Tác giả: Alfred Charles True
Năm: 1928
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2005), Báo cáo ngành lâm nghiệp năm 2005 Các chỉ tiêu về Đầu tư phát triển nguồn nhân lực Khác
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Báo cáo tổng kết hoạt động khuyến nông 12 năm giai đoạn 1993-2005 Khác
6. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), Báo cáo tổng kết tổng kết Nghị định 56 và triển khai Nghị định 02 của Chính phủ về Khuyến nông Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w