9 ĐẶT VẤN ĐỀ Côn trùng là một thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực như góp phần thụ phấn cho nhiều loài cây, cung cấp dinh dưỡng cho các loài động
Trang 11
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các đơn vị, cá nhân
Tôi rất may mắn và vinh hạnh khi được làm việc và biết ơn rất nhiều đối với GS.TS Nguyễn Thế Nhã, người thầy đã bồi dưỡng, khuyến khích và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các cán bộ giảng viên Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, phòng Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp đã luôn tạo điều kiện giúp
đỡ, hướng dẫn tận tình và chỉ dẫn nhiều ý kiến chuyên môn quan trọng, giúp cho đề tài được hoàn thiện và đạt mục tiêu nghiên cứu đề ra
Qua bản đề tài này, tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong Vườn quốc gia Cúc Phương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ trong suốt thời gian thu thập, điều tra số liệu hiện trường
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn và mong nhận được những ý kiến, chỉ dẫn của các nhà khoa học và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 22
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Luận văn “Nghiên cứu tính đa dạng của Bộ cánh
nửa cứng (Hemiptera) và đề xuất một số biện pháp quản lý ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của GS TS Nguyễn Thế Nhã Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong luậ n văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ luận văn nào
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 11 tháng 4 năm 2016
Học viên
Phạm Kiên Cường
Trang 33
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH 8
ĐẶT VẤN ĐỀ 9
Chương 1 11
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1 Khái quát chung về côn trùng 11
1.2 Đặc điểm hình thái, sinh học, đặc trưng phân bố của Bộ cánh nửa cứng Hemiptera 11
1.2.1 Đặc điểm hình thái 12
1.2.2 Sinh học 14
1.2.3 Đặc trưng phân bố 15
1.3 Nghiên cứu về côn trùng bộ Hemiptera ở ngoài nước 16
1.4 Nghiên cứu về bộ Hemiptera ở trong nước 18
1.5 Tình hình nghiên cứu về bọ xít ở VQG Cúc Phương 20
Chương 2 21
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
2.1 Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới 21
2.2 Đặc điểm địa hình 21
2.3 Khí hậu, thủy văn 22
2.3.1 Chế độ nhiệt 22
2.3.2 Chế độ mưa 23
2.3.3 Độ ẩm không khí 23
2.3.4 Chế độ gió 23
2.3.5 Thủy văn 24
2.3.6 Địa chất thổ nhưỡng 25
2.4 Đặc điểm khu hệ động, thực vật 27
Trang 44
2.5 Tình hình kinh tế và xã hội 29
2.5.1 Cơ cấu kinh tế 29
2.5.1.1 Dân tộc, dân số và lao động 29
2.5.1.2 Hiện trạng sản xuất 32
2.5.2 Cơ sở hạ tầng 37
2.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 37
2.6.1 Thuận lợi 37
2.6.2 Khó khăn 38
Chương 3 39
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Mục tiêu 39
3.1.1 Mục tiêu chung 39
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 39
3.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu 39
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 39
3.2.3 Thời gian nghiên cứu 41
3.3 Nội dung nghiên cứu 41
3.4 Phương pháp nghiên cứu 42
3.4.1 Phương pháp kế thừa 42
3.4.2 Phương pháp điều tra thực địa 42
3.4.2.1 Phương pháp xác định tuyến và điểm điều tra 42
3.4.2.2 Phương pháp thu thập mẫu vật 45
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và bảo quản mẫu 47
3.4.3.1 Phương pháp xử lý, bảo quản và trưng bày mẫu 47
3.4.3.2 Phương pháp giám định mẫu 49
3.4.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 50
Chương 4 52
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
Trang 55
4.1 Thành phần loài Bọ xít ở VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình 52
4.1.1 Danh sách các loài Bọ xít thuộc Bộ cánh nửa cứng ở VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình 52
4.1.2 Độ phong phú của các loài Bọ xít ở VQG Cúc Phương , tỉnh Ninh Bình 60
4.2 Tính đa dạng của Bọ xít thuộc Bộ cánh nửa cứng ở VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình 62
4.2.1 Đa dạng theo sinh cảnh của Bọ xít ở VQG Cúc Phương , tỉnh Ninh Bình 62
4.2.2 Đánh giá cấu trúc thành phần loài giữa các khu vực có sinh cảnh khác nhau 66
4.2.3 So sánh đa dạng loài Bọ xít tại Cúc Phương với một số khu vực nghiên cứu khác 67
4.3 Mô tả đặc điểm hình thái một số họ, loài Bọ xít ở VQG Cúc Phương 69
4.3.1 Mô tả đặc điểm các họ Bọ xít trong khu vực nghiên cứu 69
4.3.2 Mô tả đặc điểm hình thái một số loài Bọ xít ở VQG Cúc 72
4.4 Đề xuất biện pháp quản lý các loài Bọ xít trong khu vực nghiên cứu 82
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Tồn tại 88
3 Kiến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 95
Trang 66
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 77
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.01: Thành phần loài của khu hệ côn trùng ở VQG Cúc Phương 20
Bảng 2.01: Những chỉ tiêu bình quân năm tại trạm đo khí tượng Cúc Phương 24
Bảng 2.02: Cơ cấu dân tộc các Bản nằm trong VQG Cúc Phương 29
Bảng 2.03 : Cơ cấu dân tộc các xã vùng đệm VQG Cúc Phương 30
Bảng 2.04: Thống kê diện tích các loại đất Nông nghiệp các xã giáp ranh với VQG Cúc Phương 32
Bảng 2.05: Thống kê diện tích đất sản xuất nông nghiệp các Bản trong vùng lõi VQG Cúc Phương 33
Bảng 4.01: Danh sách loài Bọ xít VQG Cúc Phương 52
Bảng 4.02: Các loài Bọ xít thường gặp 58
Bảng 4.03: Các loài Bọ xít ít gặp 59
Bảng 4.04: Thống kê đa dạng loài, giống Bọ xít tại khu vực nghiên cứu 60
Bảng 4.05: Các loài xuất hiện ở tất cả các dạng sinh cảnh 63
Bảng 4.06: Các loài chỉ xuất hiện ở một dạng sinh cảnh 63
Bảng 4.07: Thành phần loài theo các dạng sinh cảnh 66
Bảng 4.08: Số liệu điều tra Bọ xít của VQG Cúc Phương so sánh với các vùng khác 68
Trang 88
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.01: Sơ đồ tiến hóa bộ Hemiptera 18
Hình 3.01: Khu vực rừng nguyên sinh 40
Hình 3.02: Khu vực rừng thứ sinh 40
Hình 3.03: Khu vực trảng cỏ, cây bụi 41
Hình 3.04: Sơ đồ tuyến điều tra 43
Hình 3.05: Sơ đồ điểm điều tra 44
Hình 4.01: Tỷ lệ độ bắt gặp các loài Bọ xít (Tần suất xuất hiện của một loài P%) 58
Hình 4.02: Tỉ lệ đa dạng loài trong các họ Bọ xít 61
Hình 4.03: Tỉ lệ đa dạng giống trong các họ Bọ xít 61
Hình 4.04: Phong phú về loài trong mỗi sinh cảnh (chỉ số phong phú Margalef - d) 62
Hình 4 05: Tỷ lệ các loài Bọ xít theo sinh cảnh 66
Trang 99
ĐẶT VẤN ĐỀ
Côn trùng là một thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực như góp phần thụ phấn cho nhiều loài cây, cung cấp dinh dưỡng cho các loài động vật, kìm hãm các sinh vật gây hại… góp phần tạo nên cân bằng sinh thái Côn trùng cũng có thể tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực khi chúng có cơ hội phá hại
Trong giới động vật, côn trùng là lớp phong phú nhất, theo các nhà khoa học, hiện nay con người đã biết hơn 1 triệu loài động vật trong đó côn trùng chiếm 75% Số loài côn trùng thực tế còn lớn hơn rất nhiều do nhiều loài còn chưa được phát hiện
Côn trùng là những loài nhỏ bé trong giới động vật nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên và đời sống con người Chúng phân bố ở mọi vùng và trong mọi sinh cảnh lục địa, tham gia tích cực vào quá trình sinh học trong các hệ sinh thái Ước tính có khoảng 1/3 loài cây có hoa được thụ phấn nhờ côn trùng Chúng thường xuyên tham gia vào quá trình mùn hoá, khoáng hóa tàn dư thực vật và phân giải xác động vật, đào xới lớp đất mặt thải ra các viên phân giữ ẩm tạo ra môi trường hoạt động tốt cho vi sinh vật góp phần hình thành lớp đất màu Côn trùng là thức ăn của các loài động vật ăn côn trùng hoặc ăn tạp thuộc nhiều nhóm như thú, chim, bò sát, ếch nhái, cá
Ngày nay, con người đã tác động vào tự nhiên quá mức làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm cho hệ sinh thái biến đổi theo chiều hướng xấu đi và làm giảm tính đa dạng sinh học Mất rừng tự nhiên đe dọa trực tiếp đến đa dạng sinh học của Việt Nam, mất rừng đồng nghĩa với việc thu hẹp nơi cư trú của nhiều loài động vật, nhiều loài đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Đặc biệt do các hoạt động phun thuốc trừ sâu một cách tràn lan, thiếu khoa học làm nhiều loài côn trùng bị suy giảm và bị diệt vong, làm ảnh hưởng xấu đến mạng lưới thức ăn trong tự nhiên, từ đó làm mất cân bằng hệ
Trang 1010
sinh thái, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người Theo báo cáo của WWF (World Wide Fund For Nature - Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên) tại Việt Nam năm 2000 thì tốc độ suy giảm đa dạng sinh học của nước ta nhanh hơn nhiều so với các nước trong khu vực Chính bằng những việc làm đó con người đã vô tình làm mất cân bằng sinh thái, rối loạn trật tự tự nhiên Vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học một cách đầy đủ, từ đó làm cơ sở khoa học để tiến hành công tác bảo tồn đa dạng sinh học có hiệu quả
Vườn quốc gia (VQG) Cúc Phương được thành lập vào năm 1962 có diện tích 22.408,8 ha Đây là khu rừng tự nhiên có hệ sinh thái vô cùng phong phú, với nhiều loài động, thực vật quý, hiếm như: Vọoc mông trắng, Cá niết Cúc Phương, Sóc bụng đỏ đuôi hoe, Thằn lằn tai Cúc Phương, Rùa sa nhân; Kim giao, Vù hương, Chò chỉ, Thanh Thất Cúc Phương Ngoài ra ở đây còn
có một số lượng lớn các loài côn trùng thuộc Bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera)
Bộ Hemiptera là nhóm côn trùng với số lượng loài lớn Chúng có kích thước rất đa dạng, dao động từ 2 mm đến trên 100 mm Bộ này phân bố rất rộng rãi, hầu như hiện diện khắp nơi trên thế giới Chúng có tính đa dạng sinh học cao,
có ý nghĩa khoa học, kinh tế và xã hội Tuy nhiên, các loài thuộc Bộ cánh nửa cứng chưa được quan tâm nhiều và chưa được các nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu, chủ yếu mới chỉ dừng ở xác định thành phần loài Để quản lý, bảo tồn hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, cụ thể là Bộ cánh nửa cứng thì việc hiểu biết về bộ này là rất cần thiết Nhận thấy được tính cấp thiết đó tôi
đã chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng của Bộ cánh nửa cứng (Hemiptera) và đề xuất một số biện pháp quản lý ở VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”
Trang 1111
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát chung về côn trùng
Côn trùng, hay sâu bọ, là một lớp động vật có tên khoa học là Insecta (lớp Côn trùng), đây là lớp lớn nhất thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda),
phân bố rộng rãi nhất trên Trái Đất Côn trùng là nhóm phong phú và đa dạng nhất trong giới động vật Ước tính số lượng loài côn trùng đã được mô tả trên thế giới khác nhau từ khoảng 720.000 (tháng 5 năm 2000) tới 751.000 (Tangley 1997), 800.000 (Nieuwenhuys 1998, 2008), 948.000 (Brusca 2003), 950.000 (IUCN 2004) đến hơn 1.000.000 (Myers 2001a) Groombridge và Jenkins (2002) đã thống kê được 963.000 loài gồm côn trùng và các động vật nhiều chân khác Ước tính tổng số lượng côn trùng rất khác nhau ở khắp nơi trên thế giới từ 2.000.000 (Nielsen và Mound, 2000), 5-6.000.000 (Raven và Yeates 2007) lên đến khoảng 8.000.000 (1995 Hammond, Groombridge và Jenkins 2002) Các tính toán dựa trên ngoại suy từ loài Coleoptera và Lepidoptera tại New Guinea bởi Novotny et al (2002) có thể đạt tới một con
số từ 3,7 triệu và 5.900.000 cho tổng số động vật chân đốt trên thế giới
Côn trùng là một nhóm động vật đa dạng nhất trên thế giới, khoảng 1 triệu loài đã được mô tả, số loài côn trùng chiếm hơn một nửa tổng số các loài sinh vật mà con người đã biết, số loài chưa được mô tả có thể lên tới 30 triệu Người ta có thể tìm thấy côn trùng ở gần như tất cả các môi trường sống trên Trái Đất Có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài bướm; 120.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng
1.2 Đặc điểm hình thái, sinh học, đặc trưng phân bố của Bộ cánh nửa cứng Hemiptera
Trang 1212
1.2.1 Đặc điểm hình thái
Bộ cánh nửa cứng Hemiptera là một bộ lớn, hình thái của các loài có thể là hình que, hình bán cầu, hình bầu dục và kích thước của chúng có dao động từ 2 mm tới hơn 100 mm Màu sắc cơ thể của chúng cũng rất đang dạng,
có họ, giống, loài màu sắc là đỏ, đen, vàng cam, vàng nâu, màu đất hoặc ánh kim Tuy hình dáng, kích thước, màu sắc, của họ, giống, loài rất đa dạng nhưng đều có chung một kiểu cấu tạo cơ thể bao gồm: phần đầu, phần ngực, phần bụng
a) Phần đầu
Trên phần đầu có các bộ phận: Râu đầu (antenn), mắt (bao gồm mắt kép và mắt đơn), phần phụ miệng chập lại cấu tạo thành vòi hút
- Râu đầu được chia thành 2 nhóm: Nhóm râu lộ ra ngoài (hầu hết các
họ của Bọ xít); nhóm râu ẩn, đại diện đặc trưng của nhóm này là họ Cà cuống Belostomatidae, hoặc họ Bèo Naucoridae Nhóm râu ẩn thường là các loài của các họ sống ở dưới nước, râu đầu có cấu tạo các đốt, số đốt cũng phụ thuộc vào từng họ, giống, loài, hình dạng cũng rất khác nhau, nhưng chủ yếu là dạng sợi chỉ Một số giống, loài có bao phủ lông ở xung quanh, có những
giống đốt râu gần cuối bẹt ra hình lá như ở giống Dalader họ Coreidae
- Mắt kép là đặc trưng nổi bật ở tất các các họ, chúng thường mọc ở hai bên đỉnh đầu hoặc ngay phần góc bên trước đỉnh đầu Ngoài mắt kép, phần lớn các họ đều có mắt đơn thường mọc ở khoảng giữa hai mắt kép Tuy nhiên
ở một số họ không có mắt đơn, điển hình là họ Miridae, Pyrrhocoridae
- Vòi là đặc điểm cấu tạo đặc trưng của Bộ Hemiptera, nó được cấu tạo
từ các phần phụ miệng kéo dài tạo nên ống hút Vòi được cấu tạo thường từ 3 – 4 đốt Vòi ở nhiều họ thường áp sát vào phần giữa ngực, một số họ Bọ xít
ăn thịt thì có vòi cong, không áp sát như họ Reduviidae, Nabidae, Belostomatidae
Trang 1313
b) Phần ngực
Ngực có 3 đốt
- Ngực trước thường phát triển, mảnh lưng ngực trước có hình dạng rất
đa dạng, ỏ một số giống, họ phát triển bạnh ra thành gai bướu, phiến lá như họ Coreidae, Pentatomidae, Reduviidae hoặc chỉ đơn thuần trơn nhẵn, hoặc có cấu tạo thành gờ rãnh như họ Aradidae Mảnh lưng ngực giữa và sau bị hai đôi cánh che khuất Phần giữa mảnh lưng ngực giữa có một phần phụ là Scuttellem (mảnh mai lưng hoặc mảnh thuẫn) Có những họ phần phụ Scuttellem rất phát triển che khuất cả phần ngực bụng thân thể (họ Scutellidae, Plataspididae ) hoặc trên mảnh mai lưng kéo dài mọc thành gai
như loài Helopeltis theivora Waterh (họ Miridae), Sycanus croceovittatus
Dohrn (họ Reduviidae) Tấm lưng ngực giữa mang đôi cánh trước, cánh có phần gốc cứng và phần nửa sau mềm, bao phủ phía ngoài cánh sau Tuy nhiên
ở họ Plataspididae, cánh trước gập đôi lại và bị tấm mai lưng bao phủ
Tấm lưng ngực sau mang đôi cánh sau, cánh toàn bộ là cánh màng
Ở một số họ như Hydrometridae, Gerridae, Mesoveliidae lại không có cánh
Các đốt ngực mang 3 đôi chân: Trước, giữa, sau Các đôi chân đều có cấu tạo chung gồm các đốt: chậu (gốc), chuyển, đùi, ống, bàn chân ở cuối có móng hoặc vuốt
Vì Bộ Hemiptera là một bộ lớn, chúng sống ở các môi trường khác nhau, vừa là côn trùng hút nhựa thực vật, vừa là côn trùng ăn thịt, bắt mồi nên chân của chúng phân hóa rất rõ rang Đối với các họ sống trong nước, như họ Nepidae, Belostomatidae, Naucoridae , ngoài việc chân giữa và sau biến thành bơi chèo, còn chân trước biến thành chân kiểu vồ mồi Các loài thuộc các họ khác chích hút nhựa thực vật, các chân cấu tạo theo kiểu bình thường,
tuy nhiên có một số loài chân bẹt ra thành hình lá như loài Helcomia spinosa
Trang 1414
Sign (họ Coreidae) hoặc có các đốt từ chân sau phồng to lên như Derepteryx
grayi White, Prionolomia gigas Distant (họ Coreidae), Eusthenes robustus
Lepell, Carpona ampicollis Stal (họ Tesaratonudae) hoặc có những loài của
họ bọ xít đất Cydnidae, các chân biến thái theo kiểu đào bới
c) Phần bụng
Cấu tạo đặc trưng của phần bụng bọ xít thường là 7 đốt, các đốt bụng 1,
2 thường bị phần bụng ngực sau che khuất Ở hai bên phần bụng có 2 lỗ thở, tùy thuộc vào các loài, giống, họ khác nhau mà các lỗ thở có thể ở gần mép bên giao nhau, hoặc ở ngay bên mép bên, hoặc ở phía trên mép bên Ở một số loài của họ Coreidae phần bụng các đốt bụng 2, 3 kéo dài ra thành gai mấu
như loài Mictis tenebrosa Fabricius, Cordisceles tupis Hsiao, Pseudomitis
distinctus Hsiao Đốt cuối của bụng được cấu tạo thành đốt chứa bộ phận
sinh dục Phần lớn ở các họ đốt sinh dục đực, cái phân biệt rất rõ rang Ở một
số họ như Belostomatidae, Nepidae, sự phân hóa này về cấu trúc bề ngoài rất khó phân biệt
Trang 1515
nở thành ấu trùng Ấu trùng được nở ra từ trứng có gần đầy đủ các bộ phận của cá thể trưởng thành, chỉ có cánh là chưa phát triển Phần lớn các loài đều trải qua 4 thời kỳ lột xác để phát triển thành cá thể trưởng thành
Các họ trong Bộ Hemiptera được chia thành 2 nhóm: nhóm ăn thực vật chích hút nhựa cây; nhóm ăn động vật chích hút dịch cơ thể của các loài động vật
Nhóm ăn thực vật một số giống của họ Coreidae như giống Leptocoridae hoặc giống Scotinophora của họ Pentatomidae có xu hướng sống thành quần thể có số lượng cá thể lớn, xu hướng này thường gây thành dịch hại cây trồng Nhóm ăn động vật thường có xu hướng sống đơn lẻ Tuy nhiên một vài giống lại có xu hướng sống tập trung, điển hình Bọ xít hút máu thuộc giống Triatoma họ Reduviidae
Vì là một bộ có số lượng họ và loài lớn lại sống ở các môi trường khác nhau nên tập tính sinh học cũng rất phức tạp, đa dạng
1.2.3 Đặc trƣng phân bố
Các loài thuộc Bộ Hemiptera có phân bố rộng hầu như ở tất cả các nơi trên thế giới Tuy nhiên với những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thì số lượng loài tập trung nhiều nhất Thông thường các vùng vành đai nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm thì mật độ của các cá thể loài, họ rất phong phú Tùy thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, mật độ cá thể của loài và giống cũng thay đổi Ví
dụ các loài thuộc giống Leptocorisa (họ Coreidae) có thể đạt tới hàng vài trăm
cá thể/m2
ở những cánh đồng lúa Một số loài Bọ xít trên cạn của họ Pentatomidae, Coreidae có kích thước cơ thể lớn thường phân bố nhiều ở các rừng nguyên sinh, nguyên sinh nơi có độ ẩm, nhiệt độ cao Ngoài ra tuy cùng một vành đai khí hậu, ở các châu lục khác nhau tỷ lệ giống và loài của cùng một họ cũng khác nhau Theo Distant,W.L.,1902 so sánh giữa vùng Đông nam Á và Trung Mỹ thì họ Pentatomidae số giống ở Châu Mỹ chỉ bằng
Trang 16vĩ nam
Ở Việt Nam sự phân bố của các họ, giống trong Bộ Hemiptera cũng rất khác Ở các vùng đồng bằng chỉ tập trung một số họ Bọ xít trên cạn với kích thước nhỏ là các đối tượng gây hại cho cây trồng Hoặc một số vùng chuyên canh nhãn, vải lại tập trung số lượng cá thể lớn của loài Bọ xít nhãn vải
Tessaratoma papillosa Drury (họ Tessaratomidae) Độ phong phú về thành
phần loài cũng như giống và họ của bộ này tập trung ở nhiều nơi có rừng rậm,
ít bị khai thác Những loài, giống có kích thước cơ thể lớn như Eusthenes
robustus Lep, Carpona Dohrn (họ Pentatomidae), Drepteryx harwicki White,
Helcomeria spinosa Sign (họ Coreidae) đều tập trung ở vùng này Đây cũng
là những chỉ thị để đánh giá độ phong phú của rừng
1.3 Nghiên cứu về côn trùng bộ Hemiptera ở ngoài nước
Bộ Cánh nửa cứng Hemiptera là một bộ lớn trong lớp côn trùng Insecta, số họ của chúng lên tới 60 – 70 họ hoặc hơn nữa Từ năm 1956, theo Miller, N.C.E đã thống kê được 25.000 loài [49], tuy nhiên trên thực tế cho tới nay số loài có thể tăng gấp đôi Chúng có mặt trong mọi môi trường sống như: đất, nước, trên cây cỏ , Việc nghiên cứu bộ này cũng có từ rất sớm, ngay
từ giữa thế kỷ 18, trong cuốn “Fauna Sueciae sistens animalia regni & c.card, V.Linné, Lugduni Batavorum (1746)” đã đưa ra các loài thuộc các họ trong
bộ này Từ lâu bộ Heteroptera được xem như phân bộ của Bộ Hemiptera Các tác giả trước thế kỷ 19 đều xếp bộ Heteroptera và Homoptera vào chung một
bộ Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các tác giả đã tách bộ riêng rẽ thành 2
bộ là Bộ cánh khác (Heteroptera) và Bộ cánh giống (Homoptera) Trên thế giới nghiên cứu sâu sắc về bộ này phải kế đến các tác giả: Linné (1746 –
Trang 17họ Ví như họ Pentatomidae hiện nay nhiều tác giả tách thành 4 – 5 họ chứ không để ở phân họ Ngoài ra các tác giả mới đây còn tìm ra một số họ mới của bộ này nữa Ngoài một số tác giả kể trên, từ giữa thế kỷ 20 tới nay, trên thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu riêng từng họ của bộ này, trong số đó phải kể đến: Bloete H.C (1965) “Catalogue of the Aradidae in the Rijksmuseum Natuurlyjke Historie, Leiden Zool.Verh 75; Kiritschenco A.N, (1973) (Hermip – Lygeidae) from the Soviet Union, J.nat.Hist 75 ; Ở khu vực Châu Á nghiên cứu về phân loại bọ xít phải kế đến các tác giả Hsiao T.Y của Trung Quốc, từ 1963 đến 1981 [45], [46] Ngoài các công trình đăng ở các tạp chí côn trùng học và động vật học của Trung Quốc, ông đã xuất bản cuốn sổ tay phân loại Heteroptera với 1.000 trang và 137 trang phụ bản ảnh Ngoài ra còn có các tác giả Slaler J.A at all (1969) “The Blissinae of Thailand and Indochina (Hemip, Lygacidae) Pacifie.In.11 (3-4); Zheng Leyi at all (1981)
“Fauna sinica insect Vol.33 Hemiptera – Miridae – Mirinae” [53] ngoài các nghiên cứu về hệ thống phân loại, còn rất nhiều các giả nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của một số loài, nhóm, của một số họ của bộ này Công trình nghiên cứu sinh học tổng thể của Bộ Heterroptera phải kể đến là cuốn
“The biologi of the Heteroptera” của Miller, N.C.E (1956)” Trong cuốn sách này ông đã giới thiệu đặc điểm sinh học của gần 50 họ bọ xít [49] Ngoài ra
Trang 1818
còn một số tác giả: Reissig W.H and all (1986) “Illustraten guide to intergted pest management in Rice in Tropical Asia Int Rie Isest Manila Philippine.” Nghiên cứu về sinh học nhóm bọ xít dài hại lúa ở khu vực Châu Á: Eguratu R.I and T.A Taylor (1977).” Stadier on the Biology of the Acanthomia tometosicollis (Stal) (Hem.coreidae) Bull.Ent.Res.Vol.67.No2
Tính đa dạng về thành phần loài của Bộ cánh nửa cứng thể hiện ở sơ đồ 1: Sơ đồ phân nhánh Bộ cánh nửa cứng và môi trường sống của chúng theo China, W.E & Miller, N.C.E., 1959
Hình 1.01: Sơ đồ tiến hóa bộ Hemiptera (Theo China, W.E & Miller, N.C.E., 1959)
1.4 Nghiên cứu về bộ Hemiptera ở trong nước
Ở Việt Nam nghiên cứu về bọ xít cũng đã có từ thời Pháp thuộc Từ năm 1923 tác giả Vitalis De Salvara M.A trong cuốn sách “Faune entomologique de L’Indochina Francoise fareicule.No.6 Saigon (1923) đưa
Trang 1919
ra danh sách có khoảng 20 loài [51] Sau này khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, trong “Kết quả điều tra côn trùng 1967 – 1968 của nhà xuất bản Nông thôn (1976) của Viện Bảo vệ thực vật công bố, đã công bố tới 360 loài thuộc 27 họ Côn trùng “Cuốn kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam” (1981) cũng công bố ở Bắc Việt Nam có 260 loài thuộc 14 họ Các tài liệu xuất bản trên dừng ở mức độ danh sách loài Đến năm 2000 tác giả Đặng Đức Khương trong cuốn “Động vật chí Việt Nam, tập 7” đã mô tả phân loại
88 loài của họ Coreidae ở Việt Nam và các công trình xuất bản có tính chất hệ thống, một số họ khác như: Họ Aropidae, Pyrrhocoridae, Tessaratomidae cũng đã được đăng rải rác trong các tuyển tập hội nghị côn trùng học toàn quốc và sinh thái học toàn quốc [6] Ngoài các công trình về mặt phân loại học còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu về mặt hình thái, sinh học của một nhóm loài hoặc số loài trên các loài cây trồng Nguyễn Xuân Thành (1996) “Sâu hại bông đay và thiên địch của chúng” tác giả đã đưa ra kết quả nghiên cứu về sinh học sinh thái của một số loài bọ xít có lợi [28] Hoặc cuốn
“Bọ xít bắt mồi trên một số cây trồng ở miền Bắc Việt Nam” (2004) của 2 tác giả Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn [21] Hai tác giả đã nêu ra danh sách của các loài bọ xít bắt mồi và một số kết quả nghiên cứu về sinh học sinh thái của 3 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về Bộ cánh nửa cứng Hemiptera
ở thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn chưa thể đáp ứng sự đa dạng về sinh học sinh thái cũng như sự phong phú về thành phần loài của bộ này Các nghiên cứu về nhóm bọ xít ở dưới nước lại rất hạn chế mặc dù số họ bọ xít nước rất nhiều nhưng rất ít công trình công bố tới chúng
1.5 Tình hình nghiên cứu về bọ xít ở VQG Cúc Phương
Trong những năm 1966-1967 Trạm nghiên cứu sinh vật Cúc Phương và 1971-1973 bởi Phân viện nghiên cứu Cúc Phương đã thu thập được 4217
Trang 2020
mẫu vật côn trùng, bao gồm 577 dạng thuộc 10 bộ khác nhau: Lepidoptera, Coleoptera, Hymenoptera, Diptera, Heteroptera, Homoptera, Orthoptera, Phasmatodea, Mantodea và Blattodea (Nguyễn Hoàng Hiền, 1973)[4] Từ năm 2004 - nay, VQG Cúc Phương tiếp tục tiến hành điều tra cơ bản về một
số nhóm của các loài côn trùng Kết quả điều tra đã thu thập mẫu và thống kê
được 14 bộ, 125 họ, 1670 loài và dạng loài.Bộ cánh nửa cứng theo quan điểm
phân loại cũ là Bộ cánh khác nằm ở số thứ tự 5 trong bảng 1.01
Bảng 1.01: Thành phần loài của khu hệ côn trùng ở VQG Cúc Phương
Tuy nhiên cho đến nay chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu
về thành phần loài, sự đa dạng loài theo sinh cảnh, mô tả đặc điểm hình thái loài thuộc Bộ cánh nửa cứng tại VQG Cúc Phương
Trang 2121
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới
a) Vị trí địa lý
VQG Cúc Phương nằm trong tọa độ từ 20020' đến 20022' vĩ độ Bắc,
105029' đến 105034' kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 120 km về phía nam, nằm lọt sâu trong lòng dãy núi Tam Điệp Tổng diện tích là 22.408,8 ha nằm trên địa giới hành chính của ba tỉnh là Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa
b) Phạm vi ranh giới
VQG Cúc Phương nằm trong khối núi đá vôi, ranh giới bao gồm đường ven chân dãy núi đá vôi
- Chạy dọc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam giáp với các xã là: Tân Mỹ,
Ân Nghĩa, Yên Nghiệp thuộc huyện Lạc Sơn và các xã Lạc Thịnh, thị trấn Hàng Trạm, Yên Lạc, Phú Lai, Yên Trị, Ngọc Lương thuộc huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- Phía Đông Nam và Nam giáp xã Yên Quang, Văn Phương, Cúc Phương
và Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Phía Tây Nam và Tây Bắc giáp các xã Thạch Lâm, Thành Mỹ, Thành Yên huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
Diện tích VQG nằm trong phần đất của 13 xã, trong đó:
- 8 xã của 2 huyện Lạc Sơn và Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
- 2 xã của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- 3 xã của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
2.2 Đặc điểm địa hình
Dãy núi đá vôi Cúc Phương là phần cuối của khối núi đá vôi chạy từ Sơn La về theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Xen kẽ giữa hai hệ thống núi đá chạy gần song song, là các đồi đất thấp phát triển trên đá sét với những thung
Trang 2222
lũng cùng hướng với núi Độ cao trung bình của các thung lũng khoảng 200 -
350 m và thường ngăn cách bởi các quèn thấp như quèn Đang, quèn Voi, quèn Xeo
Khối núi đá vôi Cúc Phương tách biệt với các vùng xung quanh về phía Tây và Tây Nam bởi cánh đồng ven sông Bưởi, về phía Đông Nam bởi cánh đồng chiêm trũng huyện Nho Quan, Ninh Bình
Địa hình Cúc Phương chủ yếu là núi đá vôi có độ chênh cao trung bình
so với mặt biển 400 - 450 m, cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656 m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần về hai phía Tây Nam và Đông Nam Cúc Phương có sông Bưởi cắt qua Vườn phía Tây Bắc, còn lại có nhiều suối cạn xuất hiện theo mùa mưa dạng núi đá vôi tương đối điển hình, ngoài ra còn có các hang động, mắt hút nước, dòng chảy ngầm Cúc Phương có 3 dạng địa hình chính liên quan tới hai loại sản phẩm cấu tạo đất chủ yếu với các loại đá mẹ khác nhau:
- Địa hình núi cao dốc đứng : Sản phẩm đá vôi
- Địa hình bãi bằng thung lũng hẹp : Sản phẩm bồi tụ
- Địa hình núi thấp và ít dốc : Sản phẩm đá sét
2.3 Khí hậu, thủy văn
Những năm gần đây do những biến đổi khí hậu toàn cầu, khí hậu Cúc Phương cũng có những biến đổi Số liệu thu thập tại trạm khí tượng Cúc Phương trong thời gian từ năm 1992 - 2002 cho chúng ta những đánh giá mới
về khí hậu ở đây
2.3.1 Chế độ nhiệt
Trong khu vực Cúc Phương nhiệt độ bình quân năm 22,50C, năm có nhiệt độ bình quân lớn nhất 23,70C (1998) Nhiệt độ bình quân tối cao năm 32,20C, nhiệt độ tối thấp năm 15,80
C
Biến thiên nhiệt độ trung bình năm từ 13 - 150
C
Trang 23độ bình quân trong mùa khô lạnh 18,6oC và lượng mưa chiếm 10,9% lượng mưa cả năm Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông
2.3.3 Độ ẩm không khí
Nhìn chung độ ẩm không khí ở Cúc Phương là cao, độ ẩm tương đối trung bình năm 84,8% Độ ẩm tương đối cao nhất thường vào những tháng đầu năm (tháng 1 - 4) và khô nhất thường rơi vào tháng cuối năm (tháng 10 - 12)
Cùng với đặc điểm khí hậu chung, Cúc Phương còn có những hiện tượng đặc biệt như sương muối, sương giá thường vào tháng 1 làm chết cây con trong
Trang 24Sau khi mưa, các khe khô dẫn nước vào các mắt hút rồi chảy ngầm dưới lòng đất, sau đó phun trào ra ở một số vó nước, điển hình là suối nước bản Nga Ở những nơi nước rút không kịp gây ứ đọng và ngập úng tạm thời
Khí hậu Cúc Phương nhìn chung vẫn mang những đặc điểm của miền khí hậu miền Bắc Việt Nam, tuy vậy vẫn có những đặc điểm riêng của địa phương
- Nhiệt độ trung bình thấp hơn, mùa đông dài và lạnh hơn, mùa hè ngắn
và mát hơn vùng xung quanh
- Cúc Phương có mùa mưa dài hơn và lượng mưa lớn hơn các vùng xung quanh
- Độ ẩm bình quân hàng năm khá cao
Với những đặc điểm khí hậu trên đây ảnh hưởng rất rõ rệt đến thảm thực vật rừng và sự phát triển của hệ thực vật ở Cúc Phương
Bảng 2.01: Những chỉ tiêu bình quân năm tại trạm đo khí tượng Cúc Phương
Trang 258
1818 1734,
8 1680,8
Nguồn: Trạm khí tượng môi trường nền vùng Cúc Phương
2.3.6 Địa chất thổ nhưỡng
Nền địa chất Cúc Phương được hình thành bởi chuyển động tạo sơn kỷ Mêri đầu nguyên đại trung sinh kỷ Triat trung, bậc Cadôni tầng Đồng Giao Cúc Phương là một phần đất cổ có lịch sử cấu tạo địa chất và hình thành địa hình tương đối lâu đời, phần đất cổ ấy được gắn chặt với khu Tây Bắc Việt Nam và có dạng địa mạo đặc biệt núi đá vôi nửa che phủ
Đất Cúc Phương có 2 nhóm đất với 7 loại chính và 16 loại phụ:
- Nhóm A gồm 4 loại đất phân bố ở nơi cao nhất xuống nơi thấp nhất của núi đá vôi, tính chất Renzin của đất được chuyển dần thành tính chất Macgalit Feralit của quá trình hình thành đất
- Nhóm B gồm 3 loại đất phân bố ở nơi đồi cao dốc, xuống nơi đồi thấp không có đá vôi Đất mẹ có cấu tạo khối phiến dày đến đá mẹ khối phiến mỏng, từ
đá mẹ thô đến đá mẹ mịn hơn, từ đá mẹ không hay ít biến chất đến đá mẹ biến chất
Mức độ Feralit của quá trình hình thành đất cũng có biến đổi nhất định Những loại đất chính ở Cúc Phương như sau:
- Loại I: Đất Renzin mầu đen hay nâu đen phát triển trên đá vôi phân
bố loại đất này chủ yếu ở đỉnh những núi đá vôi cao trên 500 m (như đỉnh Mây bạc, Kim giao)
Trang 2626
- Loại II: Đất Renzin mầu xám phát triển trên đá vôi hoặc trên sản
phẩm chịu ảnh hưởng cacbonat nhiều, bao gồm các loại đá vôi sét hoa, đá vôi dăm kết hay đá vôi đôlômít Phân bố loại đất này chủ yếu ở đỉnh và sườn trên các núi đá vôi cao dưới 500 m Những loại phụ này được phát hiện thấy ở Đồng Cơn hay gần bản Biện
- Loại III: Đất Renzin mầu vàng nâu hay vàng đỏ phát triển trên đá vôi
hoặc sản phẩm chịu ảnh hưởng cacbonat nhiều Loại đất này thường thấy xuất hiện ở chân sườn núi đá vôi cao dưới 500 m Ở những nơi này thoát nước kém
và ẩm, rừng phát triển và chưa bị tàn phá
- Loại IV: Đất Macgalit-Feralit màu vàng xám phát triển trên đá vôi
Đây là loại đất thường thấy ở các thung lũng bằng hoặc chân các dãy núi đá vôi và ở trên các bậc thềm cao thuộc chân hay trước các núi đá vôi
- Loại V: Đất Feralit màu vàng phát triển trên sa thạch và Alorolit Đất
phân bố ở trên các đồi núi khá dốc và có độ cao so với mặt biển từ 300 - 400
m Loại đất này tập trung chủ yếu ở bản Cui, bản Khanh
- Loại VI: Đất Feralit vàng (vàng nâu hay tím xám) phát triển trên đá
Acgalit Loại đất này phân bố ở các đồi núi khá dốc, có độ cao so với mặt biển từ 300 - 400 m Ta thấy chúng xuất hiện nhiều ở Động Người xưa, bản Đồng Cơn, bản Nga, bản Cui, Biện và ở vị trí cây Chò ngàn năm, cây Sấu
- Loại VII: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên diệp thạch sét và sản
phẩm dốc tụ đá sét như diệp thạch sét, diệp thạch Sirexit hay Clorit Loại đất Feralit này hình thành ở núi hay đồi có độ cao từ 200 - 300 m so với mặt biển xen với các núi Acgilit, hoặc cũng có khi là những đồi gợn sóng nhô lên giữa những thung lũng rộng
Đất Cúc Phương có những đặc tính chung sau:
- Đất có hàm lượng sét tương đối thấp, ngay ở độ sâu 50 - 70 cm cũng
có ít tầng đạt trên 40%, phần lớn đều dưới 30%
Trang 27Thảm thực vật ở đây là rừng mưa nhiệt đới thường xanh Cúc Phương
là nơi rất đa dạng về cấu trúc tổ thành loài trong hệ thực vật Với diện tích chỉ
có 0,07% so với cả nước, nhưng có số họ thực vật chiếm tới 57,93%, số chi 36,09% và số loài chiếm 17,27% trong tổng số họ, chi và loài của cả nước
Cúc Phương là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật di cư cùng sống với nhiều loài bản địa Đại diện cho thành phần bản địa là các loài trong họ Long não (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Xoan (Meliaceae) Đại diện cho luồng di cư từ phương Nam ấm áp là các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae) Đại diện cho luồng thực vật có nguồn gốc từ phương Bắc
là các loài trong họ Dẻ (Fagaceae)
Kết quả điều tra về tài nguyên thực vật của các nhà khoa học trong và ngoài nước những năm gần đây đã thống kê được 2234 loài, trong đó có 118 loài quý hiếm, 11 loài đặc hữu, 433 loài cây làm thuốc, 229 loài cây ăn được,
240 loài cây có thể làm thuốc nhuộm và 137 loài cho tanin
+ Khu hệ động vật
Do nằm trong đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, địa hình lại bị chia cắt mãnh liệt nên VQG Cúc Phương có nhiều vùng tiểu khí hậu, vi khí hậu khác nhau Đặc trưng nổi bật nhất của VQG Cúc Phương là hệ sinh thái
Trang 28Đến thời điểm hiện nay, động vật có xương sống trên cạn và dưới nước
có 660 loài Trong đó lớp Thú có 136 loài, lớp Chim có 336 loài, lớp Bò sát
76 loài, lớp Lưỡng cư 46 loài và lớp Cá 66 loài Như vậy số loài động vật có xương sống ở Cúc Phương chiếm 32,9% so với cả nước Việt Nam, có tính đặc trưng cho vùng núi đá vôi thấp khu vực miền Bắc Việt Nam
Cúc Phương còn là nơi đa dạng về động vật đặc sắc và quý hiếm ở Việt Nam Riêng các loài thú chiếm 54,6%; chim 37%; lưỡng cư 52,4% so với các loài trên có ở Việt Nam Trong số các loài động vật có 64 loài có trong Sách
đỏ Việt Nam (2007) và 33 loài có trong Danh lục đỏ 2009 của IUCN Đặc biệt là có 3 loài đặc hữu mới phát hiện cho khoa học là Sóc bụng đỏ đuôi hoe
Calloscirus erythracus cucphuongensis, cá Niết cúc phương Pterocryptis cucphuongensis và Thằn lằn tai Cúc Phương Tropidophorus cucphuongensis
- Về động vật không xương sống:
Trong những năm 1966-1967 Trạm nghiên cứu sinh vật Cúc Phương và 1971-1973 bởi Phân viện nghiên cứu Cúc Phương đã thu thập được 4217 mẫu vật côn trùng, bao gồm 577 dạng thuộc 10 bộ khác nhau: Lepidoptera, Coleoptera, Hymenoptera, Diptera, Heteroptera, Homoptera, Orthoptera, Phasmoptera, Mantodea và Blattodea (Nguyễn Hoàng Hiền, 1973) Từ năm
2004 - nay, VQG Cúc Phương tiếp tục tiến hành điều tra cơ bản về một số nhóm của các loài côn trùng Kết quả điều tra đã thu thập mẫu và thống kê được 15 bộ, 125 họ, 1670 loài và dạng loài Theo đánh giá của các nhà khoa học, số lượng các loài côn trùng ở Cúc Phương còn lớn hơn nhiều vì còn rất
Trang 2929
nhiều loài chưa được điều tra, thu thập Do vậy, khi nghiên cứu về khu hệ côn trùng ở VQG Cúc Phương sẽ còn chứa đựng nhiều loài mang đặc trưng của khu hệ thực vật trên núi đá vôi mà chúng ta chưa biết
Các dạng sinh cảnh chính ở VQG Cúc Phương
2.5 Tình hình kinh tế và xã hội
2.5.1 Cơ cấu kinh tế
1 Dân tộc, dân số và lao động
a) Dân tộc
VQG Cúc Phương nằm trong diện tích của 13 xã gồm hai dân tộc sinh sống chủ yếu, dân tộc Mường chiếm 76,6% tổng số nhân khẩu trong khu vực, còn lại là dân tộc Kinh chiếm 23,4%
Hai dân tộc đã có quá trình sống cộng đồng lâu đời cả về kinh tế, văn hóa hôn nhân gia đình Những năm gần đây trong quá trình đổi mới, nền kinh tế thị trường đã thâm nhập vào các làng bản dân tộc Mường đang làm mất dần đi những nét văn hóa và sinh hoạt truyền thống của dân tộc mình Tuy vậy vẫn còn những bản ở vùng sâu vùng xa còn giữ được những phong tục tập quán, lễ hội cồng chiêng mang đậm đà bản sắc dân tộc Mường Những giá trị văn hóa phi vật thể quý giá này là nguồn tài nguyên nhân văn
có khả năng phát huy để phục vụ cho phát triển du lịch sinh thái, văn hóa nhân văn sau này
Bảng 2.02: Cơ cấu dân tộc các Bản nằm trong VQG Cúc Phương
Đơn vị tính: Người
TT Xã, Bản Cộng
Dân tộc Kinh Dân tộc Mường Dân tộc khác
Số người %
Số người %
Số người %
I Xã Cúc Phương
II Xã Ân Nghĩa
Trang 3030
TT Xã, Bản Cộng
Dân tộc Kinh Dân tộc Mường Dân tộc khác
Số người % người Số % người Số %
- Mật độ dân số trung bình toàn khu vực là: 150 người/km2
- Mật độ dân số vùng đệm là: 257 người/km2
- Mật độ dân số vùng lõi là: 10 người/km2
Sự phân bố dân số giữa các xã không đồng đều, phần lớn tập trung dọc các trục đường giao thông
Bảng 2.03 : Cơ cấu dân tộc các xã vùng đệm VQG Cúc Phương
Đơn vị tính: Người
Dân tộc Kinh Dân tộc Mường
Số người %
Số người %
I Huyện Nho Quan 18.853 6.191 32,8 12.662 87,2
Trang 3131
Dân tộc Kinh Dân tộc Mường
Số người %
Số người %
Trang 32a) Sản xuất Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chủ đạo của 4 huyện nhưng do diện tích đất nông nghiệp ít, năng suất cây trồng thấp, nhiều nơi chỉ có 1 vụ nên đời sống người dân gặp nhiều khó khăn
Bảng 2.04: Thống kê diện tích các loại đất Nông nghiệp
các xã giáp ranh với VQG Cúc Phương
Trang 33Bảng 2.05: Thống kê diện tích đất sản xuất nông nghiệp các Bản
trong vùng lõi VQG Cúc Phương
Trang 34Nguồn: Số liệu thống kê 2008 các bản của UBND các xã
b) Chăn nuôi thủy sản
Nhờ diện tích đất đồi núi trọc thuộc diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn, nên chăn nuôi đại gia súc Trâu, Bò khá phát triển Trung bình các xã có khoảng 500 - 600 Trâu và 400 - 500 Bò Phần lớn Trâu, Bò được chăn thả ở các bãi cỏ ven rừng, tối mới đưa về chuồng trại
Chăn nuôi Lợn cũng phát triển trong các hộ gia đình, bình quân mỗi hộ
có từ 2 - 3 con Vài năm trở lại đây có xu hướng nuôi một số loại thú hoang
dã thương phẩm như Lợn rừng, Nhím Chăn nuôi đã đóng góp đáng kể cung cấp sức kéo và lượng phân bón cho sản xuất nông nghiệp
Sản xuất thủy sản hầu như không đáng kể, việc nuôi thủy sản chủ yếu cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ cho đời sống nhân dân trong khu vực
Trang 3535
c) Sản xuất Lâm nghiệp
Hiện nay phần lớn diện tích rừng của 15 xã vùng đệm đã được giao khoán cho các hộ dân quản lý bảo vệ kể cả một số diện tích trong vùng lõi giáp ranh với vùng đệm cũng được VQG Cúc Phương giao khoán cho người dân bảo vệ
Công tác khoanh nuôi phục hồi rừng thực hiện được ít và hiệu quả thấp, một phần do vốn đầu tư thấp, một phần do cơ chế chính sách quyền lợi của người dân từ khoanh nuôi phục hồi rừng
Những năm gần đây được sự hỗ trợ của Nhà nước từ chương trình 661,
dự án KFW4, diện tích rừng trồng tăng đều hàng năm Năm 2008 đã trồng được 312 ha với các loài cây Keo lai, Bạch đàn và một số loài cây có giá trị như Lát hoa, Trám trắng,Dó bầu, Vù hương
d) Sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp
Các xã vùng đệm không có một cơ sở công nghiệp nào lớn, chỉ có một
số cơ sở quy mô nhỏ và sản xuất thủ công nghiệp như khai thác đá, nung gạch, sản xuất các dụng cụ gia đình Số lao động công nghiệp và thủ công nghiệp chỉ chiếm 2,3% tổng số lao động với tổng giá trị sản xuất rất thấp
Nghề thủ công nghiệp dệt thổ cẩm, mây tre đan ở xã Thành Mỹ có nguy cơ mất dần do thiếu nguyên liệu và sự xâm nhập của hàng ngoại
e) Giao thông vận tải
Hệ thống giao thông bao quanh VQG Cúc Phương tương đối hoàn chỉnh
Phía Tây Bắc đường Hồ Chí Minh vắt ngang qua VQG với chiều dài gần 10 km nối tỉnh Hòa Bình với Thanh Hóa
Phía Đông Bắc đường tỉnh lộ nối quốc lộ 1 với đường Hồ Chí Minh và các tỉnh Hòa Bình, Sơn La
Trang 36Trong VQG đoạn đường từ văn phòng tới Trung tâm Bống dài 18km đã được cải tạo nâng cấp, các đoạn đường đi bộ tới các điểm thăm quan du lịch cũng đã được tu sửa một phần
Trong thời gian tới để phục vụ cho công tác bảo vệ rừng và du lịch sinh thái cần mở thêm tuyến đường ven VQG tới Động Vui Xuân, Động Con Moong, Hồ Yên Quang chạy theo ven ranh giới VQG
g) Y tế giáo dục
Các xã trong khu vực đều đã có trạm xá, trạm y tế là nhà kiên cố với tổng số 80 giường bệnh và 87 y, bác sĩ Được Nhà nước và một số tổ chức từ thiện giúp đỡ, công tác y tế đã đạt được một số kết quả như giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh còn 0,18%, trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 17,9% (số liệu 2008)
Bệnh phổ biến trong vùng là bệnh đường ruột, bệnh ngoài da và sốt rét Vào đầu mùa mưa bệnh sốt rét vẫn là mối đe dọa đối với người dân và lực lượng kiểm lâm VQG làm việc trong vùng
Tuy là các huyện miền núi, song tình hình giáo dục tương đối tốt Số trường lớp các cấp phát triển khá đồng đều ở các xã: Số liệu thống kê niên học 2007 - 2008 Các xã vùng đệm có 15.217 học sinh bao gồm: Cấp mầm non 3129 học sinh, cấp tiểu học 5921 học sinh, trung học cơ sở 6168 học sinh
Trang 3737
Toàn vùng có 605 phòng học được xây dựng kiên cố chiếm 86,9% còn lại là nhà cấp 4 Công tác giáo dục còn nhiều khó khăn, những hộ thuộc điện đói nghèo thường ở xa trung tâm xã nên việc cho con em đi học gặp trở ngại, hiện tượng trẻ em học hết tiểu học rồi bỏ học vẫn xảy ra
2.5.2 Cơ sở hạ tầng
Từ khi thành lập đến nay, việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị của Vườn để phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị luôn được Ban lãnh đạo Vườn quan tâm Vì vậy, khu hành chính của Vườn được xây dựng kiên cố, khang trang và cơ bản đầy đủ máy móc, phương tiện và trang thiết bị cần thiết; 100% các Trạm kiểm lâm của Vườn đã được xây dựng kiên cố, được cấp xe máy và đầy đủ các trang thiết bị cần thiết phục vụ chuyên môn; khu du lịch của Vườn thường xuyên được đầu tư xây dựng, tu sửa, đáp ứng tốt các nhu cầu của du khách, nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn 1 sao; hệ thống hội trường, bảo tàng khoa học, chuồng trại phục vụ công tác cứu hộ bảo tồn động, thực vật, nghiên cứu khoa học và các hội nghị, hội thảo đáp ứng được yêu cầu đặt ra Tổng diện tích nhà công vụ, công trình sự nghiệp hiện có là 13.560 m2
Cúc Phương là VQG được thành lập đầu tiên ở Việt Nam, vì thế về cơ
sở hạ tầng phục vụ các hoạt động chuyên môn, hoạt động kinh doanh du lịch
và đặc biệt là phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, cứu hộ bảo tồn tương đối đầy đủ với hệ thống chuồng trại được đầu tư xây dựng khoa học, hợp lý như: Chương trình bảo tồn rùa, chương trình bảo tồn thú ăn thịt và Tê tê,
Trang 38Với nhiều giá trị về cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về hệ sinh thái, các giá trị văn hóa, lịch sử nên từ lâu Cúc Phương đã trở thành điểm du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế
2.6.2 Khó khăn
VQG Cúc Phương có chu vi 250 km trải dài qua 15 xã, 4 huyện thuộc 3 tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa Dân cư sống trong vùng đệm tại các xã giáp ranh với VQG Cúc Phương lên đến hơn 80.000 người, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, nhiều người dân vẫn sống phụ thuộc vào rừng, điều này đã gây nên những áp lực không nhỏ tới công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Cúc Phương là điểm tham quan hấp dẫn, hàng năm lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến thăm quan khoảng trên 80.000 lượt người, điều này cũng có những tác động tiêu cực tới hệ sinh thái rừng và môi trường như việc khách xả rác thải ra môi trường, ô nhiễm tiếng ồn và có thể là nguyên nhân gây ra các vụ cháy rừng
Với sự bùng nổ dân số và sự thiếu hụt đất canh tác, người dân có xu hướng lấn dần vào vùng lãnh thổ do VQG quản lý Sự lấn chiếm này gây những tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến công tác bảo tồn của VQG, gây những mâu thuẫn xung đột giữa VQG với người dân và chính quyền địa
phương
Trang 3939
Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu
3.1.1 Mục tiêu chung
Xác định được thành phần loài và tính đa dạng các loài Bọ xít thuộc Bộ
cánh nửa cứng (Hemiptera) tại VQG Cúc Phương, từ đó làm cơ sở khoa học
để đề xuất một số biện pháp quản lý
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
1 Xác định được thành phần loài Bọ xít thuộc bộ Cánh nửa cứng tại VQG Cúc Phương
2 Xác định được tính đa dạng các loài Bọ xít tại VQG Cúc Phương
3 Đề xuất được một số giải pháp quản lý các loài Bọ xít tại VQG Cúc Phương
3.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Pha trưởng thành của Bọ xít ở VQG Cúc Phương
Trang 4040
Hình 3.01: Khu vực rừng nguyên sinh
Hình 3.02: Khu vực rừng thứ sinh