1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh vật học một số loài bệnh hại trên cây thầu dầu làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp phòng trừ theo nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM)

87 611 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua điều tra các dòng xuất xứ thầu dầu được gieo trồng tại khu vực Xuân Mai, chúng tôi nhận thẩy rằng, lâu nay ít người để ý đến cây thầu dầu với một trong những lý do là thầu dầu

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy giáo, cô giáo Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa đào tạo Sau đại học, quý thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới GS.TS Trần Văn Mão, người hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn các phòng, ban của trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp

đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn này Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và nội dung nghiên cứu của đề tài còn tương đối rộng, nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội , ngày 24 tháng 03 năm 2013

Tác giả luận văn

Vũ Trí Dũng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 8

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1.Mục tiêu nghiên cứu 12

2.1.1.Mục tiêu chung 12

2.1.2.Mục tiêu cụ thể 12

2.2.Nội dung nghiên cứu 12

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13

2.4 Phương pháp nghiên cứu 13

2.4.1 Phương pháp kế thừa 13

2.4.2.Phương pháp tiếp cận 13

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18

3.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính 18

3.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 18

3.2.1 Địa hình 18

3.2.2 Đất đai 18

Trang 3

3.2.3.Khí hậu 18

3.2.4 Thực bì 19

3.3 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 19

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

4.1 Bệnh hại lá thầu dầu 21

4.1.1.Đặc điểm chung của bệnh hại lá 21

4.1.2.Bệnh hại điển hình 25

4.2.Bệnh hại rễ 50

4.2.1 Đặc điểm chung 50

4.2.2.Một số bệnh hại rễ cây thầu dầu 58

4.3 Thống kê các loài bệnh hại trên cây thầu dầu 63

4.4 Kết quả điều tra bệnh hại chủ yếu trên cây thầu dầu 67

4.5 Một số đề xuất ý kiến về phòng trừ sâu bệnh hại cây thầu dầu 70

4.5.1 Cơ sở lý luận của IPM 70

4.5.2 IPM đối với phòng trừ bệnh hại cây thầu dầu 71

KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2 Tiêu chuẩn phân cấp bệnh hại lá, quả, cành 16

4.1 Tình hình bệnh hại thầu dầu ở Xuân Mai 63 4.2 Thành phần loài vật gây bệnh trên cây thầu dầu 64

Trang 5

4.2, 4.3 Bệnh phấn trắng thầu dầu Erysiphe

4.19, 4.20 Lá bị bệnh và giai đoạn vô tính của nấm bệnh

( Phloeospora)

43

4.21 Giai đoạn hữu tính của nấm bệnh

( Mycosphaerella) ( Phỏng theo Zhou)

dầu

66

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây thầu dầu có tên khoa học là Ricinus communis L thuộc họ Thầu dầu

Euphorbiaceae Nhưng do chúng có lịch sử phát sinh lâu đời, khoảng 1400năm, từ Đông Phi lan rộng dến Châu Mỹ, Châu Âu, châu Á.Theo các nhà phân loại học, cây thầu dầu chỉ có 1 loài, nhưng do các điều kiện sinh thái khác nhau chúng có các đặc điểm hình thái khác nhau và tên gọi địa phương khác nhau

Các tên đồng nghĩa (Synonyms) là: Ricinus africanus Willd., R angulatus Thunb R annatus Haw R badius Rchb R chinensis Thunb.R digitatus Noronha, R.europaeus T Nees, R glaucus Hoffmans, R hybridus Besser, R inermis Mill., R japonicus Thunb., R.laevis DC., R leucocarpus Bertol.,R lividus Jacq.,R macrophyllus Bertol., R medicus Forssk R megalospermus

Dellile, R minor Mill., R nanus Balbis R pentatus Noronha, R rugosus

Mill., R sanguineus Groen R scaber Bertol., R speciosus Burm.,R spectabilis Blume R tunisensis Dest

Mỗi nước có tên gọi khác nhau như Trung Quốc gọi Bi ma, Tây Ban Nha gọi là Higuerilla, Palma christi ricino Pháp gọi là Ricin, Đức gọi là Rzinus,Châu Phi gọi là Kasterolieboom A rập gọi là Kharoua.Úc gọi là Tiarili,

Nước ta cũng có nhiều tên gọi như Thầu dầu, Dầu ve, Tỷ ma, Đu đủ tía, Co húng hóm (Thái)

Tên tiếng Anh là: Semen Ricini, Oleum Ricini, Castor Bean, Castor oil

plant, Palma christi, Wonder tree

Thầu dầu thuộc cây hai lá mầm, sống lâu năm, bộ rễ phát triển mạnh,

bộ rễ dạng nón ngược, rễ thẳng to và có 3-7 rễ phụ, ở độ sâu 2-4m, rễ phụ trải rộng 1,5-2m Tính thích ứng mạnh, chịu hạn, kháng kiềm Nói chung chúng

Trang 7

mọc trên đất tơi xốp nhiều dinh dưỡng Tuổi thọ của cây khá dài có cây đến

12 năm

Thầu dầu nguyên sản ở Châu Phi, đặc tính sinh vật học liên quan với vùng nguyên sản Chúng ưa ấm, sinh trưởng dai Hạt ở nhiệt độ trên 10oC mới nẩy mầm, khi nhiệt độ 10-30oC, phát tán nhanh hơn; khi nhiệt độ 15oC, sau 4-

5 ngày có thể nây mầm 98,5 %; nhiệt độ 20oC, sau 3-4 ngày nẩy mầm 98,5%; nhiệt độ 30oC, chỉ 2-3 ngày là nẩy mầm 98,5% Khi nhiệt độ 35oC khả năng nẩy mầm sẽ bị ức chế Ở ngoài đồng ruộng nhiệt độ ban đêm và ban ngày giữ

ở 15-18oC, lượng nước vừa phải, dộ phì vừa, hạt ở độ sâu 3-5cm, sau 15-17 ngày là cây mọc trên 50%

Cây thầu dầu rất nhạy cảm với sương muối Cây con ở nhiệt độ 1oC là cây bị chết Cây to nếu gặp nhiệt độ đó là bị héo, cành bi khô, đối với cây sống lâu năm một số dòng chịu lạnh, cây vẫn không chết Đặc biệt là cây sống trên 3 năm Thầu dầu muốn hoàn thành quá trình sinh trưởng phát triển, phải

đủ ánh sáng và nhiệt lượng Từ khi mọc đến thành thục phải có tích ôn hữu hiệu ngày đêm là 3500oC Đương nhiên giữa các dòng khác nhau nhiều

Theo các tài liệu đã dẫn dầu thầu dầu có vị trí chiến lược quan trong đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân

Dầu thầu dầu có 3 tác dụng: trước hết là nguồn năng lượng sinh học, còn gọi là dầu đốt sinh học Thứ hai là làm dầu bôi trơn máy bay, thứ ba là làm dược liệu

Hiện nay thầu dầu là 1 trong 10 loài cây cho dầu, theo nghiên cứu của Brazin có 4 loại dầu được sản xuất là thầu dầu, hướng dương, đậu và hạt bông

có tỷ lệ dầu theo thứ tự là 47%,42%, 18% và 15% Chứng tỏ dầu thầu dầu có

tỷ lệ dầu cao nhất Sản lượng dầu trên mỗi ha là 705kg, 630kg, 540kg và 450kg Chứng tỏ sản lượng dầu thầu dầu cũng chiếm ưu thế

Trang 8

Công ty tư vấn Forest & Sullivan của Mỹ có báo cáo công bố thầu dầu

có thể trồng ở các nước nhiệt đới như châu Phi, các nước trồng thầu dầu ngày càng tăng như Nigieria, Angola, Uganda đến năm 2010 cho sản lượng dầu là 4,3 tỷ lít, 609 triệu lít và 26,9 triệu lít

Theo thống báo đó hạt dầu thầu dầu cho 46-56% dầu, protein 20%, ricinin và ricin, acid ricin và basic ricin Ngoài ra cón có các chất khác dùng trong công nghệ chế biến hóa học

Dầu thầu dầu còn có tác dụng làm dầu bôi trơn máy bay và các máy biến áp tinh vi khác mà không thể có loại dầu khác thay thế được vì nhiệt độ thấp dưới 18oC không đông và nhiệt độ 500-600oC không biến chất

Trên thế giới thầu dầu được trồng trên diện tích lớn ở Ấn Độ, Trung Quốc và Brazin, tổng sản lượng bằng sản lượng của Indonesia, Pakistan, Thái Lan, Nigielia cộng lại Hiện nay Trung Quốc đã trồng trên 200.000 ha

Dầu thầu dầu được chế biến từ hạt thầu dầu (50%) Nếu bóc vỏ, nhân hạt chứa 70%, protein chữa 18% Dầu thầu dầu chứa trên 80% ricinic acid, do thầu dầu có nhiều tính chất đặc biệt: 1) Dầu đốt 2) Dầu bôi trơn các máy cao tốc 3) Có tính huyền quang rất mạnh 4) Hằng số cách điện cao 5) Mỡ dầu cao 6) Dầu không bị phá huỷ trong không khí, cất trữ rất ổn định

Hiện nay trên thị trường thế giới lượng thầu dầu đã trồng chỉ cung cấp được 2,5 triệu tấn, không đủ sản lượng, nhiều nhà máy ép dầu phải đóng cửa, lợi nhuận giảm xuống, phương hướng giải quyết là phải trồng thầu dầu trên diện tích lớn, nhiều công ty của Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc đều phải sang các nước Đông Nam Á thuê đất trồng, lập nhà máy chế biến tại các nước

để xuất khẩu.Các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia đều tích cực trồng thầu dầu Công ty HMTO của Mỹ đã thành lập và cạnh tranh quyết liệt với nhiều công ty khác Giá cả dầu thầu dầu ngày một tăng, mỗi tấn dầu có thể lên tới 2500 USD Để đạt được nhu cầu thầu dầu đến năm 2020,

Trang 9

nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) đã đề ra hướng phát triển trồng cây thầu dầu Trung Quốc đến năm 2008 cần 12,4 triệu tấn dầu là dầu đốt sinh học, nhưng năm 2007 chỉ đạt một nửa số đó Rõ ràng dầu thầu dầu có giá trị sử dụng rất lớn, yêu cầu nhiều nơi trồng cho lợi nhuận cao hơn lúa, ngô Hy vọng sẽ có cơ hội phát triển cây thầu dầu trong tương lai

Thầu dầu có nhiều chất hoá học, theo phân tích của các công ty hóa chất dầu thầu dầu bao gồm: Protein18%-26%, oil 64%-71% carbohydrate2%, phe-nolic dubstance2.50%,ricin ricinine 0.087%-0.15% triglyceride glycerol ester, sterol, phospholipid free fattyacid, hydrocarbon, wax, ricinoleic acid)84%-91% oleic acid 3.l%-5.9% linoleic acid)2.9%-6.5% stearic acid 1.4%-2.1%, palmitic acid 0.9%-1.5% phosphatidyl ethanolamine vật phân giải 83%, phosphatidyl choline 13%, octadecadienoic acid 8.4%,octadecenoic acid 5.2%, acidicricin ngoài ra có basic ricin, agglutinin, lipase, 30-norlupan-3β-ol-20-one

Thầu dầu có các tác dụng dược lý như sau:

a) Chống u bướu, u nhọt

b) Chống ung thư gan, ung thư cổ tử cung

c) Chất tạo nguồn nhiệt chỉ cần 0.05-0.2mcg/kg là co thể sản sinh nguồn nhiệt, cần thiết cho con người và động vật có vú

d) Tác dụng miễn dịch sinh ra phản ứng kháng thể và dị ứng

e) Tác dụng huyết quản tim và hệ thống hô hấp

g) Chất độc của thầu dầu có thể ảnh hưởng hô hấp các tế bào bạch cầu nuôi ngoài cơ thể

Một trong những vấn đề cần phải giải quyết là phòng trừ sâu bệnh hại Thông qua điều tra các dòng xuất xứ thầu dầu được gieo trồng tại khu vực Xuân Mai, chúng tôi nhận thẩy rằng, lâu nay ít người để ý đến cây thầu dầu với một trong những lý do là thầu dầu bị khá nhiều loài sâu bệnh và hơn cả các loài cây trồng khác như bệnh thối cổ rễ, bệnh khô lá, bệnh thối quả, thối hoa, bệnh khô héo; sâu róm thầu dầu, sâu ngài đêm, rệp, rầy

Trang 10

Trong phạm vi đề tài về sâu bệnh thầu dầu chúng tôi chỉ thực hiện với

tên đề tài:" Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh vật học một số loài bệnh hại trên cây thầu dầu làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp phòng trừ theo nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp (IPM) tại vườn ươm thầu dầu Xuân Mai, Hà Nội."

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Một số tài liệu liên quan với cây thầu dầu

Tại nước ta cây thầu dầu đã được nhập vào từ thời kỳ thuộc Pháp nhưng chưa có một tài liệu nào chính thức công bố Các gia đình chỉ trồng riêng lẻ để thắp sáng và chữa một số bệnh

Vào năm 1985 Tiến sỹ Phan Phải cũng đã nghiên cứu đến cây Thầu dầu, nhưng do thời kỳ đó có những khó khăn về điều kiện nghiên cứu, nhân dân chưa thấy hết tác dụng của nó, nhất là dầu làm nhiên liệu sạch và chưa có nhu cầu thị trường nên không phát triển được

Ngày nay nhu cầu thị trường ngày càng lớn, thầu dầu đã được lai tạo thành các dòng xuất xứ khác nhau cho năng suất cao Vì vậy trồng thầu dầu cao sản là một vấn đề mới mẻ có tác dụng xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường, nâng cao sức khoẻ cộng đồng và góp phần quan trọng phòng chống biến đổi khí hậu

Một số tài liệu khác từ Mỹ của dược sỹ Trần Việt Hưng đề cập đến cây thầu dầu hay vũ khí sinh học, cũng đã nêu lên tác dụng làm thuốc chữa bệnh của lá thầu dầu

Theo kinh nghiệm của đồng bào dân tộc miền núi, có rất nhiều bài thuốc chữa bệnh bằng lá thầu dầu như vùng Hữu Lũng - Lạng Sơn nhiều người già kể lại, cây thuốc này đã lưu truyền từ đời này sang đời khác nhiều nhà trồng quanh nhà và trở thành cây thân thuộc như cây lúa, cây khoai, cây sắn Ông Hoàng Văn Tài (thầy thuốc ở Hữu Lũng) cho hay, trước đây giao thông cách trở, các sản phụ đẻ ngay tại nhà không có trạm y tế hay bệnh viện, hạt thầu dầu luôn được các bà đỡ mang theo Ngày nay đã được các nhà khoa học sử dụng nghiên cứu chế biến dầu thầu dầu rán với 2 quả trứng ăn là chữa dược chứng bệnh khó đẻ, không phải mổ Hiện nay các bệnh viện ở Trung

Trang 12

Quốc đề áp dụng phương pháp này Cũng theo ông Tài, đối với sản phụ, hạt thầu dầu tía không chỉ chữa được những người bị sót rau, mà còn chữa được những ca khó đẻ và sa dạ con Bài thuốc rất đơn giản, chỉ lấy 15 hạt thầu dầu thầu dầu tía giã nhỏ, tốt nhất là thêm vài lá thầu dầu, dùng giẻ buộc vào gan bàn chân, sản phụ sẽ dễ đẻ hơn, con ra cũng dễ dàng hơn Trong trường hợp

bị sa dạ con, chỉ cần đắp thuốc vào bụng dưới, dạ con sẽ trở về vị trí cũ

Theo thông báo mới nhất ở Nghệ An, người bị bệnh trĩ, dùng lá thầu dầu đội lên đầu sau 1 tuần sẽ khỏi

Một thông tin khác, chị Lương Thị Hằng khi sinh nở đứa con thứ hai bị sót rau, người tím tái đã được cứu sống bằng 9 quả thầu dầu giả nhỏ, buộc vào gan bàn chân là khỏi Bà Lương Thị Nga (thầy lang dân tộc Nùng) nhờ lại bài thuốc đó và dùng thầu dầu chữa được nhiều bệnh khác như bệnh cảm cúm, đau đầu do trúng gió, mẩn ngứa, viêm mũi, phong thấp, đau khớp, động kinh, tâm thần phân liệt

Cũng theo bà Lương Thị Nga để chữa bệnh cảm cúm chỉ cần lá tươi giã nát đắp lên trán và thái dương, hoặc lấy lá non và hoa đu đủ đực xào lên hoặc ngâm rượu đắp lên trán và thái dương là sẽ khỏi

Theo ông Hoàng Văn Việt một thầy thuốc nam xã Hòa Thắng, Hữu Lũng, Lạng Sơn, ông đã dùng hạt thầu dầu tía chữa nhiều ca bệnh méo mồm,

do trúng gió, liệt thần kinh mặt bằng cách lấy 9 hạt thầu dầu tía, giã nát, đắp vào phía đối diện của bên bị méo miệng, khoảng 15-20 phút, nhẹ thì dùng 1 lần, nặng thì dùng vài lần sẽ khỏi

Về kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây thầu dầu có rất nhiều trong dân gian Trong các tài liệu đã công bố thì chỉ có một số tài liệu của GS Đỗ Tất Lợi Theo ông dầu thầu dầu không gây hiện tượng xót ruột, chỉ làm cho ruột

co bóp nhiều hơn, không gây ảnh hưởng gì đến màng ruột, bởi vậy chúng được dùng cho phụ nữ mang thai là rất tôt để chống táo bón mà không gây nguy hiểm

Trang 13

Tuy nhiên về vấn đề nghiên cứu kỹ thuật gây trồng và chọn giống, nhất

là vấn đề phòng trừ sâu bệnh thì chưa có một tài liệu nào đề cập đến Việc nghiên cứu các loài sâu bệnh hại và phòng trừ chúng là hết sức cần thiết

Về bệnh cây thầu dầu đến nay vẫn chưa có tài liệu đề cập đến nhưng bệnh cây nông nghiệp và lâm nghiệp thì đã có nhiều tác giả đề cập trong các giáo trình và tài liệu chuyên khảo của Đường Hồng Dật (1983), Lê Lương Tề (2005) Lê Văn Liễu, Trần Văn Mão (1978) Nguyễn Sỹ Giao ( 1982) Phạm Quang Thu ( 2009) Phan Thuý Hiền (2009)

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Yi Weidou, viện sỹ công trình Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh) cho biết theo Bộ Năng lượng Mỹ và Uỷ ban Năng lượng thế giới dự báo nguồn năng lượng hoá thạch không còn nhiều, dầu mỏ chỉ dùng 39 năm, khí thiên nhiên dùng trong 60 năm, than đá 111 năm là cạn kiệt, năm 2005 nhu cầu dầu mỏ đã tăng thêm 35% Điều này sẽ dự báo cho biết lượng xăng dầu sẽ tăng gấp nhiều lần trong 2 thập kỷ tới và bắt buộc phải tìm nguồn năng lượng sinh học

Nguồn năng lượng sinh học là nguồn năng lượng thay thế có thể tồn tại, tái sinh và điều chỉnh theo ý muốn của con người

Dầu thầu dầu lấy từ hạt là một trong những nguồn năng lượng thay thế quan trọng, không những làm dầu đốt, công nghệ chế biến hoá học, công nghệ dược mà còn dùng làm dầu bôi trơn máy bay và máy móc tinh vi khác vì dầu thầu dầu không biến chất khi nhiệt độ cao 500oC và không bị đông khi nhiệt

độ -18oC

Hiện nay trên thế giới có hơn 30 nước trồng thầu dầu và đã đạt đến quy

mô công nghiệp hoá Các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Brazin, Nga, Thái Lan, Philippin đã đạt 88% tổng sản lượng trồng thầu dầu thế giới Riêng Trung Quốc đã trồng thầu dầu hơn 100 năm nhưng quy mô nhỏ, sản lượng thấp, chỉ

Trang 14

đạt 200-300 nghìn tấn năm, nhưng thị trường cần đến 600-700 nghìn tấn năm Thị trường thế giới cần 10 triệu tấn năm, nhưng cũng chỉ đạt 2 triệu tấn năm

Vì vậy trên thế giới đều tăng diện tích trồng thầu dầu trong thập kỷ 21 Trong quá trình trồng thầu dầu, do nhiều nguyên nhân về thời tiết, kỹ thuật sâu bệnh hại càng ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng dầu Cho nên đi đôi với việc trồng thầu dầu trên thế giới đều nghiên cứu đến phòng trừ sâu bệnh

Về lịch sử bệnh cây vào thế kỷ 18 người ta đã nhận biết dược vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm, nhưng đầu thế kỷ 19 trên cơ sở hình thái học, phân loại học thực vật môn nấm học mới dần dần phát triển Năm 1807 các nhà khoa học mới phát hiện sự lây lan bào tử nấm gây ra nhiều bệnh trên nhiều loại cây trồng Năm 1888 Pierre Marie Alexis Millardet đã sang chế ra thuốc Bordô phòng trừ thành công bệnh mốc sương nho mở dầu một thời kỳ sử dụng thuốc hóa học phòng trừ bệnh cây Năm 1899 Smith E.F phát hiện vi khuẩn gây bệnh cây và nghiên cứu phân loại vi khuẩn gây bệnh cây Năm 1892 Ivanopski phát hiện ra vật nhỏ hơn vi khuẩn, đó là virus được gọi ngày nay

Về bệnh cây thầu dầu trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu

về phân loại, đặc điểm sinh học, quy luật phát bệnh và biện pháp phòng trừ theo nguyên tắc quản lý vật gây hại tổng hợp IPM

Theo thống kê của Liu Wenrong ( 1991) trên cây thầu dầu có 9 loài bệnh, 94 loài sâu bao gồm các bệnh trên lá, thân cành, rễ và gây tổn thất đáng

kể đến cây con và sản lượng hoa, quả, hạt và sản lượng thầu dầu Gần đây Zhang cũng phát hiện được 27 loài nấm gây bệnh trên thầu dầu, 1 bệnh sinh

lý hoặc vi khuẩn gây nên, trên thế giới phổ biến nhất là bệnh khô cành do nấm mốc sương, bệnh đốm than, bệnh gỉ sắt và bệnh đốm lá do vi khuẩn Zhong Deyu (2011) trong vấn đề kỹ thuật trồng thầu dầu cũng đã đề cập nhiều đến phòng trừ sâu bệnh hại thầu dầu Các tác giả khác như Yang Zhonghua (2010),

Trang 15

Ye Jianda(2011) Zhang Shuanhu (2011) đều nêu lên việc trồng thầu dầu phải

đi đôi với phòng trừ sâu bệnh

Nhiều tài liệu của Thái Lan đều đề cập đến sâu bệnh hại cây thầu dầu ( Zhang, 2011) Trong đó bệnh thối cổ rễ, bệnh thối gốc, bệnh gỉ sắt, bệnh khô

lá, bệnh đốm lá là những bệnh được nhiều tác giả đề cập đến Chúng liên quan với các loài sâu hại như sâu ngài đêm, sâu róm 4 túm lông, sâu chích hút như rầy lưng trắng, rầy nâu, rệp sáp, rận

Về bệnh hai cây thầu dầu mấy năm gần đây nhiều tác giả đã dề cập đến nhiều bệnh hại và biện pháp phòng trừ Năm 2010 Zhong Deyu đã đề cập đến bệnh đốm lá thầu dầu đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng và chất

lượng thầu dầu Năm 2006 trong nguồn tin qzny.gov.cn cho biết bệnh thối cổ

rế trong điều kiện nhiệt độ cao độ ẩm cao thoát nước kém thường xây ra bệnh thối cổ rễ và cần phải dùng biện pháp xử lý hạt để phòng trừ Tron cuốn hạc vấn : xuewen.cnki.net cho biết bệnh hại trên cây thầu dầu có tất cả 27 bệnh trong đó có 25 bệnh do nấm gây ra, 1 bệnh do vi khuẩn và 1 bệnh do thiếu Fe Trên thế giới phát sinh phổ biến có bệnh dịch, bệnh đốm than, bệnh gỉ sắt và bệnh đốm lá do vi khuẩn

Trong tập finance.sina.com.cn ngày 28 tháng 4 năm 2013 đã nêu rõ trong quá trình sinh trưởng phát triển cây thầu dầu từ cây con đến cây trưởng thành đều phát sinh bệnh hại Thông thường bị người ta xem nhẹ, do đó hàng năm đã gây ra những tổn thất và uy hiếp đến cây thầu dầu Tại Hồ Nam Trung Quốc đã phát hiện bệnh khô héo cây thầu dầu , tháng 6 năm 2012 đề cập đến

bệnh này do nấm lưỡi liềm Fusarium oxysporum gây ra Bệnh này là một

trong những bệnh nghiêm trọng nhất, bệnh luôn luôn gây ra cây chết từng đám Năm 2012 Liu Wei cũng đã nêu len, bệnh khô héo cây thầu dầu, và dã dùng thuốc xử lý hạt, trải qua nhiều năm gieo hạt, qua phân tích đã rút ra kỹ thuật phòng trừ hiệu quả.Trong tập chinabaike com năm 2012 các tác giả đã giải thích bệnh khô héo là gì, phòng trừ ra sao, mô tả triệu cứng bệnh khô héo

Trang 16

gây tác hại cây con và bông quả, bệnh có thể làm cho cây chết Bệnh mốc xám phát sinh trên diện rộng cũng đã dược đề cập tới vào năm 2012 do nấm

Botrytis sp gây ra Bệnh đã gây tác hại đến hoa, quả non, là cho bông quả

thối giảm sản lượng tới 20-60%, nghiêm trọng có thể lên tới 80% một bệnh ít được đề cập tới ít gây ảnh hươởn đến thâu dầu là bệnh phấn trắng Năm 2006 một số tác giả dề cập đến bệnh đốm đen là một bệnh thường gặp Tại đảo Hải Nam Trung Quốc, hàng năm đều phải chặt gốc, phủ gốc đề phòng rét, thu hoạch quả hạt đúng vụ Bệnh khô héo, thối cổ rễ, bệnh đốm do vi khuẩn là những bệnh được các tác giả đề cập đến

Nhiều tài liệu đều đề cập đến việc phòng trừ bệnh hại Tác giả nêu lên: thầu dầu không nê trồng liên canh cứ 2-3 năm phải tiến hành luân canh voơí cây họ đậu, cây họ hoà thảo (Liu Wei, 2012)

Phải nói rằng thầu dầu Sơn Đông đã được trồng lâu năm, đã lai tạo thành giống lai cho năng suất cao cũng đã đề cập đến một số bệnh hại như bệnh khô héo, bệnh thối cổ rễ, bệnh virus phát sinh và là bệnh nguy hiểm nhất của vùng Đông Bắc Trung Quốc

Nhiều tài liệu cho biết cây Thầu dầu nguyên sản ở một số nước Đông Phi cánh đây hơn 1000 năm, được di thực đến các nước châu Á, trước hết là

Ấn Độ, cho nên những bệnh hại cũng bắt đầu từ Ấn Độ , Tài liệu bệnh thầu dầu công bố sớm nhất là SK Bose (1949) đề cập đến bệnh đốm là do nấm

Phyllosticta bosenssis n sp D Karan (1966) đề cập đến một só bệnh hại thầu dầu, bệnh thối cổ rễ do nấm Fusarium oxysporum f.sp.ricini, bệnh thối rễ do nấm Macrophomina phaseolina , bệnh mốc xám ( Botrytis ricini là những

bệnh hại chủ yếu ở Ấn Độ G.S Saharan Dr Naresh Mehta (1954) cũng đề

cập đến bệnh đốm là do nấm Alternaria gây nên Các tác giả khác như CV

Kapadia (2012) J Iqbal (2012) đều nêu lên các xuất xứ chống chịu bệnh và là biện pháp chọn cây chống chịu bệnh quan trọng

Trang 17

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1.Mục tiêu chung

Xác định thành phần loài vi sinh vật gây bệnh trên cây thầu dầu và đề xuất hướng phòng trừ trên cơ sở quản lý vật gây hại tổng hợp nhằm tăng sinh trưởng phát triển cây thầu dầu

2.2.Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:

1) Điều tra xác định các loài bệnh hại thầu dầu thông qua triệu chứng bệnh 2) Điều tra thành phần loài các vi sinh vật gây bệnh trên cây thầu dầu 3) Mô tả các đặc điểm về phân bố, tác hại, triệu chứng, vật gây bệnh, quy luật phát bệnh của các loài bệnh hại trên cây thầu dầu

4) Xác định tỷ lệ bị hại, mức độ bị hại và chỉ số tổn thất của các loài bệnh hại trên cây thầu dầu

5) Xác định một số bệnh hại chủ yếu trên cây thầu dầu

6) Đề xuất biện pháp phòng trừ một số bệnh hại chủ yếu và một số bệnh hại khác liên quan trên cơ sở IPM

Trang 18

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

Địa điểm nghiên cứu tại 2 vướn ươm thầu dầu tại Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa

Kế thừa là phương pháp thông dụng thông qua việc tìm hiểu các tài liệu liên quan đề vấn đề nghiên cứu, từ các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước chúng tôi tiến hành so sánh với những nghiên cứu của mình Thông qua điều tra bệnh hại khu vực nghiên cứu so sánh với các hình ảnh và tài liệu liên quan, chúng tôi thu thập thông tin xác định các bệnh hại, vật gây bệnh hiện có tại hiện trường, mô tả chúng rồi đối chiếu với những tài liệu đã dẫn

2.4.2.Phương pháp tiếp cận

Tiếp cận cũng là phương pháp nghiên cứu bao gồm tiếp cận hệ thống, tiếp cận có sự tham gia, tiếp cận nhân rộng và nâng cao Chủ yếu là điều tra Điều tra sâu bệnh có thể theo phương pháp điều tra sâu bệnh của giáo trình điều tra sâu bệnh hại cây rừng, cụ thể như sau:

- Tìm hiểu triệu chứng bệnh, thông thường một loại bệnh trên cây sẽ xuất hiện các triệu chứng khác nhau Bệnh trên vị trí cây khác nhau cũng xuất hiện triệu chứng khác nhau Triệu chứng bệnh thể hiện sự nhận biết đầu tiên

để đặt tên cho bệnh Vì vậy chúng tôi quan sát triệu chứng để tìm hiểu một loại bệnh Sau khi quan sát chúng tôi tiến hành mô tả đặc điểm hình thái của

bộ phận bị bệnh đồng thời chụp ảnh với chiếc máy ảnh Canon

- Tìm hiểu vật gây bệnh Nguyên nhân gây bệnh cây có thể là do điều kiện phi xâm nhiễm và xâm nhiễm, những bệnh xâm nhiễm thường do vật gây bệnh gây nên đối với bệnh cây hầu hết là do nấm gây ra Vì vậy phải quan sát qua kính hiển vi để tìm hiểu vật gây bệnh Kính hiển vi được sử dụng là kính Canon phóng đại 400 lần Quan sát có thể tiến hành mô tả, chụp ảnh dưới kính kiển vi

Trang 19

- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của vật gây bệnh Do điều kiện thí nghiệm, chúng tôi chỉ tiến hành quan sát và mô tả đặc điểm hình thái rồi đối chiếu với các tài liệu đã công bố để xác định

- Điều tra tỷ lệ cây bệnh, mức độ bị bệnh của các loài bệnh đã phát hiện Công việc điều tra được tiến hành 3 đợt, đợt đầu vào tháng 10 đợt 2 vào đầu xuân tháng 2 và đợt cuối vào cuối mùa xuân tháng 3-4 Mục đích của việc điều tra ngoài việc tìm hiểu tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh còn tìm hiểu thêm một

số đặc điểm sinh thái của bệnh và phát hiện thêm một số bệnh mới phát sinh

- Xác định bệnh hại chủ yếu, muốn xác định được bệnh hại chủ yếu cần

Điều tra sơ bộ: Chúng tôi tiến hành khảo ssát đánh giá chung tình hình

bệnh hại trên vườn cây mẫu ở Xuân Mai Kết quả đánh giá được ghi vào bảng sau:

Bảng 2.1 Điều tra sơ bộ bệnh cây

Điểm ĐT DT lâm phần (ha) DT bị hại (ha)

Tổ thành loài cây Loài cây ưu thế H bq

Bộ phận

bị hại

DT mức độ bị hại Tình

hình phân

bồ

Ghi chú

Nhẹ (+)

Vừa (++)

Nặng (+++)

Trang 20

Ghi chú: ghi chép tình hình phân bố như sau:

Cá thể: 1-2 cây, cụm : 3-9 cây, đám: trên 10 cây-1/2ha, đều >1/2ha

Cây ở vườn ươm: có thể chia ra cá thể, cụm, đám (200-500m2) đều > 500m2 Ghi chép mức độ bị hại như sau:

Lá , quả, cành bị bệnh : dưới 1/3 cây bị bệnh: nhẹ , 1/3-2/3 cây bị bệnh : vừa , > 2/3 cây bị bệnh : nặng

Thân và rễ cây bị bệnh: <25% : nhẹ 26-50%: vừa, >51% : nặng

Điều tra tỷ mỷ : Do điều kiện vườn cây thầu dầu trồng với mật độ khác

nhau loài cây khác nhau số lượng cây chưa bảo đảm lập ô tiêu chuẩn cho nên chúng tôi chỉ chọn theo mỗi dòng xuất xứ 10 cây tiêu chuẩn để tính cho bệnh hại lá, còn bệnh hại thân cành chúng tôi tiến hành đo đếm theo số cây bị chết không tính cho các mức độ hay phân cấp bị hại Đối với bệnh hại hoa chúng tôi chỉ tỉnh số cụm hoa bị chết trên cây rồi tính cho cả vườn

Tính tỷ lệ cây bệnh, đối với nhưng bệnh ảnh hưởng đến cả cây và bệnh

cục bộ thiệt hại kinh tế phương pháp đơn giản là tính số cây bị hại trên tổng

số cây điều tra:

P(%) =n.100/N

Trong đó n là số cây bệnh , N là tổng số cây điều tra

Phân cấp cây bệnh Trong cây bị bệnh có cây bị nặng có cây bị nhẹ

Phương pháp trên không thể phản ánh mức độ bị hại

Phân cấp cây bị hại là vấn đề mấu chốt Để tiện việc điều tra người ta thường phân làm 4-5 cấp, tiêu chuẩn phân cấp phải rõ ràng, cụ thể và thích hợp

Đối với bệnh hại lá, quả, cành có thể phân cấp như sau:

Trang 21

Bảng 2.2 Tiêu chuẩn phân cấp bệnh hại lá, quả, cành

Đối với bệnh hại thân phân cấp như sau:

Bảng 2.3 Tiêu chuẩn phân cấp bệnh hại câu

Trong đó n là số đơn nguyên (lá, cành, quả, thân) bị hại ở mỗi cấp,v là

số cấp, N tổng số đơn nguyên, V là cấp cao nhất (4)

Thông thường người ta kết hợp tính tỷ lệ cây bệnh và chỉ số bị bệnh để tính chỉ số tổn thất như sau:

DI = P (%) x R(%)

Trang 22

Tóm lại đối với điều tra bệnh cây ta phải làm rõ các chỉ tiêu: mức độ phân bố hay tỷ lệ cây bệnh, mức độ bị bệnh hay chỉ số bệnh và chỉ số tổn thất

để xác định bệnh hại chủ yếu và phòng trừ kịp thời và hiệu quả

Kết quả điều tra có thể tiến hành so sánh các chỉ tiêu theo phương pháp thống kê toán học, tính phương sai hoặc sai dị trên máy vi tính

- Tìm hiểu về phương pháp phòng trừ theo bài giảng quản lý hệ thống và phòng trừ tổng hợp IPM cho lớp cao học để đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý

Trang 23

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính

Thị trấn Xuân Mai nằm trên vị trí 20,54' độ Vĩ Bắc, 106, 34' độ Kinh Đông, trên điểm giao nhau giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A, nay là Đường Hồ Chí Minh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 33 km về phía tây, là một trong 5 đô thị trong chuỗi đô thị vệ tinh của Hà Nội, bảo gồm: Sơn Tây - Hoà Lạc - Xuân Mai - Phú Xuyên - Sóc Sơn và Mê Linh trong tương lai Phía tây giáp Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Phía bắc giáp xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội Phía đông giáp xã Thuỷ Xuân Tiên, huyện Chương

Mỹ Phía nam giáp xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ

3.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

3.2.1 Địa hình

Xuân Mai thuộc khu vực trung du của Hà Nội, có đất đồi núi cao, đất bằng phẳng và đất trũng Khu vực nghiên cứu thuộc khu bằng phẳng gần khu thị trấn, đất bồi tụ và đất lấp nhân tạo từ những năm 2007 Nền đất tơi xốp,

thầu dầu mọc tự nhiên với số lượng trên 100 cây với các lứa tuổi khác nhau

3.2.2 Đất đai

Đất Xuân Mai thuộc đất bồi tụ Feralit vàng Mọc nhiều cây keo, bạch đàn

và các cây lâm nghiệp khác Đất phù hợp với sinh trưởng của các loài cây ăn quả như Hồng xiêm, Bưởi, Cam chanh và một số cây rau màu

3.2.3.Khí hậu

Khí hậu Xuân Mai thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa Mỗi năm có hai mùa rõ rệt mùa khô Nhiệt độ bình quân năm từ 17oC - 28oC, lượng mưa trung bình tháng là 174,5mm, thấp nhất vào tháng 1 là 24,5mm, cao nhất vào tháng 9 là 404mm Chúng thể hiện trên sơ đồ Gaussen- Walter (1963) như sau:

Trang 24

0 50 100 150 200 250 300 350 400 450

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

2T P

Hình 3.1.Sơ đồ khí hậu khu vực Xuân Mai, theo Gaussen- Walter ( 1963)

Sơ đồ trên thể hiện Xuân Mai có 2 mùa : mùa mưa và mùa khô

3.2.4 Thực bì

Thực bì khu vực Xuân Mai chủ yếu là cây trồng xen lẫn với cây cỏ như cỏ bông trắng, cỏ lào, cỏ xấu hổ, cây quyết, cây lan

3.3 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Thị trấn Xuân Mai gồm các 9 khu dân cư: Khu Bùi Xá, Khu Phố Xuân

Hà, khu Xuân Mai, khu Tiên Trượng, khu Đồng Vai, khu Tân Xuân, khu Tân Bình, khu Chiến Thắng và khu Tân Mai

Các cơ quan đơn vị đóng trên thị trấn: Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân thị trấn và các đơn vị hành chính trực thuộc thị trấn

Xuân Mai có 10 trường học là:

1.Đại học Lâm nghiệp Việt Nam (Forestry University of Vietnam)

2.Trường Sĩ quan Đặc công

3.Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

4.Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây

5.Trường Cao đẳng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đông Bắc Bộ 1 6.Trường cảnh sát vũ trang (T45)

7.Trường THPT Xuân Mai

Trang 25

8.Trường phổ thông dân lập Ngô Sỹ Liên

9.Trường Tiểu học Xuân Mai A, B

10 Trường THCS Xuân Mai A, B

Có 3 đơn vị quân đội là:

Trang 26

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Để tiện việc tìm hiểu bệnh hại thầu dầu từ những đặc điểm chung, chúng tôi có thể tách riêng từng bộ phận bệnh hại lá, hoa quả, bệnh hại thân cành và bệnh hại rễ thầu dầu Kết quả như sau:

4.1 Bệnh hại lá thầu dầu

4.1.1.Đặc điểm chung của bệnh hại lá

Bệnh hại lá cây rừng do các nhân tố sinh vật và phi sinh vật gây ra,

là bệnh rất phổ biến Số lượng loài vật gây bệnh vượt quá bệnh hại thân cành và bệnh hại rễ Tỷ lệ bệnh hại lá chiếm khoảng 60 - 70% tổng số bệnh hại cây rừng Do số lá nhiều, diện tích lớn, để phát hiện Nhưng do tác dụng quang hợp của số lá không bệnh nên cây vẫn sinh trưởng nên bệnh hại là thường bị xem nhẹ Nói chung bệnh hại lá ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây ít khi làm cho cây chết Nhưng trong thực tế nhiều bệnh hại lá làm cho lá rụng hàng loạt ảnh hưởng lớn đến chất lượng và sản lượng cây gỗ và quả Ví dụ bệnh khô lá bạch đàn, bệnh khô xán lá thông có nơi làm cho thông sinh trưởng kém, thậm chí làm cho cây chết

Do bệnh bị hại liên tục trong năm nên khả năng mọc chồi lá mới rất kém,

lá rụng sớm, các đốt cành ngắn lại, sinh trưởng đường kính và chiều cao giảm xuống rõ rệt thể tích gỗ giảm có nơi xuống 40%, mang lại tổn thất lớn cho nền kinh tế

a) Đặc điểm xâm nhiễm của bệnh hại lá

Vật gây bệnh của bệnh hại lá rất nhiều nấm, vi khuẩn, virus, phytoplasma, nhện, tảo Trong đó bệnh do nấm gây ra chiếm tỷ lệ nhiều nhất các bệnh gỉ sắt, phấn trắng, các bệnh đốm lá do nấm túi và bất toàn gây ra rất nhiều Các bệnh do vi khuẩn, virus, phytoplasma thường gây

Trang 27

hại trên cây lá rộng rất ít thấy trên lá kim: nhiều bệnh phi xâm nhiễm thường biểu hiện triệu chứng trên lá như do ô nhiễm môi trường, do phun thuốc trừ sâu bệnh, do thiếu các chất dinh dưỡng

Các triệu chứng bệnh hại lá thường có xoăn lá, nhỏ lá, vàng lá, đốm

lá, bồ hống, phấn trắng, khảm lá, đốm than, thảm lông lá Chúng có quan

hệ với vật gây bệnh

Do lá cây rừng phần lớn sống 1 năm mùa đông thường rụng lá, các cây thường xanh tuy lá không rụng nhưng do bệnh mà làm cho lá rụng hàng loạt Đại bộ phận bệnh hại lá thường có tái xâm nhiễm nhiều lần, nguồn sơ xâm nhiễm luôn luôn có quan hệ mật thiết với nơi qua đông và thường có mấy nơi như sau

- Cành bị hại năm trước

Một số bệnh ngoài gây hại lá còn gây hại cành non Vật gây bệnh qua đông bằng cuống lá, cành non, cành khô là nguồn xâm nhiễm cho năm sau

Bệnh xoăn lá đào qua đông bằng bào tử chồi hoặc bào tử túi trên vẩy

lá mùa xuân năm sau tiến hành xâm nhiễm Bệnh gỉ sắt là tếch, cà phê qua đông bằng bào tử hạt trên chồi non, sau khi ra lá non chúng xâm nhiễm vào lá non khác

Trang 28

- Cây chủ trung gian

Cây chủ trung gian là nguồn xâm nhiễm duy nhất của một số bệnh gỉ sắt như bệnh gỉ sắt thông, dẻ, bệnh gỉ sắt lê - trắc bách Chúng có đầy đủ

5 giai đoạn sinh sản và được gọi là năm gỉ sắt hoàn toàn; còn những nấm

gỉ sắt không hoàn toàn thường không có cây chủ trung gian

Ngoài ra, côn trùng miệng chích hút thường là nguồn xâm nhiễm các bệnh virus và phytoplasma

Số lượng vật gây bệnh qua đông có quan hệ trực tiếp đến số lượng

sơ xâm nhiễm, nhất là những bệnh không có tái xâm nhiễm

Thời kỳ sơ xâm nhiễm thường bắt đầu từ mùa xuân khi nhiệt độ không khí lên cao, độ ẩm tăng dần, bào tử nấm dễ lây lan, nẩy mầm, xâm nhập Mặt khác do lá non mô bảo vệ và cơ chế chống chịu chưa hoàn thiện, cây dễ bị bệnh

Bệnh hại lá thường lây lan nhờ gió, mưa, côn trùng, nhiều bệnh hại

có thể hình thành rất nhiều bào tử để lây lan nhờ gió, cự ly lây lan rất xa Cũng có một số bào tử nấm lây lan nhờ nước mưa như vi khuẩn, bào tử túi, một số loài nấm có chất keo để có thể lây lan nhờ gió lẫn mưa Côn trùng có thể mang nhiều loại bào tử nấm để lây lan

Trong điều kiện tự nhiên nấm bệnh thường xâm nhập thông qua khí khổng và trực tiếp, ống nấm có thể xuyên qua tầng cutin Khí khổng không chỉ là đường thông của sợi nấm mà còn tiết ra các chất trong quá trình hô hấp, bốc hơi tạo ra môi trường sinh thái đặc biệt cung cấp dinh dưỡng và nước cho nấm bệnh Ngoài một số vi khuẩn, virus, phytoplasma

ra, trong điều kiện tự nhiên vết thương không phải là đường xâm nhập của vật gây bệnh hại lá

Bề mặt lá là một môi trường sinh thái phức tạp, ngoài vật gây bệnh, trên lá còn nhiều loài vi sinh vật khác và các chất dinh dưỡng cần thiết

Trang 29

cho vi sinh vật Các chất dinh dưỡng đó phần lớn từ ngoài vào, cũng có loại lá tiết ra bao gồm đường, axit, amin, chất sinh trưởng, kiềm sinh vật, phenon và muối vô cơ Vi sinh vật bao quang vật gây bệnh rất nhiều Chúng sống phụ sinh hoặc hoại sinh gây ảnh hưởng cho vật gây bệnh hoặc ức chế hoặc kích thích sự nẩy mầm, hình thành vòi bám, sinh trưởng

và xâm nhập của nấm gây bệnh Chỉ có khi nấm gây bệnh thoái khỏi sự ức chế đó mới có khả năng xâm nhiễm

Kết cấu, đặc tính sinh vật học tính chất vật lý hoá học của lá như độ dày tầng cutin, cường độ và tình trạng bám của vật bám trên tế bào biểu bì đều ảnh hưởng đến sự xâm nhập của nấm bệnh Số lượng, kích thước và thời gian mở của khí khổng ảnh hưởng đến số lượng xuyên qua của sợi nấm Sự thấm ra ngoài của dịch tế bào lá thông qua sự thoát nước của khí khổng, giọt sương trên mặt lá đều ảnh hưởng đến khả năng phát sinh bệnh hại

b) Nguyên tắc phòng trừ bệnh hại lá

Trong rừng cây trưởng thành bệnh hại lá không thể hiện tác hại rõ rệt, cho nên không cần tiến hành phòng trừ, nhưng khi phát dịch trên diện tích lớn mới cần phòng trừ, nhưng những bệnh ở vườn ươm rừng mới trồng, rừng kinh tế, cây ăn quả, cây hành lang, rừng công việc hoặc du lịch thì nhất thiết phải áp dụng các biện pháp phòng trừ

Chọn cây chống chịu bệnh là biện pháp quan trọng phòng trừ bệnh hại lá Ví dụ bệnh khô héo cây bạch đàn, ngày nay người ta đã tiến hành chọn giống mới thông qua nuôi cây mô lai tạo ra những loài cây chống chịu bệnh này

Tăng cường chăm sóc quản lý, cải thiện điều kiện môi trường, nhất

là điều kiện nhiệt độ và độ ẩm nâng cao khả năng tự khống chế của cây đối với bệnh hại là một biện pháp khá quan trọng Biện pháp này cần kết hợp với các biện pháp chăm sóc, tỉa thưa

Trang 30

Quét sạch nguồn xâm nhiễm là biện pháp hữu hiệu để phòng trừ bệnh hại lá, bao gồm quét sạch lá bệnh, quả bệnh, chồi bệnh cùng với công tác quản lý, chăm sóc vườn quả và vườn ươm Cũng có thể phun thuốc hoá học bằng hợp chất lưu huỳnh vôi để loại trừ nấm qua đông trên mặt lá hoặc vẩy chồi, mùa xuân có thể phun nước Borđô Bệnh hại lá cây rừng do các nhân tố sinh vật và phi sinh vật gây ra, là bệnh rất phổ biến

Số lượng loài vật gây bệnh vượt quá bệnh hại thân cành và bệnh hại rễ

Tỷ lệ bệnh hại lá chiếm khoảng 60 - 70% tổng số bệnh hại cây rừng Do

số lá nhiều, diện tích lớn dễ phát hiện Nhưng do tác dụng quang hợp của

số lá không bệnh nên cây vẫn sinh trưởng nên bệnh hại là thường bị xem nhẹ Nói chung bệnh hại lá ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây ít khi làm cho cây chết Nhưng trong thực tế nhiều bệnh hại lá làm cho lá rụng hàng loạt ảnh hưởng lớn đến chất lượng và sản lượng cây gỗ và quả Ví

dụ bệnh khô lá bạch đàn, bệnh khô xán lá thông có nơi làm cho thông sinh trưởng kém, thậm chí làm cho cây chết Do bệnh bị hại liên tục trong năm nên khả năng mọc chồi lá mới rất kém, lá rụng sớm, các đốt cành ngắn lại, sinh trưởng đường kính và chiều cao giảm xuống rõ rệt thể tích gỗ giảm

có nơi xuống 40%, mang lại tổn thất lớn cho nền kinh tế

4.1.2.Bệnh hại điển hình

Trên cây thầu dầu ta thường gặp một số bệnh hại lá như sau:

1) Bệnh bồ hóng thầu dầu Capnodium sp

a) Đăc điểm chung

Bệnh bồ hóng là bệnh thường thấy ở nước ta, ký sinh trên nhiều loài cây không chỉ là cây lá rộng mà còn trên nhiều loài cây lá kim

Số loài gây bệnh bồ hóng rất nhiều, chủ yếu thuộc 2 họ Meliolaceae

và Capnodiaceae trong ngành phụ nấm túi Chúng đều có thể sợi nấm màu nâu đen trên bề mặt lá Sự khác nhau chủ yếu giữa 2 họ là sợi nấm của

Trang 31

Meliolaceae không thành chuối, trên sợi có nhánh phụ dạng cành oliu, sinh sản hữu tính hình thành vỏ túi kín, nhưng không có giai đoạn bào tử

phân sinh; còn sợi nấm của Capnodium có dạng chuỗi hạt, mỗi tế bào

hình tròn, nếu không hình thành dạng chuỗi hạt thì hình thành bó sợi, trên sợi nấm không có nhánh phụ, giai đoạn hữu tính, hình thành chất đệm, sinh sản vô tính hình thành các loại bào tử phân sinh, bào tử phân sinh có dạng bình cổ dài Về mặt ký sinh, loại đầu có tính ký sinh mạnh, ngoài sợi phụ các nhánh phụ chia ra các vòi hút để hút dinh dưỡng từ trong tế bào biểu bì; còn loại sau là những vật hoại sinh, hình thành trên nhiều loài cây chủ, sợi nấm hoàn toàn trên bề mặt cây chủ, sợi nấm đôi khi hút dinh dưỡng trong nước mật của các loài côn trùng như rệp ống, rệp sáp, rận phấn tiết ra hoặc từ dịch thấm của thực vật

Ngoài ra còn một số loài nấm hình thành trên mặt lá dạng mốc đen

giống như bồ hóng như nấm mốc cành (Cladosporium), mốc bào tử lưỡi dao (Clasterosporium), bào tử liền (Alternaria), bào tử giun dài (Helminthosporium)

Do nấm bồ hóng phủ kín trên bề mặt lá nên chỉ ảnh hưởng đến quang hợp không ảnh hưởng trực tiếp đến sinh lý cây, bệnh nặng có thể làm cho lá rụng sớm, giảm sinh trưởng; đối với cây xanh thành phố sẽ làm mất mỹ quan

và ảnh hưởng đến kinh tế Bệnh bồ hóng trên cây dậu thiều thả cánh kiến

đã làm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng keo cánh kiến

Hai loại bệnh bồ hóng tuy giống nhau về triệu chứng, nhưng do sự khác nhau về sự phát sinh nên có những đặc điểm khác nhau Nấm

Capnodium phát sinh tuỳ theo sự phát triển các loài sâu hại chích hút tiết

ra phân nền xếp thành từng đám rồi lan ra cả lá, khi trời khô sẽ nứt ra và rụng mất Bệnh phát sinh trên các cây sở, chè, thậm chí ta còn thấy trên cả

cỏ dại, đất ở gần đó Nhưng bệnh bồ hóng do nấm Meliola gây ra lúc đầu

hình thành các chấm đen nhỏ, các đốm mốc rải rác rồi lan rộng ra, màu

Trang 32

sắc thường nhạt hơn, không bị nứt ra Trong tự nhiên ta thường gặp bệnh

bồ hóng do nấm Capnodium gây ra và tác hại cũng lớn hơn

Sợi nấm, bào tử phân sinh hoặc bào tử túi của nấm bồ hóng thường qua đông trên cây chủ hoặc cơ thể côn trùng, lây lan nhờ gió, mưa và côn trùng Chúng không chỉ có quan hệ trực tiếp đến rệp mà còn cả kiến, ruồi, ong cũng làm môi giới lây bệnh

Những nơi kín gió, thiếu ánh sáng ẩm ướt thường dễ phát sinh bệnh Những nơi khô, nóng, sấm sét đều không có lợi cho nấm bồ hóng phát sinh phát triển

Biện pháp phòng trừ chủ yếu đối với bệnh bồ hóng là diệt các loài sâu hại, cải thiện môi trường đất rừng, làm cho thoáng gió, thấu quang, lúc cần có thể dùng hợp chất lưu huỳnh vôi để phun

b)Đặc điểm bệnh bồ hóng thầu dầu

Bệnh bồ hóng thầu dầu cũng có những đặc điểm của bệnh bồ hóng cây

lá rộng thường gây hại lá thầu dầu kèm theo các loài sâu chích hút như rệp, rầy lưng trắng và rầy nâu, vì vậy biến pháp phòng trừ chủ yếu là chặt tỉa thưa thầu quang, phun thuốc trừ rệp và rầy tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển bình thường

Hình 4.1.Nấm gây bệnh bồ hóng lá thầu dầu

Trang 33

2)Bệnh phấn trắng Erysiphe cichoracearum

a) Tác hại

Bệnh phấn trắng rất phổ biến trên cây lá rộng, có nơi còn gây hại trên cành non, hoa, quả Trên cây lá kim chưa được phát hiện Chúng thường không ảnh hưởng đến cây lớn nhưng đối với cây non, chồi non và cây ăn quả thì cần phải chú ý Ở nước ta bệnh phấn trắng gây hại cho các loài cây keo, cao su, dr trên các vườn ươm có nơi làm cho cây chết

b) Triệu chứng

Đặc trưng rõ nhất là bề mặt phủ một lớp bào tử bột màu trắng về sau thành màu vàng nhạt Có nơi nấm phấn trắng hình thành các vỏ túi kín Ngoài ra một số loài nấm phấn trắng gây ra hiện tượng xoăn lá hoặc chổi sể Triệu chứng bệnh phấn trắng tuy về cơ bản là như nhau, nhưng cũng

có chỗ khác nhau Có loài mọc ở một mặt sau lá, có loài mọc cả hai mặt lá,

có loài chỉ mọc mặt trên lá, một số loài không có chấm đen trên đốm trắng,

có loài có nhiều chấm đen (vỏ túi kín)

Đặc trưng giải phẫu và sinh lý cây bị bệnh phấn trắng biến đổi rất lớn, nếu màu sắc tế bào cây chủ thay đổi tế bào biểu bì sẽ phình lên, dưới

tế bào sẽ hình thành mô bần, hoạt động sinh lý của cây bị ảnh hưởng, tác dụng bốc hơi và hô hấp tăng lên, tác dụng quang hợp và hút nước giảm xuống, độ hoà tan trong nước sẽ tăng lên, chất silic và vôi sẽ tăng lên, kiềm thực vật sẽ giảm xuống

c) Vật gây bệnh

Bệnh phấn trắng là do nấm phấn trắng trong bộ nấm phấn trắng (Erisiphales) ngành phụ nấm túi (Ascomycotina) Đa số mọc ở mặt trên của lá, sợi nấm hình thành vòi bám sau đó lại thành sợi nấm xuyên vào tế bào biểu bì và hình thành vòi hút để hút chất dinh dưỡng Cũng có loại nấm phấn trắng xuyên qua khí khổng vào tầng giữa của thịt lá rồi thành

Trang 34

vòi hút xuyên vào tế bào để hút chất dinh dưỡng như nấm Phyllactinia; Pleochaeta Một số loài tất cả sợi nấm đều nằm trong tế bào như nấm thuộc chi Leveillula và chỉ khi hình thành bào tử phân sinh cuống và sợi

nấm ngoại sinh mới chui ra từ khí khổng Sợi nấm ngoại sinh trong thời

kỳ nhất định hình thành cuống bào tử không phân nhánh rối hình thành chuỗi bào tử Giai đoạn hữu tính hình thành vỏ túi kín, trong vỏ túi chứa một hoặc nhiều túi, trong túi chứa 2 - 8 bào tử túi Vỏ túi kín nằm ngoài mặt cây chủ có các dạng sợi phụ khác nhau (sợi, móc câu, cầu kim, phân nhánh ) Cũng có loại nấm phấn trắng không hình thành vỏ túi kín như nấm phấn trắng keo, cao su

Toàn bộ các loại nấm phấn trắng thuộc loại ký sinh hoàn toàn, nên tính chuyên hoá mạnh; phạm vi cây chủ hẹp, chỉ gây bệnh trên một số loài cây nhất định Nhưng cũng có loại nấm phấn trắng có phạm vi cây chủ rất

rộng như loài Phyllactinia corylea ký sinh trên 145 loài cây thuộc 41 họ

khác nhau

d) Quy luật phát bệnh

Nấm phấn trắng thường tiến hành sơ xâm nhiễm bào tử túi, thời kỳ ủ bệnh chỉ mấy ngày và hình thành bào tử phân sinh rất nhanh, lây lan nhờ gió và tiến hành tái xâm nhiễm, nhiều bệnh không hình thành vỏ túi kín thì thường qua đông bằng sợi nấm trong vẩy chồi lá, xâm nhiễm lá chồi non Nấm phấn trắng cây cao su thường qua đông bằng sợi nấm trên đốm bệnh mùa xuân năm sau mới xâm nhiễm

Nói chung nấm phấn trắng là loại chịu hạn, nhiều loài độ ẩm không khí gần vẫn có thể nẩy mầm, nhưng trong điều kiện nước ngập lại không nẩy mầm Cho nên nhiều loài nấm trong điều kiện khô hạn vẫn gây bệnh nặng Cũng có những loài như nấm phấn trắng cao su, khi độ ẩm trên 50% nấm nẩy mầm, nhưng nẩy mầm tốt hơn khi độ ẩm càng cao

Trang 35

Yêu cầu của nấm phấn trắng đối với nhiệt độ thường vào khoảng 11

- 280C, bình quân là 220C Khả năng chịu nóng của nấm phấn trắng thường thấp hơn cây chủ, càng gần mặt đất bệnh phấn trắng rất ít, bởi vì càng gần mặt đất nhiệt độ càng cao Nói chung nhiều người cho rằng sự giao nhau nhiệt độ cao thấp thường có lợi cho sinh trưởng phát triển của nấm phấn trắng, có lợi cho sự hình thành bào tử túi và vỏ túi kín Những vùng có độ cao so mặt biển cao bệnh phấn trắng cao su nặng hơn, có thể

do nhiệt độ thấp lượng mưa ít gây ra Bệnh phấn trắng keo ở nước ta cũng

có tình hình tương tự

Bệnh phấn trắng yêu cầu ánh sáng khác nhau tuỳ loại Một mặt phần lớn chúng ưa bóng, mặt khác có thể là do nhiệt độ thấp, độ ẩm cao Ánh sáng trực tiếp ảnh hưởng đến sự nẩy mầm của bào tử, nhưng chiếu sáng mạnh trong 3 - 4 giờ, chúng sẽ mất khả năng nẩy mầm

Ngoài 3 nhân tố nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh phấn trắng, độ phì của đất cũng có ảnh hưởng nhất định Nếu bón nhiều nitơ thiếu kali, cây mọc vóng, bệnh gỉ sắt sẽ nặng Cho nên, trong điều kiện ấm áp nhưng khô hạn, ánh sáng yếu, đất giàu dinh dưỡng, cây mọc nhanh, bệnh phấn trắng dễ phát sinh

e) Các biện pháp phòng trừ

(1) Do đặc điểm ngoại sinh của nấm phấn trắng, khả năng nhạy cảm của nấm với các loại thuốc sẽ lớn hơn, nên có thể dùng hợp chất lưu huỳnh vôi để phòng trừ Trong mùa sinh trưởng thường dùng nồng độ 0,2

- 0,50Be, trước khi nẩy chồi dùng 3 - 50Be; hoặc dùng benlate 0,1% phun

2 - 3 lần đều thu được hiệu quả phòng trừ Các loại thuốc nội hấp khác có thể sử dụng để phòng trừ bệnh hại này

(2) Tập trung các lá bệnh đốt đi, cắt các chồi bị bệnh đốt đi để tiêu diệt nguồn lây lan bệnh

Trang 36

(3) Cần tăng cường chăm sóc quản lý nhất là các rừng kinh tế, các vườn quả, nếu phải bón phân cần bón ít nitơ nhiều kali để giảm sự phát sinh bệnh phấn trắng

(4) Chọn và lợi dụng các loài cây chống chịu bệnh là một trong những biện pháp quan trọng để phòng trừ bệnh phấn trắng

(5) Dùng nấm ký sinh Cicinnobolus cesatii có thể ức chế nấm phấn

trắng là biện pháp sinh học cần được áp dụng

Đặc điểm bệnh phấn trắng lá thầu dầu

Hình 4.2, 4.3.Bệnh phấn trắng thầu dầu Erysiphe cichoracearum

Bệnh phấn trắng lá thầu dầu cũng như đặc điểm của bệnh phấn trắng cây lá rộng trên mặt lá phủ một lớp bột trắng Lá khô dần lây lan nhờ gió , thường phát sinh trên lá non mọc ở nơi che bóng Cây trồng ngoài sáng thường ít bị bệnh hơn Cho nên phương pháp phòng trừ chủ yếu là trồng ngoài sáng, theo thời vụ xuân hè bệnh sẽ giảm

3) Bệnh gỉ sắt lá thầu dầu (Melampsora ricini (Biv.)Pass.)

a)Đặc điểm chung

Bệnh gỉ sắt thường gây hại trên cây lá kim và cây lá rộng là loại bệnh thường thấy đối với cây rừng Một số bệnh gỉ sắt không chỉ gây bệnh hại lá mà còn gây hại trên chồi non, quả, cuống lá và gây ra những tổn thất đáng kể

Trang 37

Nấm gỉ sắt là loại nấm chuyên ký sinh, sống nhờ chất dinh dưỡng trên cây còn sống, cho nên trong quá trình sống chúng luôn bảo đảm tính

ổn định tương đối với cây chủ Sau khi xâm nhiễm, bệnh không làm cho cây chủ chết ngay Về triệu chứng chúng thường làm cho lá mất màu xanh, màu vàng nhạt hoặc thành đốm nâu, trên đốm bệnh thường thể hiện ngay

cơ quan sinh sản (dấu hiệu bệnh) còn trên chồi non, lá non thường gây ra hiện tượng xoăn hoặc phồng lá

Nhiều loài nấm gỉ sắt có hiện tượng chuyển cây chủ hay có cây chủ trung gian, hình thành 5 loại bào tử khác nhau nên gọi là gỉ sắt hoàn toàn

và thể hiện các triệu chứng khác nhau Nói chung vỏ bào tử tính (0) có chấm nhỏ nâu đen hoặc vàng, vỏ bào tử gỉ (xuân) (1) có màu trắng vàng, bảo tử hạ (II) có dạng bột vàng; bào tử đông (III) có màu hồng vỏ quýt hoặc nâu gỉ và cuối cùng là bào tử đảm (IV) Nhưng nhiều trường hợp bệnh gỉ sắt thuộc loại gỉ sắt bất toàn chỉ có giai đoạn II, III và IV hoặc chưa phát hiện được các giai đoạn ) 0.I

Sau khi cây bị bệnh gỉ sắt, chức năng sinh lý có nhiều thay đổi như tác dụng bay hơi và hô hấp tăng lên, tác dụng quang hợp giảm xuống là mất dinh dưỡng, lá rụng sơm, chồi non khô, nhiều cây có thể chết, nhất là cây con ở vườn ươm

Nơi qua đông và phương thức qua đông thường khác nhau theo đặc tính sinh vật học của loài và phân bố địa lý, nhiều bào tử đông thường phải trải qua thời kỳ ngủ nghỉ mới có thể nẩy mầm, nên chúng thường qua đông trên lá rụng, mùa xuân năm sau mới nẩy mầm thành đảm và bào tử đảm; bào tử đảm nẩy mầm trở thành nguồn sơ xâm nhiễm Cũng có loại không cần qua ngủ nghỉ, bào tử đảm xâm nhiễm vào cây chủ hoặc chồi ngủ rồi qua đông

Trang 38

Trong 5 giai đoạn của nấm gỉ sắt bào tử xuân, bào tử hạ và bảo tử đảm mới có tác dụng lây lan nhờ gió

b) Đặc điểm bệnh gỉ sắt thầu dầu

- Phân bố và tác hại

Bệnh gỉ sắt thầu dầu phân bố trên lá thầu dầu gây nên khô lá, trên mặt

lá xuất hiện các bột màu vàng Tỷ lệ bị hại lên tới trên 60% Bệnh hại nặng có thể làm cho cây chết

Hình 4.4, 4.5, 4.6: Bệnh gỉ sắt lá thầu dầu Melampsora ricini(Biv.) Pass

Trang 39

- Vật gây bệnh

Bệnh gỉ sắt thầu dầu do nấm gỉ sắt Melampsora ricini (Biv.) Pass thuộc

bộ nấm gỉ sắt, ngành nấm Đảm ( Basidiomycota) gây ra Bào tử hạ xếp thành đống đường kính khoảng 0,5-1mm Bào tử hình cầu hoặc hình trứng, vách dày, trên vách bào tử có nhiều u nhỏ, kích thước bào tử 18-32µm x 17-21µm Sợi bên dạng que, đỉnh phình lên, không màu Bào tử đông mọc ở hai mặt lá, hình dạng không có quy tắc, màu nâu hồng đến màu nâu sẫm, bào tử đông hình trụ tròn, kích thước 35-56µm x 9-15µm

-Quy luật phát bệnh

Nấm bệnh qua đông trên lá rụng hoặc chồi cây thầu dầu, năm sau khi chồi nở lá, trên lá xuất hiện bột vàng, đó là các đống bào tử hạ Bào tử hạ lại tiếp tục lây lan xâm nhiễm tiến hành tái xâm nhiễm cho đến mùa đông hình thành sợi nấm song nhân và bào tử đông Tác dụng của bào tử đông đến nay vẫn chưa rõ và cũng chưa phát hiện được cây chủ trung gian

Sự phát sinh phát triển bệnh gỉ sắt thầu dầu liên quan chặt chẽ với nhiệt

độ và đổ ẩm của vườn trồng thầu dầu Thông thường bệnh phát sinh vào tháng 3- 4 bệnh phát triển nặng vào tháng 7-8 Mức độ bị hại có quan hệ mật thiết với loài cây thầu dầu, nhất là những nơi trồng thầu dầu thuần loài, không thông thoáng gió

3) Kịp thời xới xáo đất, cuốc cỏ dại

4) Thu hái các lá bệnh cho vào túi mang ra khỏi rừng và đốt đi để tránh lây lan bào tử

Trang 40

5) Sử dụng thuốc Triadimefon, Bayleton hoặc hợp chất lưu huỳnh vôi

3oBe

6) Chú ý chọn cây chống chịu bệnh Có thể trồng các dòng xuất xứ Quảng Tây, Phúc Kiến, Sơn Đông của Trung Quốc để trồng, vừa cho năng suất cao vừa chống chịu bệnh

4) Bệnh đốm đen lá thầu dầu (Alternaria ricini (Yoshii et Takim.) Hausf )

a Phân bố và tác hại

Bệnh đốm đen lá thầu dầu phân bố trên lá và quả cây thầu dầu Bệnh bị hại thường lên tới 50-60%, lá bị khô hình thành các đốm đen và rụng xuống Những lá phía dưới bị bệnh nặng hơn lá phía trên

b Triệu chứng:

Chủ yếu gây hại trên lá và quả Trên lá bị bệnh mới đầu hình thành các đốm nâu có vân vòng đồng tâm, kích thước 2-15mm hai mặt đốm bệnh đều mọc dạng mốc màu đen, đó là cuống bào tử và bào tử phân sinh Bệnh nghiêm trọng có thể làm cho lá bị khô chết Bông quả bị bệnh làm cho chúng thối đen

Hình 4.7 4.8: Bệnh đốm đen thầu dầu và nấm Alternaria ricini

c Vật gây bệnh:

Bệnh đốm đen lá thầu dầu do nấm bào tử ngăn liền (Alternaria ricini

(Yoshii et Takim.) Hausf ) gây ra Cuống bào tử mọc chùm, một ít mọc đơn, màu nâu sẫm, đỉnh màu nhạt, gốc thô, có vách ngăn, kích thước 30-60 x 5,5-

Ngày đăng: 01/09/2017, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (1967), Côn trùng lâm nghiệp, Trường Đại học lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 1967
5. Đặng Vũ Cẩn (1973), Sâu hại rừng và cách phòng trừ, Nhà suất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: âu hại rừng và cách phòng trừ
Tác giả: Đặng Vũ Cẩn
Năm: 1973
6. Đường Hồng Dật (2010), Tổng hợp bảo vệ cây IPM, Nxb KH-XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp bảo vệ cây IPM
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nxb KH-XH
Năm: 2010
7. Đại học Nông nghiệp I (2009), Bệnh cây dại cương, ĐHNN, Hà Nội 8. Đường Hồng Đạt (2009), Sâu bệnh hại cây lương thực, NXBKH, Hà Nội 9. Bùi Xuân Đồng (2004), Nguyên lý phòng chống nấm mốc và Mycotoxin,Nxb KH-XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cây dại cương," ĐHNN, Hà Nội 8. Đường Hồng Đạt (2009), "Sâu bệnh hại cây lương thực," NXBKH, Hà Nội 9. Bùi Xuân Đồng (2004), "Nguyên lý phòng chống nấm mốc và Mycotoxin
Tác giả: Đại học Nông nghiệp I (2009), Bệnh cây dại cương, ĐHNN, Hà Nội 8. Đường Hồng Đạt (2009), Sâu bệnh hại cây lương thực, NXBKH, Hà Nội 9. Bùi Xuân Đồng
Nhà XB: NXBKH
Năm: 2004
10. Tài liệu chuyên ngành Môi trường (2010), Bài giảng môn Bệnh cây rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn Bệnh cây rừng
Tác giả: Tài liệu chuyên ngành Môi trường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2010
11. Lê Lương Tề (2004), Bệnh cây nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 12. Phạm Quang Thu (2009), Bệnh học thực vật, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cây nông nghiệp", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 12. Phạm Quang Thu (2009), "Bệnh học thực vật
Tác giả: Lê Lương Tề (2004), Bệnh cây nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 12. Phạm Quang Thu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
14. Đào Xuân Trường, Báo cáo kết quả dự án Điều tra, đánh giá sâu bệnh hại rừng trồng toàn quốc, Đề ra giải pháp phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng, Cục Kiểm lâm 2000 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả dự án Điều tra, đánh giá sâu bệnh hại rừng trồng toàn quốc, Đề ra giải pháp phòng trừ sâu bệnh hại rừng trồng
15. Nguyễn Sỹ Giao (2082), Nghiên cứu bệnh rơm lá thông ở Việt Nam, Luận văn TS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bệnh rơm lá thông ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Sỹ Giao
Năm: 2082
16. Phan Thuý Hiền (2009), Cẩm nang chẩn đoán bệnh cây ở VN, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chẩn đoán bệnh cây ở VN
Tác giả: Phan Thuý Hiền
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2009
17. Trần Công Loanh (1982), Côn trùng lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng lâm nghiệp
Tác giả: Trần Công Loanh
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1982
18. Trần Công Loanh , Nguyễn Thế Nhã (1997), Côn trùng rừng, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Tác giả: Trần Công Loanh , Nguyễn Thế Nhã
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1997
21. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2001
22. Phạm Bình Quyền và Lê Đình Thái (1972), Sinh thái học côn trùng ( Dịch từ nguyên bản tiếng Nga), Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền và Lê Đình Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 1972
23. Phạm Bình Quyền (1993), Đời sống côn trùng, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, công ty sách và thiết bị trường học thành phố Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
Năm: 1993
26.Hochmut-R;Manso-DM.(1971), Forest pests in Cuba in 1969 and 1970, Baracoa 1971, 1:1, 16-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Baracoa 1971
Tác giả: Hochmut-R;Manso-DM
Năm: 1971
30. Roovers-M. (1971 a),The life cycle of Hypsipyla grandella at Barinitas, Venezuela," Boletin,-Instituto-Forestal-Latino-Americano-de-Investigacion-y-Capacitacion". 1971 , No. 38, 3-46; 18 ref Sách, tạp chí
Tiêu đề: Boletin,-Instituto-Forestal-Latino-Americano-de-Investigacion-y-Capacitacion
41.CV Kapadia ( 2012), Defense response of resistant and susceptible genotypes of castor (Ricinus communis L.) to wiltdisease.www.tandfonline.com 2012.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ricinus communis" L.) to wilt
43.WS Mamza (2012), Castor (Ricinus communis) of the importance of the crop and the effect of fungal diseases on yield Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ricinus communis") of the importance of the crop and the effect of fungal "diseases
Tác giả: WS Mamza
Năm: 2012
44.www.rightdiagnosis.com/...ricinus communis/symptoms.htm 2013. Symptoms of Plant poisoning - Castor bean (Ricinus communis) of other causes including diseases, medical conditions Sách, tạp chí
Tiêu đề: ricinus communis/symptoms.htm" 2013. Symptoms of Plant poisoning - Castor bean ("Ricinus communis") of other causes including "diseases", medical
45.www.uniprot.org/uniprot/B9S717 Disease resistance protein RPP13, putative EMBL EEF40596.1. EC= 3.1.3.16 ... Organism, Ricinus communis (Castor bean) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ricinus communis

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm