Đánh giá về tổ chức triển khai và sinh trưởng của các loài cây trong một số mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại Quảng Trị giai đoạn 2006-2011 ..... Phát triển Khuyến lâm là một trong nhữn
Trang 1Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Trần Minh Hợi - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tác giả trong suốt thời gian qua
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ, nhân viên Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và triển khai thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã tạo điều kiện về thời gian để tác giả hoàn thành luận văn này Cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Nguyễn Kế Tiếp
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Khái niệm và một số định nghĩa về khuyến lâm 3
1.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông lâm ở trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.2.1 Lịch sử và hoạt động khuyến nông lâm trên thế giới 3
1.2.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông lâm ở Việt Nam 9
1.2.3 Hệ thống khuyến nông Quảng Trị 14
1.3 Về khuyến lâm 15
1.4 Nhận xét, đánh giá chung 17
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu của đề tài 18
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận 19
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 21
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 24
2.5.1 Phương pháp tính toán các số liệu sinh trưởng 24
2.5.2 Phân tích ma trận SWOT trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 -2011 26
Trang 3Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 27
3.1 Vị trí địa lý 27
3.2 Khí hậu 28
3.3 Tài nguyên đất đai 29
3.4 Dân số, dân tộc và sự phân bố theo địa bàn 30
3.5 Phân bố lực lượng lao động 31
3.6 Tình hình thu nhập của dân cư 32
3.7 Tập quán sản xuất, canh tác 32
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Đánh giá thực trạng triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011 33
4.1.1 Đơn vị tham gia xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011 33
4.1.2 Kinh phí xây dựng mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2011 33
4.1.3 Cơ chế tổ chức xây dựng mô hình khuyến lâm giai đoạn 2006-2011 34
4.1.4 Các mô hình khuyến lâm đã triển khai tại Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2011 40
4.2 Đánh giá kết quả các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011 40
4.2.1 Đánh giá thành phần loài và biện pháp kỹ thuật áp du ̣ng trong các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại Quảng Trị giai đoạn 2006-2011 40
4.2.2 Đánh giá về tổ chức triển khai và sinh trưởng của các loài cây trong một số mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại Quảng Trị giai đoạn 2006-2011 44
4.3 Đánh giá tác động của một số mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2011 61
Trang 44.3.1 Tác động của một số mô hình khuyến lâm đến nhận thức và nhân
rộng mô hình của người dân 61
4.3.2 Đánh giá tác động của mô hình khuyến lâm đến phát triển kinh tế - xã hội 64
4.4 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị 67
4.4.1 Điểm mạnh 67
4.4.2 Điểm yếu 68
4.4.3 Cơ hội 68
4.4.4 Thách thức 69
4.4.5 Bài học kinh nghiệm 69
4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến lâm 70
4.5.1 Nhóm các giải pháp tăng cường công tác khuyến lâm 70
4.5.2 Nhóm giải pháp phát huy hiệu quả các mô hình khuyến lâm 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
PTNT Phát triển nông thôn
UBND Ủy ban nhân dân
KNV Khuyến nông viên
OTC Ô tiêu chuẩn
TRTC Trồng rừng thâm canh
KNQG Khuyến nông Quốc gia
TTKN Trung tâm khuyến nông
Trang 64.4 Thành phần loài cây trồng trong các mô hình Khuyến lâm đã xây
dựng tại Quảng Trị giai đoạn 2006 – 2011
41
4.5 Thông tin về các mô hình điều tra đánh giá 45 4.6 Bảng so sánh kế hoạch triển khai và kết quả thực hiện mô hình 47 4.7 Hoạt động tập huấn kỹ thuật trong mô hình khuyến lâm 48 4.8 Hoạt động thông tin tuyên truyền trong mô hình khuyến lâm 51 4.9 Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng và trữ lượng của các loài
cây trồng trong mô hình khuyến lâm và mô hình trồng đại trà
53
4.10 Nhận thức của người dân khi có mô hình khuyến lâm 61 4.11 Bảng số liệu nhân rộng mô hình khuyến lâm 63
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
4.1 Hệ thống chuyển giao theo kênh khuyến lâm ở Quảng Trị 46 4.2 Tập huấn kỹ thuật tại hiện trường cho các hộ dân tại xã Triệu
Vân – huyện Triệu Phong
50
4.3 Các hộ dân thăm quan mô hình Keo lá liềm tuổi 2 50
4.5 Mô hình khuyến lâm Loài cây: Keo lá liềm 2 tuổi 56 4.6 Mô hình đại trà Loà i cây: Keo lá liềm 2 tuổi 56
4.8 MH đại trà không được chăm sóc, bón phân 57 4.9 Mô hình khuyến lâm Loài cây: Mây nếp 4 tuổi 57 4.10 Mô hình đại trà Loài cây: Mây nếp 4 tuổi 57
4.13 Mô hình khuyến lâm Loài cây: Bời lời 3 tuổi 60 4.14 Mô hình đại trà Loài cây: Bời Lời 3 tuổi 60 4.1 Tổng trữ lượng trung bình của mô hình keo lá liềm tuổi 5 54 4.2 Tăng trưởng trữ lượng bình quân hàng năm của mô hình keo lá
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện tại ở nước ta có gần 100 triệu dân, trong đó 25 triệu dân và 6 triệu hộ gia đình sống tại vùng miền núi Các xã nghèo miền núi có diện tích chiếm khoảng
50 % tổng diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó 66 % là rừng và đất rừng Người dân và các cộng đồng ở miền núi chủ yếu sống phụ thuộc vào rừng Họ chủ yếu là các dân tộc thiểu số và có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trong cả nước
Đứng trước thách thức lớn về biến đổi khí hậu, vai trò của ngành lâm nghiệp
ở nước ta ngày càng được đề cao, không ngừng hướng đến sản xuất bền vững Các chương trình phát triển nông thôn miền núi, phát triển ngành lâm nghiệp đã và đang được nhà nước đầu tư nhằm thu hút người dân và các tổ chức tham gia vào phát triển lâm nghiệp, do vậy việc đẩy mạnh hoạt động khuyến lâm ở Việt Nam ngày
càng trở nên quan trọng
Phát triển Khuyến lâm là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007 là:
- Nâng cao trình độ chuyên môn về quản lý, bảo vệ rừng cho 80% hộ nông dân;
- Thu hút 50% thành phần kinh tế khu vực tư nhân và các tổ chức đoàn thể tham gia các hoạt động khuyến lâm;
- Bố trí ít nhất một cán bộ khuyến lâm chuyên trách hoặc kiểm lâm cho mỗi
xã nhiều rừng và tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến lâm tự nguyện;
- Cải tiến và cập nhật nội dung, phương pháp khuyến lâm để phù hợp với trình độ của nông dân, đặc biệt hộ nghèo và dân tộc ít người;
- Xây dựng mối liên kết giữa hệ thống khuyến lâm và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản
Từ những nhiệm vụ trong Chiến lược Phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006
-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án phát triển khuyến lâm giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu trung
hạn là: Phát triển nguồn nhân lực cho đội ngũ làm công tác khuyến lâm từ trung
ương đến thôn bản, ưu tiên cho khuyến lâm cơ sở; thúc đẩy quá trình chuyển giao
Trang 9các kết quả nghiên cứu cho nông dân; Tăng cường đào tạo, huấn luyện và nâng cao nhận thức cho các chủ rừng; Phát triển tổ chức và tăng cường xã hội hoá công tác khuyến lâm
Trong những năm qua, Nhà nước có nhiều chính sách phát triển kinh tế xã hội, có liên quan đến phát triển lâm nghiệp như các chương trình 327, 661, 135,
134, 30a,… với mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi, thông qua nhiều phương pháp tiếp cận chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật khác nhau, trong đó nhiều mô hình khuyến lâm đã được triển khai xây dựng ở các địa phương Kinh phí cho hoạt độn
g khuyến lâm ngày càng tăng, tính từ 2006 - 2011 đã có trên 98 tỷ đồng từ kinh phí khuyến lâm Trung ương được đầu tư triển khai cho các mô hình khuyến lâm tại địa phương, trong đó tỉnh Quảng Trị được đầu tư với kinh phí khoảng trên 1,8 tỷ đồng cho các mô hình khuyến lâm Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu đánh giá nào một cách có hệ thống và đầy đủ về các mô hình khuyến lâm đã được xây dựng cũng như những tác động của nó, những khó khăn, bất cập trong quá trình chuyển giao là gì? Qua đó, cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin đầu đủ, khách quan để hoạch định những chính sách, kế hoạch khuyến lâm phù hợp cho giai đoạn tiếp theo
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Đánh giá kết quả và tác động của một số
mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2011” được thực hiện là
cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và một số định nghĩa về khuyến lâm
- Khuyến lâm là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn
- Khuyến lâm là một quá trình chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng và những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân để họ có đủ khả năng quản lý và bảo vệ được nguồn tài nguyên rừng tại cộng đồng
- Khuyến lâm là cách giáo dục ngoài học đường cho nông dân Là quá trình vận động, quảng bá, khuyến cáo, cho nông dân theo nguyên tắc tự nguyện, không
áp đặt; đồng thời đó là quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng một cách dần dần và
tự giác của nông dân
1.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông lâm ở trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Lịch sử và hoạt động khuyến nông lâm trên thế giới
1.2.1.1 Anh
Ngày 01 Tháng Chín năm 1919, Luật Lâm nghiệp đã có hiệu lực và Ủy ban Lâm nghiệp (Khuyến lâm) được thành lập, chịu trách nhiệm về rừng ở Anh, Scotland, Wales và Ireland Toàn bộ tổ chức thành mười phòng với 29 nhân viên cấp trung ương và cấp huyện và 110 kiêm lâm viên
Sau 10 năm đã có 152 khu rừng được quản lý với diện tích khoảng 600.000 mẫu Anh và hơn 138,000 mẫu Anh đã được trồng
Năm 1939, Ủy ban Lâm nghiệp tách thành Cục Kiểm lâm, và Cục Khuyến lâm Sau 90 năm hệ thống khuyến lâm được thành lập, hoạt động khuyến lâm đã góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng của toàn nước Anh lên 5%, hiện có khoảng 2.982.000 ha, chiếm 13% diện tích đất của nước Anh (dẫn theo Forestry Commission [16])
Trang 111.2.1.2 Nhật Bản
Hoạt động khuyến nông lâm của Nhật Bản được hình thành và đi vào hoạt động từ những năm 1900 Lúc đầu khuyến nông lâm được thực hiện bởi các trường học và các trang trại của chính phủ thông qua việc tiến hành thử nghiệm và đưa các công nghệ mới vào sản xuất Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, lâm nghiệp hoạt động khuyến nông lâm ở Nhật đã được chính thức hóa bằng pháp luật và đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm được xây dựng và củng cố Các giai đoạn tiếp theo, do sự cải cách hệ thống xã hội, nông dân đã buộc phải áp dụng các hướng dẫn
kỹ thuật và kiến nghị của cán bộ khuyến nông lâm - được gọi là "Khuyến nông bắt buộc" Đến năm 1948, dịch vụ khuyến nông chính thức được khôi phục tại Nhật Bản với tên gọi là “Dịch vụ Khuyến nông Hợp tác xã” và phát triển đến nay
Dịch vụ khuyến nông tại Nhật Bản có ba vai trò chính: (1) là để cải thiện kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp, (2) là cải thiện các tiêu chuẩn sống của cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn và (3) là giáo dục thế hệ trẻ ở nông thôn
Hệ thống tổ chức: Bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Thủy sản (MAFF) theo
Hà Thanh Tùng (2010) [13] là cơ quan giúp Chính phủ Nhật bản thực hiện dịch vụ khuyến nông lâm trên phạm vi toàn quốc Đội ngũ cán bộ khuyến nông lâm của Nhật Bản hiện nay có khoảng 10.000 người, Đội ngũ cán bộ này làm việc như các chuyến gia cố vấn và được phân bổ chủ yếu ở 47 cơ quan khuyến nông cấp tỉnh và 630
cơ quan khuyến nông lâm cấp huyện Mỗi tỉnh có một trung tâm đào tạo nông dân
1.2.1.3 Mỹ
Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm nước Mỹ được hình thành từ năm 1843 theo tác giả Alfred Charles True (1928) [15] viết trong cuốn Lịch sử khuyến nông
Trang 12nước Mỹ Khởi đầu tại NewYork nhà nước cấp kinh phí cho Hội đồng bang thuê những nhà khoa học nông nghiệp có kỹ năng thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông lâm nghiệp cho nông dân
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Chính phủ Mỹ đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông lâm trong trường đại học Năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông lâm đại học Đến năm 1907 ở
Mỹ đã có 42 trường/39 bang có đào tạo khuyến nông lâm Năm 1910 có 35 trường
có bộ môn khuyến nông, khuyến lâm
Năm 1914, Mỹ ban hành luật khuyến nông lâm và thành lập Hệ thống khuyến nông khuyến lâm quốc gia Giai đoạn này đã có 8861 Hội nông dân, với khoảng 3.050.150 hội viên
1.2.1.4 Ấn Độ
Hội khuyến nông Ấn độ được thành lập năm 1820 (William Carey khởi sướng) và đề xuất cải tiến ngành Nông nghiệp Cục Lâm nghiệp Hoàng gia được thành lập ở Ấn Độ vào năm 1864 Lâm luật được thông qua năm 1865, lúc đó Luật này chỉ đơn giản là thiết lập ranh giới chủ rừng, đến 1878 nó được bổ sung và hoàn thiện Hệ thống khuyến nông lâm Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm
1960 Trong những năm 1970, Ấn Độ tuyên bố chiến lược dài hạn cho phát triển lâm nghiệp với mục tiêu: giảm xói mòn đất và lũ lụt, cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của các sản phẩm ngành công nghiệp gỗ trong nước và cung cấp các nhu cầu chất đốt của của dân cư nông thôn, gỗ nhỏ, rừng sản xuất Ủy ban Quốc gia về Lâm nghiệp được thành lập năm 1976, các sở lâm nghiệp được tổ chức lại Thành lập Ủy ban lâm nghiệp xã hội, với mục tiêu thúc đẩy các hoạt động lâm nghiệp truyền thống và phát triển rừng cộng đồng thông qua các hoạt động của cơ quan lâm nghiệp cộng đồng chịu trách nhiệm các trang trại lâm nghiệp, quản lý gỗ, khuyến lâm, trồng rừng
Trong những năm 1980, lâm nghiệp xã hội được khuyến khích bởi các cơ quan lâm nghiệp cộng đồng Chính sách lâm nghiệp quốc gia được phê duyệt năm
Trang 131988 một trong những chính sách đó là Chương trình quản lý rừng, trong đó gắn trách nhiệm cụ thể cho Bộ Lâm nghiệp, từ quản lý các lô rừng cụ thể Đặc biệt, việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của người dân Đến năm 1992, mười bảy tiểu bang của
Ấn Độ tham gia vào quản lý rừng Năm 2006, Luật chủ rừng được ban hành (dẫn theo [18])
Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc quyết định áp dụng những chính sách tập trung hỗ trợ nông nghiệp sản xuất sản phẩm chất lượng cao Các chương trình khuyến nông lâm chuyển giao giống cây rừng, lúa lai chất lượng cao
Hai mươi năm gần đây, Nhà nước Trung Quốc đã đầu tư đồng bộ cả về hệ thống tổ chức, cơ sở thiết bị nghiên cứu cho khuyến nông khuyến lâm, nhờ vậy điều kiện làm việc và mức sống của khuyến nông lâm viên được nâng cao
Tác giả Phạm Kim Oanh (2004) [10] cho biết tính đến hết năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc, đã có tới hơn 48.500 tổ chức khuyến nông khuyến lâm, với hơn 317 nghìn khuyến nông - khuyến lâm viên (từ trung ương tới tỉnh, huyện xã
và làng bản) Khuyến nông lâm viên phối hợp hoạt động cùng khoảng 400 nghìn tổ chức nông dân (chiếm 20% số làng ở Trung Quốc) với hơn một triệu nông dân là kỹ thuật viên và với 6,6 triệu mô hình trình diễn của nông dân
1.2.1.6 Cămpuchia
Công tác khuyến nông lâm của Campuchia do Cục Khuyến nông (DAE) thuộc Tổng cục Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (MAFF) đảm nhiệm DAE có chức năng quản lý nhà nước về khuyến nông, phát
Trang 14triển hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến cấp huyện, phù hợp với nhu cầu của Campuchia Một mục tiêu chiến lược trong phát triển khuyến nông là xây dựng một
hệ thống khuyến nông tới các xã và thôn bản DAE triển khai, thúc đẩy và điều phối các hoạt động khuyến nông thông qua các bộ phận kỹ thuật và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu, cơ quan cấp tỉnh, phi chính phủ và khu vực tư nhân với mục tiêu là lợi ích tốt nhất của các nhà sản xuất, người nông dân Hoạt động khuyến nông lâm tại Campuchia sử dụng phương pháp tiếp cận phát triển hệ thống canh tác qui mô trang trại, đào tạo và khuyến nông có sự tham gia và cách tiếp cận mở rộng Trong đó tập trung vào (i) Lập kế hoạch và đánh giá có sự tham gia, (ii) Phát triển công nghệ có
sự tham gia; (iii) Đào tạo và mở rộng; (iv) Phát triển mở rộng và phổ biến tài liệu; (v) Phát triển các tổ chức nông dân (dẫn theo [11])
1.2.1.7 Inđônêsia
Là một nước có nền nông nghiệp tương đối phát triển trong khu vực Trung tâm khuyến lâm (thuộc Bộ Lâm nghiệp) quản lý các vấn đề liên quan đến hoạt động khuyến lâm từ các dịch vụ đến phát triển lâm nghiệp bền vững Theo tác giả Nur Hidayat (2009) [17], hiện nay Inđônêsia có trên 30.000 cán bộ khuyến nông, trong
đó có trên 5.200 khuyến lâm viên
1.2.1.8 Malaysia
Khi nghiên cứu về hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia, tác giả Hà Thanh Tùng (2011)[14] cho biết hình thức triển khai hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia được tổ chức dưới dạng dự án theo các chuyên ngành và khu vực riêng theo hình thức tư vấn cho trưởng làng/bản hoặc người đứng đầu doanh nghiệp
Mở các lớp tập huấn cũng được chú trọng trong hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia với các khóa tập huấn mang tính quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và theo từng chuyên đề Hình thức tập huấn chủ yếu là "đạo tạo tại hiện trường" và
"cầm tay chỉ việc" Về nội dung hoạt động khuyến nông lâm của Malaysia tập trung vào tuyên truyền, giáo dục và đào tạo các kỹ thuật liên quan đến giấp chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm như GAP, GMP, truy xuất nguồn gốc, và trang trại hữu cơ
Trang 151.2.1.9 Myanmar
Là đất nước nông nghiệp đóng góp 45,1% GDP, hoạt động khuyến nông lâm được xem là giải pháp hàng đầu để phát triển nông lâm nghiệp bền vững Các hoạt động chủ yếu ở nước này là xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn, và thông tin tuyên truyền Tại Mi-an-ma đặc biệt quan tâm hệ thống nhóm 10 hộ nông dân, trong
đó có 1 nhóm trưởng thường xuyên liên hệ với cán bộ khuyến nông và chuyên gia
Hệ thống tổ chức khuyến nông lâm của Mi-a-ma được tổ chức ở Trung ương và 5 trung tâm ở 5 vùng lãnh thổ, các cán bộ khuyến nông lâm chủ yếu trực thuộc 5 trung tâm vùng này Các hoạt động xây dựng mô hình, tập huấn cũng được tổ chức tại các trung tâm vùng (dẫn theo [7])
1.2.1.10 Philippin
Hệ thống khuyến nông khuyến lâm được thành lập năm 1976 Hoạt động khuyến nông lâm của Phi-lip-pin do Viện đào tạo nông nghiệp trực thuộc Cục Nông nghiệp đảm nhiệm và triển khai các hoạt động về khuyến nông khuyến lâm Tại các vùng có 17 trung tâm đào tạo, không tổ chức theo địa danh hành chính Hoạt động khuyến nông của Philippin được gọi là “khuyến nông điện tử” theo nhận xét của Hà Thanh Tùng (2011) [7] Với hình thức chuyển tải thông tin và chuyển giao công nghệ chủ yếu thông qua các phương tiện điện tử như Internet, đài, báo điện tử, truyền hình, băng video và cát-sét Hầu hết các nội dung hoạt động khuyến nông lâm đều tập trung vào sản xuất nông lâm nghiệp hữu cơ, giảm thiểu biến đổi khí hậu
và phát triển sinh kế bền vững Chính phủ chi phí xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, băng đĩa hình, internet phục vụ khuyến nông Trong xây dựng mô hình, Chính phủ chỉ hỗ trợ 50% chi phí giống, Cán bộ khuyến lâm của Philippin chủ yếu được đào tạo từ Trường Đại học Los Banõs
1.2.1.11 Lào
Lào có mô hình khuyến lâm tương tự như mô hình khuyến lâm của Việt Nam Mọi hoạt động khuyến lâm của Lào được điều hành bởi bộ Lâm nghiệp Lào Cán bộ khuyến lâm của Lào được đào tạo chủ yếu tại khoa Lâm nghiệp trường Đại học quốc gia Viêng Chăn (dẫn theo [2]), các cán bộ cấp cao đều được sự hỗ trợ đào
Trang 16tạo tại Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt nam
1.2.1.12 Thái Lan
Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông lâm khá tiêu biểu Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967
Hiện Thái lan có 3 tổ chức chính hoạt động có liên quan đế khuyến lâm, đó là Cục lâm nghiệp Hoàng gia, Hội nông dân, Hội phát triển cộng đồng Hoạt động khuyến lâm được thực hiện và chỉ đạo bởi các Phòng lâm nghiệp Quốc gia, bao gồm 21 cơ quan cấp vùng và 72 cơ quan cấp tỉnh (dẫn theo [9])
Cán bộ khuyến lâm của Thái lan chủ yếu được đào tạo từ Trường Đại học Kasetsart và Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng RECOFTC
1.2.2 Lịch sử và hoạt động khuyến nông lâm ở Việt Nam
"tịch điền", làm lễ trừ sâu, lễ tế côn trùng, xem gặt lúa, Đều nói lên sự quan tâm thường trực của nhà nước phong kiến đối với việc phát triển nông nghiệp Có thể nói, chính sách khuyến nông chính là một trong những chuẩn mực cơ bản để đánh giá năng lực và sự thịnh suy của các triều đại phong kiến Việt Nam
- Theo Cổng thông tin điển tử tỉnh Hà Nam (dẫn theo [7]) và tác giả Đào Xuân Ánh (2008) [1] khẳng định năm 987, Lê Hoàn là ông vua đầu tiên dưới chế độ
Trang 17phong kiến Việt Nam tiến hành lễ cày tịch điền, nhằm mục đích khuyến khích sản xuất nông nghiệp Ruộng tịch điền thuộc quyền quản lý trực tiếp của triều đình, giống lúa cấy trên ruộng được chọn để cho loại gạo ngon dùng vào việc tế lễ, đặc biệt là tế thần nông và thần xã tắc Cày tịch điền dưới thời phong kiến là một trong những biện pháp khuyến nông
- Ở thời kỳ nhà Trần (1226) lập ra các chức quan để trong coi việc phát triển nông nghiệp như: Hà đê sứ, đồn điền sứ, khuyến nông sứ, Nhờ đó nông nghiệp Việt Nam lúc bấy giờ phát triển tương đối mạnh, có thể nói là thời kỳ hưng thịnh của nông nghiệp Việt Nam lúc đó (dẫn theo Vũ Thị Lan (2007) [9])
- Năm 1475, bên cạnh cải tổ cơ chế Nhà nước, Lê Thánh Tông đặc biệt chú ý các biện pháp phát triển kinh tế, sửa đổi chế độ thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, mở đồn điền, khai khẩn đất hoang Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển đất nước của Lê Thánh Tông đã được phản ánh khá rõ qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế, Cùng năm, ông đặt ra chức quan Hà đê để trông coi đê điều và chức quan Khuyến nông để đôn đốc nhân dân việc cày cấy
- Năm 1789 vua Quang Trung ban bố "chiếu khuyến nông" với những nội dung rất cụ thể như kêu gọi nhân dân tích cực sản xuất, không được bỏ ruộng hoang, người đi phiêu tán phải trở về quê cũ,… Điểm độc đáo trong chính sách kinh
tế của Quang Trung là "trọng nông" nhưng không "ức thương" Sau 3 năm có "chiếu khuyến nông", ruộng bỏ hoang đã được phục hoá, mùa màng bội thu, nông nghiệp được phục hồi và nông dân an cư lạc nghiệp (dẫn theo [3])
- Vua Gia Long (1802 – 1820), sau khi thống nhất đất nước, đã sửa sang việc triều chính, định binh chế, quan chế, tài chính, đinh điền nông nghiệp, công vụ, pháp luật, học hành, ngoại giao,… Gia Long là một vị vua coi trọng khá toàn diện đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn Ông đã khoan thư sức dân (giảm thuế); giữ gìn và mở rộng diện tích, cải tạo đất canh tác nông nghiệp (cấm bán công điền, công thổ; đào sông, thuỷ lợi, trị thuỷ, khai hoang phục hoá); có chiến lược an ninh lương thực (lập kho dự trữ để cấp phát cho dân khi mất mùa, đói kém),…
Trang 18Từ 1820 - 1840, triều đại của Minh Mạng, năm 1821, dựng lại Quốc Tử Giám, mở thi hội và thi đình Thực thi các chính sách khuyến nông, tìm hiểu kỹ thuật đóng tàu của châu Âu
- Tác giả Lê Sỹ Trung (2010) (dẫn theo [12]) cho biết vào tháng 4 năm
1945, Hồ Chủ Tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã căn dặn: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”
- Năm 1955-1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu
“Người cày có ruộng” Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp nước ta Chúng ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ,…, 106.448 trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và nhân dân lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc) Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất
- Năm 1960 ở miền Bắc thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX) bậc thấp, năm 1968 HTX bậc cao, năm 1974 HTX toàn xã Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã giúp cho Đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước
Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX Phương pháp khuyến nông chủ yếu đưa TBKT vào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng -Thái Bình
- Dưới chế độ Sài Gòn cũ (1960) có nha khuyến nông chuyên lo phát triển nông nghiệp, phát triển nông thôn
- Từ năm 1964-1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yếu do chiến tranh Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miềm Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Mặt khác sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một
Trang 19thực tế bất cập mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản suất
- Trước thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1981, Chỉ thị 100 của Ban CHTW Đảng: “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”, còn gọi là “Khoán 100” được ra đời Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” Đảng ta xem xét rút kinh nghiệm: “Khoán 100”
có nhiều ưu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Trên đồng ruộng, ao hồ, chuồng trại chăn nuôi người nông dân chưa có thể chủ động sản xuất kinh doanh vì những khâu then chốt như giống, phân bón nông dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX Có nhiều hộ nông dân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo do bởi nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn; do gặp rủi ro trong cuộc sống; do trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ sản nhiều vụ, nhiều năm,… Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ chính trị Ban CHTW Đảng khóa V ra Nghị quyết 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là
“Khoán 10” Nghị quyết 10 được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp Ruộng đất giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông nghiệp, 50 năm đối với đất lâm nghiệp Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập thể tự cung tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại Người nông dân chủ động sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước Nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh
- Năm 1992, Để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông trên toàn quốc,
Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối Khuyến nông” Do nhu cầu bức xúc từ thực tế sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/NĐ-CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư
1.2.2.2 Sau năm 1993
Ngày 02 tháng 3 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/NĐ-CP về công tác khuyến nông (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) Hệ thống khuyến nông -
Trang 20khuyến ngư Việt Nam chính thức hình thành Ở Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục Khuyến nông - Khuyến lâm vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước vừa làm nhiệm vụ khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Việc một đơn vị đồng thời làm nhiệm vụ quản lý nhà nước và dịch vụ công tỏ ra nhiều bất cập Chính vì vậy, ngày
18 tháng 7 năm 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 86/NĐ-CP, cho phép tách Cục Khuyến nông - Khuyến lâm thành hai đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT
là Cục Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Đến năm 2007, trên cơ sở Chính phủ hợp nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT với
Bộ Thuỷ sản thành Bộ Nông nghiệp và PTNT và theo Nghị định số 01/2008/NĐ-CP, ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho phép thành lập Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia trên cơ sở hợp nhất giữa Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-BNN-TCCB ngày 28/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia thực hiện theo Quyết định số 43/2008/QĐ-BNN ngày 11/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về Khuyến nông quy định tổ chức khuyến nông Trung ương đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với tên gọi là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Ngày 28/6/2010, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có Quyết định số 1816/QĐ-BNN-TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp, có các nhiệm vụ chủ yếu là tham gia đề xuất và ban hành các chính sách, cơ chế về khuyến nông, khuyến ngư; các định mức kinh tế-kỹ thuật; chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thông qua xây dựng mô hình trình diễn, thông tin tuyên truyền, huấn luyện đào tạo, công tác dịch vụ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khuyến nông, khuyến ngư
Trang 21Tính đến tháng 11/2010 có 33.260 cán bộ khuyến nông, trong đó có 5.638 cán bộ có trình độ đại học, chiếm 16,7%
Hệ thống khuyến nông ở địa phương được tổ chức thành 4 cấp: Tỉnh - Huyện
- Xã và Thôn bản:
Ở cấp tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan quản lý nhà nước về khuyến nông Sau 15 năm hoạt động, 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập Trung tâm Khuyến nông, Khuyến ngư tỉnh với tổng số 2.754 người
Ở cấp huyện: hiện nay, hầu hết các huyện trên cả nước có Trạm Khuyến nông huyện trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh hoặc UBND huyện với tổng số 4.600 người
Ở cấp xã: Đa số các xã có cán bộ khuyến nông xã với tổng số 10.543 người
Ở cấp thôn, bản: Hiện cả nước có 15.749 khuyến nông viên thôn, bản Một
số tỉnh có lực lượng khuyến nông viên thôn, bản tương đối đầy đủ như Hà Giang, Quảng Trị, Sơn La, Lai Châu
1.2.3 Hệ thống khuyến nông Quảng Trị
1.2.3.1 Cấp tỉnh
Trung tâm khuyến nông trực thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn,
cơ cấu tổ chức gồm: Ban giám đốc, 3 phòng chuyên môn: Kỹ thuật – chuyển giao công nghệ; kế hoạch – tổng hợp; Thông tin tuyên truyền – Đào tạo huấn luyện – Thị trường, 9 trạm khuyến nông – khuyến ngư các huyện, thị, thành phố trực thuộc Hiện tại có 48/57 cán bộ biên chế Về trình độ : cán bộ có trình độ trên đại học 6 người, đại học 48 người, trung cấp 1 người, kỹ thuật viện lái xe 2 người Về chuyên môn: Trồng trọt 16 người, Chăn nuôi thú y: 11 nguời, Lâm nghiệp 8 người, Khuyến nông và PTNT 01 người, Nuôi trồng thủy sản 10 người, Khai thác thủy sản 2 người, Chế biến thủy sản 1 người, kinh tế 3 người, sinh vật cảnh 2 người, còn lại là khác
1.2.3.2 Cấp huyện
Quảng Trị có 9 trạm khuyến nông – khuyến ngư: Vĩnh Linh, Gio Linh, Hướng Hóa, Đakrông, Cam Lộ, TP Đông Hà, Triệu Phong, TX Quảng Trị, Hải
Trang 22Lăng Tổng số 34/57 cán bộ, trong đó: Trong biên chế 27 người, hợp đồng 7 người
Về trình độ: Trên đại học 1 người (2,9%), Đại học 33 người (chiếm 97,1%) Về chuyên môn: Trồng trọt 10 người (chiếm 29,4%), Chăn nuôi – Thú y 8 người (chiếm 23,5%), Lâm nghiệp 7 người (chiếm 20,6%), Thuỷ sản 7 người (chiếm 20,6%), sinh vật cảnh 2 người (chiếm 5,9%)
1.2.3.3 Cấp xã
Toàn tỉnh có 186 cán bộ khuyến nông cơ sở, đảm bảo 1 xã, phường có 1 cán
bộ KNV cơ sở, các xã vùng biên giới, vùng khó khăn có 2 cán bộ KNV cơ sở Về trình độ: Đại học 35 người (chiếm 18,8%), Cao đẳng 10 người (chiếm 5,4%), Trung cấp 108 người (chiếm 58,1%), khác 33 người (17,7%)
Đối với cộng tác viên khuyến nông thôn bản: có 1077 người Về trình độ: có
135 người có trình độ từ trung cấp trở lên (chiếm 12,5%), 942 người có trình độ sơ cấp và tốt nghiệp THPT (chiếm 87,5%) (dẫn theo trung tâm khuyến nông Quảng Trị [15])
1.3 Về khuyến lâm
Từ năm 1993 - 1995, ở Trung ương bộ phận khuyến lâm được thành lập thuộc Vụ Lâm sinh thuộc Bộ Lâm nghiệp, từ năm 1996 đến năm 2000 thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Khuyến nông khuyến lâm Từ năm 2001 đến năm 2004 thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Cục Phát triển lâm nghiệp (dẫn theo [6]), từ năm 2005 đến năm 2010 thành lập phòng Khuyến lâm thuộc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Ở địa phương: trong 63 tỉnh thành, chỉ có một số tỉnh thành lập phòng Khuyến lâm trực thuộc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Mỗi Trung tâm chỉ có từ 1-2 cán bộ được đào tạo lâm nghiệp trong tổng số 20-25 cán bộ khuyến nông
Theo số liệu báo cáo ở trung ương chỉ có 4 người/73 người, cấp tỉnh có 96/1431 người, cấp huyện 295/2813 người, khuyến nông viên xã 1.942/15.362 người được đào tạo về lâm nghiệp Xét về mặt số lượng cán bộ khuyến lâm chỉ chiếm khoảng 10% tổng số cán bộ khuyến nông chuyên trách Do vậy hệ thống khuyến lâm vừa thiếu về số lượng và yếu về chất lượng do cán bộ khuyến lâm đa
Trang 23phần được được đào tạo sâu về chuyên ngành, thiếu kiến thức liên ngành và các kiến thức khuyến lâm cơ bản
Kinh phí hoạt động cho hoạt động khuyến lâm nằm trong kinh phí cấp theo các chương trình khuyến nông được phê duyệt
Giai đoạn 1993-2005: khi mới thành lập (1993) đã được Chính phủ đầu tư hỗ trợ 1,268 tỷ đồng, con số này tăng lên 97,8 tỷ (2005), bình quân năm sau tăng hơn năm trước 8,04 tỷ đồng tương đương trên 12% Tính đến năm 2005, kinh phí hỗ trợ cho hoạt động khuến nông là 542,931 tỷ đồng trong đó kinh phí hỗ trợ cho hoạt động khuyến lâm là 66,6 tỉ đồng (chiếm khoảng 12,6%) Đã triển khai trên tổng diện tích xây dựng mô hình là 19.940 ha với 20.804 hộ tham gia Nổi bật là một số chương trình như: Chương trình trồng tre lấy măng; Chương trình trồng cây nguyên liệu; Chương trình trồng cây đặc sản (dẫn theo [4])
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011)[5] cho biết trong 5 năm (2006-2011), chương trình khuyến lâm đã triển khai ở 55 tỉnh, với 51.575 hộ tham gia mô hình, tổng kinh phí: 76 tỷ đồng trên tổng số 843,880 tỷ đồng cấp cho toàn bộ hoạt động khuyến nông (chiếm 9%), với một số chương trình như: Trồng rừng thâm canh cây nguyên liệu; trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn; trồng rừng thâm canh cây lâm sản ngoài gỗ; và chương trình tập huấn nghiệp vụ khuyến lâm cho cán
bộ kiểm lâm
Trong nhiều năm qua, việc quản lý kinh phí khuyến lâm ở Trung ương còn phân tán với nhiều đầu mối thực hiện, như: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối, Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Trồng trọt, Cục Chăn nuôi Kinh phí khuyến lâm bao gồm nhiều hạng mục, có sự khác biệt giữa các vùng, miền Các vùng miền núi và vùng đặc biệt khó khăn được ưu tiên hỗ trợ 60% chi phí giống, 40% chi phí vật tư, trong khi vùng đồng bằng chỉ được hỗ trợ tương ứng là 40% và 20% trong xây dựng mô hình [5]
Các địa phương đều quan tâm và có chính sách đối với khuyến nông, khuyến lâm viên cơ sở, tuy nhiên việc áp dụng chế độ chính sách chưa có sự thống nhất, và chủ yếu do tuỳ thuộc vào nguồn kinh phí của từng địa phương
Trang 24và đảm bảo đời sống cho người dân, phát triển lâm nghiệp và nhất là hạn chế sự nóng lên của trái đất
Ở Việt Nam, công tác khuyến nông lâm cũng rất được chú trọng, ngay từ thời các vua chúa phong kiến công tác này đã đặc biệt được coi trọng trong việc phát triển nông lâm nghiệp Những giai đoạn sau đó, trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử nhưng công tác khuyến nông lâm vẫn luôn được ưu tiên phát triển
để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp Nhiều bộ phận chuyên trách như: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia; hệ thống các trung tâm khuyến nông thuộc các tỉnh, huyện, xã được thành lập với đội ngũ cán bộ khuyến lâm đông đảo Khuyến lâm là một nội dung quan trọng trong công tác khuyến nông đặc biệt đối với nước ta có tới 3/4 diện tích là đồi núi, đời sống người dân phụ thuộc rất lớn vào rừng Xuất phát từ thực tế đó, nhiều mô hình khuyến lâm đã được triển khai thực hiện trong phạm vi cả nước với mục tiêu cải thiện sinh kế cho cộng đồng, xóa đói giảm nghèo và phát triển rừng bền vững.Hằng năm, chính phủ đầu tư nhiều
tỷ đồng cho công tác khuyến lâm từ
trung ương tới địa phương Vậy có phải tất cả các mô hình khuyến lâm đều mang lại hiệu quả tốt? Những bất cập trong quá trình chuyển giao những mô hình khuyến lâm này là gì?,… Việc trả lời những câu hỏi này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển khuyến lâm trong giai đoạn tiếp theo Xuất phát từ thực tiễn
đó, đề tài được thực hiện là rất cần thiết
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được kết quả và tác động của một số mô hình khuyến lâm do địa phương thực hiện tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 – 2011 và đề xuất được một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị
+ Đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng mô hình khuyến lâm từ đó có thể áp dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, làm cơ sở để nhân rộng
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các mô hình khuyến lâm xây dựng tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2011
* Giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
+ Phần đánh giá các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giới hạn chủ yếu
về đánh giá tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng của cây trồng trong các mô hình;
+ Hiệu quả các mô hình: giới hạn trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế; hiệu quả môi trường giới hạn trong việc phân tích sự tăng lên của diện tích rừng trồng và
Trang 26độ che phủ rừng; hiệu quả xã hội giới hạn trong việc tạo công ăn, việc làm và nâng cao nhận thức của người dân địa phương
- Giới hạn về các mô hình khuyến lâm:
Giới hạn trong giai đoạn 2006-2011 do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng trị xây dựng và thực hiện:
- Giới hạn về địa điểm đánh giá các mô hình:
Nghiên cứu được thực hiện tại 5 huyện của tỉnh Quảng Trị là Vĩnh Linh, Đakrông, Cam Lộc, Hải Lăng và Triệu Phong
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài đặt ra các nội dung sau:
- Đánh giá thực trạng tổ chức triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 -2011
- Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị đã xây dựng giai đoạn 2006-2011
- Đánh giá tác động của các mô hình khuyến lâm do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị xây dựng giai đoạn 2006-2011
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm xây dựng tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn
2006 - 2011
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng mô hình khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận
Hoạt động khuyến lâm là rất cần thiết, đặc biệt đối với một quốc gia có 3/4 diện tích là đồi núi và một bộ phận không nhỏ dân cư sống phụ thuộc vào rừng như nước ta Tuy nhiên, hiệu quả của một mô hình khuyến lâm được đưa ra phụ thuộc rất nhiều yếu tố, nhiều mô hình khuyến lâm đưa ra được hưởng ứng rất nhiệt tình của người dân nhưng cũng có những mô hình tỏ ra không phù hợp Nguyên nhân không thành công có thể do chất lượng của mô hình mang lại hiệu quả kinh tế kém,
Trang 27do khâu tổ chức thực hiện, do công tác tuyên truyền chưa được thực hiện tốt hoặc
do ý thức của người tham gia mô hình,… Như vậy, khi đánh giá các mô hình khuyến lâm cần phải đánh giá trên quan điểm toàn diện, tổng hợp các yếu tố và đối tượng có liên quan Để làm được điều này thì cách tiếp cận điều tra từ trên xuống và đánh giá từ dưới lên được thực hiện trong đề tài Do thời gian nghiên cứu và kinh phí có hạn nên quan điểm kế thừa các công trình nghiên cứu có liên quan và tiến hành điều tra bổ xung những nội dung còn thiếu được thực hiện xuyên suốt trong đề tài
Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài được thể hiện thông qua sơ đồ 2.1
Hình 2.1 Các bước nghiên cứu của đề tài
Thu thập các số liệu, tài
liệu có liên quan tới nghiên
cứu
Thực trạng xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011
Đánh giá các mô hình khuyến lâm tại Quảng Trị, giai đoạn
2006-2011
Đánh giá kết quả của một
số mô hình khuyến lâm tại
Trang 282.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu trên, đề tài kế thừa các nguồn thông tin, số liệu sau:
- Số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị
- Các thông tin, tài liệu, báo cáo, nghiệm thu có liên quan tới tình hình thực hiện các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2006- 2011 được thu thập ở Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và ở Trung tâm Khuyến nông tỉnh
- Các văn bản pháp quy có liên quan tới chính sách và tổ chức thực hiện hoạt động khuyến nông, khuyến lâm ở Việt Nam 2006 - 2011
2.4.2.2 Đánh giá thực trạng tổ chức triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2006 – 2011
Để đánh giá thực trạng các mô hình khuyến lâm được triển khai tại Quảng Trị giai đoạn 2006-2011, đề tài kế thừa số liệu và làm việc với các đơn vị để thu thập những thông tin Phương pháp chủ đạo để thu thập những thông tin được đề tài
sử dụng là điều tra phỏng vấn các đối tượng có liên quan và các nguồn thông tin, tài liệu sơ cấp thu thập được Cụ thể Làm việc với lãnh đạo của các đơn vị, cán bộ kỹ thuật trực tiếp theo dõi, triển khai và các hộ dân tham gia xây dựng mô hình
- Trung tâm KNQG: Đề tài kế thừa các báo cáo kiểm tra, giám sát, báo cáo kết quả, số liệu về số đơn vị tham gia triển khai mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2006-2011; số lượng, quy mô, kinh phí, diện tích, loài cây, biện pháp kỹ thuật, chính sách hỗ trợ; những thuận lợi, khó khăn và đề xuất
- Các đơn vị xây dựng mô hình (03 đơn vị): thừa kế các báo cáo tiến độ, báo cáo kết quả, nghiệm thu Các số liệu về diện tích, thành phần loài, phương pháp triển khai, biện pháp kỹ thuật, thời gian triển khai các mô hình trong giai đoạn 2006-2011; những thuận lợi, khó khăn và đề xuất của đơn vị
Trang 292.4.2.3 Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011
* Tổng kết các mô hình khuyến lâm đã xây dựng do Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị
Việc tổng kết nhằm xem xét các mô hình khuyến lâm nào đã xây dựng, cụ thể về loài cây và các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng, làm cơ sở cho việc lựa chọn các mô hình để đánh giá
* Lựa chọn các mô hình để đánh giá:
Để đánh giá được các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại Quảng Trị giai đoạn 2006- 2011, đề tài tiến hành lựa chọn mô hình theo các tiêu chí sau:
- Mô hình phải bao gồm tất cả các loài cây rừng trong các mô hình đã xây dựng
- Mô hình phải bao gồm các độ tuổi khác nhau, biện pháp kỹ thuật xây dựng khác nhau
- Mô hình đánh giá phải nằm trên các địa bàn khác nhau
Từ các tiêu chí đưa ra trên đây, đề tài tiến hành lựa chọn các mô hình đã xây dựng trên địa bàn 5 huyện của tỉnh Quảng Trị là Gio Linh, Đakrông, Cam Lộ, Hải Lăng và Triệu Phong cụ thể như sau:
* Tại huyện Gio Linh:
+ Mô hình Trồng rừng thâm canh cây Keo lá liềm tuổi 2 tại xã Trung Giang
* Tại huyện Cam Lộ:
+ Mô hình Trồng rừng thâm canh cây Mây nếp tuổi 4 tại xã Cam Thành, Tre điềm trúc tuổi 5 tại xã Cam Thủy
* Tại huyện Hải Lăng:
+ Mô hình Trồng rừng thâm canh cây Keo lá liềm tuổi 4 tại xã Hải Xuân
* Tại huyện Đakrông:
+ Mô hình Trồng rừng thâm canh cây Bời lời tuổi 3 tại xã Xã Tà Rụt
* Tại huyện Triệu Phong:
+ Mô hình Trồng rừng thâm canh cây Keo lá liềm tuổi 5 và tuổi 3 tại xã Triệu Vân
Trang 30Tổng hợp các mô hình khuyến lâm đánh giá được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các mô hình khuyến lâm được đánh giá
cây
Nguồn Kinh phí
1 Trồng rừng thâm canh cây
Keo lá liềm
Xã Triệu Vân - huyện Triệu
Xã Hải Xuân - huyện Hải Lăng 4 Trung ương
Xã Triệu Vân - huyện Triệu
Xã Trung Giang - huyện Gio
2 Trồng rừng thâm canh cây
Mây nếp Xã Cam Thành - huyện Cam Lộ 4 Địa phương
3 Trồng rừng thâm canh cây
Tre điềm trúc Xã Cam Thủy – huyện Cam Lộ 5 Trung ương
4 Trồng rừng thâm canh cây
Bời lời Xã Tà Rụt - huyện Đa Krông 3 Địa phương
* Đánh giá mô hình:
- Đối với mỗi mô hình đề tài đánh giá khâu tổ chức triển khai thông qua so sánh kế hoạch triển khai và nghiệm thu kết quả về diện tích, tỷ lệ sống, công tác thông tin tuyên truyền và đào tạo tập huấn
- Để đánh giá tình hình sinh trưởng, đề tài tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng như D1,3, Hvn, Mật độ, tỷ lệ sống, tỷ lệ thành rừng
+ Đối với mỗi mô hình trồng thuần loài, đề tài bố trí OTC diện tích 500 m2, trên OTC thu thập các số liệu sinh trưởng, đảm bảo số cây >=30 cây
+ Đối với các mô hình trồng hỗn giao, đề tài đo 30 cây ngẫu nhiên/loài; + Đối với mô hình Mây nếp đề tài đo theo băng, đếm số cây/bụi; mô hình tre Điềm trúc đếm số cây/bụi
Trang 312.4.2.4 Đánh giá tác động của các mô hình khuyến lâm đã xây dựng tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011
* Tác động về nâng cao độ che phủ của rừng
+ Có bao nhiêu diện tích rừng được xây dựng bởi mô hình khuyến lâm trên tổng số diện tích rừng được trồng trên địa bàn toàn tỉnh
* Tác động về thu hút sự tham gia của hộ gia đình
+ Điều tra số hộ gia đình tham gia vào tập huấn, tham quan khi mô hình bắt đầu xây dựng sau đó có bao nhiêu hộ gia đình đồng ý nhân rộng mô hình, quy mô diện tích được nhân rộng Lý do muốn hoặc không muốn nhân rộng mô hình
* Tác động về nâng cao nhận thức của người dân
+ Có bao nhiêu hộ gia đình thực hiện theo đúng hướng dẫn kỹ thuật, giống do
mô hình chuyển giao? Nguyên nhân không thực hiện được theo đúng kỹ thuật là gì?
* Tạo công ăn việc làm cho người dân
Khả năng tạo việc làm nâng cao thu nhập của các mô hình từ khâu trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác vận xuất rừng
* Dự báo tác động về kinh tế
Đối với những mô hình trồng Keo lá liềm, đề tài tiến hành đánh giá hiệu quả kinh
tế dựa trên lợi nhuận thuần bằng tổng thu nhập trừ đi tổng chi phí xây dựng mô hình
2.4.2.5 Phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 -2011
Đề tài tiến hành sử dụng mô hình phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội, thách thức) để tiến hành phân tích những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Các số liệu thu thập sẽ được tính toán và xử lý trên các phần mềm máy vi tính thông dụng
2.5.1 Phương pháp tính toán các số liệu sinh trưởng
* Tính D1.3 và Hvn
Trang 32Từ số liệu đo đếm được của các nhân tố điều tra D1.3, Hvn trên các OTC, tiến hành chỉnh lý số liệu theo cỡ đường kính và chiều cao bằng phương pháp chia tổ ghép nhóm
- Số tổ: m = 5.log (n) (2.1) Trong đó: m là số tổ
n là số cây trong OTC
1 (2.3)
Trong đó: X : chỉ tiêu điều tra trung bình
Xi: Trị số giữa tổ
fi: Tần số xuất hiện của từng cỡ
n: Tổng số cây trong OTC
* Tính tổng tiết diện ngang (G)
Tính g/OTC: g = gi fi (m2 / OTC) (2.4) Tính G/ha: G = g.20 (m2/ha) (2.5) Trong đó: G: tổng tiết diện ngang trên ha
g: tổng tiết diện ngang trên OTC
gi: tổng tiết diện ngang của cỡ kính i
fi: tần số xuất hiện của cỡ kính i
* Tính trữ lượng (M):
Xác định trữ lượng theo phương pháp cây tiêu chuẩn:
M = N.V (m3/ha) (2.6) Trong đó: M: trữ lượng (m3/ha)
N: mật độ lâm phần (cây/ha)
V : thể tích cây tiêu chuẩn (m3)
Trang 33S: Diện tích OTC (S = 500m2)
2.5.2 Phân tích ma trận SWOT trong việc triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 -2011
Việc lập một ma trận SWOT bao gồm các bước như sau:
1) Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong
2) Liệt kê các điểm yếu bên trong
3) Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài
4) Liệt kê các thách thức (các đe dọa) quan trọng bên ngoài
5) Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả chiến lược SO vào ma trận
6) Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WO vào ma trận
7) Kết hợp điểm mạnh bên trong với thách thức (mối đe dọa) bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược ST
8) Kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WT vào ma trận
Mục đích kết hợp trong 4 bước cuối cùng là để đề ra các chiến lược khả thi
có thể chọn để thực hiện
- Chiến lược SO: Là chiến lược sử dụng những điểm mạnh bên trong để tận
dụng những cơ hội từ bên ngoài
- Chiến lược WO: Là chiến lược nhằm cải thiện những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng những cơ hội bên ngoài
- Chiến lược ST: Là chiến lược sử dụng các điểm mạnh bên trong để tránh khỏi hay giảm nhẹ những mối đe dọa (thách thức) từ bên ngoài
- Chiến lược WT: Là chiến lược phòng thủ nhằm giảm đi những điểm yếu bên trong và tránh khỏi những thách thức (mối đe dọa) từ bên ngoài
Trang 34Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Trị thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý 16018'13'' đến
17010' vĩ độ Bắc và 106030'51'' đến 107023'48'' kinh độ Đông
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình
Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế
Phía Đông giáp với biển Đông
Phía Tây giáp các tỉnh Savanakhet, Salavan của CHDCND Lào
Trên biển tỉnh Quảng Trị có huyện đảo Cồn Cỏ, cách đất liền khoảng 30 km
về phía Đông, với diện tích tự nhiên 2,2 km2
Diện tích tự nhiên của Quảng Trị tuy không lớn so với các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhưng Quảng Trị có nhiều lợi thế về vị trí địa lý - kinh tế, thể hiện qua những yếu tố sau:
Trên địa bàn tỉnh có các tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như: Quốc
lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường xuyên Á (Quốc lộ 9) được coi là hành lang kinh
tế Đông Tây nối Việt Nam - Lào - Thái Lan - Mianma và các nước khác trong khu vực, tuyến đường sắt Bắc - Nam, đường vận tải biển Đây là những yếu tố thuận lợi
để Quảng Trị mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá với các vùng kinh tế trong nước và khu vực các nước ASEAN
Quảng Trị có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, cửa khẩu quốc tế La Lay, cảng
biển Cửa Việt, ga đường sắt Đông Hà, Quảng Trị là một trong những đầu mối lưu thông kinh tế - đời sống trong nước và Quốc tế
Quảng Trị có địa hình đa dạng (cả vùng đồi núi, đồng bằng và ven biển), tài
nguyên xã hội - nhân văn (cả vật thể và phi vật thể) khá phong phú (do đây là vùng đất giao thoa, hội tụ của nhiều luồng văn hoá, chứng nhân của nhiều sự kiện lịch sử dựng nước và giữ nước)
Trang 35Có thể nói những lợi thế về vị trí địa lý của Quảng Trị sẽ là động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, và gắn với an ninh quốc phòng
3.2 Khí hậu
Khí hậu Quảng Trị mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, do vị trí địa lý và các đặc điểm về địa hình, khí hậu Quảng Trị có diễn biến khá phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp
Biểu 3.1 Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn từ 2006 - 2011
Tháng Nhiệt độ
trung bình ( 0 C)
Tổng lượng mưa (mm)
Số giờ nắng (giờ)
Độ ẩm tương đối trung bình (%)
Trang 36nhiệt độ lên trên 400C, tháng thấp nhất (tháng 1, 2 và tháng 12) khoảng 200C có khi xuống tới 8 - 90C
* Chế độ ẩm
Độ ẩm không khí trung bình năm 83,5%, phân thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô nóng kéo dài 4 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 với độ ẩm trung bình từ 71 - 80% và đạt cực tiểu vào tháng 7 xuống 71,3% Độ ẩm tăng nhanh khi bước vào mùa mưa và duy trì ở mức cao, với độ ẩm trung bình từ 85 - 90%
* Chế độ mưa
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 năm trước kéo dài đến tháng 2 năm sau, đạt cực đại vào tháng 10, 11, chiếm 70% lượng mưa năm Từ tháng 3 đến tháng 7 lượng mưa ít nhất, tổng lượng mưa trong thời kỳ này chỉ chiếm dưới 30% lượng mưa năm Tổng lượng mưa bình quân năm từ 2.300 - 2.700 mm ở vùng núi và 1.800-2.000 mm ở vùng đồng bằng Tháng 10 có lượng mưa cao nhất thường đạt trên 600 mm/tháng Mưa tiểu mãn thường xảy ra từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 5, lũ sớm xảy ra cuối tháng 8 đầu tháng 9
* Chế độ gió
Quảng Trị là một trong những vùng chịu ảnh hưởng của 2 loại gió mùa chính: Gió mùa Tây Nam (gió Lào) thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8 với tần suất xuất hiện từ 50 đến 60% và gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, với tần suất xuất hiện từ 40 - 50%
* Bão
Hàng năm mùa bão thường bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào cuối tháng 11 Do
vị trí địa lý tiếp giáp với biển, bão thường xuất hiện với cường độ lớn, kèm theo triều cường nên khả năng gây thiệt hại do bão đối với sự phát triển nông lâm nghiệp và đời sống nhân dân thường rất lớn
3.3 Tài nguyên đất đai
* Hiện trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện trạng sử dụng đất phân theo mục đích sử dụng được thể hiện ở biểu 3.2
Trang 37Biểu 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2003
100,00
15,56 37,69 3,87 0,76 42,12 (Nguồn: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Q.Trị 2005 - 2010)
Đất nông nghiệp: Toàn tỉnh có 73.848,6 ha đất sử dụng vào nông nghiệp,
chiếm 15,56% diện tích đất tự nhiên, bình quân hơn 1.200m2/người, xấp xỉ bằng bình quân chung của cả nước cao hơn mức bình quân của vùng Bắc Trung Bộ (360m2/người)
Đất lâm nghiệp: Đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh là 178.876 ha chiếm
37,69% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 110.365 ha
và rừng trồng là 68.511 ha
Đất chuyên dùng: Diện tích 18.348,3 ha chiếm 3,87% tổng diện tích đất tự nhiên Đất ở: Đất ở của Quảng Trị có khoảng 3.591,76 ha bình quân mỗi hộ là
280m2 Trong đất ở, đất đô thị chiếm 35,98% còn lại là đất ở nông thôn
Đất chưa sử dụng: Theo thống kê đất chưa sử dụng, sông suối núi đá toàn
tỉnh có hơn 199.909 ha, chiếm 42,12% tổng diện tích đất tự nhiên Trong tổng số đất chưa sử dụng thì quỹ đất vùng cát ven biển và đồi núi chưa sử dụng còn khoảng 170.000 ha
3.4 Dân số, dân tộc và sự phân bố theo địa bàn
Dân số toàn Tỉnh năm 2003: 612.948 người; Trong đó dân cư sống ở vùng nông thôn: 467.027 người (chiếm tỷ lệ 76,19% ), dân cư sống ở vùng thị tứ 145.921 người (chiếm tỷ lệ 23,81%) Cơ cấu dân số nông thôn/ thành thị thay đổi nhanh theo hướng giảm dân số sống tại vùng nông thôn Năm 1990: Dân số nông thôn
Trang 38chiếm 84,47%, thành thị: 15,53%: Năm 1995: Dân số nông thôn chiếm 79,28%, thành thị: 20,72%; Năm 2000: Dân số nông thôn chiếm 76,49%, thành thị: 23,51%)
Cơ cấu dân số: Nữ: 309.798 người (chiếm tỷ lệ 50,54%), Nam: 303.150 người (chiếm tỷ lệ 49,46%)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,404%
Dân cư Quảng Trị bao gồm cộng đồng các dân tộc: Kinh, Vân Kiều, Pa Cô Dân tộc Kinh chiếm 91,4%, Vân Kiều 6,7%, Pa Kô 1,8%, các dân tộc khác 0,1% Trong đó đồng bào các dân tộc ít người tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi (H-ướng Hoá, Đakrông) và một số xã thuộc miền núi của huyện Vĩnh Linh, Gio Linh,
Cam Lộ
3.5 Phân bố lực lượng lao động
Tổng số lao động hiện có trong toàn Tỉnh là 309.131 người, trong đó lao động nữ 154.868 người chiếm tỷ lệ 55.09% lực lượng lao động Lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chiếm gần 80% lực lượng lao động hiện nay Lực lượng lao động trong khu vực Nhà nước trên lĩnh vực nông - lâm nghiệp là 1.524 người
Lực lượng lao động tham gia trong các ngành kinh tế quốc dân phân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm khoảng 60%, vùng trung du - miền núi chiếm 31% và vùng ven biển chiếm 9% Giữa các vùng có sự chênh lệch về qui mô và chất lượng lao động, vùng đồng bằng là địa bàn có lực lượng lao động tập trung đông nhất và
số lao động có trình độ thâm canh sản xuất chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt là sản xuất nông sản theo hướng hàng hoá
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, chất lượng lao động nhìn chung đã có sự chuyển biến tích cực Tuy nhiên, trong cơ cấu và chất lượng lao động còn bộc lộ rõ sự mất cân đối giữa các ngành như lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ cao, phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp, lực lượng lao động thiếu việc làm còn chiếm tới gần 5% tổng số lao động trong độ tuổi (đặc biệt đối với lao động vùng đồng bằng) Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế - xã hội của Tỉnh phát triển chậm
Trang 393.6 Tình hình thu nhập của dân cư
Căn cứ vào số liệu thống kê và kết quả điều tra mẫu từ các huyện, thị tại
Quảng Trị cho thấy, thu nhập bình quân đầu người khu vực thành thị đạt khoảng 750.000 đồng/tháng, khu vực nông thôn khoảng 420.000 đồng/tháng Năm 2010 so với năm 2006 thu nhập bình quân đầu người khu vực thành thị tăng 34,6%, khu vực nông thôn tăng 40,9% Trong cơ cấu thu nhập của khu vực nông thôn: thu từ các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản chiếm 75,9%, từ ngành nghề và xây dựng 8,6% và thu từ các ngành dịch vụ 15,5%
Mức thu nhập của dân cư nông thôn giữa các vùng trong tỉnh còn có sự chênh lệch: Bình quân thu nhập đầu người của vùng đồng bằng đạt khoảng 400.000 đồng/tháng, vùng ven biển đạt khoảng 350.000 đồng/tháng, vùng núi mới chỉ ở mức 290.000 đồng/tháng, đặc biệt những khu vực vùng sâu, vùng xa chỉ đạt từ 120.000
- 140.000 đồng/tháng
Hiện nay tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn tỉnh còn khoảng 15,7% (theo tiêu chí mới), riêng đối với các huyện miền núi tỷ lệ này còn tới 29,3% (trong đó số hộ đói chiếm gần 2%)
Nhìn chung thu nhập - đời sống của dân cư trong tỉnh đã có những cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ đói nghèo có xu hướng giảm dần Tuy nhiên ở những vùng sâu, vùng
xa (các xã đặc biệt khó khăn) thì cuộc sống của nhiều người dân còn rất khó khăn
3.7 Tập quán sản xuất, canh tác
Vùng núi và gò đồi: Sản xuất nông nghiệp phần lớn còn theo phương thức
quảng canh, trình độ canh tác lạc hậu, chủ yếu dựa vào tự nhiên nên hiện đang ở trong tình trạng không an toàn về lương thực, số hộ nghèo đói chiếm tỷ lệ lớn
Vùng đồng bằng, ven biển: Nhờ có những chính sách mới trong công tác
quản lý và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông, lâm nghiệp nên điều kiện kinh tế của các hộ nông dân có chuyển biến tích cực, nhiều mô hình phát triển kinh tế có hiệu quả cao đã xuất hiện trong thời gian qua
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá thực trạng triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm ở tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011
4.1.1 Đơn vị tham gia xây dựng các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-2011
Qua điều tra, khảo sát cho thấy trong thời gian 6 năm từ 2006- 2011 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có duy nhất Trung tâm Khuyến nông Quảng Trị thực hiện xây dựng các loại mô hình trình diễn về ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản phù hợp với từng vùng sinh thái, từng địa phương theo chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh
4.1.2 Kinh phí xây dựng mô hình khuyến lâm tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn
2006 - 2011
Kinh phí triển khai xây dựng các mô hình khuyến lâm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006 - 2011 được đầu tư từ nguồn kinh phí khuyến lâm Trung ương và kinh phí khuyến lâm cấp tỉnh, với tổng kinh phí là 3.250 triệu đồng, kết quả được trình bày theo bảng 4.1
Bảng 4.1 Kinh phí xây dựng các mô hình khuyến lâm tại Quảng Trị giai đoạn