Cộng đồng người dân xã Bản Mù chủ yếu là người H’Mông, phong tục tập quán canh tác chủ yếu làm nương rẫy, nền sản xuất tự cung tự cấp, trình độ văn hóa thấp, có thu nhập bình quân trên đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Yên Bái, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Trần Xuân Dưỡng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện làm luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường tại Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình quý báu của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Nhân dịp này cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan, tổ chức và cá nhân sau:
Khoa Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá đào tạo;
TS Đồng Thanh Hải, giáo viên hướng dẫn khoa học của luận văn đã định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn;
Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu, Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn;
Uỷ ban nhân dân xã Bản Mù và người dân của các khu hành chính đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu ngoài hiện trường
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và điều kiện nghiên cứu nên chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học
và đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Yên Bái, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Trần Xuân Dưỡng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ……… ……….1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm chính 3
1.2 Tình hình QLBVR trên Thế giới 4
1.3 Tình hình QLBVR ở Việt Nam: 6
1.4 Tình hình Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng gắn với cộng đồng tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu 10
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 12
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 12
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
2.3 Nội dung nghiên cứu 12
2.4 Phương pháp nghiên cứu 13
2.4.1 Phương pháp luận 13
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 17
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI 20
3.1.1 Vị trí địa lý 20
3.1.2 Địa hình, địa chất, đất đai 21
3.1.3 Khí hậu, thủy văn 21
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 22
Trang 43.2.1 Dân tộc, dân số và lao động 22
3.2.2 Cơ sở hạ tầng 23
3.2.3 Tình hình phát triển kinh tế 24
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng 25
4.1.1 Đặc điểm tài nguyên rừng 25
4.1.2 Thực trạng công tác QLBVR tại xã Bản Mù 27
4.2 Một số nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu 33
4.2.1 Những nhân tố thúc đẩy người dân địa phương tham gia công tác QLBVR 33
4.2.2 Những nhân tố gây khó khăn cho người dân địa phương trong công tác QLBVR 35
4.3 Vai trò của cộng đồng đối với công tác QLBVR tại xã Bản Mù 38
4.3.1 Các cộng đồng địa phương liên quan tới QLBVR ở xã Bản Mù 38
4.3.2 Vai trò và ảnh hưởng của các cộng đồng địa phương đến công tác QLBVR tại xã Bản Mù 41
4.3.3 Vai trò và ảnh hưởng của các đơn vị, tổ chức Nhà nước 46
4.4 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong công tác QLBVR dựa vào cộng đồng 49
4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của của người dân địa phương trong công tác QLBVR tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu 50
4.5.1 Những giải pháp về kinh tế 50
4.5.2 Những giải pháp về xã hội 51
4.5.3 Những giải pháp về khoa học công nghệ 55
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Tổng hợp diện tích,kinh phí nhân công của các hộ
dân tham gia nhận khoán các hạng mục công trình
năm 2014 – xã Bản Mù
48
4.4 Phân tích ma trận SWOT về công tác QLBVR 49
Trang 74.5 Sơ đồ mô hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng của xã 31
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ rất lâu, trong các cộng đồng dân tộc khác nhau ở Việt Nam các hình thức quản lý rừng trực tiếp bởi chính những cộng đồng đó đã xuất hiện, được thể hiện ở những lệ tục giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước, luật tục bảo
vệ rừng, bảo vệ cây cối Do đó để quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả
và bền vững, không thể bỏ qua việc phát huy vai trò của cộng đồng người dân sống gần rừng trong việc quản lý, bảo vệ rừng Phát huy vai trò tham gia của các cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên rừng vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc vừa giúp công tác quản lý rừng có hiệu quả và bền vững hơn
Bản Mù là một xã vùng cao của huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái với tổng diện tích tự nhiên là 12.237,9 ha Tổng số có 8 thôn bản và 785 hộ gia đình, 5158 nhân khẩu là dân tộc Mông sinh sống ven sườn núi còn lại là dân tộc khác Nơi ở, tập quán canh tác, truyền thống văn hóa, khai thác sử dụng sản phẩm phụ thuộc vào rừng là chủ yếu
Xã Bản Mù có nhiệm vụ quản lý rừng phòng hộ và phát triển rừng đầu nguồn của huyện Trạm Tấu là chủ yếu Mục đích bảo vệ diện tích rừng hiện
có và phát triển rừng nâng cao độ che phủ của rừng, bảo vệ tài nguyên rừng Trong những năm qua Đảng, Nhà nước có nhiều công trình nghiên cứu, dự án đầu tư cho xã
Cộng đồng người dân xã Bản Mù chủ yếu là người H’Mông, phong tục tập quán canh tác chủ yếu làm nương rẫy, nền sản xuất tự cung tự cấp, trình
độ văn hóa thấp, có thu nhập bình quân trên đầu người thấp, nền sản xuất tự cấp, tự túc giới hạn trong hộ gia đình, hiệu quả kinh tế của quản lý rừng và đất rừng còn rất thấp, tập quán khai thác tài nguyên lạc hậu, trình độ văn hoá thấp, kiến thức bản địa phong phú nhưng chưa được phát huy đầy đủ, đời
Trang 9sống còn nhiều khó khăn chính vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng của xã Bản Mù Ngoài ra, một trong những khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở đây là thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương
Xuất phát từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái” là hết sức cần thiết Kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ là cơ sở cho việc quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm chính
Từ thế kỷ XIX, thế giới đã bắt đầu quan tâm đến bảo tồn và bảo vệ tài nguyên rừng Tuy nhiên, dưới sức ép về kinh tế và nhu cầu sử dụng vô hạn của con người ngày một tăng cao, công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng còn gặp rất nhiều khó khăn
Sau đây là một số khái niệm chính có liên quan đến đề tài nghiên cứu: Cộng đồng (Commune) theo tổ chức FAO (1990) định nghĩa là
“Những người sống tại một chỗ trong tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”
Ở Việt Nam, cộng đồng được hiểu là những người sống trong cùng ranh giới hành chính như cộng đồng thôn, cộng đồng bản Ranh giới hành chính các thôn, bản đều được thành lập dựa trên lịch sử lâu đời, vì vậy, cộng đồng tại các thôn, bản luôn có mối liên kết mật thiết, người đứng đầu (trưởng thôn, trưởng bản) có hương ước, quy ước xây dựng lâu đời và được người dân rất tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt
Quản lý rừng cộng đồng (Community Forest Management – CFM)
cũng theo FAO định nghĩa là “Tất cả các hoạt động lâm nghiệp mà cộng đồng người dân tham gia, bảo tồn nhưng hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu cuộc sống của người dân
và đến việc trồng cây ở các trang trại hàng hóa, sản xuất chế biến các sản phẩm lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho những cộng đồng sống trong rừng”
Quản lý rừng bền vững theo ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhăm đạt được một hoặc nhiều hơn
Trang 11những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội
Còn theo tiến trình Hensinki, Quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) là sự quản
lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện, và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đồi với hệ sinh thái khác
Nhìn chung, hai định nghĩa trên khá đầy đủ về QLBVR, đó là quản lý
và phát triển kinh tế hiện đại nhưng không làm ảnh hưởng đến nhu cầu trong tương lai Tuy nhiên để thực hiện QLBVR cần tuân thủ theo những quy tắc và quá trình khai thác nghiêm ngặt Để đảm bảo được điều này, mỗi người trong một cộng đồng đều phải có ý thức và trách nhiệm cao, chỉ cần một người phá
vỡ các quy tắc có thể kéo theo hàng loạt những đổ vỡ trong quá trình QLBVR
1.2 Tình hình QLBVR trên Thế giới
Bảo tồn và quản lý tài nguyên rừng (QLTNR) đang là những vấn đề nóng hiện nay trên Thế giới Bước đi đầu tiên của Thế giới là việc thành lập Vườn Quốc gia (VQG) Yellowstone ở Mỹ năm 1872 Từ thời điểm này, con người đãt bắt đầu nhận ra những tác động tiêu cực của mình đến môi trường, đặc biệt là sau cuộc cách mạng công nghiệp đầu thế kỷ XIX Đầu thế kỷ XX, hàng loạt các Quốc gia đã có những chính sách đổi mới về quản lý rừng như Nêpan, Ấn độ, Thái Lan, Trong thời kỳ đó, QLBVR được thể hiện dưới các hình thức như: hình thành các nhóm sử dụng rừng địa bàn, lâm nghiệp xã hội, các chính sách về đồng quản lý rừng của Nhà nước và nông dân, tổ chức hay
Trang 12các trường học, phát triển khuyến lâm kết hợp với bảo vệ rừng,… (Richard B Primack, 1999)
Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã có những công trình nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý Khu bảo tồn (KBT) và Vườn Quốc gia với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ
sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhìn chung các KBT/ VQG đều được thiết lập vì mục đích chung của các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng (TNR) Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
Các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks (2005), cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước ở vùng đất dốc
Theo Gadgil và VP Vartok, người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các diện tích rừng từ dưới 0,5ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã
bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm
Trang 13Các tác giả Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A 1987, khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nêpan
đã nhận thấy có mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Tác giả cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào
Sự tham gia của người dân địa phương tại một số nước khu vực Đông Nam Á vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả Nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng
ra khỏi các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý tài nguyên rừng (TNR) và kinh tế -
xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này
Các nghiên cứu trên Thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về
sự phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào TNR
1.3 Tình hình QLBVR ở Việt Nam:
So với nhiều nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tương đối sớm Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tướng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 25.000 ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nước ta Bên cạnh đó, Chính
Trang 14phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng khác Từ đó đến nay, Việt Nam đã có 128 khu rừng đặc dụng được thành lập
Ở Việt Nam, bảo vệ rừng dưới sự quản lý của cộng đồng người dân bản địa đã có lịch sử từ lâu đời, nhưng sau thời kỳ đổi mới (1986) – các công cuộc cải cách kinh tế và đất đai được thực hiện thì những cộng đồng này và công tác QLBVR của họ mới nhận được sự hỗ trợ về kinh tế của Nhà nước Trong thời kỳ đó, ¼ diện tích rừng toàn quốc đã được chuyển giao từ quản lý quốc doanh sang các hộ gia đình và cá nhân Đến cuối thế kỷ XX đầu XXI, nhà nước bắt đầu thử nghiệm các mô hình Quản lý rừng cộng đồng trong khuôn khổ các chương trình dự án cấp Quốc gia Đến năm 2004 ban hành luật Bảo
vệ và phát triển rừng thì các cấp quản lý rừng ở thôn bản mới thực sự được công nhận về mặt pháp lý
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Ngãi (2005; 2009) tiến trình hình thành và phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam có thể phân chia thành các giai đoạn:
- Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng
- Giai đoạn 1954-1975: Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọng cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống
- Giai đoạn 1976-1985: Tập trung và kế hoạch hóa cao độ lâm nghiệp quốc doanh và tập thể, rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp
- Giai đoạn 1986-1992: Lần đầu tiên đề cập làng bản là chủ rừng hợp pháp đối với rừng truyền thống của làng bản
- Giai đoạn 1993-2002: Tăng cường quá trình phi tập trung hóa trong quản lý rừng, quan tâm đến xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đổi với Lâm nghiệp cộng đồng chưa rõ ràng
- Từ 2003 đến nay: hình thành khung pháp lý cơ bản cho Lâm nghiệp cộng đồng
Trang 15Tính đến hiện tại, đã có không ít những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương ở Việt Nam, như:
Các tác giả Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997) , đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi
Qua kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999) và các cộng sự, đã đưa ra kết luận: Các nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗi nông hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có rất ít ở các hộ có hiểu biết
và có vốn đầu tư
Nguyễn Huy Dũng cùng cộng sự (1999) đã nghiên cứu các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà tỉnh Cao Bằng Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và lợi ích của quản lý mang lại cho cộng đồng người dân trong thôn bản Nghiên cứu này đã chỉ ra: quản lý rừng cộng đồng ở đây được hình thành tự phát bởi cộng đồng dân bản trước thực tế và nhu cầu cuộc sống về lâm sản và sử dụng lâm sản Đây là một mô hình, một hình thức quản lý dựa trên các luật tục của cộng đồng đã cho hiệu quả tốt trong phát triển kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng
Một số địa phương ở Sơn La và Lai Châu, thuộc vùng hoạt động của dự
án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Nam -
Trang 16Cộng hoà Liên bang Đức) đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm, chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ước quản
lý bảo vệ rừng thôn bản Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản
lý rừng cộng đồng là dự án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng” cho các thôn bản trong vùng dự án Đây là phương pháp được các nhà khoa học đầu ngành đánh giá là rất tốt cho việc quản lý sử dụng rừng trên các diện tích đã giao quyền sử dụng cho các hộ, các tổ chức và cộng đồng
Vũ Hoài Minh và Hans Warfvinge (2002), đã tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý rừng tự nhiên bởi các hộ gia đình và cộng đồng địa phương
ở 3 tỉnh Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả đã tiến hành tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền
sở hữu và các chính sách liên quan đến hình thức quản lý này Trong 5 mô hình quản lý rừng cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương (hình thức quản lý của các đồng bào dân tộc thiểu số như Mường, Thái) và được chính quyền địa phương chấp thuận: Họ tự đề ra các quy định, quản lý, sử dụng lâm sản cũng như các hoạt động xây dựng và phát triển rừng Hình thức quản lý ở Thuỷ Yên Thượng (cộng đồng ở đây là người dân tộc kinh) được xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) với sự hỗ trợ của dự án quốc tế
Trong hội thảo “Mạng lưới lâm nghiệp Châu Á” (Asia Forest Network) tháng 9/2003 tại Cao Bằng, Việt Nam Các nước thành viên đã thảo luận về các bước lập kế hoạch và xây dựng quy ước quản lý rừng cộng đồng (đánh giá tài nguyên có sự tham gia, các chương trình quản lý tài nguyên rừng dựa trên
Trang 17cơ sở cộng đồng, thu nhập qua quản lý rừng cộng đồng, chương trình đánh giá
và giám sát, các chính sách về quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng…) các nước thành viên tham dự đi đến thống nhất các hoạt động thảo luận và đi đến thoả thuận hợp tác trong các lĩnh vực quản lý rừng cộng đồng Đây là một thành công của hội thảo và là bước ngoặt cho công tác quản lý rừng dựa trên cơ sở cộng đồng của các quốc gia trong khu vực
Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn
đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia
sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay
1.4 Tình hình Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng gắn với cộng đồng tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu
Trong giai đoạn ngành Lâm nghiệp chuyển từ khai thác sang quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo hướng nông lâm kết hợp Xã Bản Mù triển khai kiểm kê rừng, giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng của xã Bản Mù cho thấy hiệu quả rõ rệt nó phù hợp tập quán của đồng bào dân tộc Mông Đặc biệt Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 03/12/2004 là tiền đề cho ngành lâm nghiệp được phát triển Quỹ bảo vệ và phát triển rừng ngày 14/01/2008 của Chính phủ quy định phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020 Dịch vụ môi trường rừng; Nghị định số 09/2006
NĐ – CP ngày 16/01/2006 của Thủ tướng chính phủ quy định về phòng cháy chữa cháy rừng; Quyết định số 07/2012 QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 8/2/2012 ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
Trang 18Xã Bản Mù có diện tích rừng lớn nhưng trữ lượng rừng thấp mặc dù đã được bảo vệ tốt nhưng còn tác động lớn của con người, để làm tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng cần có sự tham gia của người dân và chính quyền xã Bản Mù và các ngành các cấp trên địa bàn huyện Trạm Tấu, cần có những công trình nghiên cứu, giải pháp cụ thể để công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng bền vững
Trang 19Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ rừng hiệu quả dựa vào cộng đồng cho khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Rừng tự nhiên
Cộng đồng người dân tộc H’mông, tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Bản Mù
Trang 20- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng
- Nghiên cứu vai trò của cộng đồng đối với công tác QLBVR tại xã Bản
2.4.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống
Hệ thống được hiểu là một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật
tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ Mọi
sự vật, hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế - xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi mức độ tác động của người dân địa phương gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như: sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả
Trang 21kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác động mạnh
mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh
tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiểu sự tác động bất lợi này
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì các hoạt động này là của con người Sự tác động này bị chi phối bởi nhiều yếu
tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen sử dụng TNR tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái Sự tác động của người dân địa phương đến TNR còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với người dân trong KBTTN, hệ thống quản lý TNR, việc thực thi luật bảo vệ phát triển rừng (BVPTR) Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR Những tác động của người dân địa phương đến TNR liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ tương tác chặt chẽ TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi tới nó
2.4.1.2 Quan điểm sinh thái - nhân văn
Các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi hộ gia đình (HGĐ) đều rất đa dạng và phong phú Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và
Trang 22mối quan hệ kinh tế - xã hội Điều này chỉ ra rằng các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác Quan hệ giữa tác động bất lợi của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn TNR là quan hệ có xu hướng nghịch Sự tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội
Các yếu tố vật lý sinh học, được chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chế được như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu thị trường Những yếu tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địa phương tới TNR
Các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng đồng ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến TNR.Tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn nữa là văn hoá của các cộng đồng Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng Bất kỳ một giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển bền vững TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế và xã hội của người dân địa phương
2.4.1.3 Quan điểm bảo tồn - phát triển
Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999) [4], quan điểm bảo tồn
và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) như sau:
Trang 23- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài
nguyên sẽ được giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế
- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng sống vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên:
Cách tiếp cận phát triển kinh tế
- Thứ ba là cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử
dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận tham gia quy hoạch
2.4.1.4 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu
Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về TNR với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các triển vọng được nêu ra
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng Trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này
Trang 24giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng TNR, các giải pháp giải quyết xung đột
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
2.4.2.1.Nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp
Trước khi tiến hành nghiên cứu, đề tài đã thu thập và nghiên cứu các tài liệu thứ cấp liên quan nội dùng nghiên cứu bao gồm:
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh KT-XH của các xã Bản Mù
- Các hệ thống văn bản chính sách liên quan đến quản lý rừng dựa vào cộng đồng
- Các chương trình, dự án quản lý bảo về rừng đã thực hiện
- Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Tài liệu hội thảo về phát triển các KBTTN và VQG, các báo cáo nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam…
2.4.2.2 Sử dụng các công cụ PRA để thu thập và số liệu điều tra hiện trường
PRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân) là quá trình cùng chia sẻ, phân tích thông tin và hành động giữa các bên tham gia Trong
đó, người dân đóng vai trò chủ đạo để xác định những khó khăn của cộng đồng, thảo luận các giải pháp và lập kế hoạch hành động để giải quyết các khó khăn đó (Ngân hàng Thế giới) [4]
- Phỏng vấn Ban quản lý các thôn, bản của các cộng đồng nghiên cứu: Công cụ này được thực hiện đầu tiên khi tới thôn, bản, nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội của thôn, bản như: Dân số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình thức sử dụng tài nguyên rừng
- Phân loại hộ gia đình (HGĐ): Đây là công cụ nhằm đánh giá tình hình kinh tế HGĐ Kết quả phân loại làm cơ sở cho việc phỏng vấn HGĐ để thuận
Trang 25lợi cho việc đánh giá, giám sát và ảnh hưởng của các nhóm hộ đến tài nguyên rừng.Cơ sở để phân loại hộ: Giầu nghèo là một khái niệm tương đối và rất khác nhau ở từng cộng đồng Cơ sở phân loại chủ yếu dựa trên sự hiểu biết, quan sát thực tế giữa người dân trong cộng đồng Sử dụng phiếu để phân loại dựa trên cơ sở mà người dân đưa ra
- Phỏng vấn hộ gia đình:
Số hộ được phỏng vấn 60 HGĐ/xã/ với đầy đủ các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo và có ở tất cả các thành phần dân tộc trong thôn, xã đó chủ yếu tập trung dân tộc H’mông (kết quả phỏng vấn trình bày trong phụ lục) Nội dung phỏng vấn là các vấn đề liên quan đến các nguồn thu nhập, sinh kế của cộng đồng địa phương, các hình thức và nguyên nhân tác động của cộng đồng vào TNR, đồng thời cũng tìm hiểu các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển do chính cộng đồng đưa ra
- Thảo luận nhóm: Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn HGĐ Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn Nhóm thảo luận gồm 5 - 7 người, gồm đại diện các hộ nhóm hộ gia đình, lãnh đạo thôn, đoàn thể Thảo luận nhóm nhằm bổ sung và thống nhất về các hình thức, mức độ tác động của người dân vào rừng và đất rừng của khu bảo tồn, các nguyên nhân của sự tác động đó Những khó khăn
và khuyến nghị của cộng đồng trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Tiến hành thảo luận nhóm về các chủ đề: Các hình thức tác động, nguyên nhân tác động và giải pháp khắc phục
- Phân tích tổ chức: Xác định các tổ chức tồn tại trong cộng đồng, xác định chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, đánh giá tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của các tổ chức tới việc quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng
Trang 26- Phỏng vấn cán bộ Hạt Kiểm lâm, cán bộ Ban quản lý KBT, cán bộ xã (Đại điện các tổ chức) nhằm kiểm tra chéo thông tin từ các thôn điểm và thu thập thêm số liệu
2.4.2.3 Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
Công cụ SWOT
SWOT là công cụ phân tích hữu hiệu để hiểu vấn đề nghiên cứu, bao gồm Strenghts (điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội), Threats (Nguy cơ)
Công cụ SWOT được phân tích dưới dạng ma trận 2*2 như bảng sau:
Bảng 2.1 Công cụ SWOT
Bên trong (hiện tại)
Phân tích các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách,
tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, thị trường được phân tích theo phương pháp định tính xây dựng tổ chức quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng, đánh giá tìm ra nguyên tắc và những giải pháp cơ bản, thích hợp nhằm quản
lý rừng bền vững hiệu quả ở địa phương
Trang 27Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI
3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã bản Mù thuộc địa giới hành chính huyện Trạm Tấu tỉnh Yên Bái + Phía Bắc giáp xã Pá Hu, huyện Trạm Tấu
+ Phía Đông giáp xã Làng Nhì, huyện Trạm Tấu
+ Phía Tây giáp xã Hát Lừu, huyện Trạm Tấu
+ Phía Nam giáp xã Xí Vàng, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La
Trang 283.1.2 Địa hình, địa chất, đất đai
Xã Bản Mù nằm ở phía đông nam dãy núi chính đỉnh cao nhất 1750m
độ dốc trung bình 30 – 35% nhiều nơi 60 – 70%, địa hình chia cắt bởi nhiều dông núi nhỏ, khe suối, lưu vực ngòi thia chảy ra Sông Thao, đất Feralit màu
đỏ vàng, vàng đỏ, có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình độ cao trên 800m khá nhiều mùn, màu nâu bị rửa trôi mạnh nếu bị mất rừng
3.1.3 Khí hậu, thủy văn
Ảnh hưởng thời tiết vùng khí hậu ông đới núi cao và có 2 mùa rõ rệt đó
là mùa mưa và mùa khô
+ Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 Lượng mưa mùa này khoảng 2200mml
+ Mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11 năm đến tháng 5 năm sau Lượng mưa mùa này rất thấp trên dưới 20mml, độ ẩm 55%, tháng 1 đến tháng 2 chịu ảnh hưởng không khí lạnh, nhiệt độ có nơi xuống 0o tuyết và băng giá làm chết thảm thực vật gây cháy rừng, gió lào khô nắng từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm, độ ẩm dưới 40%, nguy cơ cháy rừng rất cao
Trong sản xuất nông lâm nghiệp gặp khó khăn do sương muối thường xuyên sảy ra từ tháng 11, 12 và tháng 1
+ Mùa mưa hay có lượng mưa lớn
+ Mùa đông sương muối, yếu tố ảnh hưởng lớn đến đời sống giao thông và sản xuất nông lâm nghiệp, cây trồng không sinh trưởng có thể chết
đi lại khó khăn, đường rất nhỏ trơn trượt, thời gian qua nạn phá rừng, cháy rừng do vậy lũ thường xảy ra suối Thia cạn hơn một số năm trước, ruộng bậc thang nhiều vùng trong xã chỉ cấy được một vụ do thiếu nước
Trang 293.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động
Dân tộc: Theo điều tra dân số huyện Trạm Tấu đến ngày 30/12/2014 thành phần dân tộc trên địa bàn 8 thôn trong xã Bản Mù gồm: Mông, Thái, Tày, Kinh trong đó người H’Mông chiếm 97% số còn lại là giáo viên, y tế, cán bộ nông lâm nghiệp và một số người dân đến lao động trên địa bàn
Xã Bản Mù có tổng cộng 758 hộ dân Số hộ dân của từng thông được trình bày chi tiết ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Thống kê số hộ của các thôn thuộc xã Bản Mù
Mật độ dân số bình quân 42 người/km2, tỉ lệ tăng dân số 1,4% phân bố dân cư trong bản không đồng đều một số thôn có điều kiện canh tác lúa nước, tổng số lao động của toàn xã 1616 người chiếm 31%, tổng dân số, bình quân mỗi hộ có 2 lao động
Lao động sản xuất nông nghiệp 1492 người chiếm 92,26%, lao động sản xuất phi nông nghiệp 124 người chiếm 7,74%
Số hộ nghèo 458 hộ chiếm tỉ lệ 58,3% do vậy đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, số hộ nghèo còn chiếm tỉ lệ cao, dân cư chủ yếu là dân tộc H’Mông sinh sống, do tập quán canh tác và điều kiện phát triển kinh
Trang 30tế không thuận lợi, thu nhập còn thấp, đặc biệt với tỉ lệ đói nghèo như trên gây áp lực lớn đến tài nguyên thiên nhiên trong khu vực
Đặc điểm địa hình chia cắt phức tạp, mật độ dân số không đồng đều, việc quy hoạch sản xuất nương rẫy gặp khó khăn, một số hộ đói nghèo sống chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng, săn bắt thú rừng, khai thác buôn bán lâm sản
3.2.2 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông: Ô tô đến được trung tâm xã và một số thôn đường vào các thôn bản đã đi được xe máy, tuy nhiên đường bé, dốc, hệ thống giao thông quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong những năm qua nhiều công trình giao thông của xã đã được nha nước quan tâm với quan điểm nhà nước và nhân dân cùng làm, đường lên thôn, lên bản đã được đầu tư
và tu sửa
* Điện: hiện nay 3 thôn của xã Bản Mù chưa có điện lưới quốc gia như thôn Tàng Ghênh, Giàng La Pán, Háng Chi Mua
* Y tế giáo dục:
Trạm y tế nằm ở trung tâm xã các thôn bản có cán bộ y tế thôn bản, cơ
sở trang thiết bị còn thiếu, trình độ chuyên môn y tế còn thấp, tình trạng bị ốm còn thủ tục cúng ma, tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi 3%
*Giáo dục:
Xã Bản Mù có một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở bán trú, các bản xa trung tâm xã đều có lớp học, tuy nhiên trang thiết bị đồ dùng còn thiếu thốn, học sinh chuyên cần thấp do vậy chất lượng dậy và học chưa hiệu quả so với toàn huyện Bản Mù có 1926 học sinh nhiều nhất so với các
xã
* Thông tin văn hóa, sóng truyền hình, sóng điện thoại được phủ nhiều thôn bản vì vậy thông tin người dân nắm bắt kịp thời xã có bưu điện, bưu cục,
Trang 31một số thôn có nhà văn hóa như Mù Cao, Giàng La Pán còn lại thì tập trung ở nhà trưởng thôn để hội họp
3.2.3 Tình hình phát triển kinh tế
Bản Mù là xã vùng cao cuộc sống chủ yếu là hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai xói mòn, bạc màu, năng xuất cây trồng thấp, tập quán sản xuất chính là làm nương dẫy, khai thác lâm sản, săn bắn động vật, chăn thả gia súc tự do, đốt bãi chăn thả những hoạt động phát triển kinh tế trên gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng, ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên thực vật
Trang 32Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng
4.1.1 Đặc điểm tài nguyên rừng
4.1.1.1 Đặc điểm về diện tích
Bản Mù là một huyện vùng cao thuộc huyện Trạm Tấu với tổng diện tích tự nhiên là 12237,87ha trong đó:
- Diện tích đất lâm nghiệp là 10482,88ha
- Diện tích đất đồi núi trọc 3637,5ha
- Diện tích đất nông nghiệp, thổ cư là 2159,17ha
Hiện trạng tài nguyên rừng tại xã Bản Mù được thể hiện như hình 4.1
Hình 4.1 Hiện trạng rừng tại xã Bản Mù
Trang 33Số liệu cụ thể về diện tích rừng và đất rừng tại xã Bản Mù trong thời gian này được trình bày ở bảng 4.1 và thể hiện ở hình 4.1 như sau:
Bảng 4.1 Diện tích rừng và đất rừng tại khu vực nghiên cứu
(nguồn: Kết quả kiểm kê rừng năm 2012)
Hình 4.2 Hiện trạng đất lâm nghiệp tại xã Bản Mù
Qua Bảng 4.1 và hình 4.2 trên cho thấy diện tích đất tự nhiên được sử dụng chủ yếu cho hoạt động đất có rừng là 7738.8ha (chiếm 73.82% tổng diện
Trang 34tích đất lâm nghiệp) Trong đó, diện tích rừng tự nhiên chiếm diện tích lớn nhất là 6136.4ha (chiếm 58.54% tổng diện tích đất lâm nghiệp), diện tích rừng trồng chiếm diện tích bé nhất là 1602.4ha (chiếm 15,29%) chủ yếu gồm một
số cây chính như: Thông mã vĩ (Pinus massoniana), Tô hạt
Tại xã Bản Mù, đất chưa có rừng cũng chiếm một diện tích khá lớn là 2744ha (chiếm 28,18%) chủ yếu là đất trống có cây tái sinh và đất có cây nông nghiệp
4.1.1.2 Đặc điểm về tài nguyên rừng
Rừng ở xã Bản Mù là kiểu rừng ôn đới thường xanh Thành phần thực vật khá phong phú với nhiều loài cây quý hiếm: Pơ mu, Sến, Giổi, Tô hạp… Động vật có các loài: Khỉ, Lợn rừng, Sóc, Trăn, Cầy hương, Cầy quả, …Tuy nhiên do tập quán du canh du cư, chặt phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy vẫn còn xảy ra đã làm cho tài nguyên rừng của xã bị cạn kiệt, chất lượng rừng bị suy giảm Hiện nay phần lớn diện tích rừng là rừng phục hồi, rừng nghèo, rừng tre nứa và rừng hỗ giao với trữ lượng thấp Chỉ có một số diện tích rừng
có trữ lượng lớn và chất lượng rừng tương đối tốt, tập trung chủ yếu ở các thôn: Mù Cao, Khấu Ly, Mông Đơ
Số hộ tham gia
Số hợp đồng giao khoán
Diện tích đất lâm nghiệp
đã giao (ha)
Trang 354.1.2.2 Thực trạng hoạt động bảo vệ, sử dụng rừng tại xã Bản Mù
Cho đến nay công tác QLBVR tại xã Bản Mù đã được thực hiện thông qua một số các hoạt động sau:
- Công tác PCCCR: Công tác PCCCR được quan tâm và đầu tư thích
đáng Chính quyền xã đã phối hợp với trạm Kiểm lâm sở tại, các ban ngành như: Công an, quân đội và nhân dân địa phương trong công tác PCCCR Phấn đấu hạn chế thiệt hại thấp nhất do cháy rừng gây ra đồng thời chú trọng đến công tác PCCCR ở các vùng trọng điểm Tuy nhiên, tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra, nguy cơ cháy rừng còn rất cao, do thói quen dùng lửa bừa bãi trong sinh hoạt, săn bắt động vật rừng, đặc biệt là hoạt động đốt ong lấy mật của người dân địa phương vẫn chưa được khắc phục Theo thống kê của UBND
xã Bản Mù năm 2015, đã có 35.7ha rừng bị cháy
(Nguồn: Trần Xuân Dưỡng) Hình 4.3 Cháy rừng tại xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu
Trang 36- Công tác tuần tra rừng: Một trạm Kiểm lâm đã được thành lập trên
địa bàn xã và xây dựng mạng lưới QLBVR đến địa bàn tất cả các thôn trong khu vực Trong những năm qua lực lượng kiểm lâm của huyện đã quán triệt
và thực hiện chỉ đạo xuyên suốt trong công tác QLBVR theo hướng toàn diện
và đồng bộ; bảo vệ tận gốc, ngăn chặn kịp thời các hành vi chặt phá rừng, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, tăng cường pháp chế, thanh tra Tổ cơ động thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát trên các tuyến, vùng trọng điểm đảm bảo cho việc QLBVR được chặt chẽ và đạt hiệu quả cao
Để phòng chống chặt phá rừng và săn bắt động vật hoang dã, thực hiện Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về QLBVR, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo
vệ rừng, chính quyền địa phương đã tăng cường công tác tuần tra kiểm soát
tại rừng, đầu tư phương tiện đi lại cho lực lượng bảo vệ rừng, các phương tiện thông tin và các phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục ý thức về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng,
Tổ bảo vệ rừng thôn gồm 5-8 người do Trưởng thôn hoặc công an viên thôn làm tổ trưởng, có lịch tuần tra rừng 2 lần trong tháng và là lực lượng trực tiếp tham gia công tác bảo vệ rừng ở địa phương
Do vậy, đã kiểm soát, ngăn chặn kịp thời và hạn chế được nhiều vụ khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép của các đối tượng vi phạm trên địa bàn quản lý, những nơi trước đây được xem như trọng điểm phá rừng đến nay đã giảm hẳn, ngăn chặn được nhiều vụ cháy rừng có nguy cơ bùng phát
Từ năm 2010 đến nay, chính quyền địa phương đã xử lý trên 40 vụ vi phạm hành chính Có thể nói rằng công tác QLBVR ở đây đã mang lại hiệu