1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiện trạng sử dụng và phát triển một số loài rau rừng có giá trị tại tỉnh lào cai

116 340 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ HÀ NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI RAU RỪNG CÓ GIÁ TRỊ TẠI TỈNH LÀO CAI Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng Mã số: 60.62.02.11 LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 1

NGUYỄN THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN MỘT

SỐ LOÀI RAU RỪNG CÓ GIÁ TRỊ TẠI TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2013

Trang 2

NGUYỄN THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN MỘT

SỐ LOÀI RAU RỪNG CÓ GIÁ TRỊ TẠI TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng

Mã số: 60.62.02.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG VĂN SÂM

Hà Nội - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp :“Nghiên cứu hiện trạng sử dụng

và phát triển một số loài rau rừng có giá trị tại tỉnh Lào Cai” được hoàn thành theo chương trình Đào tạo Sau đại học của trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam niên khoá 2011 - 2013.

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc của bản thân, tôi chân thành gửi lời cảm ơn tới

sự hướng dẫn quý báu, nhiệt tình, đầy trách nhiệm và nhiệt huyết của thầy giáo - người hướng dẫn khoa học TS Hoàng Văn Sâm

Qua đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy, các thầy cô giáo trong khoa Đào tạo Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp

Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn tới lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lào Cai; Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Bắc Hà,

Sa Pa, phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và môi trường, Ban quản lý rừng phòng hộ, UBND các xã, thị trấn và một số phòng ban liên quan huyện Sa pa, Bắc Hà, các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đề tài được hoàn thành với sự nỗ lực cố gắng của bản thân song do kiến thức

và thời gian còn hạn chế nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong đón nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các Nhà khoa học, thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan các số liệu, tài liệu thu thập, kết quả nghiên cứu và tính toán, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ dẫn nguồn gốc

Xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2013

Học viên

Nguyễn Thị Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hinh vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Về sử dụng rau rừng 1

1.1.1 Lược sử nghiên cứu trên thế giới 1

1.1.2 Nghiên cứu rau rừng tại Đông Dương 2

1.1.3 Tại Việt Nam 3

1.2 Về nhân giống 5

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Mục tiêu 12

2.1.1 Mục tiêu chung 12

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 12

2.2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 12

2.3 Nội dung 12

2.4 Phương pháp nghiên cứu 13

2.4.1 Công tác ngoại nghiệp 13

2.4.2 Công tác nội nghiệp 16

2.5 Phương pháp thử nghiệm nhân giống bằng hom 17

Trang 5

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN

CỨU 21

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 21

3.2 Dân số, dân tộc, tổ chức hành chính 22

3.3 Tài nguyên thiên nhiên 23

3.4 Cơ sở hạ tầng 27

3.5 Nguồn lao động: 30

3.6 Giáo dục và đào tạo: 31

3.7 Y tế: 31

Chương 4 K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1 Thành phần rau rừng tại khu vực nghiên cứu 32

4.1.1 Đa dạng về loài 32

4.1.2 Đa dạng về chi 34

4.1.3 Đa dạng về dạng sống 35

4.1.4 Đa dạng về bộ phận sử dụng 37

4.1.5.Thị trường rau rừng tại khu vực nghiên cứu 39

4.2 Kiến thức bản địa trong sử dụng rau rừng 42

4.2.1 Vai trò của rau rừng đối với đời sống của người dân 42

4.2.2 Tình hình sử dụng rau rừng 43

4.2.3 Đa dạng về phương thức sử dụng 44

4.2.4 Một số kiến thức bản địa trong xử lý rau rừng 48

4.2.5 Tình hình khai thác, sử dụng và gây trồng rau rừng ở Lào Cai.50 4.3 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống hai loài rau rừng có giá trị trong khu vực nghiên cứu 51

4.3.1 Kết quả thử nghiệm nhân giống bằng hom 52

4.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn phát triển rau rừng tại địa phương 72

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

4.6 Mười bộ phận được sử dụng nhiều trong rau ăn 39

4.7 Thành phần loài rau trên thị trường trong khu vực nghiên

4.8 Số lượng loài rau ăn theo dân tộc sử dụng 44

4.9 Bảng tổng hợp phương thức sử dụng rau rừng tại khu vực

Trang 8

4.8 Quả khởi tử khô (màu đỏ) dùng làm thuốc 66

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm kết hợp với địa hình phức tạp nên có hệ thực vật rất đa dạng và phong phú với những nét đặc trưng riêng Thực vật Việt Nam có tác dụng về nhiều mặt như lấy gỗ, làm dược liệu, làm lương thực, thực phẩm Hiện nay, có một số loại thực vật đã được người dân sử dụng làm rau ăn trong các bữa ăn gia đình, đặc biệt là các dân tộc thiểu số những người có cuộc sống phụ thuộc vào rừng Thực tế đã chứng minh rau là thức ăn rất cần thiết cho cơ thể và không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày Tùy từng vùng, từng địa phương khác nhau mà các cách khai thác, chế biến rau ăn cũng khác nhau phụ thuộc vào sở thích, khẩu vị của mỗi dân tộc Chính cách sử dụng này đã được tích luỹ, lưu truyền

từ thế hệ này đến thế hệ khác hình thành nét đẹp bản sắc văn hoá của mỗi địa phương

Hiện nay một số loài rau rừng đã trở thành món ăn đặc sản và người tiêu dùng càng ngày càng thích sử dụng các loại rau rừng vì nó không chỉ có giá trị về dinh dưỡng mà nó còn là loại rau an toàn nhất hiện nay Khi mà các sản phẩm nông nghiệp trở thành hàng hóa, thâm canh cao luôn đồng nghĩa với việc sử dụng các loại hóa chất Bảo vệ thực vật ngày càng nhiều ảnh hưởng đến chất lượng nông sản nói chung và sản phẩm rau xanh nói riêng

Tuy nhiên, tiềm năng rau rừng tại các địa phương này chưa được khai thác triệt để và có hướng sử dụng bền vững Người dân chủ yếu thu hái rau ngoài tự nhiên làm thực phẩm cho gia đình hoặc đem bán ngoài chợ để nâng cao thu nhập với khối lượng nhỏ Trong khi đó nhu cầu sử dụng nguồn thực phẩm này ngày càng tăng, ở nhiều nơi người dân địa phương khai thác ồ ạt các loại rau rừng trong tự nhiên khiến chúng bị suy giảm trầm trọng, thậm chí

có loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Vậy làm thế nào để người dân

Trang 10

không chỉ được sử dụng nguồn thực phẩm bổ dưỡng, an toàn này trong bữa ăn hàng ngày mà còn nắm được kỹ thuật gây trồng, khai thác, sử dụng, tiến tới phân phối với khối lượng lớn trên phạm vi toàn quốc?

Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc của Tổ quốc với 25 dân tộc anh

em cùng sinh sống Với những tiểu vùng khí hậu ôn đới(Sa Pa, Bắc Hà), Lào Cai có nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú, đa dạng Người dân địa phương sống chủ yếu phụ thuộc và nguồn tài nguyên rừng, trong đó có rau rừng Sự phong phú da dạng về thành phần loài cũng như những kiến thức bản địa của người dân địa phương nơi đây về tài nguyên rừng luôn là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý Tuy vậy, Lào Cai cũng không nằm ngoài vấn đề suy giảm về số lượng cũng như chất lượng các loài rau rừng Để góp phần gìn giữ và phát triển tài nguyên rau rừng tại

địa phương em tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hiện trạng sử dụng

và phát triển một số loài rau rừng có giá trị tại tỉnh Lào Cai”

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên rất gần gũi với người dân sống trong rừng và gần rừng, ngày nay lâm sản ngoài gỗ cũng là đối tượng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Trong đó nhóm cây làm rau ăn đã thể hiện

rõ nét nhất điều này, từ xa xưa con người đã biết sử dụng các loại rau, lá, hoa, quả… để chế biến thành các món ăn từ đơn giản đến phức tạp

1.1 Về sử dụng rau rừng

Rau rừng là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các loài thực vật có thể sử dụng làm rau ăn hàng ngày Rau rừng là một nhóm sản phẩm của lâm sàn ngoài gỗ Theo tổ chức Lương nông liên hợp quốc (FAO) – 1999: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng.” Và cho đến bây giờ lâm sản ngoài gỗ (LSNG) nói chung và rau rừng nói riêng vẫn có rất nhiều giá trị đối với kinh tế, xã hội và môi trường

1.1.1 Lược sử nghiên cứu trên thế giới

Việc mô tả các loài thực vật được bắt đầu từ rất sớm, người ta tìm thấy tài liệu mô tả thực vật ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước Công nguyên, và ở Trung Quốc 2000 năm trước Công nguyên

Kiến thức về cây cỏ được loài người ghi chép và lưu lại từ rất sớm Sớm nhất có lẽ là tác phẩm của Aristote (384-322 trước Công nguyên) Tiếp

đó là tác phẩm “Lịch sử thực vật” của Theophraste (khoảng năm 349 trước Công nguyên) Trong đó, Ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với các chỉ dẫn về nơi mọc và công dụng Tuy nhiên trong giai đoạn này những nghiên cứu về thực vật làm thuốc là chủ yếu

Các nghiên cứu về thực vật rừng có giá trị thực phẩm bắt đầu được quan tâm trong giới khoa học khi thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ ra đời Tuy

Trang 12

nhiên các nghiên cứu hầu như chỉ quan tâm tới những loài có giá trị kinh tế cao như cao su, cánh kiến, nhựa thông, ca cao Những loài có giá trị tiềm ẩn của các loài thực vật rừng được sử dụng làm rau ăn thông qua vai trò của nó với cộng đồng ít được quan tâm Những loài này chỉ được biết đến như một thành phần của hệ sinh thái tự nhiên Trong khi đó việc tìm hiểu chúng thông qua kiến thức cộng đồng là rất hạn chế

Đứng trước nguy cơ suy thoái tài nguyên rừng, mối quan hệ giữa cộngđồng với tài nguyên rừng từng bước được xem xét một cách toàn diện Tất cả đều dẫn tới câu trả lời chung: muốn bảo tồn tài nguyên rừng cần có sự hỗ trợ đắc lực của cộng đồng dân cư sống trong rừng và gần rừng Gắn chặt lợi ích của họ với rừng, đồng thời sử dụng kiến thức của họ cho chính nơi họ sinh sống Vấn đề này được đặc biệt quan tâm tại các nước kém phát triển – đa số các nước này thuộc vùng nhiệt đới tài nguyên rừng hết sức phong phú Các tổ chức phi chính phủ và các nước phát triển hỗ trợ và đầu tư cho các dự án đầu

tư nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ để tìm hướng phát triển cho các cộng đồng Kiến thức bản địa rất được quan tâm, được trở thành mục đích nghiên cứu của nhiều dự án phát triển cộng đồng

1.1.2 Nghiên cứu rau rừng tại Đông Dương

Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ được bắt đầu từ khi người Pháp thiết lập chính quyền đô hộ tại Đông Dương Họ đã áp dụng hình thức quản lý của Châu Âu đối với nghề rừng tại đây, đồng thời tiến hành nghiên cứu khoa học Kết quả của hàng loạt các chuyến khảo sát do chuyên gia pháp thực hiện là những cuốn sách về hệ thực vật và các sản vật của Đông Dương Chúng ta có thể kể đến một số các nghiên cứu sau:

- “Những ghi chép về những sản phẩm chủ yếu của tại Đông Dương” (Notes sur les principaux produits de L’Indochine – Saigon 1900) của tác giả A.Chevalier

Trang 13

- “Thực vật chí Đông Dương” do Lecomte (1907 – 1952) chủ biên

Và một số tác phẩm khác có đề cập tới thực vật được sử dụng làm rau

ăn Tới năm 1931 nhiều lâm sản ngoài gỗ trong đó có các loài rau được giới thiệu trong triển lãm tại Pari

Sau này với sự ra đời của “Viện nghiên cứu Nông lâm Đông Dương” năm 1937, những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ được tiến hành Tuy nhiên thực vật rừng được sử dụng làm rau ăn không được quan tâm

Trong sự phát triển chung của thế giới và cùng hướng tới mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở các nước kém phát triển Các

tổ chức phi chính phủ đầu tư nghiên cứu các loại lâm sản ngoài gỗ trong cộng đồng từ đó làm cơ sở phát triển chúng tại địa phương Đông dương là một trong những khu vực tiến hành các dự án này

Một số tác phẩm được biên soạn từ kết quả của các dự án:

Cuốn sánh “Non Timber Forest Products in the Lao PDR” năm 2007 là kết quả hợp tác của các tổ chức phi chính phủ với Lào Cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Anh, chia làm 2 phần: Phần I – Lâm sản ngoài gỗ và con người; Phần II – Thông tin về các loài lâm sản ngoài gỗ với 5 nhóm chính là thực phẩm, thuốc men, sợi, chiết xuất, cây cảnh Trong đó nhóm thức ăn được

đề cập tới tất cả các loài thực vật bậc cao Với các nội dung: mô tả bậc taxon,

mô tả loài, và các thông tin liên quan tới loài về thu hái, buôn bán…

1.1.3 Tại Việt Nam

Việt Nam là một bộ phận của Đông Dương về mặt địa lý, có cùng lịch

sử đô hộ bởi thực dân Pháp Những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ - nói chung, những nghiên cứu về rau rừng nói riêng đều được bắt đầu nghiên cứu một cách khoa học từ khi thực dân Pháp thiết lập chính quyền đô hộ Tuy nhiên những kiến thức về các loài rau rừng được luôn được người dân tìm hiểu và tích lũy Những kiến thức này được lưu truyền trong cộng đồng cũng như qua các thế hệ đều thông qua kênh thông tin cộng đồng

Trang 14

Ngay sau năm 1954, nước ta bắt đầu đầu tư nghiên cứu và khai thác lâm sản Nhưng mục tiêu trong giai đoạn này là các cây gỗ, và sản phẩm từ gỗ

Năm 1974 “Phân viện Đặc sản rừng” được chuyển việc quản lý trực tiếp từ viện Lâm nghiệp sang tổng công ty Lâm đặc sản Đánh dấu sự bắt đầu quan tâm tới lâm sản ngoài gỗ, và đặt chúng ngang bằng với các lâm sản là gỗ Tuy nhiên, mối quan tâm trong giai đoạn này là các sản phẩm cho giá trị kinh

tế cao: dược liệu, sản phẩm của cây công nghiệp,… Rau rừng dường như vẫn rất ít được đề cập tới

Năm 1995, Phân viện Lâm đặc sản được trở về Viện Khoa học Lâm nghiệp và được đổi tên thành “ Trung tâm nghiên cứu Đặc sản rừng” cho tới nay

Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam đã biên soạn cuốn

“Rau rừng” – Nhà xuất bản Quân đội, bước đầu nghiên cứu một số loại rau rừng Cuốn sách tổng kết lại theo kinh nghiệm sử dụng rau rừng của người lính trong 30 năm sống và chiến đấu trong rừng Trong đó 150 loài đã được

mô tả với 56 loài có thể sử dụng trực tiếp, 36 loài phải qua chế biến, 11 loài

ăn quả, 10 loài làm nước uống

Gần đây, lâm sản ngoài gỗ được nhiều quan tâm từ nhiều hướng Ngoài những nỗ lực nghiên cứu của các chuyên gia trong nước, còn được sự hỗ trợ

cả về tài chính, vật chất cũng như con người của các tổ chức phi chính phủ, các quốc gia phát triển Lâm sản ngoài gỗ đã trở thành một môn học của các trường trong khối Nông – Lâm – Ngư nghiệp Hệ thống bài giảng luôn được cập nhật các thông tin mới nhất Trong cuồn giáo trình “Lâm sản ngoài gỗ” xuất bản năm 2009 – nhà xuất bản Nông nghiệp, nhóm tác giả đại học lâm nghiệp đã thống kê 6 nhóm lâm sản ngoài gỗ Trong đó nhóm thực phẩm có nguồn gốc thực vật như chồi, lá, hoa, quả, hạt, nấm…gồm 30 loài

Một số dự án có tính chất ứng dụng trong phát triển rau rừng được Bộ Nông nghiệp&PTNT và một số địa phương tiến hành Mối quan tâm về việc

Trang 15

bảo tồn và phát triển rau rừng dần dần được khẳng định Bộ Nông nghiệp & PTNT thực hiện dự án “Bảo tồn loài rau Sắng chùa Hương bằng phương pháp giâm hom” Tại Lâm Đồng đề tài “Đánh giá tiềm năng của cây lá bép tại Lâm Đồng” của kỹ sư Nguyễn Thành Đạt, Trung tâm nghiên cứu Ứng dụng kỹ thuật Nông nghiệp

Cuốn sách “Edible wild plants of Vietnam” do 2 tác giả Youshitaka tanaka và Nguyễn Văn Kế biên soạn Đây là kết quả của dự án “Indigenous Plant Species Used As Vegetable, Fruits, Herbs, Spices and Medicine in Some Ethnic Minorities in Vietnam” thực hiện trong khoảng những năm 1998 – 2003 của Nguyễn Văn Kế và Võ Văn Chi Trong cuốn sách này 130 loài thuộc 59 họ thực vật bậc cao được thống kê với 4 tiêu chí: Đặc điểm thực vật, phân bố, thành phần và cách sử dụng

1.2 Về nhân giống

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nhân giống sinh dưỡng là sự nhân giống từ một bộ phân sinh dưỡng của cây như: lá, cành, thân, củ, mô phân sinh hoặc sự tiếp hợp các bộ phận sinh dưỡng (ghép) để tạo thành cây mới Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, củ khí sinh, chiết cành, ghép, nuôi cấy

mô phân sinh…Còn theo nghĩa hẹp thì nhân giống sinh dưỡng thường được hiểu là nhân giống hom

Cùng với sự phát triển của công tác chọn giống, kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng ngày càng được ứng dụng rộng rãi Ngay cả với những cây trồng bằng hạt dễ dàng, nhưng để đưa nhanh kết quả chọn giống vào sản xuất, để giữ đặc tính đã chọn nào đó người ta thường sử dụng nhân giống hom Nhân giống hom là một phương thức nhân nhanh các loài cây quý hiếm đang bị đe dọa, vì vậy đây được xem là phương thức quan trọng góp phần bảo tồn nguồn gen cây rừng

Trên thế giới đã có 1 số công trình nghiên cứu về nhân giống hom như:

Trang 16

* Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến ra rễ của hom giâm:

- Các nhân tố nội sinh:

+ Năm 1957, Liubinskii nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mẹ đến khả năng ra

rễ và ông đưa ra kết luận: Cây non không những có tỷ lệ ra rễ lớn mà thời gian ra rễ cũng ngắn hơn cây già và ông đưa ra một trong số nguyên nhân khả năng ra rễ giảm xuống ở hom giâm của cây nhiều tuổi được giải thích là do tỷ

lệ đường tổng số trên đạm tổng số cao ở thân cây già thấp hơn cây non

+ Năm 1964, Komisarov nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm di truyền loài đến khả năng khả năng ra rễ của 2 loài Sở và Liễu sam Kết quả thu được

là Sở là loài dễ ra rễ, đến 35 tuổi vẫn có khả năng ra rễ 70 – 90 %; Liễu sam

(Cryptomeria japonica) 40 - 50 tuổi vẫn có khả năng ra rễ 90%

+ Năm 1983, Dansim nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ hóa gỗ đến

tỷ lệ ra rễ Ở Bulo (Betula sp) cành hóa gỗ yếu cho tỷ lệ ra rễ 33%, cành nửa

hóa gỗ tỷ lệ ra rễ là 84%, cành đã hóa gỗ tỷ lệ ra rễ là 3,2%

+ Năm 1995, Tureskaia nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều hòa

sinh trưởng đến quá trình ra rễ của hom Anh đào (Serasus sp), Nho (Vitis

vinifera) đã thấy rằng trong quá trình ra rễ, hoạt tính của những chất kìm hãm

ra rễ giảm xuống rất nhanh, còn những chất kích thích ra rễ lại được xuất hiện

và sử dụng

*Các nhân tố ngoại sinh:

Komisarov (1964), nghiên cứu ảnh hưởng điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành qua thí nghiệm tổng hợp của ánh sáng, độ ẩm không khí và độ ẩm đất đến tỷ lệ ra rễ của hom cây Sồi 1 tuổi và thu được kết quả: Hom lấy từ cây trồng ở nơi có ánh sáng tán xạ yếu, độ ẩm không khí và độ ẩm đất cao có tỷ lệ

ra rễ 64 – 92%, trong gốc hom cắt từ cây trồng ở nơi có ánh sáng mạnh, độ

ẩm không khí và độ ẩm đất thấp chỉ có tỷ lệ ra rễ 44 – 68%; đối với cây 18 tuổi thì dù mọc ở điều kiện nào cũng không ra rễ Từ đó tác giả nhận định là

Trang 17

các điều kiện cây trồng đã có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom lấy từ cây non, song không có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom lấy từ cây lớn tuổi Năm 1967, Frison và Nesterov nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ đã kết luận rằng: Mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ

ra rễ cao nhất ở nhiều loài cây, hom lấy trong thời kỳ cây mẹ có hoạt động sinh trưởng mạnh thường có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với các thời kỳ khác và thay đổi tỷ lệ ra rễ của hom giâm theo thời vụ được cho là do tình trạng dinh dưỡng của hom hoặc do thay đổi trong quan hệ của các nhân tố nội sinh kích thích và kìm hãm ra rễ

Năm 1983, Dansin cho rằng nghiên cứu về độ ẩm cần thiết đối với các loại hom giâm, ông đưa ra kết luận: Cây lá kim không nên có độ ẩm giá thể quá lớn, trong khi cây lá rộng lại cần độ ẩm lớn hơn, thời kỳ sắp ra rễ hom cần độ ẩm lớn nhất, sau khi ra rễ thì yêu cầu độ ẩm giảm xuống Phun sương

là yêu cầu bắt buộc khi giâm hom, phun suơng vừa làm tăng độ ẩm vừa làm giảm nhiệt độ không khí, giảm bốc hơi của lá

Năm 1994, Tewari nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng và đưa ra nhận định: Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong ra rễ của hom giâm và ông cho rằng thời gian chiếu sáng cũng có ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm

Năm 1993, Zabala thí nghiệm cho một số loài như Sao đen (Hopea

odarata), Dầu (Dipterrocarpus baudi) đã thấy rằng tỷ lệ ra rế cao nhất là ở

25-28 0C trong nhà giâm hom có độ che 75%

* Nghiên cứu về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng:

Komisarov (1964) đã sử dụng IAA, IBA và NAA để giâm hom cho 130 loài cây gỗ và thấy rằng:

- 27 loài có hiệu quả ra rễ cao hơn đối chứng 1,5 – 3,0 lần

- 23 loài có hiệu quả ra rễ cao hơn đối chứng 30 - 40 %

- 72 loài có hiệu quả yếu hoặc không có hiệu quả

- 8 loài có hiệu quả âm

Trang 18

Theo ông những loài khi xử lý không có hiệu quả hoặc hiệu quả âm chủ yếu là do tuổi quá cao (40 – 60 tuổi) hoặc thuộc nhóm khó ra rễ

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở nước ta, từ những năm 1990 trở lại đây thì việc nhân giống từ hom đã được đặc biệt quan tâm và chú trọng nghiên cứu Có nhiều các công trình nghiên cứu về nhân giống hom như:

* Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến ra rễ của hom giâm có:

- Các nhân tố nội sinh:

Năm 1990, Lê Đình Khả, Hoàng Thành Lộc, Phạm Văn Tuấn nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây mẹ lấy hom đối với khả năng ra rễ ở loài Mỡ

(Manglietica glauca) và đưa ra kết luận: hom từ cây Mỡ 1 tuổi, 3 tuổi và 20

tuổi có khả năng ra rễ tương ứng là 98%, 47 % và 0%; cùng năm Lê Đình Khả nghiên cứu vấn đề này đối với Thông đuôi ngựa thì hom của cây 10 tuổi

có tỷ lệ ra rễ 85 - 100%, hom của cây 20 tuổi có tỷ lệ ra rễ 10 -20 %, còn hom của cây 50 tuổi hoàn toàn không có khả năng ra rễ

Năm 1996, Lê Đình Khả, Trần Xuân Cự, Lê Thị Xuân nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm di truyền loài đến khả năng ra rễ của loài Thông đỏ Pà

Cò (Taxus chinensis) và kết luận đây là loài dễ ra rễ, đến 40 -50 tuổi tỷ lệ ra ra

rễ vẫn đạt 80 - 90 %; Lê Đình Khả, Hoàng Thanh Lộc, Phạm Văn Tuấn

nghiên cứu và đưa ra kết luận đối với loài Mỡ (Manglietica glauca) về vấn đề

này là: Mỡ là loài khó ra rễ, 5 tuổi chỉ ra 14 %

Năm 1996, Lê Đình Khả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cành và vị trí lấy cành ở Mỡ và Phi Lao Kết quả thu được lấy cành ở cây Mỡ 20 tuổi thì không ra rễ song chồi vượt của chúng lại có tỷ lệ ra rễ 75 – 85%; ở Phi Lao cũng có kết quả tương tự, cành của cây 25 tuổi chỉ có khả năng ra rễ tối đa là 30%, trong lúc chồi vượt lại có khả năng ra rễ đến 83%; Năm 1997, Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Phạm Thị Bích nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí tuổi cành ở loài Bạch đàn trắng caman đã thu được kết quả về tỷ lệ ra rễ như sau:

Trang 19

Đoạn ngọn 54 - 61 %, đoạn sát ngọn 72 - 91 %, đoạn giữa 80 – 95%, đoạn sát gốc 63 – 91%

Năm 1997, Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Đoàn Thị Bích nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm di truyền của từng xuất xứ đối với loài Bạch đàn trắng

caman (E.camaldulensis) 4 tháng tuổi đã thấy rằng trong lúc xuất xứ

Katherine có tỷ lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River chỉ có tỷ lệ ra rễ 50%, còn xuất xứ Nghĩa Bình tỷ lệ ra rễ chỉ 35 %

- Các nhân tố ngoại sinh:

Năm 1996, Lê Đình Khả thí nghiệm giâm hom Phi Lao (Casuarina

equisetifolia) vào các thời kỳ khác nhau đã thấy rằng giâm hom vào tháng

riêng (tháng rét nhất năm) thì tỷ lệ ra rễ thấp, thời gian ra rễ lâu, ít rễ, rễ ngắn; giâm hom vào tháng 3 thì các chỉ tiêu nói trên đều có trị số cao nhất

Năm 1997, Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Trần Cự, nghiên cứu tạo chồi môi trường và giá thể giâm hom Bạch đàn trắng và đưa ra kết luận: Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo nhiệt độ cao

nên làm giảm đáng kể tỷ lệ ra rễ Giâm hom cho Bạch đàn trắng (E

camaldulensis) tại Ba Vì đã thấy rằng về mùa hè khi để trong nhà kính sau 23

ngày chỉ có tỷ lệ ra rễ 40%, khi để dưới giàn che có tỷ lệ ra rễ 54%, còn giâm trong lều nilon dưới giàn che đã có tỷ lệ ra rễ 99,2%

Năm 2003, Lê Đình Khả nghiên cứu về giá thể giâm hom và thử nghiệm đối với loài Bạch đàn trắng đã thấy rằng các công thức trộn cát + than trấu + đất hoặc riêng cát hoặc riêng đất đều cho tỷ lệ ra rễ 90 – 100%

* Nghiên cứu về sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng:

Năm 1984, Nguyễn Ngọc Tân đã cho biết tỷ lệ ra rễ ở hom chưa hoá gỗ của cây Mỡ là 40% khi các hom này được xử lý 2.4D với nồng độ 50 ppm trong 3 giây

Trang 20

Năm 1986 - 1988, Lê Đình Khả và các đồng sự thử nghiệm giâm hom cho cây Mỡ 1 năm tuổi và cho thấy trong số 4 chất kích thích ra rễ được sử dụng thì công thức được xử lý với 2,4D nồng độ 50 ppm trong 3 giây và với IAA nồng độ 50ppm ngâm trong 5 giờ cho tỷ lệ hom ra rễ thấp hơn IBA và thấp nhất là NAA Các tác giả cũng chỉ ra rằng tuổi cây mẹ lấy cành cũng ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ của hom như: Cây 1 tuổi tỷ lệ ra rễ là 98,4%, cây 2 tuổi tỷ lệ ra rễ là 51,5%, cây 4 tuổi tỷ lệ chỉ còn 14%

Ngoài các nghiên cứu về nhân giống hom trong nhân giống sinh dưỡng còn có các nghiên cứu quan tâm đến phương thức nhân giống từ củ như:

Năm 2007, Trần Ngọc Hải, Pham Thanh Hà đã nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm trồng một số loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao Trong

đó có kỹ thuật trồng rừng từ Củ mài gừng, tác giả có kết luận: Có thể sử dụng phần đầu củ hoặc củ khí sinh để nhân giống loài này

Trên đây là một số thành tựu trong công tác nghiên cứu về nhân giống ở trên thế giới và Việt Nam, nhờ những thành tựu của các nghiên cứu này mà việc nhân giống cây bằng hom được áp dụng rộng rãi và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất Các thành tựu này cũng là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo

kế thừa và phát triển để tìm ra những loại cây mới thích hợp với giâm hom và tìm ra những điều kiện thích hợp để tạo cây hom tốt nhất

Đã có những áp dụng các kết quả nghiên cứu về nhân giống trên trong công tác bảo tồn các loài thực vật Đã có một số khu vực tiến hành để bảo tồn một số loài quý hiếm như: Vườn quốc gia Ba Vì có nghiên cứu bảo tồn loài

Bách xanh (Calocedrus macrolepis); Khu bảo tồn Hang Kia – Pà Cò nghiên cứu bảo tồn Thông đỏ Pà Cò (Taxus chinensis) Đặc biệt, các hoạt động nhân

giống và gây trồng các loài rau rừng còn là khái niệm khá mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu cũng như người dân tại khu vực

Trang 21

Nhìn chung đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về rau rừng về mọi khía cạnh như cách sử dụng, số lượng, hiện trạng, phân bố, phát triển nguồn tài

nguyên này, kế thừa các đề tài đi trước em tiến hành đề tài “Nghiên cứu hiện trạng sử dụng và phát triển một số loài rau rừng có giá trị tại tỉnh Lào Cai” để

góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm sự hiểu biết kiến thức bản địa về cây làm rau rừng ở Việt Nam, đồng thời góp phần vào gìn giữ và phát triển các loại rau có giá trị để ngày càng nâng cao giá trị và phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của người dân địa phương và giải quyết vấn đề rau sạch hiện nay

Trang 22

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

2.1.1 Mục tiêu chung

Đánh giá được mức độ đa dạng rau rừng, cũng như những kinh nghiệm bản địa trong sử dụng rau rừng, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển rau rừng tại tỉnh Lào Cai

- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển rau rừng tại khu vực nghiên cứu

2.2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài

Thực vật rừng làm rau ăn và tri thức bản địa của người dân địa phương trong sử dụng và phát triển rau rừng tại tỉnh Lào Cai

Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu tại 2 huyện Sa Pa và Bắc Hà của Lào Cai (Về thì trường rau rừng chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu cả ở thành phố Lào Cai)

2.3 Nội dung

- Nghiên cứu tính đa dạng về rau rừng tại khu vực nghiên cứu

- Tìm hiểu kiến thức bản địa trong sử dụng và phát triển rau rừng tại các khu vực nghiên cứu

-Nghiên cứu lựa chọn 2 loài rau rừng có giá trị và phù hợp cho việc phát triển tại địa phương

- Đề xuất hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và gây trồng 2 loại rau rừng

có giá trị cao trong khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển rau rừng tại khu vực nghiên cứu

Trang 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Công tác ngoại nghiệp

2.4.1.1 Điều tra sơ thám:

- Điều tra địa hình, giao thông đi lại trong khu vực, từ đó xác định hướng của tuyến đi cụ thể

- Điều tra để nắm được sự phân bố dân cư và sơ bộ tìm hiểu phong tục tập quán của người dân trong sử dụng rau rừng

- Tiếp cận người dân và các kênh liên quan để tìm hiểu vai trò của rau rừng dối với các gia đình

- Phát hiện ra các đối tượng hiểu biết về rau rừng

2.4.1.2 Điều tra chi tiết:

a) Điều tra theo tuyến

Các tuyến điều tra phải đi qua các trạng thái rừng, các hoàn cảnh rừng khác nhau có rau rừng phân bố để tìm các loài cây rau rừng sống ở các trạng thái đó để điều tra, đồng thời quan sát các cây phù trợ quanh đó

Tuyến điều tra được đặt ở các điều kiện:

- Tuyến đi qua các loại rừng

- Tuyến đi qua dọc theo các con suối

- Tuyến đi trên đỉnh giông

- Tuyến đi trên nương rẫy đồng ruộng

- Tuyến đi trong làng xóm

Sau khi điều tra sơ bộ khu vực nghiên cứu, thuê người dân có kinh nghiệm về sử dụng rau ăn dẫn đường để nhận mặt loài rau, đồng thời phỏng vấn bộ phận sử dụng, cách thu hái, chế biến, công dụng loài đó Trong 2 huyện Bắc Hà, Sa Pa lập các tuyến trên địa bàn huyện, trên tuyến đi, quan sát cây rau ăn hai bên đường, chiều rộng tuyến quan sát là khoảng 10m, mỗi bên tuyến là 5m, tôi đã xác định được tuyến điều tra cụ thể như sau:

Trang 24

Tuyến 1: Huyện Sa Pa từ thị trấn Sa Pa đi các xã Tả Phìn, Lao Chải, Thanh Kim, đi qua các dạng sinh cảnh chính sau: Nương rẫy, ruộng lúa, ven suối, vườn thảo quả, rừng phục hồi sau nương rẫy, rừng nguyên sinh, rừng trồng và thị trấn

Tuyến 2: Tại huyện Bắc Hà : Từ thị trấn Bắc Hà đi các xã Na Hối, Tà Chải, Bản Liền

Kết quả điều tra ghi vào mẫu biểu sau:

Biểu điều tra tuyến

Tên tuyến Độ dài: Ngày điều tra: Người điều tra: Người dẫn đường:

Số lần xuất hiện

Sinh trưởn

g

Phâ

n bố

Mùa thu hái

Bộ phận

sử dụng

Ghi chú

Tên

thông

thường

Tên địa phương (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10)

(1) Ghi thứ tự cây điều tra

(2) Tên phổ thông là tên gọi chung trong cả nước do người dân biết hoặc qua tra cứu sách vở từ tên địa phương và đặc điểm hình thái

(3) Tên địa phương là tên gọi được người dân địa phương sử dụng

(4) Dạng sống được xác định theo thang cấp dạng sống trong tài liệu “Tên cây

rừng Việt Nam, 2000”

(5) Số lần gặp loài đó trên tuyến được ghi theo kiểm phiếu

(6) Sinh trưởng: Quan sát thực địa để đánh giá sức sinh trưởng: Tốt, Xấu, Trung bình

Trang 25

(7) Phân bố: Hoàn cảnh nơi mọc

(8) Mùa thu hái: Phỏng vấn người dân hoặc người dẫn đường về mùa thu hái (9) Bộ phận sử dụng gồm:

chuyên vào rừng kiếm rau rừng

Số lượng hộ hoặc người được phỏng vấn phải lớn hơn hoặc bằng 30 và phải phân bố rải đều trong khu vực nghiên cứu

Lập danh sách các hộ được phân bố:

STT Họ tên Tuổi Nghề nghiệp Thôn (Bản) Xã Dân tộc

1

2

Kết quả phỏng vấn ghi vào mẫu biểu sau:

Trang 26

Phỏng vấn người dân

Họ tên: Tuổi Nghề nghiệp: Dân tộc Người điều tra: Ngày điều tra:

T

T

n cảnh nơi mọc

Dạn

g sống

Bộ phậ

n sử dụn

g

Các

h sử dụn

g

a kha

i thá

c

Kỹ thuậ

t khai thác

Kỹ thuậ

t sơ chế

Tìn

h trạn

g khai thác

Gây trồn

g

Gh

i ch

g

c) Phương pháp kế thừa tài liệu

- Kế thừa có chọn lọc tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng rừng

- Kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu về rau rừng, đã được công bố, các bài báo cáo, báo cáo tốt nghiệp

2.4.2 Công tác nội nghiệp

Sau khi thu được các kết quả từ điều tra ngoại nghiệp tiến hành tổng hợp số liệu với các nội dung sau:

- Đưa mẫu về giám định với những cây chưa chắc chắn khi giám định nhanh ngoài thực địa tại trường hoặc tại trung tâm đa dạng sinh học, trường Đại học Lâm nghiệp

- Xác định tên phổ thông và tên khoa học cho các loài rau chưa xác định được tại hiện trường dựa trên các tài liệu khác và sự hướng dẫn của các thầy cô giáo

- Tổng hợp thông tin thu thập được

Từ kết quả phỏng vấn và điều tra tuyến lập danh lục các loài được người dân sử dụng làm rau ăn (có nguồn gốc tự nhiên) theo mẫu sau:

Trang 27

Danh lục các loài rau rừng được sử dụng tại địa phương

STT

Tên loài

Dạng sống

Bộ phận

sử dụng

Phân

bố W/C

Dân tộc sử dụng

Tên

thông

thường

Tên khoa học

Tên địa phương

- Lựa chọn các loài rau rừng có giá trị cao trong các loài đã phát hiện: chọn phương pháp đa tiêu chuẩn qua tâm nhiều đến giá trị dinh dưỡng và nghiên cứu đánh giá thị trường tiềm năng

2.5 Phương pháp thử nghiệm nhân giống bằng hom

- Phỏng vấn chuyên gia và người dân địa phương về các loài rau rừng

có giá trị kinh tế cao và có khả năng phát triển tại địa phương

- Tiến hành nhân giống và gây trồng thử nghiệm một số loài rau rừng

có giá trị kinh tế cao và có khả năng phát triển tại địa phương

* Phương pháp bố trí thí nghiệm

Các công thức thí nghiệm về ảnh hưởng của thuốc kích thích sinh trưởng đến khả năng giâm hom của loài Khởi tử được bố trí theo khối ngẫu nhiên Mỗi công thức thí nghiệm có 50 hom Sử dụng chất kích thích sinh trưởng NAA (Axit Napthalen Axetic) nồng độ 500ppm, 1000ppm để tiến hành làm thí nghiệm

Tiến hành bố trí thí nghiệm với 3 công thức:

Trang 28

* Phương pháp tiến hành thí nghiệm

- Chuẩn bị vật tư và khu thí nghiệm giâm hom

+ Luống giâm hom:

Vị trí luống giâm hom đặt nơi tương đối bằng phẳng, thoáng gió và không bị ngập úng vào mùa mưa, tránh hướng gió hại

Luống giâm hom nền cứng rộng 1.2m, xung quanh đắp đất cao 6cm và thoát nước tốt

Giá thể giâm hom là đất vườn ươm Trước khi cấy vào luống giâm hom khoảng 1 ngày cần tiến hành xử lý thể nền bằng cách tưới dung dịch Benlat nồng độ 0.1%, tưới đẫm đều trên thể nền để tiêu diệt hết mầm bệnh

Nhà lều giâm có khung vòm hình bán nguyệt, cao khoảng 70cm có chiều dài, chiều rộng bằng luống giâm hom và được phủ bằng nilon trắng để giữ ẩm

- Phương pháp lấy mẫu và cắt hom:

Hom được lấy từ cây mẹ khỏe mạnh, đang sinh trưởng tốt, không sâu bệnh Trên cây mẹ, chọn những cành bánh tẻ, không quá non cũng không quá già, cắt đoạn hom dài 10 - 15cm, thường gồm 3 - 4 đốt Phần gốc hom cắt vát,

lá cắt chỉ để lại 1/3 lá để quang hợp Do phần vỏ rất dễ tách khỏi phần lõi nên kéo cắt hom phải sắc, cắt hom phải dứt khoát không làm dập nát vết cắt hoặc làm xoay vòng lõi trụ của thân cây

- Công tác giâm hom:

Hom đã cắt được ngâm vào dung dịch thuốc Benlat nồng độ 0.1% trong thời gian 15 phút, sau đó vớt hom ra rổ cho ráo nước rồi đem đi giâm vào luống giâm hom

Thí nghiệm sử dụng 2 công thức thuốc NAA 500ppm, NAA 1000ppm vì đây là những nồng độ thuốc thường dùng trong giâm hom, chỉ dùng được hai công thức thuốc do thời gian của đợt thực tập có hạn Mỗi công thức thuốc sẽ

có 50 hom và có 50 hom đối chứng

Trang 29

Khi tiến hành giâm hom, chấm gốc hom vào dung dịch thuốc kích thích sao cho thuốc phủ kín mặt gốc của hom và cấy ngay vào luống sử dụng 1 chiếc que để chọc lỗ rồi đặt hom đã chấm thuốc kích thích vào, sau đó gạt đất phủ kín lỗ

- Chăm sóc hom giâm:

Sau khi giâm, cần tưới nước cho hom tưới sao cho mặt lá đủ ướt và phủ kín lều giâm hom bằng nilon để giữ ẩm Hom được tưới hàng ngày để giữ

độ ẩm thường xuyên Chú ý theo dõi thời tiết để có các biện pháp chăm sóc thích hợp đối với hom giâm Đặc biệt thời tiết lạnh quá hoặc nắng quá sẽ dễ làm hom bị chết Đồng thời tiến hành nhổ hết cỏ dại trong thời gian giâm hom

* Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Tiến hành thu thập số liệu về chỉ tiêu số hom sống bằng cách theo dõi định kỳ 20 ngày/lần và ghi vào biểu 03

Biểu theo dõi tỷ lệ hom sống của các nhân tố thí nghiệm

CTTN

Số hom

TN

Tỷ lệ hom sống sau các ngày

10 ngày 30 ngày 50 ngày 70 ngày Hom

sống %

Hom Sống %

Hom sống %

Hom Sống %

Trong đó, hom chết là hom phần gốc hom bị đen, hom khô dần

Các chỉ tiêu về số lượng hom ra rễ, chiều dài rễ, số rễ/hom được thu thập vào ngày cuối cùng của đợt thí nghiệm Trong đó, hom ra rễ và số lượng rễ được xác định bằng phương pháp quan sát và đếm, còn chiều dài rễ trung bình được xác định bằng thước kẻ có chia tới mm đối với rễ dài trung bình trong các rễ của hom Kết quả ghi vào biểu 04

Trang 30

Ảnh hưởng của chất kích thích tới chất lượng bộ rễ của hom

TB/hom

Chiều dài rễ TB/hom

- Xử lý số liệu giâm hom:

Số rễ, số chồi trung bình/hom được tính trung bình sau đó làm tròn theo nguyên tắc lấy sau dấu phẩy 2 chữ số

+ Chỉ số ra rễ = (Số rễ trung bình/hom) x (chiều dài rễ/hom)

 Số rễ TB/hom TN = (∑số rễ trên hom (củ) thí nghiệm)/số hom (củ) thí nghiệm

 Chiều dài rễ TB/hom TN = (∑chiều dài rễ trên hom (củ) thí nghiệm)/số hom (củ) thí nghiệm

Trang 31

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Từ ngày 01/01/2004 (sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu) diện tích tự nhiên: 6.383,88 km2 (chiếm 2,44% diện tích

cả nước, là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/64 tỉnh, thành phố cả nước)

Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km

đường biên giới

* Địa hình:

Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm về phía đông và phía tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình giữa hai dãy núi này và một vùng về phía tây dãy Hoàng Liên Sơn Ngoài ra, còn rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra

những tiểu vùng khí hậu khác nhau

Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ cao

từ 300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với mặt

nước biển, Tả Giàng Phình: 3.090m

Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai - Cam Đường - Bảo Thắng - Bảo Yên và phần phía đông huyện Văn Bàn thuộc

Trang 32

các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80m thuộc địa phận huyện Bảo Thắng), địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước, là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp hoặc xây dựng,

phát triển cơ sở hạ tầng

* Khí hậu:

Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa bị chi phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian Đột biến về nhiệt độ thường xuất hiện ở dạng nhiệt độ trong ngày lên cao hoặc xuống thấp quá (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 00C và có tuyết rơi)

Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình nằm ở vùng cao từ 150C - 200C (riêng Sa Pa từ 140C - 160C và không có tháng nào lên quá 200C), lượng mưa trung bình từ 1.800mm → 2.000mm Nhiệt độ trung bình nằm ở vùng thấp từ 230C - 290C, lượng mưa trung bình

từ 1.400mm - 1.700mm

Sương mù thường xuất hiện phổ biến trên toàn tỉnh, có nơi ở mức độ rất dày Trong các đợt rét đậm, ở những vùng núi cao và các thung lũng kín

gió còn xuất hiện sương muối, mỗi đợt kéo dài 2 - 3 ngày

Đặc điểm khí hậu Lào Cai rất thích hợp với các loại cây ôn đới, vì vậy Lào Cai có lợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: hoa, quả, thảo dược và cá nước lạnh

3.2 Dân số, dân tộc, tổ chức hành chính

* Dân số: Tổng dân số toàn tỉnh Lào Cai là: 613.075 người, trong đó: Số

người trong độ tuổi lao động chiếm 52% Mật độ dân số bình quân: 96 người/ km2

* Dân tộc:

Có 25 nhóm ngành dân tộc cùng chung sống hoà thuận, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 64,09% dân số toàn tỉnh Dân tộc Kinh chiếm 35,9%, dân

Trang 33

tộc Hmông chiếm 22,21%, tiếp đến là dân tộc Tày 15,84%, Dao 14,05%, Giáy 4,7%, Nùng 4,4%, còn lại là các dân tộc đặc biệt ít người Phù

Lá, Sán Chay, Hà Nhì, La Chí,

* Đơn vị hành chính:

Có 1 thành phố Lào Cai và 8 huyện là Sa Pa, Bát Xát, Bảo Yên, Bảo Thắng, Si Ma Cai, Văn Bàn, Mường Khương, Bắc Hà, với 164 xã, thị trấn, trong đó có 138 xã vùng sâu, vùng xa, biên giới Tỉnh Lào Cai được chia

làm 3 khu vực:

- Khu vực I: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi

Chủ yếu là các xã ở vùng thấp, gần trung tâm các huyện, thành phố, giao thông và các dịch vụ xã hội thuận lợi

- Khu vực II: Là các xã có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn,

phần lớn các xã này nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại còn tương đối khó khăn; các dịch vụ xã hội cơ bản đã được đáp ứng tương đối tốt

- Khu vực III: Là các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,

các xã ở vùng sâu vùng biên giới, xa các trung tâm huyện, thành phố; Địa hình bị chia cắt mạnh, giao thông đi lại còn rất nhiều khó khăn; các dịch vụ xã hội còn hạn chế

3.3 Tài nguyên thiên nhiên

* Tài nguyên đất:

Có 10 nhóm đất chính, được chia làm 30 loại đất 10 nhóm đất là: đất phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ, đất mùn alit trên núi, đất mùn thô trên núi, đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá và đất dốc tụ Xin giới thiệu một số nhóm đất đang được sử dụng thiết thực:

- Nhóm đất phù sa: diện tích nhỏ, chiếm 1,47% diện tích tự nhiên, phân

bố chủ yếu dọc sông Hồng và sông Chảy, có độ phì tự nhiên khá cao, thích hợp đối với các loại cây lương thực, cây công nghiệp

Trang 34

- Nhóm đất đỏ vàng: thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng hoặc vàng

đỏ rực rỡ Hình thành và phân bố rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh ở độ cao 900m trở xuống, diện tích chiếm trên 40% diện tích tự nhiên Nhóm đất này

có độ phì nhiêu khá cao, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây hàng năm

- Nhóm đất mùn vàng đỏ: chiếm trên 30% diện tích tự nhiên, phân bố

tập trung tại các huyện Sa Pa, Mường Khương, Bắc Hà, Bát Xát, Văn Bàn Nhóm đất này thích hợp trồng các loại cây dược liệu quý, cây ăn quả và nhiều loại rau ôn đới quan trọng của tỉnh Đồng thời, nhóm đất này có thảm thực vật rừng phong phú, đa dạng bậc nhất của tỉnh

- Nhóm đất mùn alit trên núi: chiếm 11,42% diện tích tự nhiên, tập

trung ở huyện Sa Pa, Văn Bàn có thảm rừng đầu nguồn khá tốt, thích hợp với một số loại cây trúc cần câu, đỗ quyên, trúc lùn, rừng hỗn giao

- Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi màu do trồng lúa: đây là các loại đất

feralit hoặc mùn feralit ở các sườn và chân sườn ít dốc được con người bỏ nhiều công sức tạo thành các ruộng bậc thang để trồng trọt hoa màu Diện tích chiếm khoảng 2% diện tích tự nhiên phân bố rải rác ở các huyện tạo nên những cảnh quan ruộng bậc thang rất đẹp mà tiêu biểu là hai huyện Bắc Hà và

Sa Pa

Với đặc điểm đất đai nói trên, trong quá trình quản lý, sử dụng được chia như sau:

- Đất nông nghiệp: 76.930 ha bao gồm:

+ Đất trồng cây hàng năm: 59.378 ha, trong đó đất lúa có 28.215 ha + Đất trồng cây lâu năm: 12.668 ha

+ Đất cỏ dùng vào chăn nuôi: 3.363 ha

+ Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 1.521 ha

- Đất lâm nghiệp: 307.573 ha, trong đó rừng tự nhiên có 24.943 ha

Trang 35

- Đất ở: 3.307 ha

- Đất chuyên dùng: 31.330 ha

- Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: 219.249 ha

* Tài nguyên nước:

Lào Cai có hệ thống sông suối dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng (130 km chiều dài chảy qua tỉnh) và sông Chảy bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) có chiều dài đoạn chảy qua tỉnh là 124 km Ngoài 2 con sông lớn, trên địa bàn tỉnh còn có hàng nghìn sông, suối lớn nhỏ (trong đó có 107 sông, suối dài từ 10 km trở lên) Đây là điều kiện thuận lợi cho Lào Cai phát triển các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ

Bên cạnh đó, tỉnh Lào Cai còn có nguồn nước ước tính có trữ lượng xấp xỉ 30 triệu m3, trữ lượng động khoảng 4.448 triệu m3 với chất lượng khá tốt, ít bị nhiễm vi khuẩn

Theo các tài liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh có bốn nguồn nước khoáng, nước nóng có nhiệt độ khoảng 400C và nguồn nước siêu nhạt ở huyện Sa Pa, hiện chưa được khai thác, sử dụng

* Tài nguyên rừng:

- Rừng: 307.573 ha, trong đó có 249.434 ha rừng tự nhiên và 58.139 ha

rừng trồng

- Thực vật rừng: rất phong phú cả về số lượng loài và tính điển hình

của thực vật Riêng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sơn đã phát hiện được 847 loài thực vật thuộc 164 họ, 5 ngành, trong đó có nhiều loại quý hiếm như: Lát Hoa, Thiết Sam, Đinh, Nghiến,

- Động vật rừng: theo các tài liệu nghiên cứu, Lào Cai có 442 loài chim,

thú, bò sát, ếch nhái Trong đó, thú có 84 loài thuộc 28 họ, 9 bộ; chim có 251 loài thuộc 41 họ, 14 bộ; bò sát có 73 loài thuộc 12 họ,

Trang 36

* Tài nguyên khoáng sản:

Tới nay đã phát hiện được 150 mỏ và điểm mỏ với trên 30 loại khoáng sản, trong đó có một số mỏ khoáng sản đã được thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng thuộc loại quy mô lớn nhất nước và khu vực như: mỏ Apatit (Cam Đường) với trữ lượng 2,5 tỷ tấn, mỏ sắt (Quý Sa) trữ lượng 124 triệu tấn, mỏ đồng (Sin Quyền) trữ lượng 53 triệu tấn, mỏ Molipden Ô Quy Hồ trữ lượng 15,4 nghìn tấn

Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng là cơ sở để ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản khẳng định là ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh

* Tài nguyên du lịch:

Trọng tâm là khu du lịch nghỉ mát Sa Pa - một trong 21 trọng điểm du lịch của Việt Nam Sa Pa nằm ở độ cao trung bình từ 1.200m - 1.800m, khí hậu mát mẻ quanh năm, có phong cảnh rừng cây núi đá, thác nước và là nơi hội tụ nhiều hoạt động văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc như chợ vùng cao, chợ tình Sa Pa,

Đỉnh núi Phan Xi Păng - nóc nhà của Việt Nam có dãy núi Hoàng Liên Sơn và khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên hấp dẫn nhiều nhà khoa học, khách du lịch

Lào Cai có nhiều địa danh lịch sử, hang động tự nhiên và các vùng sinh thái nông nghiệp đặc sản như mận Bắc Hà, rau ôn đới, cây dược liệu quý, cá hồi (Phần Lan), cá tầm (Nga) Và đặc biệt, đây còn là nơi mang đậm nét đặc trưng văn hoá độc đáo của nhiều dân tộc anh em

Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu cũng là một điểm du lịch thú vị

mà điểm dừng chân không thể là nơi nào khác ngoài thành phố Lào Cai

Và đặc biệt, là tỉnh miền núi cao, đang phát triển nên Lào Cai còn giữ được cảnh quan môi trường đa dạng và trong sạch Đây sẽ là điều quan trọng tạo nên một điểm du lịch lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước

Trang 37

* Tài nguyên nhân văn:

Với hơn 20 nhóm dân tộc cùng sinh sống, Lào Cai trở thành mảnh đất phong phú về bản sắc văn hoá, về truyền thống lịch sử, di sản văn hoá, Theo kết quả điều tra, hiện dân tộc Thái còn lưu trữ hơn 100 bộ sách bằng chữ Pali

ra đời từ thế kỉ XIII; dân tộc Tày, Dao, Giáy có hàng nghìn bản sách cổ bằng chữ Nôm Đặc biệt, tại huyện Sa Pa có bãi đá cổ được chạm khắc hoa văn thể hiện các hình tượng, bản đồ, chữ ký, ký hiệu, Hơn nữa, những biến động trong lịch sử đã để lại cho Lào Cai nhiều di tích nổi tiếng như đền Bảo Hà, đền Thượng, kiến trúc nhà Hoàng A Tưởng, Không chỉ nhiều di sản vật thể

và phi vật thể được phát hiện, bảo tồn mà một kho tàng văn học dân gian đồ

sộ đến nay vẫn chưa được khám phá hết

3.4 Cơ sở hạ tầng

* Giao thông

Với 203 km đường biên giới với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), Lào Cai

là một trong những đầu mối giao thông quan trọng của cả nước nối liền với nước bạn Trung Hoa Là một tỉnh miền núi nên địa hình Lào Cai phức tạp, nhiều đồi núi cao, chia cắt mạnh, rất khó khăn cho việc phát triển giao thông Nhưng bằng sự nỗ lực hết mình trong hơn 10 năm qua kể từ khi tái lập tỉnh, ngành giao thông vận tải Lào Cai đã xây dựng được một hệ thống giao thông thông suốt 4 mùa, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm nhiệm được vai trò cầu nối của cả nước với vùng Tây Nam - Trung Quốc rộng lớn Lào Cai là một trong số ít tỉnh miền núi có mạng lưới giao thông vận tải đa dạng, bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường sông

- Đường bộ: Có 4 tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn tỉnh (4D, 4E,279,70) với tổng chiều dài trên 400 km; 8 tuyến tỉnh lộ với gần 300 km và gần 1.000 km đường liên xã, liên thôn Mạng lưới giao thông phân bố rộng khắp và khá đồng đều trên địa bàn các huyện, thị đảm bảo giao thông thuận lợi Hiện tại tuyến quốc lộ 70 đang được cải tạo nâng cấp (hoàn thành vào đầu năm 2009)

Trang 38

+ Tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai phía hữu ngạn sông Hồng đang được triển khai xây dựng, theo tiến độ đến 2012 hoàn thành đi vào khai thác, với chiều dài 264km, điềm nối với đường cao tốc Côn Minh – Hà Khẩu giai đoạn 1 qua cầu đường bộ biên giới khu Thương mại - Công nghiệp Kim Thành (Lào Cai); Dự án sử dụng vốn ODA của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Đây là công trình trọng điểm quốc gia nằm trong chương trình hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mê kông (GMS)

+ Tính đến năm 2007, Lào Cai đã có đường ô tô đến trung tâm tất cả các xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh

- Đường sắt: Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, đoạn qua địa phận Lào Cai dài 62 km được nối với đường sắt Trung Quốc, năng lực vận tải khoảng 1 triệu tấn/năm và hàng ngàn lượt khách/ngày đêm Theo kế hoạch năm 2009 tuyến đường này sẽ được cải tạo nâng cấp, sử dụng vốn của ADB, hoàn thành vào năm 2011 Ngoài ra, còn có đường sắt nối từ Phố Lu vào mỏ Apatít Cam Đường và một nhánh từ Xuân Giao đi Nhà máy Tuyển quặng Tằng Loỏng, với tổng chiều dài 58 km, theo thiết kế có 50 đôi tàu/ngày đêm

- Đường sông: Có 2 tuyến sông Hồng và sông Chảy chạy dọc tỉnh, tạo thành một hệ thống giao thông đường thuỷ liên hoàn Đường sông Lào Cai chưa thực sự phát triển mạnh mặc dù trên địa bàn tỉnh có rất nhiều sông lớn như sông Hồng dài 130 km (trong đó: nội địa có 75 km và chung biên giới với Trung Quốc khoảng 55 km) Tuy nhiên, do có nhiều ghềnh thác chưa được chỉnh nên khả năng vận tải còn hạn chế

- Đường hàng không: Chính phủ đã có chủ trương xây dựng sân bay tại Lào Cai trong giai đoạn 2010 - 2015

Trong lĩnh vực giao thông đối ngoại, ngành giao thông vận tải Lào Cai

đã có quan hệ chặt chẽ với ngành giao thông Vân Nam (Trung Quốc) Những

Trang 39

năm qua, hai bên thường xuyên trao đổi các vấn đề liên quan đến giao thông giữa hai nước như: xây dựng các cầu qua sông biên giới hai nước, thực hiện tốt Hiệp định vận tải đã ký kết

* Hạ tầng điện - nước

- Hạ tầng mạng lưới điện: 9/9 huyện, thành phố; 164 xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia 75% hộ dân được sử dụng điện lưới Tiềm năng thuỷ điện của Lào Cai khoảng 11.000MW; đã cho phép đầu tư 68 công trình với tổng công suất 889MW, dự kiến đến 2010 sẽ phát điện khoảng 700MW Ngoài ra, từ năm 2006, ngành Điện lực Việt Nam đã hoàn thành đấu nối đường dây 220KV Yên Bái - Lào Cai - Hà Khẩu để nhập khẩu điện từ Vân Nam (Trung Quốc) với nhu cầu sản lượng khoảng 300MW đảm bảo cung cấp

đủ nhu cầu về điện cho sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư trước mắt cũng như lâu dài

- Hạ tầng mạng lưới cấp thoát nước: Hiện tại đã có hệ thống cấp nước sạch tại thành phố Lào Cai và hầu hết các huyện, cùng với hệ thống giếng khoan đang cung cấp nước sạch cho 69% dân số toàn tỉnh

* Hạ tầng thông tin liên lạc:

- Hạ tầng bưu chính: Tính đến 30/9/2008, có 227 điểm phục vụ, trong đó: có 25 bưu cục, 127/144 xã có điểm bưu điện văn hoá xã; 125 đại lý bưu điện, 100% trung tâm huyện, thành phố có báo đến trong ngày Bán kính phục

vụ bình quân 2,7km/điểm phục vụ; bình quân số dân được phục vụ là 2.143 người/điểm phục vụ (đạt 97% chỉ tiêu đến năm 2010)

- Hạ tầng viễn thông: So với những năm trước, mạng lưới viễn thông của tỉnh Lào Cai đã có sự phát triển vượt bậc Hiện nay, trên toàn mạng có 57 tuyến cáp quang, 30 tuyến truyền dẫn Vi ba, 170 trạm BTS Mật độ điện thoại đạt 32 máy/100 dân (đạt 100% chỉ tiêu đến năm 2010) Thuê bao Internet đạt trên 11.900 thuê bao, trong đó thuê bao băng rộng đạt 5.672 thuê bao Theo hướng dẫn về hệ số quy đổi của Bộ Thông tin và Truyền thông mật độ sử dụng Internet của tỉnh Lào Cai đạt 10,5/100 dân

Trang 40

* Hạ tầng công nghệ thông tin:

Hạ tầng công nghệ thông tin được phát triển ổn định Dự án mạng LAN

đô thị với quy mô và công nghệ hiện đại đang trong quá trình xây lắp, đảm bảo đến quý II năm 2009 hoàn thành giai đoạn đầu dự án, đảm bảo nhu cầu sử dụng của các cơ quan khi đi chuyển về khu hành chính mới Sau khi hoàn thành giai đoạn II (năm 2010) đảm bảo tỉnh Lào Cai sẽ có một hạ tầng truyền dẫn đáp ứng được nhu cầu đến 2020 và có khả năng mở rộng cho các giai đoạn tiếp theo Việc phát triển hạ tầng công nghệ thông tin tại các sở, ban, ngành đã được chú trọng đầu tư, kết nối Internet phục vụ cho công tác quản

lý, điều hành Đến nay, đã có 42/59 cơ quan nhà nước có mạng LAN; tỷ lệ máy tính kết nối Internet chiếm hơn 60% Chỉ số ICT Index năm 2007 của Lào Cai xếp thứ 31/64 tỉnh thành

- Cổng giao tiếp điện tử ở địa chỉ: http://www.laocai.gov.vn/ là kênh thông tin chính thức của tỉnh Lào Cai trên môi trường mạng

3.5 Nguồn lao động:

Năm 2007, tổng số có 337.803 người (số người trong độ tuổi lao động

là 319.288 người, trong đó số người có khả năng lao động là 315.261 người;

số người ngoài độ tuổi thực tế tham gia lao động là 22.542 người)

Cơ cấu lao động theo các ngành nghề: Nông nghiệp và lâm nghiệp 227.027 người; Thuỷ sản 330 người; Công nghiệp khai thác mỏ 5.238 người; Công nghiệp chế biến 6.821người; Sản xuất và phân phối điện, khí đạt và nước 867; Xây dựng 11.650; Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ và đồ dùng cá nhân 13.145; Khách sạn và nhà hàng 3.745; Vận tải, thông tin liên lạc 4.406; Tài chính, tín dụng 799; Hoạt động Khoa học và Công nghệ 120; Hoạt động kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn 593; Quản lý nhà nước an ninh quốc phòng 8.704; Giáo dục & đào tạo 12.257; Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 2.208; Hoạt động Văn hoá - thể thao 882; Hoạt động Đảng, đoàn thể, hiệp hội 1.813; Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng 889

Ngày đăng: 01/09/2017, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Chiều, 2010, Khóa luận tốt nghiệp:” Nghiên cứu kiến thức bản địa trong khai thác và sử dụng rau rừng ở Điện Biên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Chiều, 2010, Khóa luận tốt nghiệp:"” Nghiên cứu kiến thức bản địa trong khai thác và sử dụng rau rừng ở Điện Biên
2. Dự án hỗ trợ Chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam, Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án hỗ trợ Chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam
3. Trần Ngọc Hải, 2009, Kỹ thuật trồng cây Lâm sản ngoài gỗ, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Ngọc Hải, 2009, "Kỹ thuật trồng cây Lâm sản ngoài gỗ
6. Lữ Khăm Phon, 2010, Khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá tính đa dạng và tình hình khai thác sử dụng rau rừng tại khu vực Mường Chà, tỉnh Điện Biên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lữ Khăm Phon, 2010, Khóa luận tốt nghiệp: "“Đánh giá tính đa dạng và tình hình khai thác sử dụng rau rừng tại khu vực Mường Chà, tỉnh Điện Biên
7. Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn (1996), “Thảm thực vật và hệ thực vật vùng núi cáo Hoàng Liên Sơn”, Tạp chí lâm nghiệp số 4+5, năm 1996, trang 7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn (1996), "“Thảm thực vật và hệ thực vật vùng núi cáo Hoàng Liên Sơn”
Tác giả: Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn
Năm: 1996
8. Tạ Quang Trung, 2011, Khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân địa phương trong sử dụng và phát triển rau rừng tại tỉnh Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạ Quang Trung, 2011, Khóa luận tốt nghiệp
9. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) (1998), “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ”(Văn kiện dự án: Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) (1998), "“Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ”
Tác giả: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)
Năm: 1998
10. Nguyên Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998), “Đa dạng thực vật có mạch vùng núi cao Sa Pa- Phan Si Pan”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998), "“Đa dạng thực vật có mạch vùng núi cao Sa Pa- Phan Si Pan”
Tác giả: Nguyên Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
11. Tober Lisa, Phan Văn Thắng (2002), “ Vai trò và giá trị của rừng và lâm sản ngoài gỗ tại Sa Pa- Lào Cai”, (Báo cáo kết quả nghiên cứu).Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tober Lisa, Phan Văn Thắng (2002), "“ Vai trò và giá trị của rừng và lâm sản ngoài gỗ tại Sa Pa- Lào Cai”
Tác giả: Tober Lisa, Phan Văn Thắng
Năm: 2002
4. Đinh Thị Hiền, 2011 khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sử dụng rau rừng của người dân địa phương tại huyện Bảo Thắng, Lào Cai&#34 Khác
5. Nguyễn Thị Lương, 2011, khóa luận tốt nghiệp: " Nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân địa phương trong sử dụng và phát triển rau rừng tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai&#34 Khác
1. Yoshitaka &Nguyen Van Ke, : Edible wild plants of Viet Nam, Nhà xuất bản Orchid Press, Thái Lan Khác
2.The National Univercity of Lao PDR, the National Agriculture & Forestry Research Institute and SNV Netherlands Development Organisation: Non Timber Forest Products in the Lao PDR Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm