DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VCF Quỹ Bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam IUCN Liên đoàn bảo tồn thiên nhiên quốc tế ENV Trung tâm giáo dục thiên nhiên GDBT Giáo dục bảo tồn GDMT Giáo dục Môi
Trang 1
NGUYỄN ĐÌNH THÁI
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC BẢO TỒN CHO CỘNG ĐỒNG TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2013
Trang 2NGUYỄN ĐÌNH THÁI
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC BẢO TỒN CHO CỘNG ĐỒNG TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HOÁ
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 60620211
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS VƯƠNG VĂN QUỲNH
Hà Nội – 2013
Trang 3Trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành bản khoá luận này, ngoài
sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa đào tạo sau đại học – Trường Đại học Lâm nghiệp
và Lãnh đạo, cán bộ BQL Khu BTTN Xuân Liên Đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của GS.TS.Vương Văn Quỳnh đã giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Cũng nhân dịp này cho phép tôi gửi lời trận trọng cảm ơn tới Phòng
GD huyện Thường Xuân, Trạm thuỷ văn Cửa Đạt, Ban quản lý công trình Thuỷ Lợi, Thuỷ điện Cửa Đạt, Trường cấp III Cầm Bá Thước và các trường cấp I, II cũng như Lãnh đạo UBND cùng nhân dân các xã Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra, thu thập số liệu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng song trong quá trình thực hiện khoá luận không tránh khỏi những thiếu xót Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2013
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Đình Thái
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Tại Việt Nam 6
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 10
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 10
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 10
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 10
2.3 Nội dung nghiên cứu 11
2.4 Phương pháp nghiên cứu 11
2.4.1 Phương pháp luận 11
2.4.2 Phương pháp cụ thể 13
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 19
3.1 Địa điểm nghiên cứu 19
3.2 Điều kiện tự nhiên 20
Trang 53.2.1 Vị trí địa lý 20
3.2.2 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng 22
3.2.3 Khí hậu và thuỷ văn 22
3.2.4 Giá trị đa dạng sinh học của khu bảo tồn 22
3.2.5 Đặc điểm về hang động, mặt nước cảnh quan và các giá trị khác 24
3.3 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 25
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Đặc điểm hiện trạng tài nguyên và nhận thức của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học 28
4.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của cộng đồng liên quan đến GDBT 28
4.1.2.Thực trạng, nguyên nhân biến đổi tài nguyên của KBT liên quan đến cộng đồng 29
4.1.3 Đặc điểm nhận thức bảo tồn của cộng đồng 33
4.2 Thực trạng các hoạt động GDBT đã triển khai ở Khu BTTN Xuân Liên 41 4.2.1 Chương trình GDBT trong trường học 44
4.2.2.Các chương trình GDBT cho cộng đồng địa phương 46
4.3 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc xây dựng, thực hiện các chương trình giáo dục bảo tồn tại khu vực ( Bảng 4.8) 56
4.4 Đề xuất các chương trình GDBT cho cộng đồng tại KBT 59
4.4.1 Chương trình GDBT dành cho đối tượng là học sinh, giáo viên 59
4.4.2 Chương trình GDBT dành cho đối tượng là cán bộ công nhân viên chức nhà nước của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT 61
4.4.3 Chương trình GDBT dành cho cộng đồng 62
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VCF Quỹ Bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam
IUCN Liên đoàn bảo tồn thiên nhiên quốc tế
ENV Trung tâm giáo dục thiên nhiên
GDBT Giáo dục bảo tồn
GDMT Giáo dục Môi trường
VQG Vườn quốc gia
KBT Khu bảo tồn
PRA Phương pháp đánh gía nhanh có sự tham gia
RRA Phương pháp đánh gía nhanh
PTTH Phổ thông trung học
THCS Trung học cơ sở
UBND Ủy ban Nhân Dân
MTTQ Mặt trận tổ quốc
HĐND Hội đồng nhân dân
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CHDCND Cộng hoà Dân chủ nhân dân
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
FFI Tổ chức bảo vệ động thực vật hoang dã quốc tế
BVPTR Bảo vệ phát triển rừng
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
SWOT Tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh:
Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức) - là một mô hình nổi tiếng trong phân tích kinh doanh của doanh nghiệp
SPSS Phương pháp phân tích thống kê
BQL Ban quản lý
ĐDSH Đa dạng sinh học
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
GD Giáo dục
HCM Hồ Chí Minh
KL Kiểm lâm
Trang 7xây dựng, thực hiện các chương trình giáo dục bảo tồn trong
trường học
56
4.9 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc
xây dựng, thực hiện các chương trình giáo dục bảo tồn trong
cộng đồng
58
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
3.2 Vị trí của Khu BTTN Xuân Liên trong hệ thống các khu
rừng đặc dụng của tỉnh Thanh Hoá
21
3.3 Đa dạng về tài nguyên thực vật Khu BTTN Xuân Liên 23 3.4 Cộng đồng thôn bản vùng đệm Khu BTTN Xuân Liên 26 4.1 Các đối tượng khai thác lâm sản trái phép trong KBT bị
4.3 Lịch năm mới và các loại tờ rơi tờ gấp tuyên truyền về
Khu BTTN Xuân Liên
47
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên được thành lập năm 2000, cách thành phố Thanh Hóa 65 km về phía Tây Nam, tiếp giáp với nước CHDCND Lào và tỉnh Nghệ An Tổng diện tích tự nhiên 26.303,6 ha, trong
đó 87,8% diện tích có rừng tự nhiên, là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài động, thực vật quý hiếm đặc trưng cho vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung bộ Bước đầu đã thống kê được 752 loài thực vật bậc cao (thuộc
440 chi, 130 họ), trong đó có 4 loài đặc hữu hẹp ở Việt Nam, 38 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới Xuân Liên là nơi phân bố của nhiều loài cây hạt trần có giá trị khoa học và kinh tế cao như Pơ Mu, Bách Xanh, Sa Mu, Giẻ Tùng sọc trắng cùng với sự đa dạng của thảm thực vật Về khu hệ động vật đã ghi nhận 369 loài, trong đó có 51 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới, điển hình như: Vượn đen má trắng, Voọc xám, Ngoài ra, khu hệ bướm có 10 loài đặc hữu của Việt Nam
Tuy nhiên, hiện nay các loài động thực vật quý hiếm của KBT đang phải đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng cục bộ KBT đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ rừng, BTTN, qua đó số vụ vi phạm Luật BVPTR tuy có giảm theo các năm (Năm 2011 là 49 vụ, 94 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 410 triệu đồng và năm 2012: 40 vụ, 88,2 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 350 triệu đồng) nhưng việc suy giảm tài nguyên vẫn đang là thách thức nan giải của KBT Theo kết quả thảo luận với Ban lãnh đạo và cán bộ KBT thì hiện trạng trên do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chính đó là nhận thức bảo tồn của người dân còn hạn chế, các chương trình GDBT đã thực hiện tại nơi đây vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong đợi, hơn nữa nhu cầu giáo dục bảo tồn của cộng đồng tại Khu BTTN Xuân Liên chưa được đánh giá đầy đủ, chưa cung cấp cơ sở khoa học cho công tác giáo dục bảo tồn
Trang 10Để giải quyết được vấn đề trên thì việc nghiên cứu đề xuất chương trình giáo dục bảo tồn cho cộng đồng là việc làm hết sức cần thiết cho công tác bảo tồn của
Xuân Liên Vì những lý do trên tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất
chương trình giáo dục bảo tồn cho cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá” Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho
việc thực hiện công tác giáo dục bảo tồn cho cộng đồng tại Khu BTTN Xuân Liên trong tương lai, góp nâng cao nhận thức cộng đồng, nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và đồng thời bảo tồn được các giá trị đa dạng sinh học, tài nguyên của KBT
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Khái niệm GDMT chính thức được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972, tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường Nhân văn được tổ chức ở Stockholm , Thụy Điển (Matarasso, 2004)
GDMT là quá trình nhận ra các giá trị của môi trường, làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường vật
lý xung quanh GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và
tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường (IUCN, 1970)
GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hiệu quả giúp người dạy và học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường liên quan, đồng thời tìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ (Wigley, 2000)
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về GDMT, tất cả đều có một số đặc điểm cơ bản sau:
- GDMT là một quá trình truyền tải thông tin, kiến thức diễn ra trong một khoảng thời gian, ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thức khác nhau
- GDMT nhằm thay đổi hành vi
- Môi trường học tập là chính môi trường và những vấn đề có trong thực tế
- GDMT liên quan đến việc giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống
- Trong GDMT, việc học phải tập trung vào người học và lấy hành động làm cơ sở
Trang 12Cộng đồng nói chung thường được hiểu là những nhóm người, được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo huyết thống, theo khu vực địa lý, theo hệ thống quyền lực, theo tổ chức đoàn thể, theo sở thích,… (Matarasso, 2004) Tuy nhiên, cộng đồng trong đề tài này được xem xét như một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, gia đình, thể chế và các cấu trúc khác đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của xã hội, của một nhóm người trong một khu vực địa
lý xác định, có thể được biến đổi bởi quá trình vận động lịch sử
Cho đến nay, còn nhiều ý kiến về sự khác nhau giữa GDBT và GDMT Nhiều người cho rằng, GDBT và GDMT là 2 khái niệm tương đồng với nhau,
có thể thay khái niệm GDBT bằng GDMT và ngược lại Trong khuôn khổ đề tài, khái niệm GDBT được dùng để chỉ các hoạt động GDMT có sự tham gia của cộng đồng dân địa phương nhằm thay đổi hành vi, hướng tới mục tiêu bảo
tồn (Matarasso và cộng sự, 2004)
Brewer (2002) đã cho rằng, sự tham gia nên được khuyến khích và
trông đợi để thêm vào những câu hỏi, lựa chọn cho những thông tin có giá trị
và giới thiệu những kết quả của họ cho những người khác kể cả các nhà khoa học Bên cạnh đó việc cộng tác với giáo viên và các chuyên gia giúp họ trau dồi rất nhiều về kiến thức chuyên môn trong qúa trình dự án diễn ra và ngay
cả trong những hoạt động sau khi dự án kết thúc
Báo cáo của Richard và Barbara (2001) chỉ ra rằng việc tạo cho người
dân cơ hội tiếp cận với kinh nghiệm bảo tồn trên thế giới sẽ đảm bảo chương trình thành công hơn là việc chính phủ và các công ty áp đặt các kế hoạch bảo tồn mà không có sự tham gia của người dân Kết quả cũng chỉ ra rằng tất cả các chương trình GDBT nên lấy cộng đồng làm trung tâm Người dân có thể tiếp cận các kiến thức bảo tồn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng là một cách hữu ích giúp người dân chủ động tiếp cận với công tác bảo
Trang 13tồn Một trong những cơ hội tiếp cận tốt nhất để cộng đồng tích cực tham gia vào công tác bảo tồn đó là để họ tự tiếp cận với các nguồn thông tin, từ đó tiếp cận và bổ sung vào tài liệu những thông tin mà họ cho là cần thiết
Nghiên cứu về nhận thức của nam và nữ đối với vấn đề môi trường
đã được nhiều tác giả nghiên cứu tại nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới, tuy nhiên các kết quả có sự khác biệt:
- Engels và Jacobson (2001) khẳng định nhận thức và kiến thức của nam cao hơn nữ ở Braxin nơi có loài linh trưởng Golden Lion – Tamarin sinh sống Tác giả cho rằng nam giới có nhiều cơ hội tiếp cận về sinh học, bảo tồn nói chung và về loài Sư tử nói riêng hơn nữ giới
- Rajakaruna (2009), đã khẳng định nam giới có nhận thức tốt hơn nữ giới về 5 loài Rùa biển đẻ trứng ở ven bờ biển SriLanka
Nghiên cứu về sự khác nhau trong nhận thức bảo tồn theo các thành phần dân tộc, Onon (2006) cũng mới chỉ ghi nhận có sự khác biệt trong nhận
thức và thái độ bảo tồn loài Báo tuyết ở Mông Cổ của 5 cộng đồng người Qua đó đưa ra nhận định rằng hiểu biết của các dân tộc về tình trạng và sinh cảnh của chúng ở các mức độ khác nhau là khác nhau, tuy nhiên không lý giải được sự khác biệt này
Nghiên cứu về sự khác nhau trong nhận thức bảo tồn theo trình độ học vấn, Padua (1994) đã chỉ ra rằng có sự khác biệt về nhận thức theo trình
độ học vấn Chương trình GDMT diễn ra với các học sinh từ lớp 5 đến lớp 8, những học sinh lớp 8 có điểm số cao nhất trong các bài kiểm tra
Ở Thái Lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân
tố trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan Các cộng đồng có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa phương của
họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ hợp pháp trong những thập kỷ trước đây
Trang 14Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 dự án lâm nghiệp cộng đồng do
ADB tài trợ của Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo ra cơ hội tiếp cận kinh nghiệm có người dân tham gia trong quản lý rừng
1.2 Tại Việt Nam
Theo Vũ Văn Cần (2007) cho biết việc xây dựng kế hoạch quản lý, phát
triển rừng phải dựa vào chính nguồn lực của cộng đồng và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, có như vậy người dân địa phương mới thấy
kế hoạch đặt ra là vì lợi ích của cộng đồng và từ đó họ mới tích cực tham gia Người dân tham gia bảo tồn được tạo cơ hội tiếp cận với các phương pháp GDBT mang tính quốc tế kết hợp với các yếu tố địa phương Điều này tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các vấn đề môi trường ở địa phương một cách thuận lợi và thúc đẩy người dân tham gia các chương trình GDBT một cách tích cực
Theo Chương trình UNDP (2007) đã thực hiện trên 23 dự án về mô hình quản lý rừng cộng đồng, kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù luật đã công nhận quyền được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng một cách lâu dài, ổn định Tuy nhiên luật cũng hạn chế một số quyền với cộng đồng được giao rừng như: không được quyền phân chia lại cho thành viên, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho, thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng rừng Song trong thực tế muốn thực hiện được quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn khi được giao rừng có hiệu quả phải tiến hành các mô hình thử nghiệm đủ lớn, đủ bao quát sự khác nhau về điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội, truyền thống, tập quán cho các loại cộng đồng dân
cư.[34]
Khu BTTN Phong Điền đã mạnh dạn xây dựng thí điểm mô hình làng sinh thái lâm nghiệp tại một số xã vùng đệm của KBT Kết quả bước đầu rất đáng khích lệ đó là người dân được hưởng quyền lợi về đời sống vật chất và tinh thần, từ đó người dân đã tự giác tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng của KBT
Trang 15Nghiên cứu về đánh giá nhận thức và cơ hội tham gia GDBT của cộng đồng: Luận văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp năm 2010 của Nguyễn Thị
Nhài cũng đã đánh giá được nhận thức, cơ hội tham gia GDBT của cộng đồng theo các nhóm đối tượng là học sinh, người dân địa phương sống gần KBT loài
và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca- tỉnh Hà Giang Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đánh giá được nhận thức, cũng như cơ hội tham gia của nhóm đối tượng rất quan trọng là thợ săn và cán bộ của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT Qua đó cũng chưa xây dựng được chương trình GDBT cho các nhóm đối tượng này
Nghiên cứu đề xuất các chương trình GDBT tại KBT loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng: Luận văn Thạc sĩ
khoa học lâm nghiệp năm 2012 của Nông Diệu Huế chưa đánh giá được nhận thức, cũng như cơ hội tham gia của nhóm đối tượng rất quan trọng là thợ săn
và cán bộ của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT Đồng thời Luận văn cũng chưa đánh giá được nhận thức bảo tồn của cộng đồng địa phương theo giới, nghề nghiệp, thành phần dân tộc Qua đó chưa cung cấp đầy đủ cơ sở khoa học để đề xuất các chương trình GDBT tại nơi đây Đề tài chưa có sự đánh giá kế thừa những chương trình đã làm có hiệu quả đã có nội dung gì, còn thiếu nội dung gì, các hình thức GDBT như thế đã đủ chưa để tạo cơ sở cho việc đề xuất các chương trình GDBT trong giai đoạn tiếp theo Các chương trình GDBT được đề xuất mới chủ yếu tập trung vào GDBT về Vượn Cao Vít, còn GDBT về tài nguyên rừng KBT, giá trị đa dạng sinh học và vai trò của KBT chưa được chú trọng Các chương trình GDBT để thức tỉnh cộng đồng, kêu gọi cộng đồng không vi phạm những hành vi bị cấm và thực hiện những hành động bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường là chưa
có Hơn nữa giải pháp để đảm bảo tính bền vững cho các chương trình GDBT tại nơi đây cũng chưa được tác giả nghiên cứu, đề xuất
Đối với vấn đề GDBT ở các VQG và Khu BTTN ở Việt Nam
Trang 16Trong hệ thống các VQG và Khu BTTN ở Việt Nam thì vấn đề GDBT được triển khai khá sớm và đã thu được nhiều thành công, song vẫn còn một
số thiếu sót:
- Năm 2009, Trung tâm con người và thiên nhiên (PanNature) thực hiện một số chương trình nâng cao nhận thức về tài nguyên tại vùng đệm KBT loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca, tỉnh Hà Giang Chương trình này thực hiện các hoạt động nâng cao nhận thức về các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực, đào tạo tập huấn các kỹ năng về bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường Tuy nhiên đối tượng tham gia chương trình này mới chỉ tập trung là giáo viên và học sinh các trường THCS, mất nhiều thời gian cho các hoạt động tham gia và không đến được với đối tượng đông đảo nhất và sống gần rừng nhất đó là nông dân Hơn nữa nông dân cho rằng chương trình này không phù hợp với họ, họ không muốn tham gia và thậm chí theo họ thì các chương trình này không mang lại lợi ích gì cho họ
- Một số VQG và Khu BTTN đã thành lập được Trung tâm giáo dục môi trường, giáo dục bảo tồn, song hoạt động vẫn còn đơn điệu và chưa thu hút được đông đảo cộng đồng tham gia Một trong số những khu rừng đặc dụng đi đầu trong lĩnh vực này là VQG Cúc Phương; hiện tại Vườn đã thành lập được 43 câu lạc bộ bảo tồn tại trường học, đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng vào chương trình học tập chính khoá cho các em học sinh, với số lượng học sinh tham gia học tập hàng năm lên tới 15.000 lượt Ngoài chương trình tại các trường học, Vườn cũng đã triển khai một chương trình thôn bản tập trung vào đối tượng người lớn tại các cộng đồng dân cư và chương trình giáo dục du khách cho khách du lịch tới Cúc Phương Chương trình giáo dục nhận thức bảo tồn là một phần quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển của Vườn quốc gia Cúc Phương Đây là chương trình được triển khai sớm nhất và hoạt động lâu nhất ở Việt Nam, chương trình cũng đã nhận được nhiều sự quan tâm của các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế
Trang 17Đây cũng là mô hình để các Khu rừng đặc dụng khác nghiên cứu, áp dụng và triển khai thực hiện
Đối với vấn đề đồng quản lý tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá: Luận văn tốt nghiệp của Phạm Anh Tám (2006), đã đánh giá được một
cách sơ bộ sự tham gia của người dân địa phương vào công tác quản lý, bảo tồn của KBT qua việc đóng góp ý kiến trực tiếp đối với một số quyết định liên quan đến quản lý trong một phạm vi nhất định, người dân theo dõi từng nội dung và chương trình hoạt động của Khu bảo tồn Tuy nhiên đề tài chưa đánh giá được nhu cầu GDBT của các đối tượng khác như: Chính quyền địa phương, học sinh, giáo viên, cán bộ khu bảo tồn…
Đối với vấn đề GDBT tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá
Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động bảo tồn có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại đối với bất kỳ một chương trình bảo tồn nào Kể từ khi thành lập tới nay đã có một số chương trình GDBT được thực hiện tại Khu BTTN Xuân Liên, mục tiêu của các chương trình này là hướng tới bảo tồn dựa trên cơ sở cộng đồng; các chương trình này đã làm giảm áp lực từ cộng đồng dân cư vùng đệm vào KBT, mối quan hệ giữa KBT và cộng đồng được cải thiện Cộng đồng dân cư vùng đệm đã cùng với KBT tham gia hiệu quả vào công tác bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ giá trị đa dạng sinh học của KBT Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn mang tính hình thức, áp đặt, nội dung chưa phong phú, đơn điệu và chưa có sự tham vấn cộng đồng; những đánh giá về thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc xây dựng, thực hiện các chương trình GDBT tại khu vực vẫn chưa được đánh giá đầy đủ để làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình GDBT trong tương lai Vì vậy cần phải có những nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, tạo cơ
sở khoa học và thực tiễn để từ đó đề xuất các chương trình giáo dục bảo tồn phù hợp, hiệu quả tại nơi đây
Trang 18Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được những thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong
việc xây dựng và thực hiện các chương trình GDBT tại KBT
- Đề xuất được các chương trình GDBT cho KBT
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là cộng đồng dân cư vùng đệm KBT, bao gồm:
- Người dân từ 18 tuổi trở lên sống tại vùng đệm KBT Xuân Liên, gồm nông dân và cán bộ công nhân viên chức nhà nước là người dân nơi đây
- Học sinh cấp II, III tại các trường học thuộc vùng đệm KBT
+ thôn Minh Ngọc, xã Lương Sơn
+ thôn Tiến Sơn, xã Xuân Cẩm
Trang 19+ thôn Hang Cáu, xã Vạn Xuân
- Học sinh của các trường cấp II của 5 xã (1trường/xã): Bát Mọt, Lương Sơn, Yên Nhân, Xuân Cẩm, Vạn Xuân (5 học sinh/khối) và Trường cấp III Cầm Bá Thước, huyện Thường Xuân (30 học sinh/3khối học)
- Các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT :
+ Trạm Khí tượng Thủy văn Cửa Đạt (3 người/tổng số 5 cán bộ) + Ban quản lý công trình Thuỷ Lợi, Thuỷ điện Cửa Đạt (10 người)
2.2.2.2 Thời gian
Từ 01/10/2012 – 31/12/2012 Điều tra thực địa lần 1
Từ 01/01/2013 – 01/02/2013 Điều tra thực địa lần 2
Từ 02/02/2013 – 28/2/2013 Xử lý số liệu, viết và hoàn thiện luận văn
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hiện trạng tài nguyên và nhận thức của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các hoạt động GDBT đã triển khai ở KBT
- Nghiên cứu những thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc xây dựng, thực hiện các chương trình GDBT tại khu vực
Trang 20nghiên cứu thực hiện các hoạt động GDMT đã được tiến hành trong những năm qua và đã thu được những hiệu quả bước đầu Tuy nhiên các chương trình này
có hiệu quả chưa thực sự như mong đợi bởi chưa có sự tham vấn cộng đồng trong việc xây dựng chương trình dẫn đến nội dung, hình thức và phương pháp GDBT chưa phù hợp với đặc điểm, đặc thù của địa phương theo các vấn đề về dân tộc, nghề nghiệp, thu nhập, giới tính, đối tượng được tham gia…Đồng thời cũng chưa đảm bảo được tính bền vững của nó
- Một chương trình GDBT không chỉ dừng lại ở các hoạt động giáo dục như: tập huấn nâng cao kỹ năng mà còn có thể là các chương trình truyền thông nhằm cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức,… hoặc các chương trình vận động chính sách nhằm xóa bỏ những trở ngại về mặt chính sách đối với việc thực hiện các hành vi bảo tồn
Một chương trình GDBT cần làm rõ đâu là các hành vi gây ra các vấn đề bảo tồn/môi trường Nguyên nhân của các hành vi đó là gì? Do thiếu nhận thức, kiến thức, kỹ năng, không có thái độ đúng đắn, thiếu lựa chọn hay bị cản trở bởi các yếu tố kinh tế, tài chính?
Để nghiên cứu, đề xuất được chương trình GDBT cho bất kỳ khu vực nào cần làm rõ được các nội dung sau: Đặc điểm kinh tế xã hội của cộng đồng liên quan như thế nào đến GDBT, họ giầu hay nghèo, nghề nghiệp của họ là gì, thành phần dân tộc như thế nào, phong tục tập quán nơi đây ra sao….Hiện trạng tài nguyên nơi đây như thế nào, có bị suy giảm hay không, nếu có thì có phải là do
họ chưa có nhận thức, hay nhận thức kém về bảo tồn và ý kiến của họ về các vấn
đề này là như thế nào? Nhận thức bảo tồn của họ như thế nào? Thực trạng GDBT tại đây như thế nào, nội dung gì đã có, nội dung gì còn thiếu, nội dung gì hiệu quả và nội dung nào không có hiệu quả Đồng thời việc thực hiện các chương trình GDBT tại nơi đây sẽ có thuận lợi gì, khó khăn gì
Trang 21Xuất phát từ những quan điểm trên đây, đề tài tiến hành nghiên cứu đặc điểm kinh tế xã hội của cộng đồng liên quan đến GDBT Đồng thời đề tài cũng đánh giá nhận thức và thái độ của người dân với vấn đề bảo tồn tại địa phương, xác định những hoạt động ảnh hưởng đến tài nguyên/môi trường của người dân, tìm ra những nguyên nhân của những hành động đó, từ đó tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi của người dân khi tham gia công tác bảo tồn dựa vào cộng đồng bên cạnh những cơ hội tiếp cận, nghiên cứu thực trạng GDBT tại nơi đây làm cơ sở xây dựng những chương trình giáo dục bảo tồn sau này Những nội dung này của đề tài sẽ xuyên suốt quá trình tổng quan vấn đề nghiên cứu và
phương pháp nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp cụ thể
2.4.2.1 Kế thừa tài liệu
- Thu thập tài liệu có sẵn, hoặc số liệu thống kê ở địa phương về các
vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Báo cáo tổng hợp, các số liệu thống kê về văn hoá, xã hội, kinh tế của địa phương nghiên cứu
- Kế thừa các chương trình GDBT
- Kế thừa các tài liệu của KBT
Sau khi thu thập tài liệu, tiến hành phân tích đánh giá và chọn lọc những tài liệu cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu
2.4.2.2.Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với những người có kinh nghiệm như: Các chuyên gia
đã có các công trình nghiên cứu tại KBT, Ban lãnh đạo và cán bộ Ban quản lý, Các ý kiến tham vấn được tổng hợp, phân tích và đánh giá theo từng
nội dung nghiên cứu
2.4.2.3.Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)
Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu của đề tài, tôi đã sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (Participatory/Rural
Trang 22Appraisal – PRA), với 2 công cụ phổ biến là phỏng vấn bán định hướng và phỏng vấn định hướng, nhằm đánh giá nhận thức và thái độ của cộng đồng
Sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn các hộ gia đình, cán bộ thôn xã, học sinh, cán bộ của các cơ quan tổ chức đóng gần Khu bảo tồn…được lựa chọn phỏng vấn Họp bàn với người dân, tổ chức thành các cuộc thảo luận nhóm để tranh thủ ý kiến của người dân
*Phỏng vấn bán định hướng
Đề tài đã thực hiện phỏng vấn 60 người với các đối tượng là người dân từ
18 tuổi trở lên sống tại vùng đệm KBT Xuân Liên là nông dân và cán bộ công nhân viên chức nhà nước là người dân nơi đây Các cuộc phỏng vấn được thực hiện trực tiếp tại hộ gia đình hoặc kết hợp trong các cuộc họp thôn bản do cán bộ KBT tổ chức nhằm thu thập những thông tin về tài nguyên thiên nhiên quanh khu vực họ sinh sống, nhận thức của họ đối với các vấn đề bảo tồn tại địa phương
5 thôn bản thuộc 5 xã được lựa chọn có vị trí tiếp giáp với KBT Xuân Liên và được đánh giá là tác động đến tài nguyên KBT nhiều nhất Mỗi thôn phỏng vấn 12 người được lựa chọn sao cho có sự khác nhau về lứa tuổi, thu nhập hàng năm, nghề nghiệp, giới tính, trình độ, dân tộc, địa vị xã hội Những thông tin trong các cuộc phỏng vấn được ghi chép chi tiết cụ thể vào phiếu biểu ngay trong thời gian phỏng vấn, những thông tin này được tổng hợp, phân tích để hỗ trợ những kết quả phỏng vấn định hướng
Các câu hỏi được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với đại đa số đối tượng được phỏng vấn và nhằm thu thập được tối đa thông tin từ người dân Một số nội dung chính trong câu hỏi phỏng vấn bán định hướng như sau:
- Hiểu biết của người dân về KBT như năm thành lập, ranh giới KBT, khoảng cách từ nơi sinh sống đến ranh giới KBT, tầm quan trọng của việc thành lập KBT
Trang 23- Tìm hiểu tác động của người dân địa phương đến đa dạng sinh học trong KBT: Các hoạt động chăn thả gia súc, lấy củi phục vụ hàng ngày, khai thác gỗ làm nhà diễn ra ở đâu và như thế nào…
- Xác định những khó khăn của người dân địa phương trong các hoạt động sinh kế và tìm hiểu nguyện vọng của họ
* Phỏng vấn định hướng
Để đánh giá nhận thức bảo tồn của cộng đồng, đề tài đã phỏng vấn 203 người (Theo các đối tượng: Người dân từ 18 tuổi trở lên sống tại vùng đệm KBT, học sinh cấp II, III tại các trường học thuộc vùng đệm KBT, cán bộ của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT bằng phiếu câu hỏi phỏng vấn định hướng Kết quả của các cuộc phỏng vấn này được sử dụng cho việc phân tích chính và đưa ra các kết luận của đề tài
Cấu trúc bộ câu hỏi phỏng vấn: Xây dựng bộ câu hỏi theo 2 dạng: Câu hỏi đóng và câu hỏi đóng – mở
- Câu hỏi đóng (Close question):
Là những câu hỏi đã có sẵn các phương án trả lời, người được hỏi sẽ lựa chọn và đánh dấu vào các phương án thích hợp Đề tài đã thiết kế 36 câu hỏi đóng, trong đó 3 câu hỏi với đáp án theo sự lựa chọn là “có” hoặc
“không” và 33 câu hỏi còn lại có từ 3 đến 9 sự lựa chọn
- Câu hỏi đóng – mở (Open – ended question):
Là những câu hỏi không có sẵn các phương án trả lời, với 8 câu hỏi, nhằm thu thập thông tin từ người dân về mối quan tâm, nguyện vọng của họ đối với các vấn đề liên quan đến sử dụng tài nguyên trong khu vực
- Nội dung bảng câu hỏi: gồm 4 phần
+ Phần I: Tìm hiểu kiến thức và nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, KBT Xuân Liên theo các thông tin như năm
Trang 24thành lập, ranh giới,… và mong muốn của người dân đối với công tác bảo tồn
+ Phần II: Tìm hiểu về vấn đề quản lý và sử dụng vườn rừng
+ Phần III: Đánh giá tác động của người dân địa phương đối với tài nguyên thiên nhiên, việc thành lập KBT có ảnh hưởng và tác động như đến lợi ích, cuộc sống của người dân
+ Phần IV: Những thông tin về đối tượng được phỏng vấn theo độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp…
- Cách chấm điểm: Về nhận thức, thái độ của người dân với các vấn đề môi trường và KBT được cho điểm tuỳ theo loại câu hỏi Với dạng câu hỏi đóng được tính 1 điểm cho mỗi câu trả lời đúng và 0 điểm cho mỗi câu trả lời sai hoặc không biết đáp án Mức độ về nhận thức, thái đội với tài nguyên được chia làm 2 cấp, trong đó quy định 1 điểm cho người có thái độ rất tích cực và 0 điểm cho người không quan tâm đến vấn đề Sau đó sẽ cộng tổng số điểm của từng phiếu, điểm tối đa cho mỗi phiếu là 22 điểm, phiếu nào được
11 khi đó người trả lời được cho là có hiểu biết khá đầy đủ và nhận thức tốt
về các vấn đề nêu ra (Chi tiết theo phần phụ lục)
2.4.2.4.Phương pháp đánh giá các tác động gây ảnh hưởng đến tài nguyên môi trường và nguyên nhân
Sau khi đã có kết quả về nhận thức và thái độ của người dân đối với tài nguyên, tiến hành phân loại các hoạt động này ra làm 2 loại chính là các hoạt động ảnh hưởng tốt và các hoạt động ảnh hưởng xấu đến tài nguyên Những hoạt động ảnh hưởng tốt đến tài nguyên là những hoạt động không làm ảnh hưởng đến tính bền vững của tài nguyên như không gây ra ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt tài nguyên…Những hoạt động gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên là những hoạt động làm ảnh hưởng đến tính bền vững của tài nguyên như khai thác tài nguyên quá mức, làm ô nhiễm môi trường…Sau khi phỏng vấn, thu
Trang 25thập tài liệu và tham vấn ý kiến chuyên gia, đề tài tổng hợp và phân tích về mức độ tác động của các hoạt động này đến tài nguyên trong khu vực và phân loại các hoạt động theo mức độ tốt, xấu đối với tài nguyên và phân tích các nguyên nhân có liên quan để phục vụ cho việc đánh giá nhu cầu giáo dục bảo tồn của người dân Các hoạt động phân tích dựa vào bảng sau:
động
Tần suất (lần/tháng)
Tác động đến KBT, tài nguyên
Đánh gía hoạt động
2.4.2.5 Phương pháp phân tích Swot
Mục đích: Nhằm phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách
thức cho việc thực hiện các hoạt động GDBT tại KBT Xuân Liên
Cách thực hiện: Thiết lập một bảng gồm bốn ô, tương ứng với bốn yếu
tố của mô hình SWOT là thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức
Trong mỗi ô, nhìn nhận lại từ các phân tích ở các nội dung khác của đề tài, từ tài liệu, tình hình thực tế tại khu vực nghiên cứu đưa ra các đánh giá dưới dạng gạch đầu dòng một cách rõ ràng, không bỏ sót trong quá trình thống kê
2.4.2.6 Phương pháp ma trận xếp hạng lựa chọn
Là công cụ giúp đưa ra các giải pháp thay thế các hành vi, thói quen ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên KBT, nhằm góp phần cải thiện đời sống và giảm sức ép lên tài nguyên
Trang 262.4.2.7 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Các bảng câu hỏi được tổng hợp cho từng địa điểm nghiên cứu, từng vấn
đề nghiên cứu và cho từng nhóm đối tượng tham gia phỏng vấn
Các thông tin được tổng hợp mang tính định tính và định lượng Các kết quả nghiên cứu được so sánh, được kiểm tra với những thông tin đã thu thập trước đó để có những nhận xét cũng như những kết luận và đề xuất cụ thể cho các hoạt động sau này của các chương trình GDBT
Đề tài xử lý số liệu thu thập được bằng phần mềm Excel và SPSS 13.0 nhằm đưa ra những phương trình, so sánh định lượng về sự khác biệt về nhận thức, kiến thức giữa các nhóm đối tượng khác nhau theo độ tuổi, trình độ học vấn, dân tộc, thu nhập,…
* Xử dụng phương pháp kiểm định các giả thiết thống kê:
- Kiểm định giả thiết theo vị trí địa lý
- Kiểm định giả thiết theo giới tính
- Kiểm định giả thiết theo thành phần dân tộc
- Kiểm định giả thiết theo độ tuổi
- Kiểm định giả thiết theo trình độ học vấn
- Kiểm định giả thiết theo nghề nghiệp
- Kiểm định giả thiết theo thu nhập
Trang 27Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài lựa chọn khu vực nghiên cứu là 5 thôn thuộc 5 xã tiếp giáp với Khu bảo tồn, bao gồm: thôn Vịn - xã Bát Mọt, thôn Lửa - xã Yên Nhân, thôn Minh Ngọc - xã Lương Sơn, thôn Tiến Sơn - xã Xuân Cẩm, thôn Hang Cáu -
xã Vạn Xuân Các cơ quan tổ chức đóng gần Khu bảo tồn như: Trạm Khí tượng Thủy văn Cửa Đạt và Ban quản lý công trình Thuỷ Lợi, Thuỷ điện Cửa Đạt theo những lý do sau đây :
- Người dân xung quanh KBT vẫn còn những tác động xấu đến khu vực được bảo vệ như khai thác gỗ, củi, lâm sản phụ
- Khoảng cách từ nơi sinh sống của người dân đến KBT là rất gần
- Khu BTTN Xuân Liên mới được thành lập cách đây không lâu và không nhiều người biết về sự thành lập này
- Mới chỉ có một vài chương trình GDBT nhỏ lẻ dành cho học sinh ở một số trường cấp II thuộc một số thôn bản vùng đệm như tổ chức cuộc thi
em yêu rừng xanh quên em, thành lập câu lạc bộ môi trường và cấp phát lịch tuyên truyền từ nguồn kinh phí của Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức GIZ được thực hiện trong năm 2011 - 2012 Hiện tại hiệu quả của các chương trình này chưa rõ nét và chưa được đánh giá cụ thể Các chương trình trên chưa được thực hiện cụ thể, bài bản và có lộ trình cho từng giai đoạn, từng loại đối tượng
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần thiết kế những chương trình GDBT phù hợp và cần thiết theo từng đối tượng cụ thể cho tất cả người dân vùng đệm Khu BTTN Xuân Liên
Trang 283.2 Điều kiện tự nhiên
Hình 3.1 Sơ đồ Khu BTTN Xuân Liên
- Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên nằm cách thành phố Thanh Hoá 65km về phía Tây Nam, có toạ độ địa lý: 190 52’-200 02’ vĩ độ Bắc và 1040 58’-1050 15’ kinh độ Đông, tiếp giáp với khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (Nghệ An) và khu bảo tồn thiên nhiên Nậm Xam (Nước CHDCND Lào) đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú, đa dạng
Toạ độ địa lý:
Từ 190 51’00” đến 190 59’00” vĩ độ Bắc
Từ 1040 58’00” đến 1050 19’20” kinh độ Đông
+ Phía Bắc được giới hạn bởi suối Ken, sông Khao
+ Phía Đông giáp xã Luận Khê, Xuân Cao, Xuân Cẩm, Lương Sơn
Trang 29+ Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An và giới hạn bởi dông chính nối ngọn Bù Ta Leo, Bù Róc và Bù Kha
+ Phía Tây giáp tỉnh Nghệ An và phần còn lại của xã Bát Mọt
- Tổng diện tích KBT là 26.303,6 ha, trong đó diện tích đã quy hoạch giao quản lý và sử dụng ổn định: 23.475,0 ha; diện tích đất tạm giao: 2.828,6 ha thuộc diện tích ngập nước hồ Cửa Đạt
- Vùng đệm của KBT có diện tích 40.367,4 ha nằm trên địa bàn 5 xã Bát Mọt, Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân
Hình 3.2 Vị trí của Khu BTTN Xuân Liên trong hệ thống các khu rừng
đặc dụng của tỉnh Thanh Hoá
Trang 303.2.2 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
- Địa hình Khu BTTN Xuân Liên phức tạp, hiểm trở, núi đá xen lẫn núi đất nằm trên dãy núi chạy từ Sầm Nưa (Lào) đến các huyện Thường Xuân và Như Xuân của tỉnh Thanh Hóa Phân hóa thành hai đai độ cao, dưới 800m và trên 800m đến 1600m đỉnh cao nhất là đỉnh Bù Gió cao 1.563m
- Nền địa chất của vùng rất đa dạng bao gồm cả đá trầm tích, đá phiến, Spillite, Aldezite, và nhiều loại đá biến chất khác như đá lửa đá kính
Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao và các thung lũng tạo nên hệ thống sông suối chằng chịt chảy từ tây sang đông hệ thống sông lớn nhất là Sông Chu bắt nguồn từ Lào chảy qua KBT là nguồn cung cấp nước chính cho hồ chứa nước Cửa Đạt
3.2.3 Khí hậu và thuỷ văn
Khu BTTN Xuân Liên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600-2300 mm, mỗi năm
có khoảng 90-130 ngày mưa Độ ẩm tương đối từ 85% đến 87%, số giờ nắng bình quân khoảng 1600-1800 giờ Nhiệt độ trung bình 230C-240C, nhiệt độ giảm dần khi lên các xã vùng cao Hướng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc
và Đông Bắc, mùa hè là Đông và Đông Nam Đặc điểm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
3.2.4 Giá trị đa dạng sinh học của khu bảo tồn
* Hiện trạng hệ sinh thái
Địa hình trong Khu BTTN Xuân Liên có 02 kiểu chính là vùng núi trung bình có độ cao từ 800 – 1600m và vùng núi thấp và đồi cao (dưới 800m), cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa mang nhiều nét của khí hậu đồng bằng và trung du tỉnh Thanh Hóa Do vậy thảm thực vật Khu BTTN Xuân Liên có các hệ sinh thái chính là: Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa mùa
Trang 31nhiệt đới núi trung bình hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp cây lá rộng là chủ yếu, hệ sinh thái rừng thứ sinh bao gồm các kiểu rừng tre nứa, kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy, trảng cỏ hoặc cây bụi và hệ sinh thái ao hồ
* Khu hệ thực vật
Hình 3.3 Đa dạng về tài nguyên thực vật Khu BTTN Xuân Liên
Khu BTTN Xuân Liên nổi tiếng với khu hệ thực vật rừng rất phong phú
và đa dạng, trong đó có nhiều loại quý hiếm cần được bảo vệ và bảo tồn phát triển nguồn gen, với các kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới đặc trưng
Trang 32cho miền Bắc Việt Nam Với 752 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 440 chi, 130 họ (trong đó có 38 loài có trong sách đỏ Việt nam và thế giới) như: Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Dẻ tùng sọc trắng (Anmentotaxus argotaenia), Kim giao (Nageia fleigyi) và đặc biệt có gần 3.821,0 ha rừng nguyên sinh của các quần thể Pơ Mu, Sa Mu nguyên thuỷ có đường kính từ 1-1.5m Đây là nơi còn tồn tại quần thể cây hạt trần tiêu biểu cho tỉnh Thanh Hoá và vùng núi miền Bắc Việt Nam Hệ thực vật có một số loài tiêu biểu ưu thế, tạo nên các ưu hợp có nhiều nét khác biệt với hệ thực vật của các khu bảo tồn khác
* Khu hệ động vật
Toàn bộ sinh cảnh rừng của Khu BTTN Xuân Liên là nơi sinh sống của
55 loài thú, 136 loài chim, 34 loài bò sát, 19 loài ếch nhái và 143 loài buớm
đã được ghi nhận ở đây, đặc biệt là các loài Vượn đen má trắng, Mang nhỏ, Gấu, Vượn, Gà lôi trắng, Gà tiền
3.2.5 Đặc điểm về hang động, mặt nước cảnh quan và các giá trị khác
Rừng KBT còn có vai trò phòng hộ đầu nguồn của sông Chu, sông Khao, sông Đặt, cung cấp nước sạch sinh hoạt và tưới tiêu cho 86.000ha lúa, phục vụ công nghiệp cho vùng hạ lưu tỉnh Thanh Hoá KBT có những giá trị
về cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với nhiều dãy núi cao, độc đáo, những thác nước, những hang động, những bản sắc văn hóa truyền thống của Người dân tộc Thái – Mường Ngoài ra vùng đệm KBT có di tích lịch sử Đền Cầm Bá Thước – Bà Chúa thượng ngàn, di tích hội thề Lũng Nhai và bên trong có một diện tích mặt hồ rộng lớn gần 3.000ha quanh năm mát mẻ,… đây sẽ là một tiềm năng rất lớn cho khai thác, thu hút hoạt động du lịch sinh thái thăm quan,
nghỉ dưỡng và nghiên cứu khoa học
Trang 333.3 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
* Tổng quát:
Vùng đệm KBT có 5 xã, 50 thôn bản, với 30.957 nhân khẩu/6.603 hộ gia đình, có 2 dân tộc sinh sống chủ yếu: Theo nguồn số liệu năm 2012, dân tộc Thái chiếm 90,08%, dân tộc kinh chiếm 9,92% và tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 2,01%, tỷ lệ đói nghèo là 67% cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của tỉnh Thanh Hoá, cũng như so với toàn quốc Đây là một con
số lớn gây sức ép đối với tài nguyên trong KBT Cộng đồng nhân dân vùng đệm sống phụ thuộc phần lớn vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt ở các thôn bản nằm giáp ranh giới KBT Đồng bào thường quen sống dựa vào tài nguyên rừng, sản phẩm rừng hiện nay vẫn là theo những nhu cầu của xã hội Do vậy những lúc thiếu hụt lương thực, thiếu tiền hay nông nhàn họ thường vào rừng thu hái lâm sản, săn bắn thú rừng phục vụ nhu cầu tiêu dùng và buôn bán Những hoạt động hai thác gỗ, củi và các sản phẩm phi gỗ đã đe doạ trực tiếp đến sinh cảnh rừng tự nhiên, đặc biệt là đối với vùng cư trú của động vật hoang dã, tính bền vững đa dạng sinh học của KBT
Đời sống người dân trong vùng còn nhiều khó khăn, tập quán canh tác lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất thấp và bấp bênh, hiệu quả sản xuất còn hạn chế, giá trị sản phẩm thấp Theo niêm yết thống kê huyện Thường Xuân năm 2012, thu nhập bình quân đầu người mới chỉ đạt 126.460 đồng/tháng, dưới mức đói nghèo theo tiêu chí mới Đặc biệt các xã trong vùng đều thuộc diện nhận đầu tư theo chương trình 30a của Chính Phủ
là Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Lương Sơn, Xuân Cẩm
Trang 34Hình 3.4 Cộng đồng thôn bản vùng đệm Khu BTTN Xuân Liên
* Sản xuất Nông lâm nghiệp:
Đối với cộng đồng, các lợi ích do bảo tồn mang lại chưa nhiều, sự hiểu biết về bảo tồn và tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với người dân còn hết sức hạn chế, đặc biệt đối với các dân tộc ít người Mặc dù cũng đã có sự
hỗ trợ tốt từ hệ thống khuyến nông từ huyện đến xã, nhưng người dân vẫn còn thiếu hiểu biết về kiến thức kỹ thuật mới trong sản xuất Ngân hàng chính sách xã hội cho vay để phát triển sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ Phần lớn người dân sử dụng vốn không hiệu quả do thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về khoa hoc, kỹ thuật hạn chế Mùa vụ chính trong khu vực này là lúa nước, ngoài ra còn có sắn, ngô, gà, lợn, dê, bò và trâu Dịch bệnh gia súc, gia cầm vẫn xảy ra hàng năm do người dân không thực hiện biện pháp tiêm phòng đầy đủ
Trang 35Phụ nữ tham gia những công việc nặng nhọc trong sản xuất nông nghiệp và việc gia đình, đáng lưu tâm hơn là họ chưa tham gia một cách chính thống vào các hoạt động trong thôn xã tổ chức Đàn ông tham gia nhiều hơn vào các cuộc họp và họ mạnh dạn hơn khi phát biểu ý kiến Quá trình tham vấn cộng đồng đã tổ chức những cuộc họp riêng với phụ nữ để họ mạnh bạo hơn khi trình bày những ý kiến về các vấn đề sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn
Hệ thống canh tác chưa hợp lý, chăn nuôi phát triển chậm, chưa cân đối với trồng trọt, chăn nuôi còn mang tính tự cấp tự túc với quy mô nhỏ, lẻ Ngành trồng trọt bố trí cây trồng cũng chưa hợp lý giữa các vùng, vốn đầu tư còn hạn chế Dịch vụ sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, người dân còn phải mua vật tư, phân bón giá cao trong khi lại bán nông sản với giá thấp
* Thu nhập tiền mặt:
Theo số liệu tính toán dựa vào hệ thống câu hỏi phỏng vấn thì thu nhập bình quân của các hộ khá giả là 14,8 triệu đồng/năm, hộ trung bình là 8,7 triệu đồng năm và hộ nghèo khoảng 3 triệu đồng/năm
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm hiện trạng tài nguyên và nhận thức của cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học
4.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của cộng đồng liên quan đến GDBT
Các xã vùng đệm Khu BTTN Xuân Liên nằm trong vùng biên giới Việt – Lào, là một vùng sâu vùng xa của tỉnh Thanh Hóa Đây là một trong những khu vực sinh sống chính của người Thái, điều kiện kinh tế của họ rất khó khăn với cuộc sống vẫn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên khu vực, cả rừng địa phương và rừng của KBT Điều này đã gây ra nhiều đe dọa ưu tiên giải quyết cho KBT Vấn đề còn trở nên trầm trọng hơn do tốc độ tăng dân số ở địa phương là 2%, tỉ lệ đói nghèo/hộ 67% là khá cao (Theo số liệu của huyện Thường Xuân, điều tra sử dụng TNTN và các cuộc điều tra kinh tế - xã hội)
Tỉ lệ này cao hơn mức trung bình không những của tỉnh Thanh Hóa và của cả nước Tỉ lệ nghèo đói cao cộng với thiếu kỹ năng mới và các hoạt động tạo thu nhập thay thế có liên hệ với việc xâm lấn vào khu bảo tồn và sự suy thoái tổng thể của các tài nguyên của KBT Những hoạt động này bao gồm việc săn bắn động vật hoang dã, khai thác trái phép các lâm sản quý hiếm Có những vấn đề chính có thể liệt kê như sau:
- Tập tục thô sơ và lạc hậu của người dân địa phương đang khiến cho lâm sản ngày càng suy kiệt
Đất rừng và đa dạng sinh học của KBT bị ảnh hưởng bởi việc xây dựng
cơ sở hạ tầng, xây dựng đường dọc biên giới KBT và xây dựng công trình thủy lợi - thủy điện Cửa Đạt Điều này cũng tạo điều kiện hơn cho việc săn bắt động vật hoang dã và khai thác quá mức những nguồn lâm sản có giá trị
- Các vấn đề về giới:
Trang 37Phụ nữ được đề tài xác định là một nhóm mục tiêu đặc biệt đối với việc cải thiện các mối quan hệ quản lý và thúc đẩy hợp tác với cộng đồng vùng đệm Phụ nữ có trách nhiệm chính đối với nhiều công việc trong gia đình, trong đó có cả chăm sóc trẻ đồng thời là người tham gia chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Mặc dù không có thôn bản nào nằm trong KBT, nhưng phụ nữ vẫn là một bên liên quan chính của KBT với tư cách là nhóm đối tượng thác củi và một số lâm sản phi gỗ khác trong KBT
Phụ nữ cũng đã tham gia và cũng có tiếng nói trong việc đề xuất đầu tư cho các chương trình phát triển kinh tế để cải thiện điều kiện sống và nâng cao thu nhập cho gia đình Hơn nữa phụ nữ cũng đóng một vai trò quan trọng hơn trong công tác bảo vệ rừng và điều này có thể được cải thiện, đặc biệt là trong công tác tuyên truyền phổ biến thông tin cho các gia đình và cộng đồng nói chung
Từ những đặc điểm trên đề tài xác định được rằng, các chương trình GDBT tại nơi đây nên tập trung vào các hoạt động có nội dung nhằm làm giảm và giải quyết vấn đề xâm hại, xâm lấn vào KBT như săn bắn động vật hoang dã, khai thác trái phép…Hơn nữa các hoạt động GDBT cần phải lưu ý đến việc tỉ lệ hộ nghèo nơi đây còn khá cao, nhận thức của cộng đồng kém Đồng thời phải quan tâm tới đối tượng nữ giới là một đối tượng đặc biệt đối với việc cải thiện các mối quan hệ quản lý và thúc đẩy hợp tác với cộng đồng vùng đệm Song song với các chương trình GDBT thì một chương trình cải thiện sinh kế vùng đệm, chia xẻ lợi ích trong quản lý tài nguyên cũng rất cần thiết Những yếu tố nêu trên có vai trò tiên quyết tới sự thành bại của công tác GDBT nơi đây
4.1.2.Thực trạng, nguyên nhân biến đổi tài nguyên của KBT liên quan đến cộng đồng
4.1.2.1 Các hoạt động có ảnh hưởng tốt đến tài nguyên Khu bảo tồn
Trong khuôn khổ đề tài, những hoạt động tốt là những hoạt động không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên, mang tính chất bảo vệ và phát triển
Trang 38nguồn tài nguyên trong khu vực Đề tài đã tìm hiểu rõ các hoạt động đang diễn ra tại địa phương liên quan đến việc bảo vệ và gìn giữ tài nguyên thiên nhiên Cụ thể trong bảng 4.1 như sau:
Bảng 4.1.Mô tả các hoạt động có ảnh hưởng tốt tới tài nguyên thiên nhiên
Trong thôn, nếu có hộ nào mới tách hộ hoặc trong diện hộ nghèo chưa có nhà ở, các hộ này phải làm đơn xin được khai thác gỗ làm nhà; trong đơn phải nêu rõ địa ranh đề nghị khai thác là trong vườn rừng của họ hay của anh em họ đã được chấp thuận (đất nhận khoán theo NĐ 02CP), đơn này được BQL thôn và Kiểm lâm địa bàn xã xác nhận, kiểm tra và được UBND xã phê duyệt theo đúng thẩm quyền và địa danh cụ thể
2 Giao nộp
súng săn
Các thôn thuộc 5
xã Yên Nhân, Bát Mọt
BQL Khu BT phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức rà soát, vận động người dân giao nộp súng săn, theo nguyên tắc hộ gia đình tự nguyện giao nộp súng săn sẽ được giao khoán bảo vệ một diện tích rừng từ nguồn kinh phí Dự
án 661 (10 ha – 15 ha trong 1 chu kỳ là 5 năm) theo từng đặc điểm, chất lượng của các loại súng giao nộp Kết quả từ năm
2001 – 2011, KBT đã vận động người dân tự nguyện giao nộp và bàn giao cho
Trang 39cơ quan chức năng trên 500 khẩu súng các loại Hoạt động trên đã mang lại hiệu quả rất lớn, góp phần ngăn chặn và làm giảm việc săn bắn động vật rừng trái phép Người dân rất đồng tình ủng hộ, có những hộ sẵn sàng nộp cả những khẩu súng là vật gia bảo của dòng họ, bởi họ nhận thức rằng hành vi săn bắn đã bị nhà nước cấm và khi săn bắn sẽ bị xử phạt, tịch thu súng theo quy định của pháp luật; giao nộp súng thì họ sẽ được nhận khoán bảo vệ rừng 5 năm, tiền công khoán khoảng > 5 triệu là khoản tiền không nhỏ đối với 67% hộ nghèo trong vùng đệm Hơn nữa Nhà nước lại thu hút được người dân tham gia bảo vệ rừng rất hiệu quả Đây là cách làm hay cần được nhân rộng và phát huy, bởi hiện tại vẫn còn trên 200 khẩu súng săn đang còn tồn đọng ở trong dân
4.1.2.2 Các hoạt động gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên KBT
- Khai thác gỗ trái phép:
Do phong tục tập quán của người dân tộc Thái thường sử dụng gỗ làm nhà sàn và cùng với ảnh hưởng của thị trường, các đối tượng đầu nậu đã tiếp tay cho người dân vào khai thác tài nguyên rừng Mặc dù một nửa diện tích rừng đặc dụng liền kề các khu vực dân cư đã được Ban quản lý khu bảo tồn khoán cho 835/6.603 tổ chức, hộ gia đình trên cơ sở các hợp đồng bảo vệ
Trang 40rừng (14.545 ha năm 2008, Nguyễn Đình Hải) nhưng việc khai thác chọn cây
gỗ đối với một số loài là nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm về chất lượng rừng, làm phá vỡ cấu trúc tổ thành, vỡ tầng tán làm thu hẹp sinh cảnh, thay đổi đời sống của các quần thể động vật hoang dã
Hình 4.1.Các đối tượng khai thác lâm sản trái phép trong KBT bị bắt giữ
- Săn bắn và đánh bắt:
Săn bắt động vật doang dã, đánh bắt động vật thuỷ sinh trái phép của người dân địa phương bằng các hình thức: Dùng súng, các loại bẫy, sử dụng chó săn, nỏ Trong đó việc dùng súng, bẫy săn bắt thú, Chó săn bắt rùa, kích điện đánh bắt cá là mối đe doạ lớn nhất đối với tài nguyên động vật rừng trong KBT Đặc biệt KBT nằm trong khu vực biên giới, theo thống kê tại các xã vùng đệm hiện còn trên 200 khẩu súng các loại, chủ yếu là súng Sămlex 256 khẩu và còn lại là Kíp - tự chế Đây là một trong những yếu tốt làm tăng nguy
cơ giảm tài nguyên động vật rừng trong thời gian gần Nguy cơ này xuất phát
từ thị trường tiêu thụ rộng lớn, trang thiết bị cho các hoạt động quản lý còn thiếu cũng như đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn vẫn chưa đồng đều và