Điều quan trọng là các cuộc điều tra được tiến hành trong các khu vực đất ngập nước và rừng tràm để xác định các quần thể Rái cá đang còn tồn tại và các chương trình giám sát và bảo tồn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
NGUYỄN VĂN NHUẬN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI RÁI CÁ NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CÔNG TÁC BẢO TỒN CÁC LOÀI RÁI CÁ TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
NGUYỄN VĂN NHUẬN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI RÁI CÁ NHẰM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CÔNG TÁC BẢO TỒN CÁC LOÀI RÁI CÁ TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ, TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên Rừng
Mã số: 60.62.02.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐỒNG THANH HẢI
Hà Nội - 2013
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của khoa Sau đại học, trường Đại học Lâm Nghiệp, tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp tại Vườn Quốc gia U Minh hạ, tỉnh Cà Mau Sau một thời gian làm việc cố gắng và nỗ lực hết mình, đến nay luận văn đã được hoàn thành Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn bộ các cán bộ, công nhân viên chức làm việc tại Vườn Quốc gia U Minh hạ, tỉnh
Cà Mau, các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học và đặc biệt là thầy giáo – Tiến sĩ Đồng Thanh Hải công tác tại trường Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn nhưng do thời gian có hạn và khả năng trình bày chưa được tốt, khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy cô giáo để hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2013
Học viên thực hiện
Nguyễn Văn Nhuận
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Nhuận
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
PHỤ LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Hiện trạng các loài Rái cá ở trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.1.1 Rái cá thường (Lutra lutra) 3
1.1.2 Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana) 4
1.1.3 Rái cá lông mượt (Lutrogale perspicillata) 6
1.1.4 Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea) 7
1.2 Nhận dạng các loài Rái cá ở Việt Nam 8
1.2.1 Rái cá thường (Lutra lutra) 8
1.2.2 Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana) 8
1.2.3 Rái cá lông mượt (Lutrogale perspicillata) 9
1.2.4 Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea) 9
1.3 Đặc điểm sinh thái học các loài Rái cá ở Việt Nam 13
1.4 Bảo tồn Rái cá tại Việt Nam 15
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 20
Trang 6iv
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 20
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu kế thừa 21
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương 21
2.4.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 23
2.4.4 Phương pháp điều tra sinh cảnh sống 25
2.4.5 Phương pháp điều tra bằng bẫy ảnh 25
2.4.6 Đánh giá số lượng Rái cá trong khu vực nghiên cứu 27
2.4.7 Tổng hợp và phân tích số liệu 28
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI 29
3.1 Vị trí địa lý, diện tích tự nhiên 29
3.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 31
3.3 Đa dạng sinh học 34
3.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 38
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Hiện trạng các loài Rái cá tại khu vực Vườn Quốc gia U Minh hạ 43
4.1.1 Kết quả phân tích từ các cuộc phỏng vấn thợ săn địa phương 43
4.1.2 Kết quả điều tra Rái cá theo tuyến và bằng bẫy ảnh 45
4.2 Các mối đe dọa đối với các loài Rái cá tại khu vực nghiên cứu 52
4.2.1 Tác động của con người 52
4.2.2 Các phương pháp săn bắt Rái cá 54
4.2.3 Hiện trạng buôn bán Rái cá 56
4.3 Đánh giá mật độ trung bình và tổng số lượng cá thể Rái cá 57
4.3.1 Sự khác nhau của các nhóm Rái cá 57
Trang 7v
4.3.2 Mậ t đ ộ trung bình và số lư ợ ng Rái cá lông mũ i
tạ i Vư ờ n Quố c gia 57
4.3.3 Mậ t đ ộ trung bình và số lư ợ ng Rái cá vuố t bé tạ i Vư ờ n Quố c gia 58
4.4 Thảo luận 58
4.4.1 Phỏng vấn thợ săn địa phương 58
4.4.2 Điều tra theo tuyến và bẫy ảnh 60
4.4.3 Các mối đe dọa đối với Rái cá tại Vườn Quốc gia 60
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 So sánh một số đặc điểm phân loại các loài Rái cá ở Việt Nam 10
3.2 Các loài động vật rừng trong Sách đỏ Việt Nam năm 2000 36 3.3 Các loài động vật rừng trong Sách đỏ Việt Nam năm 2000 37
3.5 Thống kê các hoạt động sản xuất của các xã ven Vườn Quốc gia 40
4.1 Danh mục các loài rái cá xác nhận qua các cuộc phỏng vấn 44 4.2 Ngày, địa điểm và số lượng ảnh chụp được tại Vườn Quốc gia,
tỉnh Cà Mau
50
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
1.8 Bản đồ phân bố 04 loài Rái cá trên thế giới 19
3.2 Trung tâm Vồ Dơi, Vườn Quốc gia U Minh hạ 30
3.7 Bản đồ hiện trạng rừng khu vực rừng tràm U Minh hạ - Cà Mau 35
4.1 Rái cá vuốt bé chụp được tại nhà dân ở lâm trường Sông Trẹm 41 4.2 Điều tra theo tuyến để tìm kiếm dấu chân và dấu vết của Rái cá
tại U Minh III
46
4.3 Dấu chân Rái cá được tìm thấy tại Trần Văn Thời trong chuyến
khảo sát theo tuyến ban ngày
46 4.4 Phân Rái cá được tìm thấy tại U Minh III trong khi khảo sát theo 47
Trang 10viii
tuyến vào ban ngày
4.5 Rái cá lông mũi (Lutra sumantrana) Được chụp trong chuyến
điều tra theo tuyến
47
4.6 Nhóm 03 cá thể Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea) được chụp bằng
bẫy ảnh tại Vồ Dơi, Vườn Quốc gia U Minh hạ
4.11 Bẫy kiềng dùng để săn bắt Rái cá chụp được ở nhà dân sống ở
lâm trường U Minh I trong khi phỏng vấn
54
4.12 Số lượng thợ săn trong các ấp xung quanh Vườn Quốc gia và các
lâm trường sử dụng các phương pháp săn bắt Rái cá khác nhau
55 4.13 Da Rái cá vuốt bé chụp được tại lâm trường U Minh III 56 4.14 Da Rái cá lông mũi chụp được tại nhà dân tại lâm trường 30/04 56
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có 4 loài Rái cá, bao gồm Rái cá thường Lutra lutra, Rái cá vuốt bé Aonyx cinerea, Rái cá lông mượt Lutrogale perspicillata,và Rái cá lông mũi Lutra sumatrana Những số liệu điều tra chính thức về sự xuất hiện
chính thức và hiện trạng các loài Rái cá ở Việt Nam hiện tại là rất hiếm và đáng báo động Chỉ có 45 báo cáo ghi nhận chính thức đã được thu thập đối với 04 loài Rái cá ở Việt Nam, trong đó 10 báo cáo là những quan sát trực tiếp, 31 báo cáo là mẫu vật, và 04 báo cáo là hồ sơ xác nhận báo cáo chính thức (hoặc từ bẫy ảnh, mẫu vật, hoặc quan sát trực tiếp) trong các báo cáo ban đầu nhưng không cung cấp các thông tin chi tiết Mặc dù đã có nhiều nỗ lực điều tra kể từ năm 1995, nhưng chỉ có 22 trong số 45 báo cáo ghi nhận chính thức đã được thực hiện trong thập kỷ vừa qua [32]
Việc có ít ghi nhận chính thức về các loài Rái cá một phần có liên quan đến nỗ lực khảo sát tương đối hạn chế nhằm vào các loài Rái cá, đặc biệt là
Rái cá lông mũi Lutra sumatrana [10], nhưng lý do chính rất có thể là do việc
khai thác quá mức và sinh cảnh sống bị xáo trộn đã để lại quần thể Rái cá nhỏ
và bị phân mảnh cá ở Việt Nam Kế hoạch hành động của IUCN/SSC báo cáo tương đối không chắc chắn về hiện trạng của các loài Rái cá ở Việt Nam ([12], [28]) Có nhu cầu cao đối với các loại da Rái cá từ những người tiêu dùng ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc ([12], [15]), và việc sử dụng và thay đổi các dòng sông, vùng đất ngập nước, cửa sông, hồ và môi trường nước ven biển nông là một trong những nhu cầu rất cao đối với con người Hơn nữa, việc ô nhiễm nước và sử dụng thuốc trừ sâu phần lớn không được kiểm soát ở hầu hết các vùng của Việt Nam Sự kết hợp của các yếu tố này đã đẩy các quần thể Rái cá có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng
Một vấn đề lớn trong việc đánh giá sự phân bố của các loài Rái cá kết hợp với những khó khăn trong việc phân biệt loài Rái cá ở ngoài thực địa mà
Trang 122
không có sự đào tạo đầy đủ các kỹ năng xác định loài ở ngoài thực địa [31]
Có một nhu cầu cấp thiết để làm tăng cơ sở dữ liệu về sự phân bố và sự phong phú của bốn loài Rái cá ở Việt Nam bằng cách tổng hợp số liệu loài trong các
cuộc điều tra thực địa trong cả nước Rái cá lông mũi L.sumatrana có thể là
loài Rái cá đang bị đe dọa lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á và cần phải có hành động bảo tồn khẩn cấp do quần thể bị phân mảnh và vùng sinh cảnh sống bị hạn chế và thu hẹp Điều quan trọng là các cuộc điều tra được tiến hành trong các khu vực đất ngập nước và rừng tràm để xác định các quần thể Rái cá đang còn tồn tại và các chương trình giám sát và bảo tồn Rái cá được thiết lập trong suốt khu vực đất ngập nước U Minh, đặc biệt là việc xác định
các quần thể Rái cá lông mũi L.sumatrana đang sinh sống ở các khu vực đất
ngập nước than bùn và rừng tràm còn sót lại tại khu vực này
Từ những thực tế đó tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng các loài
Rái cá nhằm đề xuất các giải pháp cải thiện công tác bảo tồn các loài Rái
cá tại Vườn Quốc gia U Minh hạ , tỉnh Cà Mau”
Trang 13
3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hiện trạng các loài Rái cá ở trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Rái cá thường (Lutra lutra)
Sách đỏ Việt Nam 2007: Sẽ nguy cấp (VU)
Nghị định 32/2006/NĐ – CP: Nhóm IB
Sách đỏ IUCN 2012: Gần đe doa (NT)
CITES Phụ Lục I
Hình 1.1 Rái cá thường
(Nguồn: S.A Hussain)
Hình 1.2 Rái cá lông mũi
(Nguồn: Annette Olsson, Heng Sokrith)
(Nguồn: Nguyễn Văn Nhuận)
Trang 144
Rái cá thường chủ yếu xuất hiện ở miền bắc và miền trung Việt Nam bao gồm cả khu vực dãy núi Hoàng Liên Sơn, khu vực rừng đất thấp Kẻ Gỗ/Khe Nét, và vùng núi đá vôi cao nguyên phía bắc Tiêu bản Rái cá này ở Việt Nam đã được thu thập ở độ cao 1550m so với mực nước biển, loài này cũng đã được tìm thấy ở độ cao từ 450 đến 3600m so với mực nước biển ở các quốc gia khác ở Đông Nam Á ([6], [7], [18]) Rất ít thông tin liên quan đến sinh cảnh sống của loài Rái cá thường hiện có ở Việt Nam ([7], [12], [18])
Sinh cảnh sống: Rái cá thường thích nghi với nhiều dạng sinh cảnh
sống ở nước khác nhau Chúng được tìm thấy ở biển, ở dãy núi Himalaya, và
ở nước lợ, nước mặn, cũng như nước ngọt Chúng sinh sống ở các vùng đất thấp, cao nguyên, ở những nơi có sông, suối, hồ, đầm lầy, cánh đồng lúa và các khu vực duyên hải ven biển Ở các vùng sinh sống khác nhau, Rái cá thay đổi và thích nghi với các đặc điểm sinh cảnh sống nơi đó Tuy nhiên, hầu hết
sự có mặt của chúng có liên quan đến nguồn cung cấp thức ăn, nước ngọt và thảm thực vật ven bờ nơi chúng có thể nghỉ ngơi, chải lông, và xây dựng hang
ở ở những nơi có rễ cây, gỗ, đất, đá phù hợp
(Nguồn: http://www.otterspecialistgroup.org/Species)
1.1.2 Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana)
Sách đỏ Việt Nam 2007: Nguy cấp (EN)
Nghị định 32/2006/NĐ – CP: Nhóm IB
Sách đỏ IUCN 2012: Nguy cấp (EN)
CITES Phụ Lục II
Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana) được Nhóm chuyên gia về Rái cá
của IUCN/SSC xác định là một trong 5 loài Rái cá có sự quan tâm bảo tồn toàn cầu hàng đầu [12] Tuy nhiên, hiện trạng hiện tại trong vùng sinh cảnh sống vẫn chưa xác định được một cách rõ ràng Hiện tại, sự tồn tại của loài đã
Trang 155
được ghi nhận chỉ ở một số ít khu vực ở Thái Lan [7], Campuchia [29] và Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long [22] Rái cá lông mũi chia sẻ vùng sinh sống với Rái cá vuốt bé và Rái cá lông mượt, thậm chí
ở Sumatra chúng chia sẻ vùng sinh sống với Rái cá thường
Ở Việt Nam, việc điều tra Rái cá lông mũi bắt đầu kể từ năm 1925 Năm 1932, Osgood căn cứ vào một tiêu bản chưa rõ nguồn gốc ở miền trung Việt Nam được phân tích từ các mẫu vật thu thập được từ năm 1925 đến năm
1929 đã công bố ghi nhận đầu tiên về Rái cá lông mũi ở Việt Nam Năm
1941, Pocock đã công bố 2 ghi nhận về loài này: 01 ghi nhận ở huyện Long Xuyên, tỉnh An Giang (tọa độ 10°23N, 105°25'E) và một ghi nhận khác ở thị trấn Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (tọa độ 16°28'N, 107°36'E) Tiếp theo đó thì chưa có ghi nhận nào về loài Rái cá lông mũi trong 36 năm tiếp theo Các cuộc điều tra động vật ở miền bắc và miền trung Việt Nam đã không tìm thấy dấu hiệu nào của loài này Ở miền bắc Việt Nam, vì lí do chiến tranh, các nhà khoa học đã không thể tiến hành cuộc điều tra về loài này kể từ cuối năm
1950 đến đầu những năm 1970
Sau chiến tranh, năm 1975 các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành những nghiên cứu về động vật hoang dã ở miền nam Việt Nam Năm 1977, hai mẫu vật về Rái cá lông mũi đã được thu thập: 01 mẫu vật ở huyện Ngọc Hiển tỉnh
Cà Mau (tọa độ xấp xỉ 8°33'N, 105°15'E), và một mẫu vật khác ở huyện Phùng Hiệp tỉnh Cần Thơ (tọa độ xấp xỉ 9°49'N, 105°50'E) Tuy nhiên, những khó khăn
về kinh tế ở Việt Nam đã không cho phép các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục các cuộc điều tra một cách có hệ thống về Rái cá lông mũi Kết quả loài Rái cá này ở Việt Nam đã không được ghi nhận trong suốt 24 năm tiếp theo Nguyễn Xuân Đặng [25] đã công bố ghi nhận về quần thể Rái cá lông mũi đang sinh sống tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang
Trang 16Thái Lan Vùng đất ngập nước
than bùn Toa Daeng , tỉnh Narathiwat
Bẫy sống, bẫy ảnh, quan sát
[14]
Thái Lan Khu bảo tồn động vật
hoang dã Khao Banthad tỉnh Trang
Sinh cảnh sống: Có ít thông tin về loài này sinh sống ở các khu rừng
than bùn ngập nước và các vùng nước duyên hải ven bờ và nông
(http://www.otterspecialistgroup.org/Species)
1.1.3 Rái cá lông mượt (Lutrogale perspicillata)
Sách đỏ Việt Nam 2007: Nguy cấp (EN)
cá thường L lutra ở Thái Lan [18] và được cho là loài Rái cá phổ biến nhất ở
khu vực sông MêKông Có 7 ghi nhận về loài Rái cá đang bị đe dọa toàn cầu này ở Việt Nam, một ghi nhận trong số đó là quan sát trực tiếp [10], 6 ghi nhận còn lại là từ các dấu chân, một báo cáo phỏng vấn [56], một quan sát
Trang 177
chưa được xác nhận [11] và hai ghi nhận chưa nói rõ về kiểu ghi nhận [1] Ghi nhận cuối cùng là từ một mẫu vật bảo tàng nhưng chỉ ghi là thu được ở miền trung Việt Nam Chưa có số liệu về khu vực phân bố của loài này theo
độ cao ([18], [31]) Các quần hợp sinh cảnh sống của loài này bao gồm các sinh cảnh thủy sinh: hồ, sông, suối, kênh, ao, các bãi sình lầy có nước ([4], [5], [6], [18], [21])
Sinh cảnh sống: Rái cá lông mượt thích sống ở các con sông, hồ lớn,
các khu rừng ngập nước than bùn, rừng ngập mặn ven biển, các cửa sông và các cánh đồng lúa có thảm thực vật phong phú và đa dạng để làm nơi trú ẩn
và chạy trốn, và các khu vực có đá hoặc đất sâu để đào hang Chúng xuất hiện phổ biến ở các sinh cảnh sống đất thấp, tuy nhiên chúng cũng được ghi nhận ở
độ cao 1830m (Vân Nam, Trung Quốc)
(http://www.otterspecialistgroup.org/Species)
1.1.4 Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea)
Sách đỏ Việt Nam 2007: Sẽ nguy cấp (VU)
5 ghi nhận về loài này có được trong 10 năm trở lại đây
Trang 188
Sinh cảnh sống: Rái cá vuốt bé thích sống ở các khu vực nước nông
với nguồn cung cấp thức ăn phong phú Chúng có khả năng thích ứng với khí hậu cao, có mặt từ các vùng đất ngập nước duyên hải nhiệt đới đến các con sông suối ở vùng núi Chúng sinh sống tại các khu rừng than bùn và nước ngọt, các cánh đồng lúa, sông, suối, hồ, rừng ngập mặn, và các vùng duyên hải Ở các khu vực vùng núi, chúng thường sống ở các con suối trong rừng chảy xiết có đá Thức ăn ưa thích của chúng là động vật giáp xác và động vật thân mềm (http://www.otterspecialistgroup.org/Species)
1.2 Nhận dạng các loài Rái cá ở Việt Nam
1.2.1 Rái cá thường (Lutra lutra)
Tên địa phương: Rái cá chân chó
Chiều dài cơ thể: 46.7 – 70cm, Chiều dài đuôi: 25 – 38cm, Trọng lượng cơ thể: 5 – 7kg
1.2.2 Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana)
Tên địa phương: Rái móng, Rái cá chân chó
Chiều dài cơ thể: 50 – 94cm, Chiều dài đuôi: 30 – 58cm, Trọng lượng cơ thể:
5 – 7kg
Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông có màu nâu đậm, nhạt dần về phía bụng
Môi trên, cằm, phía trước họng và má có màu trắng
Chóp đuôi thường có màu trắng
Trang 199
Lông dài phủ hết mũi, trừ lỗ mũi
Vuốt dài sắc nhọn
1.2.3 Rái cá lông mượt (Lutrogale perspicillata)
Tên địa phương: Rái cá chân chó
Chiều dài cơ thể: 65 – 75cm, Chiều dài đuôi: 40 – 45cm, Trọng lượng cơ thể:
7 – 12kg
Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông bóng mượt
Phần cuối đuôi bẹt
Vệt trắng chạy dài từ môi trên, má, và họng cho đến ngực
Bàn chân rộng và màu xanh nhạt, lòng bàn chân bóng mượt
Mõm ngắn hơn và mắt to hơn ở Rái cá thường
Đuôi bẹt
1.2.4 Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea)
Tên địa phương: Rái cá chân vịt, Rái cá cùi
Chiều dài cơ thể:: 45 – 55cm, Đuôi: 25 – 35cm, Trọng lượng cơ thể: 2 – 3kg
Đặc điểm nhận dạng:
Thân ngắn, mập
Vuốt rất ngắn không nhô khỏi đàu ngón chân
Giữa các ngón chân có màng bơi kém phát triển
Bộ lông thường có màu nâu hơi xám với mặt dưới thân màu nhạt hơn hoặc
trắng, cổ họng, cằm, môi trên màu hơi trắng
Để nhận dạng nhanh ngoài thực địa 04 loài Rái cá ở Việt Nam có thể sử dụng Bảng 1.1 để nhận dạng như sau:
Trang 20Rái cá vuốt
bé
màu hồng hoặc tối màu
Ngắn Màu nâu
Rái cá lông
mũi
có lông, tương đối nhỏ
Dài Màu đen
Rái cá lông
mượt
Trần, tối màu, viền phía trên màu tối hơn
Ngắn Màu nâu
đậm
Trang 2111
Hình 1.5 Các địa điểm thu được mẫu vật Rái cá tại Việt Nam
(Nguồn: [24])
Trang 2212
Hình 1.6 Sự phân bố của i) Aonyx cinerea j) Lutra sumatrana
K) Lutrogale perspicilatta L) Lutra lutra
(Nguồn: [32])
Trang 23b Thức ăn
Thức ăn của các loài Rái cá bao gồm cá, tôm, cua, động vật thân mềm, rắn, bò sát, côn trùng, vv…([16], [18]) Có một số sự khác nhau về thành phần thức ăn giữa các loài Rái cá Theo Kruuk [29], có một sự khác nhau và
chồng chéo lớn về thành phần thức ăn trong phân của ba loài Rái cá (L lutra,
L perspicillata và Aonyx cinerea), do đó bằng chứng về địa điểm thải phân
của các loài Rái cá phục vụ cho công tác định dạng loài nên được sử dụng một cách thận trọng Rái cá vuốt bé chủ yếu ăn tôm, cua, trong khi các loài Rái cá khác thích ăn cá hơn Vì vậy, phân của Rái cá vuốt bé thường chứa nhiều vỏ xương cua Loài này cũng có tập tính thải phân ở một địa điểm trong một thời gian dài và phân của chúng tập trung lại thành các đống to
c Sinh sản
Rất ít thông tin được biết đến về sự sinh sản của các loài Rái cá Nói chung, loài Rái cá có tuổi trưởng thành sinh sản là 3 năm tuổi Thời gian mang thai từ 60 đến 65 ngày, mỗi lứa đẻ từ 2 – 4 con non Nguyễn Xuân Đặng [23] đã quan sát được 4 trường hợp Rái cá sinh sản ở ngoài tự nhiên, bao gồm: Ở Quảng Ninh vào tháng 07/1977; ở Đồng bằng Sông Cửu Long (tỉnh Kiên Giang và Cà Mau) vào tháng 05, tháng 10 và tháng 11 năm 2000
Vì vậy, mùa sinh sản của các loài Rái cá ở Việt Nam vẫn chưa được biết đến
Trang 2414
d Tập tính
Rái cá sống thành các nhóm gia đình nhỏ Mỗi nhóm thông thường có
từ 2 đến 6 cá thể bao gồm bố mẹ và con non Một số nhóm Rái cá có thể sống cùng nhau trong các hang lớn Rái cá thường đi tìm kiếm thức ăn thành nhóm lớn lên đến 10 cá thể Việc hình thành nhóm lớn là chiến lược của các loài thú
ăn thịt để tăng hiệu quả săn bắt của chúng Trong thời gian cuối của năm (mùa khô) Rái cá có thể hình thành nhóm kiếm ăn lớn lên đến 20 – 30 cá thể do thời gian này nước chảy chậm và các con mồi tập trung vào các địa điểm có nước (ao, hồ, sông, suối, vv…)
Rái cá chủ yếu hoạt động ban đêm Tuy nhiên, ở những khu vực có thủy chiều hoặc cách xa khu dân cư, Rái cá có thể hoạt động vào ban ngày, đặc biệt là buổi sáng sớm và chiều muộn Các hang của Rái cá thường có cửa dưới nước hoặc được ngụy trang khéo léo trong các bụi rậm, các tảng đá lớn, vv…Khi đi ra ngoài hoặc đi vào trong hang Rái cá thường lặn dưới nước cách cửa hang từ 5 –7m để giữ cho cửa hang không bị phát hiện bởi con người hoặc những loài động vật khác
Hình 1.7 Hang Rái cá
(Nguồn: Nguyễn Văn Nhuận)
Trang 2515
e Tầm quan trọng của các loài Rái cá
Bộ lông thú là phần có giá trị nhất của con Rái cá Bộ lông Rái cá được xác định là một trong những sản phẩm lông thú chất lượng cao nhất do khả năng chống thấm, độ dày và độ mịn của chúng Một số bộ phận khác của Rái
cá như túi bàng quang mật, bàn chân được sử dụng để điều trị bệnh nhưng không được dùng phổ biến
Ngoài giá trị kinh tế kể trên, Rái cá còn đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái đất ngập nước Rái cá giúp cho việc giữ sự cân bằng sinh thái trong các hệ sinh thái Là loài động vật ăn thịt, Rái cá giúp điều chỉnh kích thước quần thể của các loài chúng ăn thịt, ngăn chặn chúng phát triển quá mức Mặt khác, Rái cá còn ăn tất cả các con mồi bị ốm yếu nhằm giúp dọn sạch các cá thể bị ốm yếu và những con mồi kém phát triển Rái cá rất thông minh và khéo léo trong việc bắt cá, ở một số vùng người dân huấn luyện Rái cá bắt cá và phục vụ biểu diễn xiếc nghệ thuật
1.4 Bảo tồn Rái cá tại Việt Nam
Hiện nay việc buôn bán động vật hoang dã một cách phổ biến được cho
là một trong những trở ngại lớn đến việc bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng ở khu vực Đông Nam Á ([8], [15], [30], [34]), tuy nhiên có rất ít nghiên cứu điều tra về việc các thợ săn cung cấp cho hoạt động buôn bán động vật hoang dã này như thế nào Việc săn bắn động vật hoang dã ở khu vực Đông Nam Á giờ đây được coi là đặc biệt liên quan đến thương mại quốc
tế về buôn bán động vật hoang dã [35], dù vậy vẫn còn có nhu cầu săn bắt
động vật hoang dã để cung cấp thực phẩm cho các cộng đồng địa phương
Các loài thú ăn thịt nhỏ được giao dịch buôn bán với số lượng lớn trên khắp khu vực Đông Nam Á, ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tồn tại của các quần thể động vật hoang dã ở ngoài tự nhiên Phần lớn việc buôn bán động
Trang 2616
vật hoang dã đều chuyển sang Trung Quốc và được bán với mục đích cung cấp thực phẩm, y học truyền thống và làm vật nuôi [17] Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngày càng có nhiều người ăn thịt động vật hoang dã ở các khu vực giàu
có và có điều kiện về kinh tế, và các nhà hàng động vật hoang dã mở ra ngày càng nhiều tại các thành phố lớn
Việt Nam là một quốc gia quan trọng đối với các loài thú ăn thịt nhỏ, với hơn 61% của phân họ thú ăn nhỏ [31] Các quần thể Rái cá lông mũi ít được nghiên cứu đã được phát hiện ở Đồng bằng Sông Cửu Long, tuy nhiên
có quá ít nghiên cứu được tiến hành để xác định nơi những loài Rái cá lông mũi vẫn còn tồn tại
Có rất ít dữ liệu về sự phân bố của Rái cá lông mũi [12] dẫn đến loài này được ghi vào trong Danh sách Đỏ của IUCN là Thiếu Dữ Liệu [13], và được nâng cấp thành loài Nguy cấp (E) trong Danh sách Đỏ của IUCN 2012 Môi trường sống chính của loài này là rừng đầm lầy với một loài cây chiếm
ưu thế là Cây tràm Melaluca cajeputi, hoặc rừng đầm lầy thường xanh [14]
Những báo cáo nghiên cứu gần đây từ Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Sumatra đã cho thấy sự khan hiếm của loài Rái cá lông mũi ở các nước này ([14], [20], [25], [33]) Sinh cảnh sống phù hợp với loài Rái cá lông mũi là rất hiếm [19] làm cho loài này là một trong những loài đang bị đe dọa nhất ở Đông Nam Á
Hiện tại không có đủ số liệu sinh thái hoặc những hồ sơ báo cáo chính thức ghi nhận tất cả các loài Rái cá ở Việt Nam Tuy nhiên, việc khai thác và săn bắn quá mức nghiêm trọng các loài Rái cá ở Việt Nam kết hợp với mức
độ tác động cao của con người đến môi trường sống của Rái cá đã dẫn đến mật độ các quần thể Rái cá thấp và bị phân mảnh và cần phải có hành động bảo tồn cấp thiết đối với các loài Rái cá ([12], [27]) Roberton [32] đã tìm
Trang 2717
thấy chỉ có 24 ghi nhận các loài Rái cá tại thực địa đã được xác nhận ở Việt Nam trong 15 năm qua Mười trong số 24 ghi nhận chính thức đã được thực hiện trong 13 Vùng Bảo tồn Đa dạng Sinh học quan trọng được xác định là những vùng ưu tiên cho bảo tồn thú ăn thịt nhỏ và 09 ghi nhận về loài Rái cá được xác nhận từ các vùng Bảo tồn Đa dạng Sinh học quan trọng khác (ví dụ: Văn Bàn, Ea Sô, Kẻ Gỗ, Đắc Krông, Phong Điền, và Pù Mát), nhưng không
có một vùng bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng nào kể trên có các quần thể
Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana) Tất cả những ghi nhận gần đây về loài
Rái cá là từ khu vực rừng than bùn U Minh ở tỉnh Cà Mau và Kiên Giang có
02 khu bảo vệ (Vườn Quốc gia U Minh Thượng và Vườn Quốc gia U Minh
hạ) Ngoài Rái cá lông mũi ra, loài Rái cá vuốt bé Aonyx cinerea là một loài
đang có nguy cơ đe dọa toàn cầu cũng đã được ghi nhận trong khu vực này
Tất cả các loài Rái cá ở Việt Nam đều có liên quan đến các môi trường sống ở vùng đồng bằng duyên hải và vùng nước ngọt, tuy nhiên có rất ít số
liệu về các loài Rái cá hiện có liên quan đến các kiểu rừng
Trước năm 1975 có rất ít những khảo sát về khu hệ thú khu vực được tiến hành do nguyên nhân chiến tranh kéo dài đã cản trở những nghiên cứu khoa học trong vùng Từ năm 1975, đã có một số khảo sát về sự đa dạng của khu hệ thú được tiến hành trong khuôn khổ các chương trình nghiên cứu của Nhà nước, hoặc do các Viện nghiên cứu, trường đại học tiến hành, như Viện Sinh Học Hà Nội Tuy nhiên những thông tin về khu hệ thú của các khu vực trong vùng vẫn còn rất hạn chế [24]
Việt Nam có 04 loài Rái cá đang bị đe dọa toàn cầu và đe dọa quốc gia với nguy cơ bị tuyệt chủng [12] Trong đó, hiện trạng loài Rái cá lông mũi
(Lutra sumatrana) vẫn chưa được biết rõ ở hầu hết các vùng sinh cảnh sống
Trang 2818
của chúng, bao gồm cả Việt Nam [24], có rất ít số liệu về sự phân bố của Rái
cá lông mũi [12], điều này đã dẫn đến việc trong sách đỏ của IUCN liệt kê loài này là thiếu số liệu [13], và được nâng cấp thành Nguy cấp trong sách đỏ của IUCN 2012 Các quần thể Rái cá lông mũi đã được phát hiện tại khu vực , tuy nhiên có rất ít các cuộc điều tra nghiên cứu về hiện trạng của loài Rái cá lông mũi tại khu vực này
Sinh cảnh sống chủ yếu của loài Rái cá lông mũi là rừng than bùn, bao gồm rừng tràm thâm canh hoặc rừng than bùn thường xanh [14] Những báo cáo công bố gần đây từ các nước Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Sumatra
đã chỉ ra sự khan hiếm của loài này tại các quốc gia nói trên ([14], [20], [25], [33]) Sinh cảnh sống thích hợp của loài này là rất hiếm [19] và làm cho loài Rái cá này trở thành một trong những loài bị đe dọa nhất ở khu vực Đông Nam Á
Có rất ít các cuộc điều tra động vật đã được công bố ở Đồng bằng Sông Cửu Long [3] và chỉ có một nghiên cứu về sinh thái tại Vườn Quốc gia (ban đầu được gọi là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Vồ Dơi) Vì lý do này, đề tài nghiên cứu này sẽ được thực hiện để đánh giá hiện trạng các loài Rái cá đang bị đe dọa tại Vườn Quốc gia U Minh hạ , tỉnh Cà Mau, đặc biệt là loài Rái cá lông mũi đang có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng toàn cầu Một phần quan trọng của đề tài nghiên cứu này là đánh giá mức độ can thiệp của con người và đánh giá mức độ của mối đe dọa đối với các loài Rái cá trong khu vực nghiên cứu nhằm đưa ra cơ sở dữ liệu chính xác và vững chắc về mặt khoa học và kinh tế
xã hội nhằm cải thiện công tác bảo tồn các loài Rái cá tại khu vực nghiên cứu
Trang 2919
a) Rái cá vuốt bé b) Rái cá lông mũi
C) Rái cá lông mượt d) Rái cá thường
Hình 1.8 Bản đồ phân bố 04 loài Rái cá trên thế giới
(Nguồn: IUCN SSC Otter Specialist Group)
Trang 3020
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Cung cấp cơ sở dữ liệu chính xác và vững chắc về mặt khoa học và kinh tế xã hội nhằm cải thiện công tác bảo tồn các loài Rái cá tại khu vực nghiên cứu
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định số lượng loài Rái cá hiện đang sinh sống tại Vườn Quốc gia;
Đánh giá hiện trạng, phân bố và các quần hợp sinh cảnh của các loài
Rái cá tại Vườn Quốc gia , đặc biệt là loài Rái cá lông mũi (Lutra Sumatrana);
Đánh giá mức độ tác động của con người và mối đe dọa đến loài Rái
cá trong khu vực nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các loài Rái cá tại Vườn Quốc gia U Minh hạ, tỉnh Cà Mau, đặc biệt là
loài Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana)
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 15/09/2012 đến ngày 28/02/2013
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài Rái cá tại khu vực Vườn Quốc gia U
Minh hạ;
Nghiên cứu sự phân bố, mật độ trung bình và tổng số lượng các loài
Rái cá tại khu vực nghiên cứu;
Nghiên cứu các mối đe dọa đối với các loài Rái cá tại khu vực
nghiên cứu;
Trang 3121
Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn các loài Rái cá tại Vườn Quốc
gia U Minh hạ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu kế thừa
Thu thập các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khu vực nghiên cứu làm cơ sở cho việc tổng hợp phân tích đánh giá hiện trạng các loài Rái cá tại Vườn Quốc gia Đề tài kế thừa các số liệu nghiên cứu điều tra hiện trạng các loài Rái cá tại Vườn Quốc gia U Minh hạ do Chương trình Bảo tồn Thú ăn thịt nhỏ và Tê tê, Vườn Quốc gia Cúc Phương thực hiện điều tra khảo sát trong năm 2007 và năm 2008
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện trong Vườn Quốc gia từ ngày 11 đến ngày 18 tháng 09 năm 2007 và ở các lâm trường từ ngày 09 đến ngày 20 tháng 11 năm 2007 Các thợ săn sống giáp ranh với Vườn Quốc gia hoặc lâm trường được hỏi về kiến thức của họ liên quan đến các loài Rái cá Các thông tin được hỏi bao gồm sinh thái, các phương thức săn bắt, và hiện trạng buôn bán các loài Rái cá
Số cuộc phỏng vấn đã được tiến hành trong một ngày phụ thuộc vào thời gian và chất lượng cung cấp thông tin của người phỏng vấn nhưng tối thiểu là 02 cuộc phỏng vấn Các thôn được lựa chọn phỏng vấn căn cứ vào lời khuyên của cán bộ vườn quốc gia, cán bộ xã, và các nhà khoa học có kinh nghiệm làm việc trong khu vực nghiên cứu Tổng cộng đã phỏng vấn được 48 thợ săn tại 10 ấp xung quanh Vườn Quốc gia U Minh hạ, lâm trường U Minh
I, U Minh II, 30/04 và lâm trường Sông trẹm
Người được phỏng vấn là những người có danh tiếng và có sự hiểu biết cao về các phương pháp săn bắt động vật hoang dã Lãnh đạo các ấp đã cung cấp tên của người trả lời phỏng vấn ban đầu, sau đó những người phỏng vấn
Trang 3222
này có thể cung cấp tên những thợ săn hiểu biết tiếp theo Các vấn đề được thảo luận trong các cuộc phỏng vấn là rất nhạy cảm bởi vì việc săn bắt các loài Rái cá trong khu vực nghiên cứu là bất hợp pháp Ngoài ra, số thợ săn hiểu biết
về loài Rái cá trong khu vực nghiên cứu không nhiều, vì vậy, việc lấy mẫu ngẫu nhiên các thợ săn để phỏng vấn là điều không thể tiến hành được
Các cuộc phỏng vấn đã thu thập số liệu về các mối đe dọa, những tác động của con người đến các loài Rái cá trong khu vực nghiên cứu; những thông tin chung về hiện trạng, phân bố và những nhu cầu sinh cảnh sống của các loài Rái cá; thu thập thông tin về hiện trạng săn bắt và tác động của con người trong khu vực nghiên cứu; xác định các địa điểm trong khu vực nghiên cứu có tiềm năng điều tra Rái cá và đặt bẫy ảnh
Các câu hỏi phỏng vấn được thiết kế là những câu hỏi mở và được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc Các câu hỏi đã được ghi nhớ trước nhưng không viết ra hoặc hỏi theo bất cứ thứ tự đã được xác định trước Điều này cho phép các cuộc hội thoại được diễn ra suôn sẻ và có những nhận xét góp ý hữu ích được thảo luận thêm Câu hỏi mở đã được sử dụng ở bất cứ nơi nào có thể, để tránh việc người được phỏng vấn có được câu trả lời trước Tất cả các câu trả lời đã được ghi lại trong cuốn sổ tay của người đi phỏng vấn và được thống kê vào bảng số liệu sau khi phỏng vấn kết thúc
Thái độ và kiến thức của những người được phỏng vấn là rất khác nhau Thông thường trong cuộc phỏng vấn, một câu hỏi không thể có các câu trả lời giống nhau từ những người được phỏng vấn khác nhau Vì vậy, cần phải có các câu hỏi cụ thể về nhu cầu sinh cảnh của các loài Rái cá, vì những người được phỏng vấn thường cung cấp những câu trả lời rất mơ hồ như: ở trong rừng rậm hoặc ở nơi có nhiều cá Để giúp cho việc xác định cụ thể hơn các kiểu sinh cảnh sống của loài Rái cá mà các thợ săn nhìn thấy, các câu hỏi sau đã được hỏi:
Trang 3323
1 Loài X chỉ thích rừng già hay rừng non hay nó được nhìn thấy trong tất cả các loại rừng có độ tuổi khác nhau? Bởi vì các khu rừng được khai thác theo chu kỳ từ 7 đến 12 năm/lần, rừng non được phân loại là rừng có độ tuổi
từ 0 - 5 năm và rừng già là rừng 6 năm tuổi trở lên Không có khu rừng nào ở Vườn Quốc gia hoặc các lâm trường có độ tuổi trên 30 năm
2 Loài X thường được nhìn thấy trong rừng trồng truyền thống hay rừng trồng thâm canh hay cả hai loại rừng?
3 Loài X được nhìn thấy trong rừng của lâm trường hay rừng của người dân địa phương? Câu hỏi này chỉ được hỏi đối với những người dân sống ở trong các lâm trương, câu hỏi này đã được hỏi bởi vì người dân cho biết có nhiều tác động ở các khu rừng trồng của người dân địa phương
4 Loài X được nhìn thấy ở dọc các bờ kênh có trồng cây chuối hay lau sậy?
Các câu trả lời của người được phỏng vấn được tính là x% (y / z), y là tổng số người đưa ra câu trả lời và z là tổng số người phỏng vấn được hỏi, bao gồm cả những người đã không đưa ra câu trả lời hoặc đưa ra câu trả lời không liên quan
2.4.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
Việc phân tầng lấy mẫu ngẫu nhiên đã được sử dụng để khảo sát tại Vườn Quốc gia Vườn Quốc gia có diện tích là 115 km2, bao gồm 71 tiểu khu được phân chia bởi một mạng lưới kênh rạch dày đặc Các cuộc điều tra phỏng vấn thợ săn đã xác định được hai khu vực trong Vườn Quốc gia (Vồ Dơi và lâm trường U Minh III) là khu vực có tính đa dạng sinh học cao 08 tuyến điều tra theo tuyến đã được lựa chọn cố định để điều tra tại hai khu vực giàu tính đa dạng sinh học này Ngoài ra, 8 tuyến điều tra khác cũng đã được tiến hành trong các khu vực còn lại của Vườn Quốc gia Tám tuyến còn lại
Trang 3424
này được lựa chọn bằng cách chọn tuyến điều tra trong các tiểu khu có rừng tại Vườn Quốc gia (không bao gồm tám tuyến đã được khảo sát trước đó) Sau đó, sử dụng chức năng lấy số ngẫu nhiên RANDBETWEEN 'được sử dụng trong Excel 2007 để chọn các địa điểm khảo sát
Mỗi tuyến điều tra đã được điều tra 2 lần: một lần vào buổi sáng sớm
và một lần vào buổi tối (được tính là một mẫu điều tra độc lập) Phương pháp điều tra này phù hợp với những đề xuất khuyến nghị của tác giả [10] Các tuyến điều tra đã không được tiến hành trong khu vực có nước nhưng đã được tiến hành ở những khu vực cách mép nước từ 0,5m đến 2m [14] Vườn quốc gia đã dọn sạch các cây lau sậy dọc theo bờ kênh để giảm nguy cơ cháy rừng,
vì vậy các tuyến điều tra sẽ được tiến hành dọc theo các bờ kênh này Ngoài
ra, các tuyến điều tra có thể được thực hiện dọc theo các bãi trảng trống còn sót lại của Vườn Quốc gia Các tuyến điều tra sẽ được tiến hành để quan sát trực tiếp các loài Rái cá, phát hiện dấu chân, hang, phân, và những dấu hiệu khác của Rái cá trong khu vực nghiên cứu Khi một con Rái cá được phát hiện hoặc dấu chân, dấu vết khác được tìm thấy, một máy GPS sẽ được sử dụng để ghi tọa độ phát hiện và việc đánh giá sinh cảnh sống sẽ được tiến hành
Loài Rái cá là loài thường xuyên hoạt động vào ban đêm Để quan sát trực tiếp các loài Rái cá, phương pháp điều tra chiếu sáng ban đêm sẽ được tiến hành Đèn pin đội đầu sẽ được sử dụng để phát hiện ánh mắt của các loài Rái cá Khi phát hiện Rái cá, một đèn chiếu sáng công suất mạnh sẽ được sử dụng để giúp định dạng loài một cách chính xác
Mỗi tuyến điều tra được tiến hành điều tra 2 lần, một lần vào buổi tối
và một lần vào buổi sáng sớm Do sự khác nhau giữa các khu vực khô hạn và khu vực than bùn sâu, các tuyến điều tra đã được tiến hành theo thời gian thay
vì thiết lập độ dài của tuyến điều tra cố định Tổng cộng đã có 16 tuyến điều tra theo tuyến đã được tiến hành, 2 tiếng vào buổi sáng và 3 tiếng vào buổi
Trang 35sử dụng để tiến hành điều tra theo tuyến do chúng cho phép đoàn điều tra có thể quan sát được các loài động vật một cách trực tiếp, rõ ràng và dễ dàng phát hiện ra các dấu chân, hang, phân và dấu vết của các loài Rái cá trong khu vực nghiên cứu Khi một cá thể Rái cá được tìm thấy hoặc dấu chân và dấu vết của chúng được tìm thấy, một máy GPS được sử dụng để ghi tọa độ và việc đánh giá sinh cảnh cũng được tiến hành
2.4.4 Phương pháp điều tra sinh cảnh sống
Các cuộc điều tra sinh cảnh sống đã được tiến hành với độ dài 200m dọc theo mỗi tuyến điều tra Điều tra sinh cảnh sống được thực hiện khi phát hiện được Rái cá tại các tuyến điều tra Các cuộc điều tra sinh cảnh sống này
đã được tiến hành để xác định các sinh cảnh sống mà các loài Rái cá thích sử dụng trong khu vực nghiên cứu Kiểu thảm thực vật ưu thế đã được ghi nhận, cũng như sự có nước hoặc không có nước, khoảng cách từ địa điểm nhìn thấy Rái cá đến khu vực có nước sẽ được điều tra tại địa điểm phát hiện
2.4.5 Phương pháp điều tra bằng bẫy ảnh
Bẫy ảnh là công cụ điều tra rất hiệu quả các loài động vật hoang dã hoạt động ban đêm Bẫy ảnh loại Deercam sử dụng phim ISO200 được triển khai tại 10 địa điểm trên khắp Vườn Quốc gia, trong thời gian từ 3 tuần đến 6 tháng (Bảng 4.2) Không có bẫy ảnh nào được đặt nằm trong vòng 1 km gần nhau Các địa điểm đặt bẫy ảnh tốt đã được xác định trong thời gian phỏng vấn các thợ săn Trong các khu vực đặt bẫy ảnh, một cán bộ kiểm lâm địa phương đã dẫn đoàn đến các địa điểm mà anh ta đã nhìn thấy rất nhiều dấu vết của Rái cá Các bẫy ảnh đã được đặt tại các địa điểm có nhiều dấu chân
Trang 3626
động vật và có đường đi rõ ràng của động vật Tất cả các bẫy ảnh đã được đặt tại các vị trí gần kênh, trong bụi chuối, lau sậy hoặc cây bạch đàn ven các con kênh được trồng để làm đường băng cản lửa giữa các lô rừng khác nhau
Bẫy ảnh hướng về phía Bắc để tránh ảnh bị mờ bởi ánh nắng mặt trời ở bất cứ địa điểm nào có cây phù hợp cho phép thực hiện điều này Hạt hút ẩm silica được bọc trong vải và đặt bên trong bẫy ảnh để làm giảm khả năng ngưng tụ hơi nước trên ống kính Khoảng cách chụp giữa 2 bức ảnh liên tiếp
là 15 giây và được đặt ở chế độ nhạy cao (High sensitive) Khi các bẫy ảnh được cài đặt, bất kỳ cây con nào có khả năng làm mờ ảnh phía trước khi máy ảnh chụp đều được chặt dọn phát quang, và cố gắng không gây tác động quá nhiều đến địa điểm đặt bẫy ảnh Bẫy ảnh được bảo dưỡng hàng tháng nhằm đảm bảo các bẫy ảnh hoạt động tốt và hiệu quả, thay phim và pin khi cần thiết Các bẫy ảnh sẽ được di chuyển sang địa điểm khác nếu trong hai tháng liên tiếp không chụp được bức ảnh động vật nào
Hình 2.1 Địa điểm đặt bẫy ảnh tại Vồ Dơi
Trang 3727
Bẫy ảnh được gắn vào một cây chắc khỏe cách mặt đất từ 20 - 30 cm,
có tính đến biến động mực nước trong khu vực nghiên cứu Độ cao này đã được lựa chọn bởi việc xác định Rái cá thông qua các hình ảnh được chụp bởi
bẫy ảnh là rất khó khăn, đặc biệt là giữa Rái cá thường Lutra Lutra và Rái cá lông mũi Lutra sumatrana Đặc điểm phân biệt giữa hai loài này nằm ở cằm
và viền mũi của chúng Vậy nên việc đặt bẫy ảnh thấp đến mặt đất sẽ giúp chụp được ảnh có màu sắc của cằm và hình dạng bàn chân tốt hơn nhờ đó mà việc xác định loài cũng sẽ chính xác hơn
Chất dẫn dụ Rái cá được bôi vào giữa các que gỗ được chẻ ra bôi Điều này làm cho chất dẫn dụ được duy trì lâu và không bị rửa trôi khi trời mưa Các chất dẫn dụ được đặt trước bẫy ảnh với khoảng cách 3m để hấp dẫn các loài động vật đến phía trước bẫy ảnh và có thể chụp được toàn bộ cơ thể của động vật
2.4.6 Đánh giá số lượng Rái cá trong khu vực nghiên cứu
Để đánh giá số lượng các loài Rái cá trong khu vực nghiên cứu, đề tài này đã sử dụng phương pháp của Nguyễn Xuân Đặng [23] Việc đánh giá được tiến hành tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng, cụ thể như sau:
Tiến hành điều tra các khu vực nhất định của Vườn Quốc gia U Minh
hạ để xác định “vùng lãnh thổ sinh sống” của tất cả các loài Rái cá dựa vào sự phân bố các địa điểm thu thập được thông tin về Rái cá (bẫy ảnh và quan sát trực tiếp) Căn cứ vào thông tin về số lượng của các nhóm Rái cá tìm kiếm được tại các địa điểm điều tra và số lượng Rái cá của mỗi nhóm đoàn khảo sát
sẽ tính toán tổng số lượng Rái cá xuất hiện trong khu vực nghiên cứu Mật độ trung bình của Rái cá được tính theo công thức sau đây:
Mật độ Rái cá trung bình = Tổng số lượng Rái cá được tìm thấy trong khu vực đã điều tra (cá thể)/ Diện tích đã điều tra (ha)
Trang 38Để so sánh các mẫu quan sát độc lập, tiêu chuẩn F của Fisher đã được
sử dụng để tiến hành kiểm tra
Trang 3929
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH
2006, bao gồm vùng lõi của
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Vồ
Dơi, một phần của Lâm ngư
trường U Minh III và Lâm ngư
trường Trần Văn Thời Vườn
Quốc gia nằm cách thành phố
Cà Mau khoảng 30 km về phía
Tây Bắc
Hình 3.1 Vị trí Vườn Quốc gia
Vườn Quốc gia được chia thành 71 ô vuông bởi một mạng lưới các kênh mương dày đặc nằm trên địa bàn các xã Khánh Lâm, Khánh An huyện
U Minh, Khánh Bình Tây Bắc, Trần Hợi huyện Trần Văn Thời Vị trí Vườn Quốc gia được xác định bởi toạ độ địa lý và ranh giới như sau:
- Toạ độ địa lý
+ Từ 9012’30’’ N- 9017’41’’N (N-Vĩ độ Bắc)
+ Từ 104054’11’’E - 104059’16’’E (E-Kinh độ Đông)
- Ranh giới
+ Ranh giới phía Bắc là Kênh T27, từ Kênh T 90 đến Kênh T100;
+ Ranh giới phía Nam là Kênh 600, (đoạn từ Kênh 19 đến Kênh Trung tâm); Kênh 500 và Kênh 1200 (đoạn từ Kênh Trung tâm , đến Kênh đứng trong);
Vườn Quốc gia U Minh hạ
Trang 4030
+ Ranh giới phía Đông là Kênh T100 (đoạn từ Kênh 27 xuống Kênh 21); và Kênh T19 (đoạn từ Kênh 21 đến Kênh 600)
- Tổng diện tích tự nhiên: 8.527,8 ha
Hình 3.2 Trung tâm Vồ Dơi, Vườn Quốc gia U Minh hạ
Hình 3.3 Sinh cảnh trảng
Ở phía Bắc của Vườn Quốc gia là các lâm trường quốc doanh, các lâm trường này có thể là hành lang cho các loài động vật hoang dã di chuyển giữa Vườn quốc gia U Minh Hạ và Vườn Quốc gia U Minh Thượng Các lâm trường này bao gồm: U Minh I, (9019'-9023 'N và 104054'-105000'E), U