- Phạm vi nghiên cứu + Về nội dung: Phân tích, xác định vai trò của việc phát triển MHTTNDVR đối với công tác quản lý bảo vệ TNR, cụ thể MHTTNDVR với các loài cây lâm sản ngoài gỗ LSNG
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu của Luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả Luận văn
Đặng Quang Thuyên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sự thành công của Luận văn này không những là sự nỗ lực nghiên cứu của bản thân mà còn là sản phẩm của quá trình hợp tác, giúp đỡ và tạo điều kiện của các cơ quan,
tổ chức và các cá nhân có liên quan
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến BGH nhà trường, các thầy cô giáo Khoa Quản lý TNR, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp và các thầy
cô giáo khác đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tôi hoàn thành Bản Luận văn này
Đặc biệt nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Nghĩa Biên, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo những kiến thức về chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quý báu
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo UBND các xã Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn), xã Lâm Thượng (huyện Lục Yên, Tỉnh Yên Bái), xã Mường Do (huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La), Sở Nông nghiệp Lạng Sơn, Chi cục Lâm nghiệp Yên Bái, Chi cục Lâm nghiệp Sơn La đã cung cấp đầy đủ các thông tin, tư liệu cần thiết, tạo mọi điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Đặc biệt là các hộ dân ở các bản Nooc Mò (xã Mẫu Sơn), bản Nậm Chấn (xã Lâm Thượng) và bản Kiểng (xã Mường Do) đã dành thời gian để tham gia phỏng vấn phục vụ quá trình đánh giá và nghiên cứu Sự đóng góp này là hết sức quan trọng đối với một nghiên cứu tiếp cận có sự tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên rừng
Cuối cùng tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm đặc biệt của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi về mặt tinh thần, vật chất trong suốt thời gian dài học tập và nghiên cứu thực hiện Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Đặng Quang Thuyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan thu nhập dựa vào rừng 5
1.1.1.Khái niệm và định nghĩa 5
1.1.2 Phân loại thu nhập dựa vào rừng 10
1.1.3.Chính sách và các khuôn khổ pháp lý liên quan đến bảo tồn và phát triển mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng hay lâm sản ngoài gỗ 12
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 15
1.2.1 Nghiên cứu phát triển mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng hay lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam 15
1.2.2 Nghiên cứu về mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng hay lâm sản ngoài gỗ trên thế giới 23
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đặc điểm cơ bản của các khu vực nghiên cứu và các cây trồng mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng 30
2.1.1 Xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 30
2.1.2 Xã Lâm Thượng, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 34
2.1.3 Xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 40
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 42
2.2.3 Phương pháp xử lý, đánh giá và phân tích số liệu 46
Trang 4Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 54
3.1 Thực trạng rừng và đất lâm nghiệp của các xã có mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng 54
3.1.1 Thực trạng rừng và đất lâm nghiệp xã Mẫu Sơn 54
3.1.2 Thực trạng rừng và đất lâm nghiệp xã Lâm Thượng 57
3.1.3 Thực trạng rừng và đất lâm nghiệp xã Mường Do 59
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển MHTTNDVR trên địa bàn các xã 62
3.2.1 Thông tin chung về các thôn tham gia thực hiện MHTTNDVR 62
3.2.2 Những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng 66
3.3 Đánh giá tổng hợp hiệu quả của MHTTNDVR 72
3.3.1 Kết quả kiểm chứng 72
3.3.2 Kết quả đánh giá hiệu quả tổng hợp của MHTTNDVR 72
3.4 Một số bài học kinh nghiệm từ việc phát triển MHTTNDVR 82
3.5 Các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của MHTTNDVR 86
3.5.1.Giải pháp quy hoạch vùng phát triển LSNG 86
3.5.2 Giải pháp về chính sách 87
3.5.3 Nghiên cứu thị trường tiêu thụ của các sản phẩm 87
3.5.4 Giải pháp khoa học, kỹ thuật 88
3.5.5 Giải pháp về tuyên truyền và tập huấn kỹ thuật 89
3.5.6 Giải pháp về tổ chức quản lý và giám sát mô hình 90
3.5.7 Giải pháp nhân rộng mô hình 91
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MHTTNDVR Mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng
Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng
và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
BVPTR Bảo vệ phát triển rừng
KfW7 Dự án Phát triển Lâm nghiệp ở Hòa Bình và Sơn La
KfW6 Dự án phục hồi và quản lý rừng bền vững ở Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định và Phú Yên
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
2.2 Dung lượng mẫu điều tra theo các thôn thực hiện Mô hình tăng
2.3 Chỉ tiêu và tiêu chí phục vụ đánh giá hiệu quả mô hình 44 2.4 Lượng hóa mức điểm cho các chỉ tiêu và tiêu chí 49 3.1 Dân số và số khẩu phân theo thành phần dân tộc 62 3.2 Số hộ và tỷ lệ thu nhập của các hộ dân trong các thôn/bản 63
3.3 Thông tin về diện tích, mật độ và số cây trồng ở các
3.4 Tổng hợp các kết quả đánh giá hiệu quả MHTTNDVR 73 3.5 Tình hình tổ chức bảo vệ rừng tại các thôn/bản 81
Trang 73.6 Bản đồ ảnh hiện trạng rừng năm 2015 xã Lâm Thượng – huyện Lục
3.7 Biểu đồ tỷ lệ diện tích rừng và đất lâm nghiệp phân theo chức năng 59
3.9 Bản đồ ảnh hiện trạng rừng năm 2015 xã mường do – huyện Phù
3.12 Một số vị trí mô hình cây Mây Nếp, thôn Nậm Chắn, Lâm Thượng,
3.13 Một số vị trí Mô hình Giổi ăn hạt Bản Kiểng, Mường Do, Phù Yên,
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ Lâm sản ngoài gỗ đóng một vai trò quan trọng trong sinh kế của người nghèo
ở nông thôn, là nguồn lương tực, thuốc men, vật liệu xây dựng, và thu nhập Thống
kê cho thấy rằng hơn 60 triệu người dân sống hoàn toàn dựa vào rừng ở các khu vực châu Mỹ Latinh, Tây Phi và Đông Nam Á, cộng với khoảng 400-500 triệu dân sống phụ thuộc trực tiếp vào sản phẩm từ thiên nhiên Tiếp cận với TNR giúp các hộ nông thôn đa dạng hóa sinh kế của học và giảm khả năng hứng chịu rủi ro Thu nhập từ lâm sản thường rất quan trọng vì nó bổ sung vào thu nhập khác Rất nhiều
hộ gia đình có thêm thu nhập từ việc bán lâm sản, thường khi việc sản xuất nông nghiệp không đủ trang trải cho cuộc sống thu nhập từ lâm sản thường được dùng để mua hạt giống, thuê lao động làm việc canh tác, hoặc tạo nguồn vốn cho các hoạt động buôn bán khác Đối với các hộ nghèo nhất, LSNG có thể đóng vai trò vô cùng
quan trọng vừa là nguồn lương thực thực phẩm, vừa là nguồn thu nhập [8]
Trong thời gian qua nhà nước có nhiều chính sách phát triển kinh tế xã hội,
có liên quan đến phát triển lâm nghiệp như: Chương trình 327, Dự án 661, Chương trình 135, Chương trình 134, Nghị quyết 30a, Chương trình Khuyến Nông Lâm quốc gia … với mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi, thông qua nhiều phương pháp tiếp cận chuyển giao khoa học kỹ thuật khác nhau, trong đó có nhiều mô hình khuyến lâm Bên cạnh những chương trình, dự án của nhà nước, các dự án tài trợ nước ngoài cũng đã hỗ trợ triển khai thực hiện các MHTTNDVR như Dự án KFW 6, 7 hoặc các dự án do GIZ, Cộng đồng Châu Âu (EU) tài trợ tại Nghệ An… Tuy nhiên, phần lớn các chương trình dự án về hỗ trợ MHTTNDVR chưa có các đánh giá kết quả của mô hình tăng thu nhập hoặc có cũng rất nhỏ lẻ và thiếu toàn diện
Dự án “Tăng cường LNCĐ tại Việt Nam”được triển khai thực hiện từ tháng
6 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 là pha tiếp theo của Dự án “Thí điểm về LNCĐ” (CFM1) giai đoạn 2006-2009 Dự án CFM2 được thực hiện trên địa bàn 9 tỉnh gồm Điện Biên, Sơn La, Lạng Sơn, Cao Bằng, Yên Bái, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Đắc Nông [3].Một trong các hoạt động của dự án CFM2 đã thực
Trang 9hiện là MHTTNDVR Trong đó có 4 loại MHTTNDVR đã được phát triển gồm có các
loài Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) như cây Trám đen (Canarium tramdenum Dai & Yakovl.) ở tỉnh Cao Bằng và cây Chanh Rừng (tên khác Sơn Quất) (Fortunella hindsii (Champ)Swingle) ở tỉnh Lạng Sơn; Mây Nếp (Calamus tetradactylus Hance.) (tỉnh Yên Bái); Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev.) (tỉnh Sơn La) Mục tiêu chính
của hoạt động này nhằm (i) hỗ trợ cải thiện sinh kế cho người dân sống gần rừng nơi tỷ
lệ nghèo đói trong các cộng đồng tham gia dự án CFM2 chiếm 30,3% và (ii) thu hút sự tích cực tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng,góp phần thực hiện Chiến lược quốc lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020[7]
Sau nhiều năm thực hiện MHTTNDVR song vấn chưa có các công trình điều tra nghiên cứu đầy đủ, có tính hệ thống cung cấp cho các nhà quản lý có những thông tin đầy đủ, khách quan về thực trạng và giải pháp phát triển MHTTNDVR phù hợp cho các địa phương Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn này, tôi đã tiến
hành đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng tại một số tỉnh miền núi phía Bắc” Đề tài có các ý nghĩa như sau:
Về thực tiễn
Đề tài cung cấp những dẫn liệu về các hoạt động phát triển MHTTNDVR ở 3 góc độ kinh tế,môi trường và xã hội
Những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện MHTTNDVR do đề tài đề xuất
là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến quản lý sử dụng LSNG theo hướng bền vững ở Việt Nam
Trang 101 Mục tiêu nghiên cứu
1) Mục tiêu tổng quát: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn về tăng thu nhập dựa
vào rừng góp phần nâng cao đời sống của người dân sống gần rừng theo hướng quản lý rừng bền vững;
-Đề xuất được các giải pháp phát triển và nhân rộngMHTTNDVR
2.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến MHTTNDVRtại
03 cộng đồng thôn/bản đã được CFM2 hỗ trợ thực hiện
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Phân tích, xác định vai trò của việc phát triển MHTTNDVR
đối với công tác quản lý bảo vệ TNR, cụ thể MHTTNDVR với các loài cây lâm sản
ngoài gỗ (LSNG) gồm cây Chanh rừng (tên khác Sơn Quất) (Fortunella hindsii (Champ)Swingle); Mây Nếp (Calamus tetradactylus Hance.); Giổi Ăn Hạt (Michelia tonkinensis A.Chev.) Với mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng ở đây thực chất là
mô hình cho thu nhập dựa vào cây LSNG, nên việc phân tích, luận giải trong luận văn tập trung vào các vấn đề liên quan đến LSNG
+ Về không gian
Triển khai thực hiện trên các tỉnh Lạng Sơn, Yên Bái và Sơn La, chi tiết đối với các mô hình trong biểudưới đây:
Trang 11Biểutên mô hình tăng thu nhập dự kiến được đánh giá tại các tỉnh,
huyện, xã và thôn bản
1 Chanh Rừng Nooc Mò Mẫu Sơn Lộc Bình Lạng Sơn
2 Mây Nếp Nâm Chấn Lâm Thượng Lục Yên Yên Bái
3 Giổi Ăn Hạt Kiểng Mường Do Phù Yên Sơn La
Các mô hình tăng thu nhập được lựa chọn trên phân bố tại các thôn/bản có tỷ
lệ nghèo đói cao, điều kiện tự nhiên không thuận tiện, gần 100% đồng bào dân tộc
+ Về thời gian: Khảo sát và thu nhập số liệu phân tích từ 2012 đến 2015
3.Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hướng của các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội đến MHTTNDVR;
- Thực trạng rừng và đất lâm nghiệp của các xã có mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng;
- Đánh giá tổng hợp hiệu quả của các MHTTNDVR để phân tích và đưa ra những khuyến cáo về việc phát triển MHTTNDVR;
- Đề xuất các giải pháp phát triển MHTTNDVR
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được kết cấu như sau: Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương II: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Cơ sở lý luận và thực tiễnliên quan thu nhập dựa vào rừng
1.1.1.Khái niệm và định nghĩa
*Thu nhập hộ gia đình nông thôn
Thu nhập biểu thị bằng một lượng giá trị hoặc hiện vật mà con người lao động nhận được bằng lao động của mình
Như vậy, với nền kinh tế quốc dân, thu nhập là tổng giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong một đơn vị thời gian Với chủ doanh nghiệp tư nhân, thu nhập là lợi nhuận ròng mà họ có được sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh Với người công nhân, thu nhập của họ chính là tiền lương, tiền công
mà họ nhận được
Trong cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ diễn ra rất đa dạng, ngoài sản xuất nông nghiệp hộ còn tham gia vào các ngành nghề khác như công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, xây dựng và nghề rừng Chính vì thu nhập của hộ nông dân bao gồm toàn bộ những kết quả của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ và một số ngành nghề khác như sửa chữa, sản xuất nguyên vật liệu, chết biến nông sản mang lại[20]
*Thu nhập dựa vào rừng
Cho đến nay, chưa có định nghĩa nào về thu nhập dựa vào rừng Tuy nhiên,
có thể hiểu thu nhập dựa vào rừng là những thu nhập được mang lại thông qua các hoạt động liên quan đến rừng
Thu nhập này gồm khai thác các sản phẩm từ rừng như gỗ, lâm sản ngoài gỗ,
và các sản phẩm mang lại gián tiếp từ chăn thả gia súc, rừngcủi
Theo FAO nhận định có sáu phương thức sử dụng nguồn rừng có tiềm năng giúp cho quá trình giảm nghèo Đó là: (1) Chuyển đổi rừng sang sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả hoạt động canh tác nương rẫy và chăn thả gia súc trên đất rừng), (2) Gỗ (khai thác gỗ từ rừng trồng, rừng tự nhiên trong phạm vi rừng sản xuất của địa phương), (3) Các lâm sản ngoài gỗ (bao gồm LSNG thu hái rừng rừng
Trang 13tự nhiên, rừng trồng trong phạm vi rừng phòng hộ, rừng sản xuất của địa phương), (4) Dịch vụ môi trường, (5) Việc làm (tạo việc làm từ các hoạt động lâm nghiệp như: trồng rừng, khai thác rừng, công nhân trong các cơ sở, xưởng chế biến, các công ty lâm nghiệp, ) và (6) Các lợi ích gián tiếp [9]
Đối với các khái niệm về 'dựa vào rừng’còn tồn tại nhiều vấn đề Mặc dù
nó có thể đề cập một cách lỏng lẻo đển bất kỳ người dân sống dựa vào các sản phẩm rừng phục vụ sinh kế của họ, như là một mức độ nào 'phụ thuộc vào rừng, sử dụng lỏng lẻo này làm lu mờ sự phân biệt cơ bản giữa các loại khác nhau của các mối quan hệ[25]
* Lâm sản ngoài gỗ
Khái niệm: Ở Việt Nam, trong thời gian dài, lâm sản được chia thành hai
loại: Lâm sản chính (những sản phẩm gỗ), và lâm sản phụ, (những sản phẩm không phải gỗ như mây tre, cây thuốc, dầu nhựa…) Từ năm 1961, lâm sản phụ được thay bằng từ “đặc sản sản rừng” (ĐSR) và từ cuối thế kỷ XX, cả hai từ trên được thay thế bằng một thuật ngữ: Lâm sản ngoài gỗ (LSNG)
Định nghĩa: Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG
nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Nông
Lương Liên hợp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “LSNG (Non timber forest product-NTFP, hoặc Non wood forest products-NWFP) bao gồm những sản phẩm
có nguồn ngốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng” [20]
LSNG bao gồm "tất cả các sản phẩm sinh vật (trừ gỗ công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm thuộc về lĩnh vực phục vụ của rừng" (Wickens, 1991)
LSNG là tất cả các vật liệu sinh học ngoài gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ cho mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi (W.W.F, 1989)
Trang 14"nhiều loại cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ đó là cây cho đặc sản Các sản phẩm tự nhiên đó có thể được sử dụng trực tiếp như một số loại cây cho thuốc, cây cho quả hoặc làm thức ăn cho gia súc nhưng phần lớn phải qua gia công chế biến như cây cho nguyên liệu, giấy sợi, cây cho cao su, cho dầu " (Lê Mộng Chân, 1993)
Các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm khác nhau về LSNG Theo Jenne.H de Beer (1992) “LSNG được hiểu là toàn bộ động vật, thực vật và những sản phẩm khác ngoài gỗ của rừng được con người khai thác và sử dụng” Năm
1994, trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á- Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan đã thông qua khái niệm về LSNG như sau:
"LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than LSNG được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các LSNG" Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do tổ chức Nông lương thế giới tổ chức vào tháng 6/1999 đã đưa ra khái niệm về LSNG như sau: "LSNG bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây thân gỗ"
Sau nhiều năm nghiên cứu về LSNG Jenne.H de Beer (2000) đã bổ sung khái niệm LSNG Theo ông " LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang
dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi" Theo khái niệm này của Jenne.H de Beer là đơn giản,
dễ sử dụng nhưng khác với hầu hết các khái niệm trước đây là ông đã đưa củi vào nhóm LSNG [21]
Tóm lại, LSNG là các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, không kể gỗ, cũng như những dịch vụ từ rừng mà người dân có thể sử dụng được, hay đem các sản phẩm từ rừng ra để trao đổi hàng hóa mua bán mang lại thu nhập kinh tế cho người dân
Trang 15Trước đây, người ta coi gỗ là sản phẩm chính của rừng, còn các lâm sản khác như song, mây, dầu, nhựa, sợi, lương thực, thực phẩm, dược liệu v.v do có khối lượng nhỏ lại ít được khai thác, nên thường coi là sản phẩm phụ của rừng Người ta
gọi chúng là lâm sản phụ (minor forest products) hoặc đặc sản rừng (special forest products) Trong những thập kỷ gần đây, rừng bị tàn phá mạnh, gỗ trở nên hiếm và
sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác như kim loại và các chất tổng hợp dần dần thay thế gỗ trong công nghiệp và các ngành khác Trong khi đó các "Lâm sản phụ" được sử dụng ngày càng nhiều hơn và với những chức năng đa dạng hơn Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy nếu được quản lý tốt thì nguồn lợi từ “Lâm sản phụ” hoàn toàn không nhỏ, đôi khi còn lớn hơn cả gỗ Vì vậy, để khẳng định vai trò của các "Lâm sản phụ" người ta đã sử dụng một thuật ngữ mới thay cho nó là
"LSNG" ("Non- timber forest products" hay "Non-wood forest products")
*Quản lý rừng bền vững
Khái niệm phát triển bền vững được đưa ra năm 1980 ấn phẩm “Chiến lược Bảo tồn Thế giới”với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của
xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" nhưng cũng đủ để mọi người nhận thức rõ ràng thế nào là phát triển bền vững Từ đó các khái niệm về quản lý rừng bền vững lần lượt ra đời
Hội nghị Helsinki (1994) đã tuyên bố khái niệm về quản lý rừng vững của ITTO năm 1990:
“ Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định nhằm đạt được mục tiêu là đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng để các giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường vật lý
và xã hội”(ITTO, 1990)
“Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa phương, quốc gia, toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác” ( Helsinki, 1994)[10]
Trang 16Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" Phát triển bền vững không chỉ là sự phát triển trên các mặt kinh tế xã hội (KTXH) mà còn phải đặc biệt chú trọng đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trong đó tài nguyên rừng - nguồn tài nguyên có tác động to lớn với đời sống con người - cần được áp dụng các giải pháp để quản lý tốt nhằm cung cấp ổn định và lâu dài các lợi ích cho con người[10]
Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”
Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia
và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”
Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn đề chính là: quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững
về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV gồm khuôn khổ chính sách và pháp lý; Sản xuất lâm sản bền vững; Bảo vệ được môi trường; Đảm bảo lợi ích con người; Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp[10] Tổng hợp một số khái niệm trên cho thấy, hiện tại hầu như chưa có một khái niệm hay định nghĩa về “MHTTNDVR”, đây thực chất là hoạt động phát triển LSNG dựa trên hoạt động bảo vệ và phát triển rừng Chính vì vậy trong phần tổng quan các vấn đề tiếp theo sẽ tập trung đề cập các vấn đền liên quan đến LSNG
Trang 171.1.2.Phân loạithu nhập dựa vào rừng
Theo Byron và Arnold (1997) đã trình bày một bài phê bình cơ bản về việc
sử dụng các thuật ngữ 'dựa vào rừng/phụ thuộc rừng', cho rằng nó là hữu ích hơn để trình bày một cách phân loại các loại khác nhau của người sử dụng Các tác giả đã tạo lập một sự khác biệt quan trọng giữa những người dựa vào việc sử dụng rừng và không có sự luận chuyển/thay thế, và những người sử dụng sản phẩm từ rừng hoặc tham gia vào các hoạt động kinh tế liên quan đến rừng, nhưng làm như vậy là một vấn đề của sự lựa chọn Nghiên cứu đã tập trung vào những người ít hoặc nhiều trực tiếp phụ thuộc vào rừng cho mục đích sinh kế Theo đó, cụ thể xác định ba loại phổ biến về các mối quan hệ giữa còn người và rừng:
- Những người sống bên trong rừng, thường sống như săn bắn hái lượm
hoặc nương rẫy, và những người phụ thuộc rất nhiều vào rừng cho sinh kế của họ chủ yếu trên cơ sở sinh hoạt phí Người dân ở thể loại này thường là người dân bản địa hoặc những người từ các nhóm dân tộc thiểu số Họ đang có, do đó, thường là nằm ngoài vấn đề chính trị và kinh tế
- Những người sống gần rừng, thường liên quan đến nông nghiệp bên
ngoài rừng, người thường xuyên sử dụng lâm sản (gỗ, củi, thức ăn bụi cây, cây thuốc vv) một phần cho mục đích sinh kế của riêng mình và một phần để tạo thu nhập Đối với những người có liên quan đến nông nghiệp, bổ sung chất dinh dưỡng
từ các khu rừng thường có quan trọng đối với năng suất Bổ sung như vậy có thể được ở dạng mùn có nguồn gốc từ trong rừng Một nguồn bổ sung dinh dưỡng là chăn thả rừng của gia súc trong đó chuyển đổi các chất dinh dưỡng từ sinh khối rừng thành phân bón
- Những người tham gia vào các hoạt động thương mại như đặt bẫy, thu khoáng sản hoặc các ngành công nghiệp rừng như khai thác gỗ Những người như vậy có thể có một phầntrộn lẫn giữa sinh hoạt phí và các khoản tiền mặt Những đối tượng này khác với hai loại đầu tiên là trong thực tế họ phụ thuộc vào thu nhập từ lao động dựa vào rừng hơn là việc sử dụng sinh hoạt trực tiếp các sản phẩm rừng Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý loại tương tác giữa con người và rừng có thể
Trang 18tồn tại ngay cả trong bối cảnh thành tiền cao: ví dụ, các cộng đồng nông thôn nhỏ ở các nước công nghiệp cao như Australia có thể được gần như hoàn toàn phụ thuộc vào tiền lương từ khai thác thương mại(Peace 1996, describes such a community in south eastern Australia.)[25]
Thu nhập dựa vào rừng gồm chủ yếu 02 loại chính là thu nhập từ cây gỗ và thu nhập từ LSNG Trong đó, phân loại về LSNG có nhiều hệ thống phân loại khác nhau Mặc dù tồn tại nhiều hệ thống phân loại LSNG nhưng theo hệ thống phân loại mới nhất dự án LSNG pha II có thể phân theo 06 nhóm tổng hợp dựa vào công dụng và của các LSNG cụ thể như sau:
(1) Sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, các loại cây thân lá có sợi và cỏ
(3) Dược liệu, chất thơm và cây có chất độc
(4) Những sản phẩm chiết xuất như: các loại nhựa, tannin, chất màu, dầu béo
và tinh dầu,…
(5) Động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm như các loài thú rừng, chim, công trùng sống, da, sừng, ngà, xương, cánh kiến đỏ
(6) Những sản phẩm khác như: cây cảnh, lá để gói, vv
Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối vì công dụng của lâm sản luôn
có sự thay đổi, một số sản phẩm có thể phân vào nhiều nhóm khác nhau tùy nơi, tùy lúc, không cố định, và biến đổi theo địa phương [8]
Như vậy các loài cây mô hình ở đây thuộc các nhóm (1) sản phẩm có sơi (cây Mây nếp); (2) loại thực phẩm, cụ thể gia vị (Hạt giổi) và thực phẩm ăn (quả Chanh rừng); (3) dược liệu: quả Chanh rừng chữa ho
Trang 191.1.3.Chính sách và các khuôn khổ pháp lý liên quan đến bảo tồn và phát triển
mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng hay lâm sản ngoài gỗ
Chính sách rừng bao gồm cả việc sản xuất các sản phẩm từ rừng không phải
gỗ Ở nhiều quốc gia chính sách lâm nghiệp ngăn cản hoặc ngăn cản người dân sử dụng đất rừng để sản xuất các sản phẩm phi gỗ Những người bị ảnh hưởng thường
là người dân địa phương thực hiện/điều hành các doanh nghiệp quy mô nhỏ để sản xuất lương thực và các mặt hàng có giá trị tại địa phương có thể được bán để lấy tiền mặt Ưu tiên phát triển các sản phẩm như vậy thông qua chính sách lâm nghiệp quốc gia sẽ mang lại lợi ích lớn cho người dân địa phương
Sự phối hợp nông lâm nghiệp tại địa phương có thể được xây dựng trong các khu rừng quốc gia cho phép để tạo mây, tre, gỗ nhiên liệu, thuốc đông y, hoa quả, mật ong và các loại thực phẩm khác của rừng Điều này sẽ được thực hiện bằng cách đặt ra một khu vực trong rừng cho môi trường sống của động vật hoang dã hoặc trồng cây tại địa phương có giá trị, hoặc bằng cách trồng các loại cây trồng như vậy giữa hàng cây trong các khu vừng trồng của chính phủ [27]
Rừng đảm bảo cho con người môi trường sống an toàn, đồng thời cũng trực tiếp cung cấp cho con người các sản phẩm gỗ, LSNG và dịch vụ môi trường LSNG là một dạng sản phẩm, song nó là một bộ phận nhỏ hơn trong tổng thể các sản phẩm mà rừng cung cấp Vì vậy, hành lang pháp lý để bảo tồn và phát triển LSNG là hành lang chung cho phát triển rừng, đất rừng, sản phẩm rừng, xã hội nghề rừng… mà không có một quy luật hay nghị định chuyên về LSNG Tuy vậy, hành lang này là sự quan tâm của Nhà nước đủ để tổ chức thực hiện tốt chiến lược phát triển lâu dài LSNG
Ở nước ta, chính sách được phát triển trên nền tảng 02 luật chính: (1) luật đất đai năm 2003 thay thế luật đất đai năm 1993 và Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 thay thế Luật năm 1991 quy định rừng được phân theo mục đích sử dụng chủ yếu thành 3 loại: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất Theo quy định của 2 luật này, vùng nguyên liệu lâm sản, trong đó có LSNG được hình thành trên vùng đất, vùng rừng quy hoạch cho mục đích xây dựng rừng sản xuất, rừng phòng hộ (tuy nhiên LSNG chủ yếu phát triển trên đất rừng sản xuất)…
Trang 20Văn bản pháp luật có tác động mạnh đến việc hình thành vùng nguyên liệu lâm sản trong đó có LSNG là Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (gọi tắt là Quyết định 661) Văn bản này quy định đến năm 2010, trong phạm vi toàn quốc, trồng mới khoảng 2 triệu ha rừng sản xuất bằng cây lâm nghiệp; thực hiện bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, khuyến khích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng có trồng bổ sung cây lâm nghiệp hoặc trồng bổ sung các loại cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây đặc sản trên đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất; coi khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
tự nhiên là một trong những giải pháp quan trọng để phục hồi rừng, trong đó có các loài LSNG [8]
Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1998) và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này có hiệu lực cuối cùng đến ngày 1/7/2006 quy định, trồng rừng nguyên liệu nói chung, trong đó có trồng cây LSNG, chế biến lâm sản, các ngành nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống (mây tre trúc mỹ nghệ…) được xếp vào Danh mục A-Lĩnh vực ngành nghề cần khuyến khích được ưu đãi đầu tư; các địa phương miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn (thuộc danh mục B), vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn (danh mục C) cũng được ưu đãi đầu tư
Như vậy theo quy định của luật, hoạt động tạo rừng nguyên liệu LSNG được hưởng chính sách ưu đãi như sau:
- Được miễn giảm tiền sử dụng đất trong trường hợp được giao đất có thu tiền sử dụng đất, như được giảm 50% tiền sử dụng đất; được giảm 75% hoặc được miễn nộp thuế tiền sử dụng đất để trồng rừng nguyên liệu LSNG ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn
- Được miễn tiền thuê đất từ 3 năm đến 6 năm, kể từ khi ký hợp đồng thuê đất; trong trường hợp thuê đất để trồng rừng nguyên liệu LSNG ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được miễn tiền thuê đất từ 11 năm đến 15 năm; được miễn tiền thuê đất trong suốt thời gian thực hiện dự án trồng rừng ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn
Trang 21Hiện nay, phần lớn các hoạt động tạo rừng nguyên liệu LSNG được tiến hành ở vùng knh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, nên xét cả hai tiêu chí thì các hoạt động tạo rừng nguyên liệu LSNG đều thỏa mãn cả điều kiện ưu đãi về ngành nghề và ưu đãi về địa bàn
Đối với khai thác LSNG: Trước tiên đề cập đến Quyết định BNN ngày 07/07/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác (Gọi tắt là Quyết định 40) quy định khai thác LSNG Cụ thể: Quyết định 186/2006/QĐ-TTCP quy định được phép khai thác LSNG trong rừng phòng hộ
40/2005/QĐ-là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng (trừ các loại cấm) và không phải 40/2005/QĐ-làm thủ tục xin phép khai thác
Khai thác thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, được quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng, quý hiếm [8]
Chính sách khai thác sử dụng lâm sản và LSNG được thực hiện theo Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Quyết định
số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/ 2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng, Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 Trên cơ sở các văn bản trên, Chính phủ, Bộ NN&PTNT và các địa phương đã phối hợp với các ngành liên quan lập kế hoạch, hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách khai thác, sử dụng lâm sản
và LSNG không chỉ ở rừng sản xuất mà cả ở rừng phòng hộ đạt hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu Từ đó, mang lại thu nhập kinh tế cho người sản xuất, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái [10]
Hệ thống chính sách về bảo tồn và phát triển LSNG thực hiện theo Quyết định
số 100/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007; Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998, Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng
Chính phủ; Quyết định số 2366 QĐ/BNN-LN ngày 17/8/2006; Quyết định số 2242/QĐ-BNN-LN ngày 7/8/2007 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Hệ thống chính sách này ra đời với mục tiêu đến năm 2020, LSNG trở thành một phần ngành sản
Trang 22xuất trong lâm nghiệp, đạt được một số chỉ tiêu: giá trị sản xuất LSNG chiếm trên 20% trong giá trị sản xuất lâm nghiệp; giá trị xuất khẩu tăng bình quân 10-15%, đến năm 2020 đạt 700-800 triệu USD/năm (bằng 30-40% giá trị xuất khẩu gỗ); thu hút 1,5 triệu lao động nông thôn miền núi vào việc thu hái, sản xuất, kinh doanh LSNG; thu nhập từ LSNG chiếm 15-20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn miền núi; Bảo tồn các loài LSNG có giá trị kinh tế và khoa học, hạn chế suy thoái tài nguyên; nâng cao năng lực, nhận thức của người dân và cộng đồng về bảo tồn và phát triển LSNG
Để đạt được mục tiêu này, trong những năm qua từ cấp Trung ương đến địa phương
đã có nhiều chính sách thúc đẩy đặc biệt là một số chính sách lồng ghép khuyến khích phát triển LSNG trong các Dự án phát triển kinh tế xã hội ở địa phương,… Bằng sự nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương và người dân, do đó diện tích trồng LSNG ngày càng gia tăng riêng diện tích rừng trồng một số loài LSNG giá trị cao như Quế, Hồi, Thảo quả, Sa nhân đã lên tới khoảng 200.000 ha Chính sách khuyến khích phát triển LSNG đã nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành về tầm quan trọng, vai trò, vị trí của việc gây trồng phát triển lâm sản và LSNG và đã được ủng hộ mạnh mẽ [11]
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1.Nghiên cứu phát triển mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng hay lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam
Nghiên cứu LSNG được bắt đầu từ khi Pháp thiết lập được chính quyền thực dân ở Đông Dương Họ đã áp dụng vào nghề rừng ở Đông Dương phương thức quản lý Châu Âu và tiến hành nghiên cứu khoa học kỹ thuật Kết quả những chuyến khảo sát nghiên cứu TNR do A.Chevalier được đúc kết trong tài liệu: “Những ghi chép về những sản phẩm chủ yếu của Đông Dương” và trong các tài liệu khoa học như “Gỗ Đông Dương” của A.Chevalier; “Các sản vật của Đông Dương” do Lecomte (1907-1952) chủ biên; “Rừng ở Đông Dương” của Gubier H., 1941 và nhiều tại liệu khác
Công tác nghiên cứu Khoa học kỹ thuật về rừng nói chung và LSNG nói riêng chỉ được tổ chức lại từ sau khi Kháng chiến chống Pháp thành công (1954)
Trang 23Trong Bộ Nông – Lâm và trường Đại học Nông lâm (từ năm 1958 đổi thành Học viện Nông lâm và từ năm 1962 đổi thành Trường Đại học Nông nghiệp) đã có những nghiên cứu chỉ đạo sản xuất, trong đó có LSNG như “Lâm sản phụ” (Lê Văn Giai, 1956), “Trích nhựa thông” (Đào xuân Mai, 1958) vv… Từ khi thành lập Tổng cục Lâm nghiệp 1961, Lâm sản phụ được đổi tên thành Đặc sản rừng và Phòng Đặc sản rừng được thành lập Dưới sự lãnh đạo của Phòng Đặc sản có một tổ nghiên cứu đặc sản rừng và lần đầu tiên có một số đề tài đã được tiến hành như nghiên cứu gây trồng cánh kiến đỏ, cánh kiến trắng, cây thuốc, công nghệ chế biến cánh kiến đỏ không tùng hương… Phòng cũng chỉ đạo xây dựng xưởng chế biến nhựa thông ở Nghệ An, gia công cánh kiến đỏ tại Hà Đông[8]
- Về vai trò và giá trị LSNG đối với thu nhập của người dân/hộ gia đình
LSNG có vai trò và giá trị to lớn trong đời sống người dân vùng núi của nước
ta Để khẳng định vai trò và giá trị của LSNG, một số công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở nước ta
Khi nghiên cứu về LSNG ở nước ta, các công trình nghiên cứu đều khẳng định: LSNG chính là một yếu tố cho phát triển kinh tế xã hội miền núi LSNG đã là nguồn cung cấp các thực phẩm, thuốc chữa bệnh phục vụ cho cuộc sống của người dân ở nông thôn miền núi Trong quá trình sử dụng, giá trị của LSNG được phát hiện ngày càng nhiều, vai trò của LSNG đối với phát triển kinh tế xã hội miền núi ngày càng lớn
Năm 1999, khi nghiên cứu ở Vườn quốc gia Ba Vì, D.A Glimour và Nguyễn Văn Sản (1999) kết luận: LSNG là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống của người dân nông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất rừng, làm suy thoái đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, LSNG
bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nước ta là phát triển tài nguyên LSNG Năm 2001, trong quá trình thực hiện
dự án "Sử dụng bền vững LSNG " tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển LSNG
là một trong những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao
Trang 24chất lượng sống cho người dân, từ đó xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội trong khu vực (Lê Thạc Cán và các cộng tác viên, 2001 [20])
Ngoài những đóng góp vào thu nhập nhằm cải thiện cuộc sống của người dân miền núi, LSNG còn được đánh giá là một yếu tố góp phần bảo tồn rừng và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt đới Nhiều loài LSNG có nguồn gốc từ các dây leo, cây bụi, cây thảo, cây ký sinh hay phụ sinh sống dưới tán rừng, nên việc khai thác chúng một cách hợp lý sẽ không làm phá vỡ cấu trúc của rừng Do đó rừng kinh doanh LSNG vẫn duy trì được vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học
Trong công trình nghiên cứu "Giá trị và sử dụng LSNG ở 2 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn" (2001) của Phan Văn Thắng và các cộng sự cho thấy giá trị sử dụng của LSNG đối với người dân rất lớn 90% số hộ dân sống dựa vào rừng Sản phẩm khai thác chủ yếu hiện nay là gỗ và LSNG như măng, tre, trúc, hồi, giẻ, và cây dược liệu Thu nhập từ LSNG trong mỗi hộ gia đình đứng thứ 2 trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu nhập kinh tế [21]
Trong công trình nghiên cứu về “Các hệ thống quản lý rừng vùng cao Việt Nam: Triển vọng kinh tế, xã hội và môi trường” (1999) của Nguyễn Nghĩa Biên cho thấy: (1) rừng được bảo vệ tốt khi có đủ lương thực cho nhu cầu của người dân địa phương Một điều thấy rõ ràng rằng chi phí (hay chi phí cơ hội) để sản xuất lương thực ở trong rừng cao hơn nhiều so với ở vùng xuôi (2) Không có bằng chứng về mối quan hệ giữa mức độ phá rừng và thu nhập hộ gia đình bởi vì trong tất cả các điểm nghiên cứu có thu nhập từ nông nghiệp (sản xuất thực phẩm và chăn nuôi) góp phần lớn trong tổng thu nhập hộ gia đình, trong khi thu nhập từ lâm nghiệp là không đáng kể Điều đó không có nghĩa là người ta không còn phụ thuộc vào rừng, nhưng người dân không dự đoán được sự đảm bảo về sinh kế của họ.Việc sản xuất nông nghiệp thực sự phu thuộc vào điều kiện khí hậu và môi trường Thiếu lượng thực có thể biến người dân địa phương vào khai thác rừng để chống đói [2]
Theo nghiên cứu về “Lâm nghiệp, Giảm nghèo và Sinh kế nông thôn ở Việt Nam” (2005) của Đinh Đức Thuận cho thấy: (1) Chính sách lâm nghiệp chưa rõ ràng đối với người dân; (2) Người nghèo ít nhận được các lợi ích từ khuyến lâm và
Trang 25nghiên cứu, thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ ngày càng giảm; (3) Giao đất lâm nghiệp chưa giúp được những người phụ thuộc vào rừng vượt được nghèo; thủ tục hành chính phức tạp đối với việc tiếp cận và lưu thông các sản phẩm từ rừng [22]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn của LSNG trong quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi cũng như góp phần vào công tác bảo vệ, bảo tồn và phát triển Nó đã làm thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của LSNG trong thời kỳ hiện nay, là cơ sở để đề xuất hướng đi mới trong quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và bảo tồn
- Tính đa dạng về LSNG
Với vai trò quan trọng của LSNG trong thời đại hiện nay, việc làm trước tiên
để phát triển chúng là cần nghiên cứu xác định và phân loại được toàn bộ LSNG, sau đó tập trung nghiên cứu một số loại LSNG có thế mạnh ở nước ta Các kết quả nghiên cứu cho thấy LSNG ở Việt Nam rất phong phú đa dạng
Từ năm 1996 - 2000, khi nghiên cứu về LSNG, một số nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản đã xác định được danh lục các loài LSNG, trong đó có khoảng 40 loài tre nứa, 40 loài song mây, 60 loài cây có chứa ta nanh, 260 loài cho dầu và nhựa, 160 loài chứa tinh dầu, 70 loài chứa chất thơm và hàng trăm loài làm thức ăn (Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản, 2000[6])
- Về kiến thức bản địa
Do gắn bó với rừng từ lâu đời nên người dân Việt Nam, đặc biệt người dân miền núi đã có những kiến thức bản địa rất phong phú về gieo trồng, thu hái, chế biến và sử dụng các loài LSNG
Về gieo trồng: Rất nhiều loài LSNG đã được đưa vào trồng trọt trên qui mô
lớn như: quế, hồi, thảo quả, thông nhựa, tre luồng, mây nếp… Gần đây do yêu cầu phát triển của ngành rất nhiều loài LSNG tiếp tục được đưa vào gieo trồng như: dó trầm, thạch đen, tre mai, tre diễn, song mật, rau sắng, ba kích…
Về thu hái: Người dân địa phương nắm rất rõ vùng thu hái LSNG, thời gian
và kỹ thuật khai thác để đảm bảo cây có khả năng tái sinh
Chế biến, bảo quản: Người dân có rất nhiều kinh nghiệm trong chế biến và
bảo quản tại chỗ các cây thuốc nam, các loài cây cho thuốc nhuộm, làm măng chua, măng ngâm, măng khô…
Trang 26Sử dụng: Do gắn bó với thiên nhiên, người dân đã biết sử dụng rất nhiều loại
LSNG để phục vụ cuộc sống hàng ngày Đã thống kê khoảng 5000 loài cây có ích ở Việt Nam, riêng nhóm cây gỗ trên 2000 loài, cây thuốc gần 4000 loài, tre nứa trên
150 loài và rất nhiều loài cây thuộc nhóm LSNG khác
Mỗi sắc tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em đều có các bài thuốc nam gia truyền để chữa nhiều loại bệnh, kể cả các bệnh hiểm nghèo Đây là một thuận lợi rất quan trọng trong phát triển và bảo tồn LSNG ở các vùng núi của Việt Nam [8] Mặc dù tồn tại một hệ thống kiến thức bản địa phong phú về LSNG Tuy nhiên,
do đa số kiến thức bản địa được lưu truyền bằng lời nói nên chúng thường tản mạn, mất dần cùng với sự suy thoái của tài nguyên LSNG Đến nay những nghiên cứu về kiến thức bản địa liên quan đến LSNG còn rất hạn chế
- Về kỹ thuật gây trồng, thu hái và chế biến LSNG
Để hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật liên quan đến xây dựng mô hình kinh doanh LSNG có hiệu quả, năng suất cao và ổn định, không chỉ sử dụng kiến thức bản địa mà cần dựa trên một số nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học với các biện pháp tiên tiến, hiện đại
Ở nước ta, vào những năm 1950-1960, các nhà khoa học đã cố gắng nghiên cứu nhằm tạo được mô hình phát triển LSNG có hiệu quả kinh tế cao và ổn định Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung một số loài cây dược liệu, cây đặc sản có giá trị cao như thông, quế, trúc, thanh kao, sa nhân Đây là các công trình nghiên cứu về hệ thống các biện pháp kỹ thuật làm cơ sở cho việc gây trồng và phát triển LSNG Tuy nhiên các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu về một số loài cây có giá trị cao lúc đó Vẫn còn nhiều loài LSNG giá trị cao nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ, trong đó có giẻ, trầm hương, thảo quả v.v
Nhìn chung cho đến nay còn rất ít các nghiên cứu hướng vào tìm hiểu kỹ thuật gây trồng LSNG ở dưới tán rừng - cơ sở quan trọng cho bảo tồn rừng bằng phát triển LSNG
Trang 27và hiệu quả hơn Mạng lưới thu mua LSNG mới đã được hình thành để đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và lưu thông phân phối; các doanh nghiệp Nhà nước thu hẹp dần phạm vi hoạt động, nhường chỗ cho các thành phần kinh tế khác
Trong giai đoạn 1990 đến 1995, sản xuất LSNG hầu như bị thả nổi Do mất thị trường Đông Âu, xuất khẩu LSNG chủ yếu theo đường tiểu ngạch và phi mẫu dịch ở biên giới, số liệu thống kê không đầy đủ Từ khi khai thông được lối vào các thị trường khu vực và thế giới, thị trường LSNG được phục hồi và sản xuất phát triển, nhất là chế biến tre trúc, song mây Sản phẩm chế biến từ tre và song mây có
ý nghĩa kinh tế đáng chú ý Song mây là nguồn tài nguyên quan trọng sau gỗ và tre nứa Hằng năm Việt Nam xuất khoảng 2 triệu sản phẩm đan lát, 0.6 triệu m2 mặt mây đan và nhiều mặt hàng khác chế biến từ song mây (Vũ Văn Dũng&Lê Huy Cường, 1996) Riêng mặt hàng mây đã thu hút được 20-40 vạn lao động từ khâu khai thác đến khâu lưu thông và chế biến, đem lại nguồn lợi kinh tế bình quân khoảng 30 triệu USD/năm[8]
Xuất khẩu LSNG và các hàng hóa từ LSNG phát triển mạnh từ 1999 với sản phẩm do các doanh nghiệp tư nhân, các làng nghề, và cả doanh nghiệp nhà nước Trong các mặt hàng xuất khẩu, hàng thủ công mây tre đan vẫn giữ vai trò quan trọng ở các thị trường mới đối với Việt Nam Hàng mây tre đã có mặt ở nhiều nước châu Âu và Hoa kì và ngày càng tăng
Tổng kim ngạch xuất khẩu LSNG năm 2004 đã lên tới gần 200 triệu USD Ngoài giá trị hàng xuất khẩu quản lý được còn giá trị hàng xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới phía Bắc không thống kê được Sẽ là khập khiếng nếu so sánh với giá trị hàng
Trang 28LSNG những năm 1990, khi Việt Nam còn bị cấm vận và thị trường xuất khẩu chỉ gồm một số nước Đông Âu Trong thời gian đó VN xuất một số mặt hàng như cánh kiến đỏ, tinh dầu, dầu trẩu cho Liên xô để trả nợ, trị giá chỉ trên dưới 10 triệu rúp [8]
Thị trường là một trong những thành tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc kinh doanh và phát triển LSNG Năm 2001[20], khi thực hiện dự án " Sử dụng bền vững LSNG ở Việt Nam", nhà nghiên cứu thị trường của FAO là John Raintree
đã xác định cơ cấu cây LSNG để phát triển trong các mô hình phát triển LSNG dựa trên cơ sở phân tích thị trường Nội dung nghiên cứu bao gồm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Đánh giá thực trạng hiện nay
+ Giai đoạn 2: Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng tiến hành lựa chọn sản phẩm nhiều hứa hẹn nhất và đưa ra phương pháp tiếp thị
+ Giai đoạn 3: Xây dựng chiến lược doanh nghiệp và một kế hoạch kinh doanh bền vững
Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích thị trường để đánh giá tính hiệu quả và bền vững của một mô hình kinh doanh LSNG Nó đã chứng minh về tính bền vững của một mô hình kinh doanh khi tính đến yếu tố thị trường, đồng thời mở
ra một cách nhìn mới trong quá trình đề xuất phương thức kinh doanh LSNG Năm 2013, khi nghiên cứu về thị trường lâm sản và LSNG ở 9 tỉnh thí điểm Dự án Tăng cường LNCĐ ở Việt Nam, tác giả Cẩm Tú Lan đã có một số kết luận sau:
Các sản phẩm lâm sản và LSNG tại các vùng khảo sát có khối lượng thấp và giá trị thu nhập thấp, chưa thể hình thành thị trường, tại các vùng xã, thôn tham gia
dự án LNCĐ hầu hết là những làng không có rừng sản xuất, LSNG chưa được đầu
tư phát triển Một số cơ sở thu mua LSNG đã hình thành tại địa phương, nhưng chủ yếu thu gom sản phẩm thô và phụ thuộc vào tư thương, không có các tổ chức hỗ trợ chế biến và tiêu thụ nên thị trường LSNG ở đây chủ yếu theo hướng tự phát
* Qua số liệu thu thập tại 9 tỉnh cho thấy những vấn đề chính cần quan tâm như sau:
- Hầu hết các tỉnh thiếu chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển LSNG
- Chưa xác định được cụ thể các loài cây LSNG tiềm năng cho từng vùng
Trang 29- Sản lượng và chất lượng của các mặt hàng LSNG chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường
- Ảnh hưởng và tác động của chính sách liên quan đến tình hình khai thác và
sử dụng gỗ và LSNG, nhìn chung hệ thống văn bản pháp quy trong lĩnh vực khai thác và sử dụng rừng tự nhiên còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa hợp lý với thực tiễn kinh doanh rừng hiện nay
- Qua các kênh thông tin và khảo sát thực tế nhóm nghiên cứu đã đề suất được danh mục ưu tiên phát triển 1 số loài LSNG tiềm năng tương ứng với 4 vùng
và 9 tỉnh thành dự án [11]
- Lưu thông, tiêu thụ LSNG
Năm 1999, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quyết định số 47/BNN ngày 12/3/1999 về quản lý lưu thông, tiêu thụ lâm sản, trong đó quy định khi khai thác và tiêu thụ LSNG, trong đó nếu sử dụng tại chỗ thì chỉ cần giấy chứng nhận của cơ quan Kiểm lâm gần nhất hoặc UBND cấp xã; nếu sử dụng vào mục đích thương mại phải có giấy xác nhận của cơ quan kiểm lâm gần nhất, hoá đơn bán hàng hoặc bản kê mua hàng Quyết định 59/2005/QĐ-BNN ngày 10/10/2005 của
Bộ Nông nghiệp và PTNT về quy định kiểm tra, kiểm soát lâm sản thay thế Quyết định 47 đó có nhiều sự thay đổi, trong đó quy định LSNG không phải kiểm tra thủ tục vận chuyển, chế biến lâm sản
Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng quy định nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá, trong đó có sản phẩm LSNG với người sản xuất
Về xuất khẩu, nhập khẩu LSNG: Quyết định 65/TTg ngày 24/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xuất khẩu sản phẩm gỗ, lâm sản và nhập khẩu nguyên liệu
gỗ, lâm sản quy định sản phẩm gỗ được phép xuất khẩu từ các nguồn gỗ hợp pháp gồm sản phẩm gỗ mỹ nghệ được chế biến từ rừng tự nhiên, trong đó có các sản phẩm gỗ mỹ nghệ có kết hợp với song, mây, tre, trúc; các sản phẩm song, mây, tre, trúc kết hợp với gỗ rừng trồng Các LSNG khác là thực vật rừng đều được phép chế biến xuất khẩu
Trang 30Vận chuyển, cất giữ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo và sản phẩm của chúng phải có giấy tờ chứng minh nguồn gốc theo quy định tại Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật rừng, thực vật rừng hoang dã quý hiếm [19]
Vì những lý do khác nhau mà cho đến nay, vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về LSNG ở Việt Nam Phần lớn các công trình nghiên cứu này mới được thực hiện theo hướng chuyên ngành như tập trung phát hiện loài cho LSNG, mô tả đặc điểm hình thái, công dụng, giá trị kinh tế, một số đặc điểm sinh thái, mà thiếu hẳn những nghiên cứu về giải pháp kỹ thuật và kinh tế - xã hội tạo động lực cho phát triển LSNG trở thành nguồn hàng hoá Một số công trình trong khi nghiên cứu tương đối đầy đủ về lĩnh vực kỹ thuật thì lại thiếu hẳn về nghiên cứu thị trường Vì vậy, hầu hết các mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ đã xây dựng đều mang tính chất của những mô hình kém bền vững
Từ việc nghiên cứu trên cũng cho thấy lỗ hổng lớn lớn nhất của các chương trình nghiên cứu và văn bản pháp luật hiện này là gắn kết việc phát triển LSNG với phát triển sinh kế để cải thiện đời sống của người dân vùng sâu, vùng xa, nơi có tỷ
lệ nghèo cao, nguồn thu nhập dựa nhiều vào TNR Vấn đề đặt ra hiện nay cần tập trung nghiên cứu để xác định rõ những khó khăn trở ngại chính của người dân xung quanh rừng, những người nghèo đang có các tác động trực tiếp đến TNR nói chung
và LSNG nói riêng có kinh nghiệm về phát triển LSNG
1.2.2 Nghiên cứu về mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng hay lâm sản ngoài gỗ trên thế giới
Việc nghiên cứu về lâm sản cũng đã được chia theo phân loại ở các khía cạnh sau:
- Về giá trị của LSNG đối với thu nhập:
Hầu hết mọi người đều thừa nhận LSNG như một yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, LSNG có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc
Trang 31chữa bệnh, vật liệu xây dựng,v.v đồng thời cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình (Falconer, 1993) LSNG cũng là một bộ phận của rừng, nếu LSNG được sử dụng một cách hợp lý thì nó đóng vai trò to lớn trong quá trình phục hồi và phát triển rừng ở các nước đang phát triển LSNG được các nhà nghiên cứu coi như một yếu tố góp phần bảo tồn rừng và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt đới (Clark, 1997; Mendelsohn, 1989) Khi nghiên cứu ở lưu vực sông Công Gô ở Cameroon, L.Clark kết luận:" Sự phát triển của LSNG là một yếu tố đóng góp vào
sự bảo tồn của hệ sinh thái rừng" Trong nghiên cứu của mình, Mendelsohn (1989)
đã cho thấy người ta có thể gặp một đám sản phẩm có giá trị rất cao Peter (1989) đã tìm thấy những khu rừng với 5 loài cây có giá trị kinh tế cao ở vùng Amazon của Peru Hàng năm chúng cho thu nhập từ 200 - 6000 USD/ha Myers (1980) ước lượng khoảng 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu thụ bởi người địa phương và không bao giờ tính ra tiền mặt Rõ ràng là ngựời dân địa phương đã đạt được lợi ích
cơ bản của họ từ những khu rừng kế cận Đối với nền kinh tế của một số nước vai trò của LSNG đã được khẳng định chẳng hạn ở Thái Lan trong năm 1987 đã xuất khẩu LSNG đạt giá trị 23 triệu USD, ở Indonesia cũng trong năm đó đạt 238 triệu USD và ở Malaysia trong năm 1986 xuất khẩu hàng hoá sản xuất từ LSNG đạt xấp
xỉ 11 triệu USD (Jenne.H de Beer,1992) [21]
Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), trong những năm gần đây
đã có sự quan tâm rất lớn trong việc công nhận giá trị lâm sản ngoài gỗ và vai trò của nó trong việc hỗ trợ sinh kế của nhiều người dân nông thôn Cũng đã có những hành động mạnh mẽ đối với thúc đẩy sản xuất và tiếp thị lâm sản ngoài gỗ như một nguồn tạo thu nhập bền vững Hành động mạnh mẽ này thỉnh thoảng cũng đã tạo cho sản phẩm lâm sản ngoài gỗ trở thành một loại hàng hóa ưa chuộng [25]
Lâm sản ngoài gỗ rõ ràng quan trọng như là một phương tiện tạo ra thu nhập bằng tiền mặt Maharjan (1996 ) trình bày một số trường hợp nghiên cứu về LSNG như một phương tiện để tạo thu nhập ở Nepal và cho thấy rằng các hoạt động như trồng thảo quả và gừng dựa vào rừng và khai thác nhựa thông có thể tạo ra thu nhập đáng kể Campbell et al (1996 ) xác định tiềm năng tương tự cho các lâm sản ngoài
gỗ được tạo ra thông qua các hoạt động quản lý phần rừng ở Ấn Độ
Trang 32Lâm sản ngoài gỗ có các giá trị của đối với sinh kế tồn tại là quan trọng và có tiềm năng đáng kể để tạo ra thu nhập Tuy nhiên, có một xu hướng cho rằng thu nhập
từ lâm sản ngoài gỗ tạo ra có thể đóng góp lớn đối với sinh kế nông thôn bằng nhiều cách thức Ngoài ra, còn có một giả định rằng tập trung vào sản xuất và tiếp thị lâm sản ngoài gỗ bằng cách nào đó sẽ làm giảm suy thoái rừng bởi vì sản xuất LSNG bản chất của nó là tạo sự bền vững ở góc độ nào đó Cả hai giả định là không rõ ràng
Byron (1996), trong khi công nhận tiềm năng phát sinh thu nhập thông qua lâm nghiệp cộng đồng (không chỉ là lâm sản ngoài gỗ) chỉ ra rằng có một số "rủi ro tiềm năng” Một rủi ro chính là "nhu cầu lâm sản không ổn định và thay đổi nhanh chóng” Nhiều LSNG xuất hiện là hàng "kém " (nhu cầu giảm khi thu nhập tăng lên) "(trang 1)[25]
Dove (1993) lập luận rằng có một lỗi cơ bản trong quan điểm lâm sản ngoài
gỗ có thể có tầm quan trọng về kinh tế Theo tác giả các sản phẩm rừng có xu hướng sẵn có cho người dân địa phương đến khi việc gây trồng phục vụ mục đích kinh tế gặp khó khăn Nguồn tài nguyên có giá trị có xu hướng thích hợp cho các doanh nghiệp bên ngoài nơi người dân địa phương trả phí tổn Như vậy không phải ngẫu nhiên mà lâm sản ngoài gỗ được được gọi là 'lâm sản phụ' Ông cho rằng việc tìm kiếm các nguồn thu nhập mới thường là "một cuộc tìm kiếm những cơ hội mà không có yêu sách hay kiện tụng khác” [28]
Như vậy, các nghiên cứu đều đưa ra nhận định LSNG có một vai trò to lớn,
nó không phải là sản phẩm "Phụ", mà là một trong những sản phẩm chính của rừng,
có ý nghĩa đến quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và góp phần vào bảo tồn
và phát triển rừng
Gần đây, những phát hiện mới về tiềm năng của LSNG như khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm với năng suất kinh tế cao và ổn định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình và đặc biệt là việc khai thác chúng gần như không tồn hại đến rừng đã thúc đẩy nhiều nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển LSNG Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung ở các nước nhiệt đới, nơi mà tiềm năng về LSNG phong phú nhất, còn việc khai thác gỗ lại thường gây tổn hại nhiều nhất đối với hệ sinh thái rừng
Trang 33- Về tính đa dạng của LSNG
Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng về các loài thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ Khi nghiên cứu sự đa dạng LSNG trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào người ta
đã thống kê được 306 loài LSNG trong đó có 223 loài làm thức ăn (Joost Foppes, 1997) Để thuận tiện cho việc nghiên cứu C Chandrasekharan (1995) - một chuyên gia LSNG của FAO, đã chia LSNG thành 4 nhóm chính như sau:
A Cây sống và các bộ phận của cây
Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về LSNG trên thế giới với số lượng khổng lồ các giống loài Chúng có dạng sống, đặc điểm sinh thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng Tính phong phú của LSNG có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay Nó chứng tỏ một tiềm năng lớn không chỉ cho phát triển kinh tế,
mà còn cho việc xây dựng những hệ sinh thái có tính ổn định và bền vững cao Đây cũng là cơ sở cho các nhà khoa học tiến hành những nghiên cứu đầy đủ hơn về LSNG ở mỗi khu vực
Trang 34LSNG một cách hợp lý Bởi vì kiến thức bản địa là những kết quả nghiên cứu đã được đúc kết và thử nghiệm lâu ngày của người dân trên thực địa
Khi nghiên cứu về kiến thức bản địa ở Ghana của Facolner (1997) và ở Lào của Roost Foppes (1997), tác giả đã khẳng định: kiến thức bản địa là những kiến thức quí báu, có giá trị trong quá trình gây trồng phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên LSNG Tuy nhiên, để nâng cao năng suất và tính bền vững trong quá trình
sử dụng LSNG đòi hỏi cần có sự kết hợp giữa kết quả nghiên cứu khoa học thực sự với kiến thức bản địa Năm 2000 , J Wong cho rằng: cách tiếp cận có hiệu quả nhất
để đánh giá nguồn tài nguyên LSNG đầu tiên là thu nhận kiến thức bản địa Tuy nhiên, khi sử dụng kiến thức bản địa có 3 khó khăn để cung cấp thông tin đạt mức
độ tin cậy trong khoa học, đó là: các thông tin thường chung chung, không cụ thể; khái niệm loài LSNG ở địa phương thường khác với khái niệm trong sinh vật học; kiến thức bản địa ở mỗi địa phương có khác nhau và mức độ áp dụng khác nhau Vì vậy, tác giả kết luận: trong nghiên cứu LSNG kiến thức bản địa rất quan trọng tuy nhiên, cần kết hợp nghiên cứu kiến thức bản địa với nghiên cứu thực địa [21] Kết quả các công trình nghiên cứu về kiến thức bản địa là đã chỉ ra tầm quan trọng của nó trong quá trình sử dụng bền vững LSNG Tuy nhiên, các kiến thức bản địa này có một số hạn chế, đặc biệt là mức độ tin cậy trong khoa học Vì vậy, để phát triển các mô hình LSNG cần kết hợp áp dụng kiến thức bản địa với kiến thức hiện đại của các lĩnh vực liên quan
Kiến thức bản địa không phải là luôn luôn đầy đủ, cũng không phải luôn luôn là tốt nhất để nâng cao năng suất lâm sản ngoài gỗ, nhưng nó có thể cung cấp một điểm quan trọng của bắt đầu, trên đó các hệ thống quản lý rừng khoa học có thể dựa vào Phát triển chính sách và quản lý rừng do đó cần phải nhận ra bản chất của kiến thức bản địa về lâm sản ngoài gỗ và cân bằng này với kiến thức khoa học khi xây dựng kế hoạch quản lý của hệ thống cộng đồng
Theo nghiên cứu của Clark (1995) và Fisher (1989) tại Nepal cho thấy bằng chứng từ nhiều quốc gia về sự tồn tại của hệ thống quản lý bản địa về việc quản lý cộng đồng địa phương thực sự có thể thực hiện một cách bền vững Vì vậy, các nhà
Trang 35phát triển lâm nghiệp cộng đồng được đào tạo tốt là cần thiết để mở rộng kiến thức hữu ích cho cộng đồng địa phương về quy hoạch và quản lý lâm sản ngoài gỗ[26]
- Về nghiên cứu kỹ thuật trồng, khai thác và chế biến LSNG
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG trong chương trình phát triển lâm nghiệp, nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đã đầu tư nghiên cứu, hoàn thiện về hệ thống biện pháp kỹ thuật nhằm phát triển một số loài LSNG nào đó cho năng suất cao Có nhiều công trình nghiên cứu về gây trồng quế, sa nhân, cọ dầu v.v Các công trình nghiên cứu đều khẳng định, trên thế giới đã có nhiều loài LSNG được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống[21]
- Về thị trường và các yếu tố xã hội khác liên quan đến phát triển LSNG
Mirjam Ros -Tonen và Wim Dijkman (1995) đánh giá thị trường là một yếu tố cần thiết đảm bảo tính bền vững kinh tế của một sản phẩm LSNG Đây là một trong yếu tố đảm bảo hiệu quả, bền vững trong quá trình kinh doanh LSNG Nghiên cứu về thị trường luôn đồng nghĩa với phát triển LSNG, là một mắt xích trong quá trình kinh doanh LSNG Kết quả nghiên cứu về thị trường làm cơ sở để xác định quy mô, cơ cấu cây trồng và tính ổn định của mô hình kinh doanh LSNG phù hợp với từng không gian
Chiến lược quản lý để tạo thu nhập thông qua các lâm sản ngoài gỗ Các loại cây đa mục đích ưa thích nhất của người nông dân ở châu Á (bao gồm cả Nepal) là những người sản xuất thực phẩm cũng như các sản phẩm khác Tuy nhiên, cộng đồng địa phương cũng cần được thông báo đầy đủ các giá trị phi gỗ của cây, để họ
có thể được khuyến khích trồng chúng trong các hệ thống nông lâm kết hợp
Các chiến lược quản lý sau đây cần tuân theo để cải thiện cây đa mục đích:
Trang 36+Nâng cao kiến thức sinh thái và lâm sinh (chẳng hạn như yêu cầu lập địa, tốc độ sinh trưởng, và thực hành quản lý) của cây phù hợp thông qua nghiên cứu;
+ Đề xuất phối hợp nghiên cứu cho khu vực về việc sử dụng lâm sản ngoài
gỗ và xác định mục đích sử dụng mới và các phương pháp sản xuất cải tiến cho các sản phẩm đã được biết đến;
+ Phát triển công nghệ chế biến hiệu quả đối với lâm sản ngoài gỗ;
+ Đánh giá tiềm năng kinh tế về việc sử dụng các bộ phận phi gỗ của loài cây đa mục đích;
+ Xác định và xây dựng doanh nghiệp hiệu quả về việc sử dụng lâm sản ngoài gỗ·
do tiếp cận của LSNG, thị trường LSNG chưa hoàn hảo
Xu hướng nghiên cứu của thế giới cho thấy việc phát triển bất kỳ một sản phẩm lâm sản ngoài gỗ hay mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng nào luôn luôn phải được nhìn nhận toàn diện Một sản phẩm được phát triển không chỉ được nghiên cứu đầy đủ về yếu tố kỹ thuật mà cả yếu tố xã hội Về kỹ thuật phát triển LSNG nói chung hay mô MHTTN nói riêng nên tập trung vào một số loài có giá trị kinh tế cao Để phát triển lâm sản ngoài gỗ hay mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng cần phải có nghiên cứu đầy đủ về kỹ thuật đối với một số loài có giá trị cao nhằm phát triển mở rộng và tăng năng suất
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của các khu vực nghiên cứu và các cây trồng mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng
2.1.1.Xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
1)Về tự nhiên
Vị trí địa lý: Xã Mẫu Sơn nằm về phía Bắc của huyện Lộc Bình, có địa giới hành chính giáp với Trung Quốc, huyện Cao Lộc và 6 xã (Yên Khoái, Hữu Khánh, Đồng Bục, Xuân Mẫn, Bằng Khánh và Xuân Lê) của huyện Lộc Bình
Đặc điểm địa hình: Khu vực thực hiện mô hình có độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam được bao bọc bởi các dãy núi và các nhánh núi với đặc điểm cao thấp, địa hình chia cắt khá mạnh, độ cao trung bình từ 400 – 700m, độ dốc từ 10 - 30 độ Đỉnh cao nhất là đỉnh Mẫu Sơn cao trên 1500m
Khí hậu: Do vị trí địa lý và địa hình chi phối khá phức tạp nên khí hậu diễn biến cũng phức tạp, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng ở các vùng khác nhau có tiểu vùng khí hậu khác nhau
Theo số liệu thống kê, nhiệt độ trung bình hàng năm là 210C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 370 vào tháng 7, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 50C vào tháng 1, Tổng lượng nhiệt là 7.7000 C; Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.500 mm, tập trung từ tháng
5 đến tháng 9, chiếm 70% lượng mưa cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa mưa lớn nên tình trạng xói mòn xẩy ra trên địa bàn khá lớn
Hướng gió thịnh hành là Đông Bắc và Tây Nam Đây là vùng ít bị ảnh hưởng của gió bão, nên thích hợp trồng các loại cây trung và dài ngày…
Khu vực thiết kế nằm trong vùng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, vì được bao bọc bởi các dãy núi và các nhánh núi nên cũng
có một số điểm khác biệt nhỏ
Trang 38Đất: Có 1 loại đất chính là đất Feralit phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét
Có độ dày từ 40 – 50 cm, hàm lượng mùn từ 3 – 5%, đất có tính chất cơ lý hoá tương đối tốt cho các loại cây trồng lấy củ và quả,
Thực bì: Loài cây chủ yếu cỏ - cây bụi hoặc cây bụi - cỏ Loài cây ưu thế: sim, mua, thẩu tấu, giàng giàng, tế guột chiều cao từ 0,3 - 0,6m Độ che phủ bình quân đạt trên 60%
Giáo dục và đào tạo: Tỷ lệ học sinh đến trường trong độ tuổi đi học đạt cao với Tiểu học đạt 98%, trung học cơ sở đạt 100% Tuy nhiên tỷ lệ mù chữ còn cao với 15% trong toàn xã, chủ yếu là những người cao tuổi thuộc nhóm dân tộc thiểu
số Trong đó, tỷ lệ mù chữ của thôn Nóc Mò là 10%
Việc tỷ lệ mù chữ cao dẫn đến việc tuyên truyền và phổ biến các kiến thức khoa học kỹ thuật nói chung và MHTTNDVR nói riêng đã và đang còn gặp nhiều khó khăn
Y tế: Tỷ lệ cán bộ y tế gồm cả bác sỹ và y sỹ trên đầu người dân đạt 254 người/cán
bộ y tế (chưa kể đến mỗi thôn có 01 cán bộ y tá cộng đồng), đây là tỷ lệ khá cao so với các
xã trong khu vực Nhưng với mức này thì tỉ lệ cán bộ y tá được đào tạo vẫn còn thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn qui định Thầy lang chữa bệnh chủ yếu bằng các loài cây thuốc ở trong rừng và cũng chỉ chữa những bệnh thông thường
Trang 39Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng rừng năm 2015 xã Mẫu Sơn – huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn
(Nguồn: Viền Điều tra, Quy hoạch rừng 2015)
Trang 40Hệ thống giao thông: Tỷ lệ km đường nhựa/bê tông chỉ chiếm 4,2% tổng chiều dài của các trục đường chính, 95,8% là đường đất với nhiều dốc, ổ gà nên việc đi lại của người dân địa phương còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa rất khó đi lại Đối với thôn bản tham gia thực hiện mô hình điều kiện cơ sở hạ tầng còn rất khó khăn với 100% là đường đất Chưa có cầu đi qua suối hoặc có chỉ là những cây gỗ bắc qua tạm, những ngày mưa không thể đi lại
Sản xuất Nông nghiệp: Các cây trồng chủ yếu gồm Lúa, Ngô Sắn, Khoai lang và đỗ Trong đó, Lúa có 02 vụ với vụ đông xuân có 33,1 ha, sản lượng đạt 160 tấn, vụ hè thu trồng 66 ha đạt sản lượng 172, 2 tấn; Ngô trồng 29,2 ha đạt 160,55 tấn; Sắn trồng 10,4 ha, Khoai lang so trồng 5 ha, Khoai lang lang trồng 9,6 ha, rau,
đỗ củ quả các loại khác trồng được 23,4 ha
Về chăn nuôi: Tổng đàn trâu 418 con, bò có 204 con, lơn khoảng 50 tấn
Lâm nghiệp: Trong năm 2014 trồng thêm được 20 ha cây Thông, trong đó
dự án quốc phòng trồng 15 ha, còn lại người dân tự trồng theo các chương trình hỗ trợ của nhà nước và người dân tự trồng Chăm sóc rừng đã trồng 87,5 ha, khoanh nuôi bảo vệ rừng là 68 ha Khai thác nhựa thông ước tính đạt trên 50 tấn Không xảy ra vụ cháy rừng nào, do được quan tâm và giám sát của các cấp chính quyền và người dân địa phương
Nhận xét: Thông qua các đặc điểm điều kiện tự nhiên trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:
+ Điều kiện tự nhiên của xã Mẫu Sơn rất khó khăn với địa hình chia cắt mạnh; + Người dân trong xã chủ yếu là dân tộc thiểu số, có hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp liên quan nhiều đến rừng;
+ Tỷ lệ nghèo đói cao trên 35% so với mức bình quân cả nước năm 2014 khoảng 6%, trong khi người nghèo chủ yếu tập trung chủ yếu vào những nhóm dân tộc thiểu số như người Dao, sống ở nơi vùng cao, có đời sống dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên rừng như củi, lâm sản ngoài gỗ, đây là vấn đề sẽ gặp phải những khó khăn trong việc tuyên tuyền và vận động trong việc phát triển mô hình tăng thu nhập dựa vào rừng