Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài Lan quý hiếm tại KBT.. Vì vậy, nhằm điều tra thực trạng để từ đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển những loài Lan có quý h
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ QUANG NAM
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Đến nay bản luận văn tốt nghiệp hoàn thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Vũ Quang Nam, người hướng dẫn khoa học và đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện, hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Đào tạo sau đại học, khoa Lâm học - Trường Đại học Lâm nghiệp, đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi được tham gia và hoàn thành khoá đào tạo này
Xin cảm ơn tập thể cán bộ công nhân viên của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành điều tra, nghiên cứu, thu thập số liệu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện đề tài Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, các chuyên gia và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Đức Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Đặc điểm về họ Lan (Orchidaceae) 3
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 8
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
1.3.1 Trên thế giới 9
1.3.2 Ở trong nước 12
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 17
2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 18
Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 29
3.1 Điều kiện tự nhiên 29
Trang 63.1.1 Vị trí địa lý, hành chính 29
3.1.2 Địa hình, địa mạo 29
3.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng 30
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 30
3.1.5 Đa dạng sinh học Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên 31
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 32
3.2.1 Dân số 32
3.2.2 Cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội 33
3.2.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 34
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Hiện trạng các loài họ Lan tại KBTTN Xuân Liên 36
4.1.1 Đặc điểm về thành phần loài 36
4.1.2 Giá trị bảo tồn và phân bố các loài Lan quý hiếm tại Khu bảo tồn 36
4.2 Đặc điểm hình thái, vật hậu của các loài Lan quý hiếm tại KBT 39
4.2.1 Kim tuyến trung bộ 39
4.2.2 Lan hài lông 43
4.3 Trữ lượng của các loài Lan Quý hiếm tại KBT 46
4.3.1 Lan hài lông 46
4.3.2 Kim tuyến trung bộ 47
4.4 Đặc điểm thảm thực vật nơi có phân bố các loài Lan quý hiếm 47
4.4.1 Rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá rộng á nhiệt đới 49
4.4.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 53
4.5 Tình trạng khai thác, sử dụng, gây trồng và mức độ đe dọa tại địa phương đối với các loài lan quý, hiếm 56
4.5.1 Tình trạng khai thác, sử dụng, gây trồng 56
4.5.2 Mức độ đe dọa tại địa phương 57
4.6 Kết quả nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng của đến quá trình sinh trưởng và phát triển của Lan hài lông 60
Trang 74.6.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của Lan hài lông 60
4.6.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển của loài Hài lông 62
4.6.3 Tình hình sâu bệnh hại 66
4.7 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài Lan quý hiếm tại KBT 67
4.7.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 67
4.7.2 Giải pháp về pháp luật 68
4.7.3 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 69
4.7.4 Giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân 69
4.7.5 Giải pháp về kinh tế - xã hội 70
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Các tuyến điều tra của khu vực nghiên cứu 18 2.2 Thang điểm xác định mức độ đe dọa của loài ở phạm vi hẹp 27 4.1 Hiện trạng 02 loài Lan quý hiếm tại khu BTTN Xuân Liên 37 4.2 Phân bố của các loài Lan quý hiếm tại Khu BTTN Xuân Liên 38 4.3 Kích thước quần thể Hài lông tại Khu BTTN Xuân Liên 46 4.4 Mô tả kích thước quần thể Kim tuyến trung bộ tại Khu BTTN Xuân
Liên
47
4.5 Các kiểu thảm thực vật tại khu BTTN Xuân Liên 48 4.6 Thang điểm xác định mức độ đe dọa của loài ở phạm vi hẹp 58
4.8 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng ra chồi và tăng
trưởng chiều cao chồi Hài lông
62
4.9 Ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng của Hài lông 64 4.10 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng hoa Hài lông 65 4.11 Tình hình sâu bệnh hại trên Hài lông (theo dõi 6 tháng) 66
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
4.1 Kim tuyến trung bộ (Bản Vịn-Bát Mọt) và tại Vườn sưu tập
4.2 Bản đồ phân bố Kim tuyến trung bộ tại Khu BTTN Xuân Liên 41
4.6 Ảnh hưởng phân bón lá đến khả năng ra chồi của Hài lông 63
Trang 11Hiện nay do nhu cầu thị trường và nguồn lợi kinh tế từ những giá trị của các loài Lan mang lại, đặc biệt là giá trị của nguồn Lan rừng tự nhiên có công dụng làm thuốc biệt dược chữa các bệnh nan y (Kim tuyến trung bộ) Bên cạnh đó, nhu cầu chơi Lan nguồn gốc từ tự nhiên của nhân dân ngày càng gia tăng, cộng thêm thực trạng nghèo đói, thiếu việc làm và cuộc sống còn phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi từ rừng của người dân vùng núi đang là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm quá mức tài nguyên các loài Lan phân bố
Trang 12tự nhiên, đặc biệt nhiều loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao trên địa bàn KBTTN Xuân Liên nói riêng và trong tỉnh Thanh Hóa nói chung Vì vậy, nhằm điều tra thực trạng để từ đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển những loài Lan có quý hiếm, có giá trị kinh tế cao trong vùng, tôi đề
xuất đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài Lan quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa”
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm về họ Lan (Orchidaceae)
Họ Lan (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây (Asparagales), lớp thực vật Một lá mầm (Monocotyledons) Họ Orchidaceae là một trong những họ có số lượng loài lớn nhất, khoảng trên 20.000 loài (theo A.L.Takhtajan 1987), trong nhóm thực vật có hoa; có phân bố rộng khắp trên toàn thế giới Chúng gồm các loài cây thân thảo, sống lâu năm (đôi khi hóa gỗ một phần ở gốc), chúng thường sống ở đất, nơi hốc vách đá, hoặc sống phụ-hoại sinh
Hệ rễ: Hệ rễ khí sinh ở đây vừa làm nhiệm vụ lấy nước, muối khoáng
trên vỏ cây gỗ, vừa bám chặt vào giá thể để giữ cây khỏi bị gió cuốn đi, ngoài
ra nó lại còn chống đỡ cho cây mọc cao vươn ra chỗ có nắng giữa đám tán cây Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cả cơ thể Ở các loài đặc trưng cho hệ thực vật châu Á nhiệt đới và Australia, nhiều loài Lan rất nhỏ bé, hình dạng xấu xí, khó khăn lắm mới nhận được sống trong các kẽ nứt của vỏ cây gỗ, trên các cành nhánh cao tít Hệ rễ cũng nhỏ đan thành búi Ngược lại, ở các loài Lan có kích thước lớn hay trung bình, hệ
rễ khí sinh phát triển rất phong phú, nó mọc rất dài, mập mạp và khỏe cứng (vừa giữ cho cơ thể khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột chống đỡ cho thân vươn cao) Để làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng, chúng được bao bởi một lớp mô hút ẩm dày, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí,
do đó nó ánh lên màu xám bạc Với lớp mô xốp đó, rễ không những có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây gỗ, mà còn lấy được nước lơ lửng trong không khí (sương sớm hay hơi nước) Nhiều loài lại có hệ rễ đan bện thảnh một búi chằng chịt, nó là nơi thu gom mùn của vỏ cây để làm nguồn dự trữ chất dinh dưỡng Ngược lại, ở các loài mọc bò dài, hệ rễ có thể
Trang 14buông thong xuống theo các đoạn thân, chúng hoặc mảnh mai, hay treo lơ lửng trong không khí như các "chòm râu hoặc mập, khỏe, kéo dài xuống tận đất và hoạt động như rễ của các loài cây' khác Ở một số loài Lan có thân, lá kém phát triển (thậm chí tiêu giảm hoàn toàn), hệ rễ phát triển dày đặc và kiêm nhiệm luôn cả vai trò quang hợp Rễ có dạng dẹt, bò rất dài màu xanh như lá Đặc biệt ở các loài Lan sống hoại, bộ rễ có hình dạng, cấu trúc khá độc đáo, Nó có dạng búi nhỏ với các vòi hút ngắn, dày đặc để có thể lấy được các chất dinh dưỡng từ đám xác thực vật thông qua hoạt động của nấm Mặc
dù sự "cộng sinh" với nấm nội sinh vốn là đặc tính sống cơ bản của cả họ Lan trong giai đoạn hạt nẩy mầm, nhưng chỉ ở một số loài vẫn tồn tại mối quan hệ này trong suốt cuộc đời Các loài Lan này do không sinh ra các cơ quan tự dưỡng, nên vẫn phải duy trì sự giúp đỡ của nấm Cơ thể của chúng rất nhỏ bé, mảnh mai, không có màu sắc hay mang các sắc tố khác, ngoài màu xanh Tuy
nhiên, có ít loài thuộc chi Lan hoại Cyrtosia, tuy sống hoại, nhưng có thể dài
đến vài chục mét Nó có khả năng leo bò rất cao, chùm lên cả các tán cây gỗ khác với các móc và vảy màu đỏ (do lá thoái hóa) (thuộc hệ thực vật châu Á nhiệt đới) Ngược lại, có một số loài Lan sống hoại khác lại ẩn sâu trong lòng
đất thuộc hệ thực vật Australia), ví như Rhizanthella gardneri, Cryptanthemis
slateri, cơ thể chỉ có một thân nhỏ, không rễ cũng không lá Đến mùa nó sinh
ra một cụm hoa, kém phát triển Cryptanthemis sống cách mặt đất khoảng 2
cm, còn Rhizanthella ở sâu hơn, chỉ có các cụm hoa mọc cao lên sát mặt đất
mà thôi Giống như các loài Lan ở trên mặt đất, không có diệp lục khác, các loài sống trong lòng đất này hoạt động được nhờ sự trợ giúp của nấm và gốc mục của các loài cây thân gỗ khác
Thân cây: Thân cây họ Lan rất ngắn hay kéo dài, đôi khi phân nhánh và
mang lá hay không Theo M E PrIIzer (1882) Lan có hai loại thân, mà đa số đều thuộc loại sinh trưởng hợp trục (nhóm không thân) Thân này gồm một hệ
Trang 15thống của nhiều nhánh lâu năm, với bộ phận nằm ngang, bò dài trên giá thể hoặc ẩn sâu trong lòng đất gọi là thân rễ Thân rễ có thể nhẵn, hay có nhiều vảy che phủ (do lá thoái hóa), và một phần mọc thẳng đứng mang lá Ngược lại, rất ít khi gặp các loài Lan sinh trưởng đơn trục (nhóm có thân), nghĩa là sự sinh trưởng của trục chính không giới hạn, làm cho thân rất dài Cơ thể khó có thể duy trì được tư thế thẳng đứng, nó phải nhờ đến các rễ chống đỡ để vươn cao, nếu không nó đành phải bò dài hay leo cuốn Đôi khi thân một số loài Lan rất ngắn, và bị che khuất bởi hệ thống lá hay rễ mọc thành bụi dày Ở thân các loài Lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành)
Đó là bộ phận dự trữ nước, các chất dinh dưỡng để nuôi cây trong hoàn cảnh khô hạn khi sống bám trên cao Củ giả rất đa dạng, hoặc hình cầu, thuôn dài
xếp sát nhau, hay rải rác đều đặn (Lan lọng - Bulbophyllum) hay hình trụ, xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả (Lan hoàng thảo - Dendrobium) Kích
thước củ giả cũng rất biến động, từ dạng củ rất nhỏ, chỉ lớn bằng đầu chiếc
đinh găm (Lan lọng - Bulbophyllum) đến dạng hình cầu to như chiếc mũ người lớn (Pecteilis susannae - Lan bạch phượng) Cấu tạo củ giả gồm nhiều
mô mềm chứa đẩy dịch nhầy, phía ngoài có lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ để tránh sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá, nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp Các loài Lan xứ lạnh, sống ở đất, củ giả lại làm nhiệm vụ dự trữ dinh dưỡng
Lá: Hầu hết các loài Lan đều là cây tự dưỡng, do đó, nó phát triển rất đầy đủ
hệ thống lá Lá mềm mại, duyên dáng và hấp dần Lá hoặc mọc đơn độc, hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân, trên củ giả Hình dạng lá thay đổi rất nhiều từ loại lá mọng nước, nạc, dai, hình kim, hình trụ dài, tiết diện tròn hay có rãnh, đến loại lá hình phiến mỏng, dải, mềm, xanh bóng đậm hay nhạt tùy theo vị trí sống của cây, đặc biệt rất hiếm gặp các loại lá hình
tròn Nervilia (Lan thanh tiên quì) hay chia thùy sâu (Lan bằp ngô) Lá tận
Trang 16cùng bằng một cuống hay thuôn dài xuống thành bẹ ôm thân Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung (như cái quạt) hay chỉ gấp lại theo một gân giữa (hình chữ V) Những lá dưới sát gốc, thường giảm đi chỉ còn những bẹ không có phiến, hay giảm hẳn thành các vẩy Về màu sắc, phiến lá thường có màu xanh bóng, nhưng đôi khi hai mặt lá có màu khác nhau (thường mặt dưới lá có màu xanh đậm hay tía), mặt trên lại khảm thêm nhiều màu sặc sỡ Nhiều loài Lan có lá màu hồng, màu nâu hồng, và nổi lên các
đường vẽ trắng theo các gân, rất đẹp Anoectochilus (Kim tuyến trung bộ)
Lan, nhất là các loài ở vùng nhiệt đới, thường trút hết lá trong mùa khô hạn Lúc này, cây hoặc ra hoa hay sống ẩn, chờ mùa mưa đến, sẽ cho chồi mới Một số Lan sống ở đất có chu kỳ sống đặc sắc, xen mùa lá với mùa hoa Khi cây ra hoa, toàn bộ các lá đều chết khô đi và sau khi hoa tàn, củ giả sẽ cho chồi lá mới Ngược lại, một số loài Lan có lá dày, dai, xanh đậm, sông lâu cả
chục năm Vanda (Lan vân đa)
Hoa: Cấu tạo của hoa Lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn Ở Lan có thể
gặp nhiều loài, mỗi mùa chỉ có một đóa hoa nở, hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ đơm một bông mà thôi Tuy nhiên, đa số các loài Lan đều nở rộ nhiều hoa, tập hợp lại thành chùm (đôi khi phân nhánh thành chùy), phân bố ở đỉnh thân hay nách lá Gốc cuống chính thường có lá bắc dạng vẩy hay mo Cuống chính đôi khi rút ngắn lại, làm cụm hoa có dạng tán giả, hay cuống chính vừa ngắn vừa mập, cụm hoa có dạng gần như hình đầu Nhiều loài, hoa
có cuống rất ngắn, nên cụm hoa có dạng bông, hay cuống chính vặn xoắn để hoa xếp theo đường xoắn ốc Đặc biệt nhiều cụm hoa hình chùy phân nhánh
và đạt kích thước rất lớn (Oncidium volvox) Hoa Lan có cấu trúc cơ bản của
hoa mẫu 3, là kiều hoa đặc trưng ở lớp Một lá mầm nhưng đã biến đổi rất nhiều để hoa có đối xứng qua một mặt phẳng Hoa Lan thuộc loại hoa lưỡng tính, và đơn dạng, rất hiếm các loại Lan đơn tính, tạp tính và nhị dạng Bao
Trang 17hoa có 2 vòng, mỗi vòng 3 mảnh, chia ra: Ba cánh đài thường có dạng cánh hoa Cả 3 cánh đài hoặc giống nhau, hoặc cánh đài lưng hơi khác với 2 cánh đài bên (đôi khi cả 3 cánh đài đều dính lại với nhau); còn 3 cánh tràng thì hai cánh bên rất giống với cánh đài rời hay dính với cánh đài bên Chỉ có cánh tràng giữa biến đổi màu sắc, có chức năng đặc biệt trong sự hấp dẫn và thụ phấn nhờ côn trùng gọi là cánh môi Cánh môi rất đa dạng, xếp đối diện với cánh đài lưng, luôn luôn ở phía trong cùng, và có kích thước thường lớn hơn
cả Cánh môi có thể nguyên, chia thùy, khía răng, có tua viền, hay chia cắt thành các sợi mảnh Bề mặt cánh môi hoặc nhẵn, có nhiều gân hay nổi lên các phần phụ đa dạng (u, mào, vách, gợn sóng, ) Gốc cánh môi thường mang tuyến mật, trong một cựa dài hay trong một u lồi, phần này hoặc dính vào chân của cột nhị nhụy hay là phần kéo dài ra phía trước của cằm Cấu tạo của cánh môi độc đáo đến nỗi các nhà khoa học đã đặt nhiều vấn đề để tìm hiểu nguồn gốc của nó Trong số 6 nhị của hoa mẫu 3 đặc rưng cho loại hoa Hành tỏi) thì sự biến đổi giảm dần khá phức tạp, từ loại có 3 nhị (1 vòng ngoài, 2
vòng trong) của hoa thuộc chi Neuwiedia (Lan huệ), qua loại chỉ còn 2 nhị (vòng trong) của chi Paphiopedilum (Lan hài), tiến đến loại chỉ còn 1 nhị (ở
vòng ngoài) của hầu hết các chi còn lại Về cấu tạo thì cũng từ các chi Lan
nguyên thủy Neuwiedia (Lan huệ), Apostasia (Lan giả) có nhị và vòi chưa kết
hợp với nhau, tiến tới dạng dính liền với nhau thành cột nhị nhụy (ở hầu hết các chi Lan khác) Cột nhị nhụy nằm chính giữa hoa, là dấu hiệu cơ bản để định loại họ Lan, mang phần đực ở phía trên và phần cái (đầu nhụy) ở mặt trước Cột này thường dài, thắng hay cong về phía trước, và gốc có thể kéo dài ra phía trước thành cằm Nhị đực gồm có 2 phần, bao phấn và hốc phấn Bao phấn nằm ở cột nhị nhụy gần như ngang hay thẳng đứng Nó hoặc đối diện với cánh đài lưng và ngoại hướng, hoặc đối diện với cánh môi và nội hướng Còn hốc phấn thì lõm lại, mang khối phấn và thường song song với
Trang 18bao phấn Khối phấn gồm toàn bộ hạt phấn dính lại với nhau, rất cứng do có tinh bột, sáp hay chất sừng Số lượng khối phấn biến đổi từ 2, 4, 6 đến 8, có dạng thuôn hay cong lưỡi liềm, đôi khi thuôn dài có đuôi, kết thúc bởi chuôi
và gót Hoa Lan cô bầu hạ, thuôn dài kéo theo cuống (rất khó phân biệt giữa bầu và cuống hoa) Sự vặn xoắn toàn bộ hoa trong quá trình phát triển là đặc điểm của bầu Hoa thường bị vặn xoắn 1800 sao cho cánh môi khi bắt đầu nở hướng ra bên ngoài ở vào phía dưới, làm chỗ đậu thuận lợi cho côn trùng Rất
ít khi gặp hoa vặn 3600 như ở (Lan mai đất tím) Malaxis purpurea, hoặc
không vặn gì do cuống hoa buông rủ xuống như ở Stanhopea Như thế, khi hoa nở, môi vẫn hướng lên trên, nó thích nghi với loại côn trùng ưa lộn đầu xuống khi chui vào hoa Bầu hoa Lan có 3 ô, hoặc đính noãn trung trụ ở các loài Lan nguyên thủy, hoặc đính noãn bên ở các loài Lan tiến hóa hơn
Quả: Quả Lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đường nứt dọc, có
dạng tù quả cải nạc dài ở Vanilla (Lan vani) đến dạng hình trụ ngắn phình ở
giữa (ở đa số các loài khác) Khi chín quả mở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc Ở một số loài quả chỉ mở theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra, và hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này mục nát Hạt rất nhiều, nhỏ bé (do đó trước đây gọi họ Lan là họ Vi tử) Hạt chỉ cấu tạo bởi một phôi chưa phân hóa, trên một máng lưới nhỏ, xốp chứa đầy không khí Phải trải qua 2 - 18 tháng hạt mới chín Phần lớn hạt bị chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nẩy mầm Do đó, hạt thì nhiều, có thể gieo giống di rất
xa nhờ gió, nhưng hạt nẩy thành cây lại rất hiếm Chỉ ở trong các cánh rừng già, ẩm ướt, vùng nhiệt đới mới có đủ điều kiện để cho hạt giống nẩy mầm
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Về họ Lan, theo kết quả điều tra của BirdLife (1999) ở Xuân Liên có
20 loài, hơn nữa các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc thống kê tên loài mà chưa có bất cứ nghiên cứu nào khác về các loài này Bên cạnh đó một số loài
Trang 19thuộc họ Lan được phát hiện tại Xuân Liên cũng là những loài có giá trị kinh
tế cao nên cũng chịu nhiều áp lực từ người dân Chính vì vậy nên việc thực hiện đề tài nghiên cứu này là hết sức cần thiết.[20]
Hiện nay, mỗi năm Việt Nam vẫn phải chi hàng tỷ đồng để nhập Lan từ các nước láng giềng cho nhu cầu nội địa Thị trường nhập khẩu Lan cắt cành chính của Việt Nam trong thời gian qua là Thái Lan với gần 95% lượng Lan cắt cành Chính vì vậy không chỉ thị trường xuất khẩu mà thị trường trong nước cũng rất tiềm năng cho người trồng Lan [5]
Đề tài được thực hiện ngoài ý nghĩa phục vụ mục tiêu bảo tồn nguồn gen các loài Lan tự nhiên, nó còn có ý nghĩa thực tiễn phát triển kinh tế tại địa phương theo hướng sản xuất hàng hóa gắn phát triển Du lịch sinh thái trên cơ
sở nhân giống thành công các loài Lan quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao để tạo ra hàng hàng hoá đặc trưng tại địa phương Bên cạnh những giá trị bảo tồn, phát triển kinh tế, còn tạo thêm việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng đệm KBT Việc xây dựng vườn sưu tập và nhân giống các loài Lan tự nhiên còn góp phần phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan học tập, giáo dục bảo vệ môi trường và là sản phẩm hấp dẫn thu hút khách tham quan du lịch đến với KBT
Từ những luận cứ khoa học và thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu bảo tồn, sản xuất giống một số loài hoa Lan và địa Lan quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là cần thiết, có ý nghĩa thực
tế và mang tính cấp bách Góp phần thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia
về bảo tồn đa dạng sinh học và là nội dung của Kế hoạch đầu tư phát triển khu bảo tồn giai đoạn 2011-2015 đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá phê duyệt tại Quyết định số 3112/QĐ-UBND ngày 06/9/2010
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Trên thế giới
Cây lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông, theo Bretchacider thì từ đời vua Thần Nông (2800) trước công nguyên, lan rừng này được dùng làm
Trang 20thuốc chữa bệnh Cùng với vẻ đẹp và tác dụng chữa bệnh, sau đó Robut Bron (1773 – 1858) là người đầu tiên đã phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác Đặt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là Joanlind (1979 – 1985) Năm 1836, ông công bố sắp xếp các tông họ Lan (A tabuler view of the Tribes of Orchidaceae) tên của họ lan do ông đưa ra đựơc dùng cho đến ngày nay Hiện nay họ Lan (Orchidaceae) trên thế giới được chia làm 5 phân họ Apostasioideae, Cypripedioideae, Neottioideae, Epidendroideae và Orchidoideae Họ Lan (Orchidaceae) bao gồm 750-800 chi và khoảng 20.000 loài, phân bố rộng khắp thế giới từ 680 vĩ độ Bắc đến 560 vĩ độ Nam, tập trung chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới châu Á, và nhiệt đới châu Mỹ (Mau – RFL 1983) Ở khu vực nhiệt đới họ Lan phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 2000m [10],[11]
Từ lâu, Lan đã là tên gọi chung cho các loài họ Lan (Orchidaceae), bao
gồm các loài cây thân thảo, sông lâu năm, chúng có thể sống ở đât, hốc cây, hốc đá, vách đá, hay sống phụ sinh, sống hoại sinh Hoa Lan có cấu trúc mẫu
ba, đặc trưng của lớp một lá mầm, nhưng đã có biến đổi nhiều để hoa có đối xứng qua một mặt phẳng Hoa có cánh môi rất độc đáo Quả lan là loại quả nang, hạt rất nhỏ phát tán nhờ gió
Bác sỹ, Y sỹ người Anh tên là Jonh Haris và Weich đã biết đến vai trò của nấm Fungus trong việc nảy mầm của hạt lan trong điều kiện tự nhiên Ngày nay, nghiên cứu nhân giống hữu tính các loài họ Lan bằng gieo hạt đã nhiễm nấm cộng sinh trên môi trường dinh dưỡng được thực hiện thành công
ở nhiều nước như Trung Quốc, Mỹ, Pháp
Nghiên cứu nhân giống In vitro cây họ Lan phải nói đến TS Knudson
người Mỹ công bố năm 1946, đã mở ra công nghệ sinh học môi trường lan Gần đây Morel (1965) công bố phương pháp nhân giống lan bằng mô phân sinh Nhờ vậy đã tạo ra được khối lượng cây lớn đồng nhất trong thời gian
Trang 21ngắn Ngày nay, nhân giống vô tính In Vitro đã thành công đối với nhiều chi
thuộc họ Lan (Orchidaceae) như Kiếm lan (Cymbidium), Hoàng thảo (Dendrobium), Kiều lam (Calanthe), Kim tuyến trung bộ (Anoectochilus), v.v
Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia bắt đầu phát triển nuôi trồng hoa Lan quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu Có thể nói Thái Lan Lan là nước đi đầu cho ngành nuôi trồng và xuất khẩu hoa Lan ở các nước châu Á Các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Philipin cũng đã đến Thái Lan để học hỏi kinh nghiệm Người nghiên cứu để nuôi trồng Lan đầu tiên ở Thái Lan là Thong Lor Rakhpa Busobat ở Bangkok, ông cũng chính là người sau này đã đem các tiến bộ kỹ thuật từ các nước Châu Âu về để nghiên cứu và áp dụng cho ngành sản xuất hoa Lan của Thái Lan.[5]
Sản xuất lan trên thế giới: Theo Phan Thúc Huân (1989), người đầu tiên thành lập vườn lan thương mại là Loddiges năm 1812 Một vài thập kỷ gần đây, nhờ sự phát triển nhanh của công nghệ sinh học thương mại và giao thông nhiều nước đã trở thành những cường quốc xuất khẩu lan và đã mang lại thu nhập lớn, hàng năm xuất khẩu lan đạt hàng trăm triệu đô la, những nước xuất khẩu nhiều như Thái Lan, Đài Loan, Singapore, ấn Độ, Hà Lan…Trước hết là Thái Lan, nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan, các cơ sở sản xuất của họ có khoảng 200 phòng nuôi cấy In vitro lan thương mại hoạt động ở Băng kốc Hàng năm Thái Lan sản xuất 32 triệu cây con, tập
trung vào một số loài của các chi: Dendrobium (80%), Oncium (5) Rồi đến Đài Loan sản xuất nhiều nhất là lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) và lai tạo chọn ra
hàng chục giống mới rất đa dạng và xuất sang nhiều nước Singapore, tiểm năng xuất khẩu hoa lan rất mạnh trên thị trường thế giới chiếm tới 12 % Ấn
Độ đã áp dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào vào nghề trồng lan, hàng năm sản xuất khoảng 10 triệu cây con các loại Hà Lan, Nhật Bản cũng là những nước đầu tư lớn cho ngành nuôi trồng hoa lan [5]
Trang 22Như vậy, trên thế giới đã có nhiều nước nghiên cứu và phát triển cây Lan Trong quá trình sống con người luôn tìm kiếm phát hiện thêm các loài Lan mới hoang dại bổ sung danh sách các loài Lan đặc biệt bổ xung vào ngân hàng nguồn gen các loài Lan Không thể kể hết được các hoạt động của con người tìm kiếm, nghiên cứu bảo tồn và phát triển Lan Ngày nay do sự phát triển về công nghệ lai tạo giống nên số loài ngoài thiên nhiên có bao nhiêu thì
số loài lai tạo cũng có số lượng tương đương
1.3.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là De Loureiro (1790) – nhà truyền giáo Bồ Đào nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt nam lần đầu tiên vào năm 1790 trong cuốn “ Flora cochinchinensis” gọi tên
các cây lan trong cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius
và Sarcopodium… mà đã được Ben tham và Hooker ghi lại trong cuốn
“Genera planterum” (1862 – 1883) Từ thời Pháp thuộc đã có những công trình nghiên cứu cơ bản về thực vật, cuốn “Thực vật chí Đông Dương”- H Lecomte (1932) đã thống kê được 100 loài Lan, thuộc 70 chi cho cả khu vực đông dương, Phạm Hoàng Hộ (1999-2000) trong cuốn cây cỏ Việt Nam cũng
đã có những mô tả sơ bộ về họ lan [9] Họ lan đang ngày càng gây được sự chú ý của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước vì thế mà nhiều giá trị quý của họ lan đang ngày càng được phát hiện không những về khoa học mà còn
có giá trị kinh tế
Năm 1998, Trần Hợp trong cuốn Lan Việt Nam đã miêu tả khoảng 800 loài thuộc 138 chi khác nhau theo như tác giả trình bày thì đây chưa phải là cuốn sách thật hoàn thiện về họ Lan của Việt Nam nhưng có lẽ đến thời điểm này đây là một tài liệu khá đầy đủ về họ lan của Việt Nam vì cuốn sách đã cung cấp các thông tin về đặc điểm nhận dạng, sinh thái, phân bố và có hình ảnh minh họa cho khoảng 800 loài lan khác nhau của Việt Nam.[11]
Trang 23Tài liệu được công bố gần đây theo bảng trích yếu cập nhật hoá về các loài Lan của chuyên gia cao cấp về hoa lan của thế giới Leonid Averyanov và Anna L Averyanov – 2003) ở Việt Nam hiện đã biết 897 loài, 152 chi[24]
Việt Nam nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm rất phù hợp với nhu cầu sinh thái của các loài Lan vì vậy hoa Lan đã được người Việt nam biết đến từ rất lâu đời, nhưng do các bối cảnh lịch sử nhất định của nền kinh tế chưa cao nên từ đời này qua đời khác cây Lan Việt Nam chỉ dừng lại trồng để thưởng thức Việc nuôi trồng, nghiên cứu, kinh doanh chưa theo kịp các nước Châu Âu, Châu Á phát triển
Ở Miền Nam do có khí hậu quanh năm ấm áp rất thích hợp với việc trồng và phát triển hoa Lan nên các nghiên cứu và sự tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới của các nước phát triển cũng có phần sớm hơn miền Bắc Từ những năm 1976, Trung tâm Sinh học thực nghiệm thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức phòng nuôi cấy mô Lan và tạo ra hàng loạt cây con Lan từ nuôi cấy mô
Ở Đà Lạt, Ủy ban khoa học kỹ thuật của Đà Lạt và phòng sinh học của Viện Hạt nhân Đà Lạt cũng tham gia tích cực vào lập các cơ sở cấy mô Lan và sưu tầm các loài Lan, Từ năm 1990, Liên hiệp khoa học sản xuất Đà Lạt đã thực hiện một số phương pháp ghép lai giữa các loài Lan, gieo hạt Lan trong ống nghiệm để duy trì nguồn Lan tự nhiên của địa phương, trong đó có một giống
Lan mà duy nhất chỉ có ở Đà Lạt đó là giống Lan Cymbidium insigne var
dalatensis (Hồng lan), đây là loài địa Lan vô cùng độc đáo, màu sắc hoàn toàn
khác biệt với những giống Lan đã biết, các nhà khoa học đang cho nhân giống, và trồng rộng rãi Theo các nhà nghiên cứu, hiện tại Đà Lạt có khoảng
300 loài Lan và trên 300 giống địa Lan nội và ngoại nhập cùng khoe sắc tỏa
hương Trong đó Cymbidium còn gọi là địa Lan là loại đa dạng hơn cả Các loài địa Lan thuộc Chi Cymbidium như: Lan lô hội, Thanh lan, Xích ngọc,
Gấm ngũ hồ, Bạch lan, Hài lông, Bạch hồng, Hoàng lan, Tử cán,…Như vậy
Trang 24cho đến thời điểm hiện tại các tỉnh Miền Nam đã nghiên cứu để ứng dụng được những kỹ thuật tiên tiến của các nước phát triển vào sản xuất hoa Lan như: Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô, kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp cho nảy mầm hạt Lan trong ống nghiệm, kỹ thuật lai tạo giữa các loài Lan để tạo ra một giống Lan mới, các kỹ thuật nuôi trồng chăm sóc cũng được nghiên cứu ứng dụng phù hợp điều kiện tự nhiên của mỗi vùng mỗi vùng, ví như Đà Lạt có thế mạnh là sản xuất các loại địa Lan, thành phố Hồ Chí Minh trồng thành công rất nhiều vườn Lan với các loài Hồ điệp, Vũ nữ, Van da, [5]
Ở miền Bắc việc nghiên cứu về cây Lan mới được trú trọng những năm gần đây Thời kỳ trước những năm 1995 miền Bắc chủ yếu là nuôi trồng Lan bản địa song nguồn giống chủ yếu được khai thác từ rừng tự nhiên Những năm gần đây do nạn phá rừng, nạn săn lùng, khai thác quá mức từ khắp các cánh rừng nên nhiều loài hoa Lan đang có nguy cơ bị mất giống Để giảm áp lực cho việc khai thác giống từ rừng tự nhiên đồng thời góp phần bảo tồn các loài Lan quý, tạo công ăn việc làm để nâng cao đời sống của người dân bản địa nên đã triển khai một số đề tài nghiên cứu:
- Nghiên cứu ứng dụng hệ thống thông tin Địa lý trong xây dựng bản
đồ phân bố lan và cây cảnh tại VQG Phú Quốc
- Khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại Bidoup – Lanbiang và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
- Tham gia chuyến khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại VQG
Ba Bể và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
- Tham gia chuyến khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại VQG Cát Tiên và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
- Khảo sát về đánh giá đa dạng các loài lan tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Núi Chúa và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại khu vực nghiên cứu
Trang 25- Điều tra thành phần phân bố các loài Lan tại Vườn Quốc gia Cúc Phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển – 2006
Về những nghiên cứu nhân giồng: Có rất nhiều công trình nghiên cứu
nhân giống trên các đối tượng Lan nhằm các mục đích khác nhau Có thể kể
ra vài công trình: Phạm Thị Liên (2002) đã nghiên cứu nhân giống In vitro thành công cho một số loài địa lan ở khu vực phía Bắc Việt Nam và đưa ra quy trình nhân giống cho loài Địa lan Hạc đính nâu như sau: Khử trùng mẫu bằng dd HgCl2 0,1% trong 15 phút Đưa mẫu đã khử trùng vào môi trường F + 3% đường saccaro + 0,8% Agar + BAP 1,0 mg/l + Kinetin 0,7% mg/l + IBA 0,5mg/l Môi trường F + 3% đường saccaro + 0,8% Agar + 10% nước dừa + 0,5 mg/l NAA để tạo cây hoàn chỉnh Dùng cát sạch làm giá thể trồng cây con trong giai đoạn vườn ươm[13]
Năm 2005, Nguyễn Quang Thạch và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sau In vitro cho cây Địa lan kết quả nghiên cứu cho thấy: để đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt ngoài vườn ươm, cây Địa lan in vitro phải đạt được khối lượng ≥ 1,0 gam, giá thể Dớn biển thích hợp nhất để ra cây in vitro, sau 3 tháng trồng ở vườn ươm cấp I chuyển cây sang trồng ở vườn ươm cấp II với giá thể thích hợp nhất là dương xỉ[18]
Như vậy Lan (Orchidaceae) là họ đa dạng bậc nhất của nước ta với xấp
xỉ 1000 loài Hầu như tất các các loài Lan đều có đa chức năng: có thể làm cảnh, làm thuốc, vì vậy sức hút từ các Loài lan là đặc biệt hấp dẫn với nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội Có rất nhiều các nghiên cứu về thành phần loài, phân loại, nhân giống, .đã được thực hiện Tuy nhiên, những nghiên cứu chi tiết ở một phạm vi nhỏ, từ đó chọn lọc ra một số loài có giá trị bảo tồn cao và nhân giống, phát triển loài tại khu vực thì vẫn thiếu Đó cũng chính là một trong các lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
Trang 26Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Nhằm bảo tồn và phát triển một số loài Lan quý hiếm tại
KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Một số loài Lan quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra, thu thập và tuyển chọn được từ 1-2 loài Lan tự
nhiên quý hiếm tại Khu BTTN Xuân Liên
Nội dung 2: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của
các loài Lan quý hiếm được chọn lựa
Nội dung 3: Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh
trưởng, phát triển của 1 trong 2 loài Lan được lựa chọn
Nội dung 4: Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát triển một số loài
Lan quý hiếm tại Khu bảo tồn
Trang 272.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung
- Phương pháp kế thừa số liệu
+ Kế thừa các nguồn tài liệu, các kết quả nghiên cứu có liên quan
+ Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu
- Phương pháp sử dụng một số công cụ có sự tham gia của người dân
Được tiến hành thông qua phỏng vấn, tìm hiểu từ các hộ trồng lan trong vùng, người dân bản địa thường xuyên đi rừng, các thương nhân chuyên mua bán về hoa lan và cây cảnh trong vùng, các cán bộ quản lý về rừng như kiểm lâm, trưởng bản, … để thu thâp các thông tin như:
+ Sự phân bố của các loài trong tự nhiên: nơi thường mọc, độ cao, ánh sáng, độ ẩm,…)
+ Giống có giá trị kinh tế cao thông qua giá bán, mức độ ưa chuộng của thị trường thông qua khả năng thu mua hàng năm
+ Kỹ thuật nuôi trồng truyền thống của người dân: giá thể nuôi trồng, các loại sâu bệnh thường gặp, biện pháp phòng trừ sâu bệnh,
- Phương pháp thu thập mẫu
Sau khi xác định được các giống Lan quý hiếm, có giá trị kinh tế cao trong khu vực nghiên cứu, tiến hành thu thập mẫu trong quá trình điều tra bằng cách thu hái mẫu trực tiếp
- Phương pháp xử lý số liệu
Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học, để xử lý số liệu và đánh giá kết quả đảm bảo yêu cầu khách quan và độ chính xác cho phép với sự hỗ trợ của một số phần mềm thống kế toán học trên máy vi tính: Excel, SPSS,…
Trang 282.4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu nội dung 1, nội dung 2
Điều tra ngoại nghiệp:
- Điều tra theo mẫu hệ thống trên các tuyến khảo sát điển hình (transect) Tuyến điều tra được thiết kế qua các kiểu thảm thực vật rừng và qua các điều kiện tự nhiên phân hoá khác nhau như dạng địa hình, độ cao để phát hiện thành phần loài Lan quý, hiếm
Số lượng tuyến điều tra 10 tuyến, chiều dài mỗi tuyến từ 2 - 16 km Tuyến điều tra được thiết lập để điều tra phát hiện các loài Lan Tuyến có thể
sử dụng đường mòn, đỉnh giông, núi đá, dọc sông, suối đi qua nhiều trạng thái rừng hoặc đến các điểm có hệ sinh thái thực vật phân bố khác nhau
Bảng 2.1: Các tuyến điều tra tại khu vực nghiên cứu
Trang 29II 5 Điểm đầu Trạm KL Bản Lửa –
Khu vực Hón Hích 509,516.99 2,213,514.58 16.75
Ghi chú : Hệ toạ độ được đo tính trên bản đồ nền địa hình VN 2000
Hình 2.1: Bản đồ các tuyến điều tra Lan
Trang 30 Đánh giá hiện trạng các khu vực nghiên cứu:
+ Khu vực I: Thuộc khoảnh 11; 12 của tiểu khu 484, khoảnh 4; 5; 6; 7; 8 tiểu
khu 489, khoảnh 1; 2 tiểu khu 485, khu vực đồi núi đất lẫn núi đá và rừng nguyên sinh của xã Bát Mọt Tiến hành điều tra theo 4 tuyến với tổng chiều dài 21.490m Độ cao trung bình của khu vực là nghiên cứu là 1052m Tiến hành lập 06 OTC điển hình
Kiểu thảm thực vật trong khu vực: Rừng kín thường xanh chủ yếu cây
lá rộng á nhiệt đới núi thấp
+ Khu vực II: Thuộc khoảnh 1; 2; 3 tiểu khu 486, khoảnh 1; 3; 5; 12 tiểu khu
498, khoảnh 1; 2; 3; 4; 5 tiểu khu 499, khu vực rừng núi đât của xã Yên Nhân Tiến hành điều tra theo 01 tuyến với tổng chiều dài 16.750m Độ cao trung bình của khu vực là nghiên cứu là 720 m Tiến hành lập 02 OTC điển hình
Kiểu thảm thực vật trong khu vực: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và rừng non phục hồi sau nương rẫy
+ Khu vực III: Thuộc khoảnh 13; 16 tiểu khu 499, khoảnh 3;5;6, tiểu khu 512,
khu vực rừng núi đất của xã Vạn Xuân Tiến hành điều tra theo 01 tuyến với tổng chiều dài 7.740m Độ cao trung bình của khu vực là nghiên cứu là 770
m Tiến hành lập 01 OTC điển hình
Kiểu thảm thực vật trong khu vực: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và rừng non phục hồi sau nương rẫy
+ Khu vực IV: Thuộc khoảnh 5;7 tiểu khu 515, khoảnh 7; 8; 9; 10; 11; 12 tiểu
khu 516, khoảnh 1; 2; 3; 4; 6 tiểu khu 520, khu vực núi đất xen núi đá của xã Vạn Xuân Tiến hành điều tra theo 3 tuyến với tổng chiều dài 22.750m Độ cao trung bình của khu vực là nghiên cứu là 860 m Tiến hành lập 02 OTC điển hình
Kiểu thảm thực vật trong khu vực: Rừng kín thường xanh chủ yếu cây
lá rộng á nhiệt đới núi thấp và rừng non phục hồi sau nương rẫy
Trang 31+ Khu vực V: Thuộc khoảnh 5 của tiểu khu 515, khoảnh 2; 3; 4 của tiểu khu
516 của khu vực núi đất xã Vạn Xuân Tiến hành điều tra theo 01 tuyến với tổng chiều dài 6.200m Độ cao trung bình của khu vực là nghiên cứu là 1.095
m Tiến hành lập 01 OTC điển hình
Kiểu thảm thực vật trong khu vực: Rừng kín thường xanh chủ yếu cây
lá rộng á nhiệt đới núi thấp
- Cách lập OTC: Chúng tôi chọn và lập OTC đại diện nhất, đặc trưng
nhất về ngoại mạo với diện tích 1000m2 Sử dụng dây nilon có màu để định
vị chu vi ô Thông tin thu thập trong OTC: Địa hình, địa mạo, hướng phơi, trạng thái thảm thực vật và tất cả các cá thể thực vật trong OTC Các thông tin
về các cá thể cây gỗ, các loài dây leo, cây bụi, cây tái sinh, thảm cỏ được ghi
cụ thể trong các phụ biểu
Điều tra, thu mẫu các loài Lan quý, hiếm
Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một khu nghiên cứu, nhưng không thể đi hết các điểm trong khu nghiên cứu, vì thế việc chọn tuyến
và điểm thu mẫu là rất cần thiết Trên các tuyến điều tra bố trí ô đo đếm, mỗi trạng thái rừng hoặc mỗi kiểu thảm thực vật rừng của KBT bố trí từ 3 - 5 ô đo đếm Các ô điều tra được thiết lập có diện tích: 500m2 Tổng số ô điều tra đã thực hiện là 34
- Nội dung thu thập trên các tuyến điều tra
+ Thông tin tổng quát về tuyến điều tra:
o Số hiệu tuyến điều tra;
o Hướng tuyến;
o Toạ độ UTM các điểm đo định vị trên tuyến;
o Chiều dài tuyến điều tra;
o Ngày điều tra;
o Người điều tra
Trang 32+ Điều tra phát hiện vị trí phân bố của các loài Lan quý hiếm, tiêu biểu của KBT
- Nội dung thu thập trên các ô, dải điều tra:
+ Thông tin chung cho mỗi ô, dải điều tra:
o Vị trí ô thuộc tuyến điều tra số
o Số hiệu ô, dải điều tra;
o Diện tích ô, dải điều tra;
o Kiểu rừng, độ tàn che;
o Kiểu tác động và mức độ tác động;
o Ngày điều tra;
o Người điều tra
+ Các nội dung điều tra trong ô đo đếm:
Phương pháp quan sát mô tả:
- Chọn những cây (bụi) phát triển tốt, có nhiều nhánh trưởng thành để điều tra (5 cây/loài), mô tả hình thái thân, lá, hoa, quả nếu có
- Quan sát bằng mắt trạng thái vật hậu trong quá trình điều tra thực địa,
sự biến đổi các bộ phận (nhánh, chồi, hoa, quả) của loài
Mẫu phiếu, biểu điều tra có tại phụ lục 1
Phương pháp thu mẫu, xử lý mẫu vật và xác định tên cây:
Thu thập mẫu tiêu bản các loài Lan
Trên các tuyến và ô, dải điều tra, tiến hành thu hái mẫu lá, hoa, quả các loài Lan làm tiêu bản, mỗi loài thu hái ít nhất 3 mẫu Trường hợp đặc biệt loài phát hiện là loài quý hiếm, đặc trưng hoặc nghi ngờ là loài mới thì cần thu thập thập tối thiểu 5 mẫu/loài và phải xác định vị trí lấy mẫu bằng máy định
vị GPS Nếu mẫu đã được thu thập nhưng trong quá trình điều tra phát hiện được có hoa, quả thì phải thu thập lại mẫu của loài đó Cách thu hái mẫu các loài Lan như sau:
Trang 33- Lan là loài cây sống nhờ, sống bám, cây hoại sinh, dùng dao nhỏ hay cưa cắt lấy cả một phần cây chủ Mặt khác, cũng cần lấy mẫu cả cây chủ để phục vụ cho việc nghiên cứu khi cần thiết
- Trong các mẫu của loài được thu thập, chọn và xử lý một mẫu thể hiện được đặc trưng của loài, tiến hành chụp ảnh
- Loài được thu hái mẫu và chụp ảnh sẽ được lập hồ sơ mô tả một số đặc điểm cơ bản thực vật của loài để phục vụ cho việc phân tích, giám định (mỗi loài Lan tiến hành chụp nhiều ảnh cho nhiều mẫu khác nhau để chọn lấy
1 ảnh đáp ứng được yêu cầu)
- Mỗi một mẫu/loài đều được gắn một nhãn riêng Nhãn là một bản giấy ép lastic hình chữ nhật dài khoảng 5 - 6cm, rộng khoảng 3cm, ở đầu có đính chỉ để buộc vào mẫu vật Nội dung của nhãn ghi: số hiệu mẫu; ngày thu hái mẫu; người thu hái mẫu
- Mỗi một số hiệu mẫu đều được kèm theo bản/phiếu mô tả các đặc điểm hình thái riêng Phiếu mô tả là bản ghi lại các thông tin có liên quan đến loài cây được thu thập, nhất là các thông tin dễ bị mất khi khô như mùi vị hay màu sắc hoa, quả, để phục vụ cho công tác giám định và nghiên cứu loài
Giám định mẫu tiêu bản:
Tên loài được giám định bằng phương pháp tra cứu các tài liệu chuyên ngành như: Cây cảnh, hoa Việt Nam của Trần Hợp (1993), Lan Việt Nam của Trần Hợp (1998), Danh lục các loài thực vật Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2005), Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (2000), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2001), Landscape Plants of China của Xing, F.W et al (2009), Bên cạnh đó, chúng tôi cùng các chuyên gia giám định trực tiếp và đối chiếu với mẫu tại Trung tâm
đa dạng sinh học, trường Đại học Lâm nghiệp,
Xử lý mẫu làm tiêu bản:
- Xử lý khô:
Mỗi loài Lan được thu hái và chọn lựa từ 4 - 5 mẫu
Trang 34Mẫu thu hái được vuốt thẳng, giữ đúng hình dáng tự nhiên, đặt vào giữa hai tờ giấy đệm Sau đó, xếp trên mẫu vật 4-5 tờ giấy khác vừa để tạo độ cách giữa các mẫu vật vừa có đủ khả năng hút ẩm Xếp tiêu bản lên một cặp
gỗ với một số lượng mẫu vừa đủ, dày khoảng 15 - 20cm (kể cả giấy đệm), gấp cặp gỗ lại, buộc chặt dây và đưa vào bàn ép Bàn ép gồm hai mảnh gỗ dày, nặng, diện tích 40cm x 60cm Thời gian nén: 1-2 ngày
Sau khi ép tiến hành thay giấy đệm khác khô hơn và phơi nắng vào ngày có nắng và sấy khô vào ban đêm Giấy đệm được thay thường xuyên mỗi ngày 2 - 3 lần cho đến khi mẫu khô hoàn toàn
Sau khi mẫu đã được sấy khô tiến hành chọn lựa một mẫu trình bày trong hộp gỗ
Xử lý ảnh chụp để xây dựng bộ tiêu bản ảnh
Các ảnh chụp ở thực địa sau khi được định danh và giám định chính xác tên loài, sử dụng các phần mềm đồ họa (Photoshop, Corel Draw, Ashampoo Photo Optimizer, ) tiến hành xử lý ảnh và in ảnh
2.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu nội dung 3:
(*) Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của loài lan được tuyển chọn
Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của Lan hài lông.
Thí nghiệm 1: Được thực hiện ở điều kiện không bón phân (chỉ tưới nước lã), số lượng 05 (dò, chậu), mỗi chậu theo dõi 4-5 nhánh và 10 ngày theo dõi 1 lần
Trang 35Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển của loài Hài lông
Thí nghiệm 2: Được thực hiện với 30 chậu lan, 10 ngày theo dõi 1 lần
+ Các công thức thí nghiệm: CT 1(đ/c): Phun nước lã; CT 2: Đầu trâu 902;
CT 3: Milo 3; CT 4: Growmore (20:20:20); CT 5: Multi K; CT 6: Hidrophos + Vật liệu nghiên cứu: 01 giống Lan được tuyển chọn
+ Số chậu thí nghiệm: 30 chậu nghiên cứu, 05 chậu/công thức, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển
+ Thời gian thí nghiệm: 12 tháng
+ Giá thể sử dụng: Than + xơ dừa + xỉ bọt (tỷ lệ 2:1:1), than có kích thước 1,5
- 2cm, Xơ dừa đã qua xử lý
+ Phân bón lá phun định kỳ 1 tuần/lần, nồng độ theo khuyến cáo
* Các chỉ tiêu theo dõi
+ Các chỉ tiêu về thân, chồi:
- Chiều cao cây (cm): đo từ gốc đến phần cao nhất của cây
- Loại hình thân: đơn thân, đa thân, củ giả, giả hành
- Hình dạng thân: hình trụ, quả trám, góc cạnh, củ tròn
- Màu sắc thân cành (cảm quan), kích thước thân, giả hành (cm)
+ Các chỉ tiêu về lá:
- Hình dạng lá: tròn, thuôn dài, hình giáo, giải hẹp
- Đầu lá: phân thuỳ, không phân thuỳ, thuỳ lệch, thuỳ đều, răng cưa
- Số lá (lá/cây): tổng số lá xanh trên cây
- Màu sắc lá: (cảm quan) xanh, xanh nhạt, xanh đậm
- Kích thước lá (cm): chiều dài, chiều rộng lá (đo phần to nhất)
+ Các chỉ tiêu về rễ
- Số rễ (rễ/cây): tổng số rễ của cây
- Đường kính rễ (cm): lấy trung bình của 3 lần đo tại gốc rễ, giữa và đầu rễ
Trang 36- Chiều dài rễ (cm): đo từ gốc rễ đến đầu rễ
+ Các chỉ tiêu về hoa:
- Vị trí ra hoa: nách lá, trục thân, gốc củ, đốt thân
- Dạng hoa: chùm dài, chùm, đơn
- Mùi thơm: thơm, không thơm, ít thơm
- Đặc điểm cánh đài, cánh hoa, cánh môi
- Thời gian nở hoa (ngày)
- Số hoa/ khóm, giò (hoa)
- Đường kính hoa, chùm hoa (cm): đo tại vị trí lớn nhất
- Màu sắc hoa (cảm quan)
- Độ bền hoa (ngày): từ ngày bắt đầu nở đến ngày hoa tàn
+ Tình hình sâu bệnh hại: theo dõi 3 loại bệnh và 2 loại sâu hại
Bệnh hại: Đốm lá (Collettotrichum gloesporiodes); Cháy lá (Phylostica); Thối nhũn (Erwinia carotovara)
Sâu hại: Giòi đục lá (Hydrellia philippina); Sâu róm (Porthesia
scintillans); Sên nhớt (Slug)
Cấp sâu, bệnh hại: theo Tiêu chuẩn 10TCN 224-1995 Nông nghiệp Việt Nam, năm 2001.[4]
2.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu nội dung 4
Để có cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp trong công tác bảo tồn và sử dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu các loài Lan, đề tài sử dụng một số phương pháp sau:
- Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) (theo Gordon Conway, Robert Champers và tập thể, (1980)
để xác định các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây suy giảm đa dạng thực
Trang 37vật: Phương pháp này bao gồm cả điều tra phỏng vấn, tổng hợp và phân tích
số liệu
- Phương pháp xác định mối đe dọa đến các loài Lan quý, hiếm tại địa phương: Mức độ đe dọa tại địa phương của loài thực vật rừng được xác định theo phương pháp của Waldren (1998) - dẫn từ Trần Minh Đức và cộng sự (2010) [8] với 8 tiêu chuẩn và tổng điểm tối đa là 22
Bảng 2.2: Thang điểm xác định mức độ đe dọa của loài ở phạm vi hẹp
3 Độ hấp dẫn
của loài
3.1 Loài không hấp dẫn 3.2.Loài có hoa hay lá hấp dẫn
0
1
2
Trang 387.1.Loài xuất hiện ở nhiều nơi sống khác nhau
7.2 Loài xuất hiện ở một số ít nơi sống 7.3 Loài có nơi sống hẹp
8.3 Loài có nơi sống không chắc còn tồn tại
Trang 39Chương 3 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, hành chính
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 65km về phía Tây Nam Phía Bắc được giới hạn bởi sông Khao, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, giới hạn bởi ngọn Bu Ta Leo, phía Tây giáp Nghệ An, phần còn lại là xã Bát Mọt, phía Đông được giới hạn bởi dòng Bu Ta Leo - Bù Khang và cửa sông Khao gặp sông Chu
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên phân theo địa giới hành chính gồm có 5 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Cẩm, Vạn Xuân, Lương Sơn Với diện tích 23.815,5 ha
Khu BTTN Xuân Liên có hệ động, thực vật rừng đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loại quý hiếm cần được bảo vệ, bảo tồn và phát triển nguồn gen Khu BTTN Xuân Liên còn đóng vai trò quan trọng về phòng hộ đầu nguồn cho đập thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt, công trình thuỷ lợi đập Bái Thượng, cung cấp, điều hoà nguồn nước tưới cho trên 86.000 ha lúa nước, là nguồn nước phục vụ cho hoạt động công nghiệp, sinh hoạt vùng hạ lưu tỉnh Thanh Hoá
3.1.2 Địa hình, địa mạo
Do ảnh hưởng của các quá trình địa chất và tạo sơn lâu dài, liên tục nên địa hình, địa mạo của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên khá phức tạp Núi không cao lắm nhưng dốc ngắn, độ chia cắt khá mãnh liệt Trong phạm vi hẹp xuất hiện cả vùng núi đá xen núi đất, núi đồi, thung lũng Do bị chia cắt bởi sông Khao, sông Chu, sông Đạt, sông Đằn nên địa hình được chia thành 2 tiểu vùng khác nhau bao gồm:
Trang 40- Vùng núi cao gồm các xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, độ cao trung bình từ 500 – 700m, độ dốc từ 250 – 320
- Vùng núi thấp gồm các xã: Lương Sơn, Xuân Cẩm độ cao trung bình
Các nhóm đất phát triển trên các loại đá trầm tích, sa thạch, phiến thạch, bao gồm:
- Đất Feralit mầu vàng phát triển trên đá mẹ sa thạch: Đất Feralit mầu vàng
đỏ phát triển trên đá mẹ phiến thạch; Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá macma acid kết tinh, chua; Nhóm đất dốc tụ ven đồi, ven sông suối, đất phù sa.[20]
3.1.4 Khí hậu, thủy văn
* Thuỷ văn
Tổng lượng dòng chảy của các sông suối vùng đệm là 1.276.448 x 106
m3 Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hoạt động sản xuất và đời sống, nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào mùa mưa nên thường gây ra
lũ quét, xói mòn nghiêm trọng
* Khí hậu
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên thuộc huyện Thường Xuân mang những đặc điểm khí hậu đặc trưng của vùng miền núi phía tây tỉnh Thanh Hoá, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh gần giống vùng đồng bằng sông Hồng