1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn tại thị xã tam điệp, tỉnh ninh bình

105 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG THỊ THU VÂNNÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TẠI THỊ XÃ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Trang 1

HOÀNG THỊ THU VÂN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

TẠI THỊ XÃ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2013

Trang 2

HOÀNG THỊ THU VÂN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

TẠI THỊ XÃ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60620115

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN HÀ

Hà Nội, 2013

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng tài nguyên - môi tr-ờng thuộc UBND thị xã Tam Điệp, phòng Thống kê Tam Điệp, phòng tín dụng - Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tam Điệp, phòng tín dụng - Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh Tam Điệp và các hộ dân thuộc xã

Đông Sơn, xã Yên Sơn và xã Yên Bình thuộc thị xã Tam Điệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, ng-ời thân, bạn bè đồng nghiệp đã cổ vũ động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thu Vân

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và ch-a hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong luận văn này đã đ-ợc cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã đ-ợc chỉ rõ nguồn gốc

Ng-ời cam đoan

Hoàng Thị Thu Vân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt v

Danh mục các bảng …… vi

Danh mục các hình … vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG 4

1.1 Cơ sở khoa học về tín dụng và hiệu quả tín dụng 4

1.1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2 Tổng quan tài liệu đã nghiên cứu về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn 29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN THỊ XÃ TAM ĐIỆP VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 35

2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu, địa hình 35

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40

2.1.3 Đánh giá chung về ảnh hưởng của điều kiện TN-KT-XH đến phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn tại thị xã Tam Điệp 43

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 45

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 46

2.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 47

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

3.1 Thực trạng hoạt động tín dụng thị xã Tam Điệp 50 3.1.1 Tình hình cung ứng vốn tín dụng đầu tư cho phát triển kinh tế nông

Trang 6

nghiệp, nông thôn của Ngân hàng CSXH thị xã Tam Điệp 50

3.1.2 Tình hình cung ứng vốn tín dụng đầu tư cho phát triển kinh tế nông nghiệp của Ngân hàng NNo&PTNT thị xã Tam Điệp 58

3.2 Tình hình sử dụng vốn vay của các hộ nông dân 64

3.2.1 Đặc điểm của các hộ được điều tra 64

3.2.2 Nhu cầu vay vốn của các hộ điều tra 68

3.2.3 Tình hình sử dụng vốn vay cho sản xuất kinh doanh của các hộ điều tra71 3.3 Hiệu quả của hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân 73

3.3.1 Tín dụng góp phần nâng cao thu nhập của hộ nông dân 73

3.3.2 Tín dụng góp phần giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo 74

3.3.3 Tín dụng góp phần cải thiện điều kiện sống của hộ nông dân 75

3.3.4 Các nhân tố chủ yếu tác động đến thu nhập của hộ 78

3.4 Định hướng, mục tiêu phát triển hoạt động tín dụng nông thôn 78

3.5 Giải pháp về tăng hiệu quả sử dụng vốn tín dụng 81

3.5.1 Giải pháp cho các nhóm hộ 81

3.5.2 Giải pháp về thị trường vốn tín dụng 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

1 Kết luận: 85

2 Khuyến nghị 86

2.1 Với các cơ quan quản lý 86

2.2 Với các hộ vay vốn tín dụng 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

6 NHNNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn

7 NHTMCP Ngân hàng Thương mại cổ phần

8 TN - KT - XH Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Bảng phân tích biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng trên địa

bàn thị xã Tam Điệp 37 2.2 Cơ cấu sử dụng đất thị xã Tam Điệp giai đoạn 2009-2011 39 3.1 Tổng hợp tình hình cho vay, thu nợ, dư nợ ngân hàng CSXH 51

3.2 Diễn biến nguồn vốn và dư nợ qua 3 năm hoạt động (2009 – 2011)

của Ngân hàng CSXH thị xã Tam Điệp 56

3.3 Tổng hợp tình hình cho vay theo thời gian và theo thành phần kinh tế

của ngân hàng NNo&PTNT thị xã Tam Điệp giai đoạn 2009 – 2011 59

3.4 Tình hình cho vay theo thành phần kinh tế của ngân hàng

NNo&PTNT thị xã Tam Điệp giai đoạn 2009 – 2011 61 3.5 Số hộ vay vốn của Ngân hàng NNo&PTNT tx Tam Điệp 62 3.6 Dư nợ và doanh số thu nợ của Ngân hàng NNo&PTNT Tam Điệp 63

3.8 Thông tin về giá trị tài sản của các hộ điều tra 67

3.9 Tỷ lệ nhu cầu vay vốn của các nhóm hộ được điều tra với các mức lãi

Báo cáo kết quả điều tra khảo sát về một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng CSXH thị xã Tam Điệp giai đoạn

2009 - 2011

77

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Bản đồ hành chính Thị xã Tam Điệp 36 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2011 của thị xã Tam Điệp 40

3.1 Cơ cấu tổng doanh số cho vay 3 năm 2009 – 2011 của ngân hàng

3.2 Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn ngân hàng CSXH Thị xã Tam Điệp 57

3.3 Doanh số cho vay theo ngành kinh tế của ngân hàng NNo&PTNT

thị xã Tam Điệp giai đoạn 2009 - 2011 60

3.4 Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế của Ngân hàng

NNo&PTNT thị xã Tam Điệp giai đoạn 2009 - 2011 61 3.5 Cơ cấu hộ sử dụng vốn theo mục đích sử dụng từng ngành sản xuất 71 3.6 Cơ cấu lượng vốn vay sử dụng cho từng ngành sản xuất 72 3.7 Kết quả điều tra hiệu quả tín dụng ngân hàng CSXH TX Tam Điệp

tại 3 xã Đông Sơn, Yên Sơn, Yên Bình của thị xã Tam Điệp 78

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Muốn mở rộng phát triển bất kỳ ngành kinh tế nào cũng cần có vốn, vốn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất Để đáp ứng được nhu cầu vốn cho tất

cả các ngành, các khu vực kinh tế đặc biệt với ngành nông nghiệp ở khu vực nông thôn miền núi nhiều khó khăn, Nhà nước cần có những chính sách tín dụng hiệu quả thông qua các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội, các tổ chức tín dụng, tổ chức xã hội… cho vay vốn bằng nhiều hình thức và phương thức để đáp ứng nhu cầu cho người sản xuất và kinh doanh

Thời gian qua, cùng với việc đổi mới chính sách tài chính tiền tệ nói chung thì chính sách tín dụng nói riêng đã có những đổi mới căn bản trên nhiều mặt Luật Ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội thông qua làm cơ sở pháp lý cho quản lý tiền tệ và thực thi chính sách tín dụng Nhà nước đang rất quan tâm đến các chính sách tài chính tín dụng, vì đã xác định được trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay vốn là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định đến khả năng

mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế theo hướng CNH - HĐH Tuy nhiên, nguồn vốn chưa được sử dụng hiệu quả, cần có những đánh giá khách quan về thực trạng của hoạt động tín dụng để từ đó có cơ sở thực tiễn đề xuất giải pháp tích cực huy động và sử dụng nguồn vốn

Tam Điệp là Thị xã miền núi nằm ở phía Tây - Nam tỉnh Ninh Bình trên trục Quốc lộ 1A, là nơi giao lưu giữa phía Bắc Trung Bộ và phía Nam đồng bằng Bắc

Bộ Thị xã Tam Điệp thuộc vùng bán sơn địa, có địa hình phức tạp, nhiều núi đá vôi, đồi dốc, ruộng trũng, gồm có 4 xã và 5 phường Là thị xã có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nhưng chưa được khai thác hết lợi thế, cơ sở hạ tầng và kinh tế hộ nông dân vẫn còn nhiều khó khăn Một trong những nguyên nhân quan trọng là vấn

đề vốn cho phát triển kinh tế hộ nông dân còn gặp nhiều trở ngại Vì đầu tư cho sản xuất nông nghiệp khó thu hồi vốn, rủi ro cao và hiệu quả kinh tế rất thấp Hơn nữa, người nông dân quen với phương thức sản xuất cũ, với tâm lý tiểu nông không mạnh dạn đầu tư sản xuất Yêu cầu hiện nay là cần có đánh giá tổng quan về thực

Trang 11

trạng hoạt động tín dụng ở địa phương, những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân từ đó đưa ra chính sách thích hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn trên địa bàn Vì những lý do đó tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài "Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân trong phát triển

nông nghiệp, nông thôn tại thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình"

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài thực hiện nhằm tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, góp phần ổn định và nâng cao đời sống; xóa đói, giảm nghèo cho người dân trong khu vực thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

+ Đề xuất một số giải pháp về hoạt động tín dụng nhằm phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của các hộ nông dân trong nông nghiệp, nông thôn tại thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

+ Những hộ nông dân có vay vốn của ngân hàng cho sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nông thôn của thị xã Tam Điệp

+ Hoạt động cung ứng tín dụng của ngân hàng cho hộ nông dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nông thôn của thị xã Tam Điệp

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.2.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu:

Trang 12

- Hoạt động cho vay tín dụng của 2 ngân hàng: Ngân hàng Chính sách Xã hội TX Tam Điệp và Ngân hàng NNo&PTNT TX Tam Điệp

- Ảnh hưởng của tín dụng đến thu nhập của hộ nông dân từ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ và một số hoạt động khác

3.2.2 Phạm vi về không gian

Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại:

- Ngân hàng Chính sách Xã hội thị xã Tam Điệp;

- Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn thị xã Tam Điệp

- 3 xã của thị xã Tam Điệp là: Xã Yên Sơn, xã Đông Sơn, xã Yên Bình

3.2.3 Phạm vi về thời gian

Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng trong giai đoạn 2009-2011

Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2011

4 Nội dung của luận văn

Bố cục luận văn gồm các phần sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng

Chương 2: Đặc điểm cơ bản thị xã Tam Điệp và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết luận và khuyến nghị

Trang 13

Một cách tiếp cận đầy đủ hơn, tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh

tế hàng hóa, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa người sở hữu với người sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lợi tức khi đến hạn

Theo Lê Văn Tề (2006), tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vận động” Như vậy, sự hoàn trả là đặc trưng mang bản chất vận động của hoạt động tín dụng

Trang 14

c Vai trò của tín dụng

Trong nền kinh tế hàng hoá thị trường sự tồn tại của hoạt động tín dụng là một tất yếu khách quan không thể thiếu Hoạt động tín dụng đã ra đời từ rất sớm và luôn tồn tại song song với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Khi kinh tế phát triển càng mạnh thì vai trò của tín dụng càng trở nên quan trọng

Xã hội nào có sản xuất hàng hoá thì ở đó, tất yếu có hoạt động của tín dụng Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, sản xuất hàng hoá phát triển mạnh mẽ, cùng với sự tồn tại các mối quan hệ cung - cầu về hàng hoá, vật tư, lao động thì quan hệ cung cầu về tiền vốn đã xuất hiện và ngày một phát triển Nguồn cung về vốn hình thành khi các doanh nghiệp, người dân có thu nhập cao hơn nhu cầu tiêu dùng lúc

đó sẽ có tích luỹ, họ muốn cho vay để sinh lời Cầu về vốn khi nhu cầu chi tiêu lớn hơn thu nhập, các doanh nghiệp và các hộ sản xuất cần vốn cho hoạt động kinh doanh Họ chấp nhận vay vốn với lãi suất nhất định để được sử dụng vốn Trong cơ chế thị trường cần thiết phải có sự giao lưu vốn giữa những người cần vốn và những người có vốn, đó là nhu cầu của cả hai bên đi vay và cho vay

d Các hình thức tín dụng

- Căn cứ vào thời gian có 3 loại:

+ Tín dụng ngắn hạn (có thời hạn cho vay dưới 12 tháng)

+ Tín dụng trung hạn (thời hạn cho vay từ 1 năm đến 3 năm)

+ Tín dụng dài hạn (thời hạn cho vay trên 3 năm)

- Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng: Có các loại sau:

+ Tín dụng thương mại: Quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá Cơ sở pháp lý để xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy nợ Loại giấy này được gọi là kỳ phiếu thương mại hay thương phiếu

+ Tín dụng ngân hàng: Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân Đặc điểm của loại hình tín dụng này là huy động và cho vay đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ

Trang 15

+ Tín dụng thuê mua: Quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp (người thuê) với các tổ chức tín dụng thuê mua (các công ty tín dụng thuê mua) Được áp dụng với các khoản đầu tư vào tài sản cố định Đây là hình thức tín dụng được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, lãi suất vốn tín dụng ở hình thức này cao hơn so với lãi suất tín dụng trung hạn và dài hạn

+ Tín dụng Nhà nước: Quan hệ tín dụng giữa Nhà nước và các tầng lớp dân

cư hoặc các tổ chức kinh tế - xã hội Nhà nước đi vay bằng cách phát hành trái phiếu và cho vay thông qua các quỹ từ Kho bạc Nhà nước

Một số hình thức tín dụng khác như: Tín dụng tư nhân, cá nhân (quan hệ giữa cá nhân với tư nhân cho vay nặng lãi, hoặc giữa cá nhân với nhau); bán trả góp; dịch vụ cầm đồ; bán non nông sản hàng hoá

- Căn cứ vào mục đích vay, có các loại

+ Cho vay bất động sản: Mua sắm và xây dựng bất động sản

+ Cho vay công nghiệp, thương mại: Cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu

động cho danh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ

+ Cho vay nông nghiệp: Cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nông nghiệp; cho vay cá nhân (đáp ứng nhu cầu tiêu dùng)

- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

+ Cho vay không đảm bảo: Là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ đảm bảo

+ Cho vay có đảm bảo: Là cho vay được ngân hàng cung ứng, phải có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba

- Căn cứ vào phương thức hoàn trả: Gồm 2 loại:

+ Cho vay trả góp : Là khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ Loại cho vay này chủ yếu áp dụng cho vay bất động sản nhà ở, cho vay tiêu dùng

Trang 16

+ Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: Cho vay thanh toán một lần theo kỳ hạn thoả thuận

- Căn cứ vào biểu hiện vốn vay: Có 2 loại:

+ Tín dụng bằng tiền

+ Tín dụng bằng hiện vật (hàng hoá, tài sản)

- Căn cứ vào tính pháp lý của hoạt động vay vốn, có 2 loại

Lãi suất tín dụng trong kỳ = Tổng lợi tức tín dụng trong kỳ

Tổng số tiền cho vay trong kỳ

Có nhiều loại lãi suất như: Lãi suất tiền vay; lãi suất tiền gửi; lãi suất tái cấp vốn; lãi suất liên ngân hàng, v.v

Theo John Maynard Keynes (1948) "Lý thuyết tổng quát về lãi suất và tiền tệ", lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất - cầu về vốn cho mục đích đầu tư và tiết kiệm

b Tác động của lãi suất tới nền kinh tế

Thông qua vay nợ, khi lãi suất tăng sẽ làm giảm vay nợ Cá nhân giảm đi vay

và tăng gửi tiết kiệm, do đó giảm tiêu dùng và tác động tiêu cực tới tổng cầu Doanh

Trang 17

nghiệp giảm vay mới dẫn đến giảm đầu tư mới, nên tác động tiêu cực tới tổng cầu Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thời của doanh nghiệp tăng, có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất; do

đó tác động tiêu cực tới tổng cầu Doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm lương hoặc cắt giảm lao động dẫn đến thu nhập của người lao động cũng giảm Điều này khiến

họ giảm tiêu dùng Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực Đối với hoạt động vay cầm

cố, khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu vay tiêu dùng, ảnh hưởng tiêu cực tới tổng cầu Nó còn khiến cho việc trả nợ các khoản vay cầm cố hiện thời trở nên khó khăn hơn khiến người đi vay phải giảm tiêu dùng để còn trả nợ Tổng cầu vì thế chịu tác động tiêu cực, gây suy giảm nền kinh tế

Thông qua tỷ giá hối đoái, lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ở nước ngoài sẽ khiến cho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước Điều này làm cho tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống, đồng nội tệ mất giá, giá thành sản phẩm trong nước sẽ tăng lên Xuất khẩu ròng vì thế giảm đi, khiến cho tổng cầu trong nước giảm theo

1.1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng

Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt nhưng nó vẫn chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, và lãi suất đóng vai trò điều tiết lượng cung cầu tiền tệ giống như giá

Trang 18

Dựa trên Hình 1.1 ta thấy, tại điểm cân bằng H của thị trường, ta có lãi suất cân bằng io, lượng cung và lượng cầu bằng nhau và bằng Qo Khi lãi suất tăng lượng cung tiền sẽ tăng (biểu hiện ở đường cung tiền S) Ngược lại, khi lãi suất tăng lượng cầu tiền giảm (biểu hiện ở đường cầu tiền D)

a Ảnh hưởng của lãi suất và thu nhập đến cung, cầu tiền tệ

- Lãi suất tiền gửi ngân hàng: Trong khoản tiền tích lũy, người dân có hai cách sử dụng khoản tiền đó Thứ nhất là đem đầu tư và thứ hai là đem gửi ngân hàng Lúc này họ sẽ xem xét tới lãi suất: Nếu lãi suất gửi ngân hàng mà lớn hơn mức lợi nhuận thu được từ các dự án đầu tư thì người dân sẽ chọn phương án gửi tiền vào ngân hàng Ngược lại, nếu mức lợi nhuận thu được từ đầu tư cao hơn mức lợi nhuận mà khoản tiền đó đem lại từ việc gửi ngân hàng thì họ sẽ chọn phương án ngược lại (dành tiền đó đem đầu tư)

- Thu nhập: Thu nhập của người dân được chia ra làm hai phần: Tiêu dùng

và tích lũy Nếu dân cư có thu nhập cao, khoản tiền họ dành cho tiêu dùng và tích lũy sẽ nhiều hơn Khi có tích luỹ nhiều người dân sẽ có nguồn cho đầu tư hoặc gửi ngân hàng Ngược lại, khi thu nhập thấp sẽ dành đa số cho chi tiêu, tích lũy rất ít hoặc tích luỹ âm

b Môi trường vĩ mô

- Chủ trương chính sách của Nhà nước: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc điều tiết thị trường tín dụng Nhà nước thông qua Ngân hàng Nhà nước để điều phối hoạt động của các Ngân hàng thương mại Khi lạm phát tăng, lượng cung tiền lớn hơn cầu, Nhà nước nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm lượng cung tiền ở các ngân hàng thương mại, đồng thời tăng lãi suất để thu hút lượng tiền gửi vào ngân hàng Khi đầu tư giảm lượng cung tiền lớn hơn cầu, Nhà nước quy định mức lãi suất giảm để khuyến khích đầu tư

- Tác động khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới: Khi Việt Nam chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) sẽ có nhiều tập đoàn tài chính đầu tư vào Việt Nam Hoạt động của thị trường tài chính sôi động và gay gắt hơn Các ngân hàng thương mại trong nước sẽ ít được sự hậu thuẫn của Nhà nước hơn

Trang 19

c Môi trường vi mô

- Khả năng đáp ứng vốn của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, khả năng cung ứng vốn, khả năng tiếp cận với khách hàng Sự hỗ trợ của các tổ chức chính trị - xã hội của địa phương

- Trình độ và quy mô sản xuất nông nghiệp của địa phương: Những vùng có quy mô sản xuất lớn, người nông dân có trình độ có kinh nghiệm mạnh dạn hơn trong đầu tư sản xuất sẽ cần nhiều vốn và thu nhập cao hơn sẽ tạo ra nhiều tích luỹ hơn

- Ngành nghề của địa phương: Địa phương chỉ sản xuất nông nghiệp thuần tuý, hay tham gia nhiều ngành nghề phụ khác

1.1.1.4 Hiệu quả tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn

a Khái niệm nông nghiệp, nông thôn

“Nông nghiệp” là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao

gồm các lĩnh vực nông, lâm, tiểu thủ công nghiệp và thủy sản Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm

để thoả mãn các nhu cầu của mình Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp

Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán đã có từ hàng nghìn năm nay

Ở các nước nghèo, nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội

“Nông thôn” là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,

Trang 20

thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn

Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành kinh tế như: Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Xét về mặt kinh tế - xã hội, kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các vùng như: Vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây màu, vùng trồng cây ăn quả

b Khái niệm hiệu quả tín dụng

Hiệu quả tín dụng là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội Có thể hiểu hiệu quả tín dụng đối là sự thoả mãn nhu cầu

về sử dụng vốn giữa chủ thể ngân hàng và người vay vốn, những lợi ích kinh tế mà

xã hội thu được và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng

Xét về mặt kinh tế:

- Tín dụng giúp người nông dân thoát khỏi khó khăn, đói nghèo, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng và trở nên giàu có Góp phần nâng cao đời sống nhân dân đặc biệt là hộ nghèo, giảm tỷ lệ đói nghèo, phục vụ cho sự phát triển và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trính tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế

- Giúp cho người dân xác định rõ trách nhiệm của mình trong quan hệ vay mượn, khuyến khích họ sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh tạo thu nhập để trả

nợ ngân hàng, tránh sự hiểu nhầm tín dụng là cấp phát

Trang 21

Xét về mặt xã hội:

- Tín dụng góp phần xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi cuộc sống ở nông thôn, an ninh, trật tự, an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực Tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn

- Tăng cường sự gắn bó giữa các hội viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế gia đình Nêu cao tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường tình làng nghĩa xóm, tạo niềm tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước

- Góp phần trực tiếp vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề, dịch vụ mới trong nông nghiệp đã góp phần thực hiện phân công lại lao động trong nông nghiệp và lao động

đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ:

Một là, chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn đã thực

sự khơi thông dòng chảy tín dụng về nông thôn Nếu như tại thời điểm trước khi ban hành Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg (cuối năm 1998), dư nợ tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn chỉ đạt 34.000 tỷ đồng, thì sau 10 năm (cuối năm 2009), dư nợ tín dụng cho vay khu vực này của ngành Ngân hàng đã tăng gấp gần 9 lần và đạt hơn 292.919 tỷ đồng Tính chung, tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn bình quân trong 10 năm là 21,78% Cơ cấu nợ cũng đã được cải thiện theo hướng tăng dần tỷ trọng đầu tư vốn trung và dài hạn Năm 2009, cho vay trung và dài hạn chiếm khoảng40%, cho vay ngắn hạn chiếm 60% Chất lượng tín dụng cho vay nông nghiệp được đảm bảo, nợ xấu được duy trì ở mức thấp

Trang 22

Hai là, chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn đã tạo

điều kiện cho hàng chục triệu lượt hộ nông dân và các đối tượng khách hàng khác ở nông thôn tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng, đẩy lùi tình trạng cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn Các hộ nông dân thực sự trở thành chủ thể sản xuất kinh doanh, bình đẳng đối với các đối tượng khách hàng khác trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng Nhiều người nhờ nguồn vốn vay ngân hàng đã thoát nghèo và làm giàu bằng chính các sản phẩm nông nghiệp trên quê hương mình Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn từng bước được đổi mới theo hướng văn minh, hiện đại

Ba là, chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn đã thực

sự làm thay đổi và dịch chuyển cơ cấu kinh tế các vùng, ngành, theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao Nguồn vốn tín dụng đã góp phần tạo sự phát triển vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế

Bốn là, chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn đã thu

hút được sự tham gia tích cực của các tổ chức tín dụng, với vai trò chủ đạo là hệ thống các ngân hàng thương mại nhà nước Màng lưới giao dịch của các tổ chức tín dụng được phát triển với nhiều hình thức đa dạng và mở rộng đến các hộ dân ở vùng sâu, vùng xa, trong đó, đóng vai trò quan trọng nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với dư nợ cho vay đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 70% tổng dư nợ lĩnh vực này của cả hệ thống ngân hàng Hiện nay, ngân hàng này có trên 2.300 điểm giao dịch cố định, trên 1.000 xe ô tô giao dịch lưu động để phục vụ giải ngân cho các xã, trung bình cứ 2 – 3 xã có một điểm giao dịch Bên cạnh đó là sự tham gia tích cực của Ngân hàng Chính sách xã hội và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân với hơn 1.000 quỹ hoạt động chủ yếu tại khu vực nông thôn

Năm là, bên cạnh việc cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất của các hộ

dân thì tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn đã góp phần đưa tín dụng ngân hàng đến tay người nghèo theo các chương trình kinh tế, cho vay ưu đãi, góp

Trang 23

phần xóa đói giảm nghèo ở một bộ phận nông dân gặp khó khăn và bảo đảm an sinh

xã hội ở nông thôn

Sáu là, chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn đã tạo

điều kiện xã hội hóa hoạt động tín dụng Nhiều tổ chức chính trị xã hội như Hội Phụ

nữ, Đoàn Thanh niên… đã trở thành thành viên tích cực tham gia vào quá trình đưa vốn tín dụng ngân hàng đến tận hộ nông dân Việc tương trợ, liên kết, giúp đỡ nhau sản xuất, hướng dẫn sử dụng vốn giữa các thành viên trong Hội cùng với sự hỗ trợ

từ các tổ chức tín dụng đã góp phần giúp người nông dân sử dụng đồng vốn hiệu quả hơn

Bên cạnh những kết quả to lớn mà tín dụng mang lại thì nó vẫn còn một số hạn chế:

- Hoạt động tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn là hoạt động có tính rủi

ro cao Ngoài những nguyên nhân khách quan như thiên tai, bão lụt, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi thường xẩy ra trên diện rộng, thiệt hại lớn còn là những nguyên nhân khác từ bản thân hộ nông dân như: Thiếu kiến thức làm ăn, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, sức cạnh tranh kém, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư dẫn đến nghèo khó

- Do cơ sở hạ tầng kém phát triển, xuống cấp nặng nề gây khó khăn cho việc giao thương, buôn bán và vận tải hàng hóa nên nhiều hộ chưa có điều kiện sử dụng vốn ngân hàng, hơn nữa trình độ dân trí chưa cao là những cản trở cho việc thực hiện các chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn

- Vốn tín dụng ngân hàng chưa đồng bộ với các giải pháp khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, cung cấp vật tư kỹ thuật cho sản xuất và tổ chức thị trường, lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội đối với nông nghiệp, nông thôn Nông dân còn nhiều vấn đề khó khăn nên điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế còn nhiều tồn tại, vốn và hiệu quả đầu tư thấp

- Việc xác định đối tượng được vay vốn còn những bất cập: Với hộ nghèo thì theo cơ chế phải là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng việc bình nghị và xét chọn từ Uỷ ban Nhân dân xã do Ban XĐGN lập danh sách đơn thuần chỉ là danh

Trang 24

sách hộ nghèo, việc bình xét hộ nghèo còn mang tính chủ quan của người tham gia bình chọn, dẫn đến có hộ thu nhập khá mà vẫn là hộ nghèo Nhiều hộ không có điều kiện và năng lực tổ chức sản xuất, hộ nghèo thuộc diện cứu trợ xã hội hoặc có những hộ không thuộc hộ nghèo cũng trong danh sách được vay vốn Với hộ trung bình và hộ khá kỳ trước hộ vay làm ăn nhưng bị thua lỗ chưa trả hết nợ vẫn đến kỳ này vẫn được vay tiếp và vay nhiều hơn

- Phương thức đầu tư chưa phong phú dẫn đến việc sử dụng vốn vay sai mục đích, vốn vay không phát huy hiệu quả, ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư vốn

1.1.1.5 Hộ nông dân với tín dụng

a Khái niệm hộ nông dân

Hộ nông dân trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một gia đình

có tên trong một bản kê khai hộ khẩu riêng, gồm có một người làm chủ hộ và các người cùng sống trong hộ gia đình ấy

Về mặt kinh tế, hộ gia đình có một mối quan hệ gắn bó không phân biệt về mặt tài sản, những người sống chung trong một hộ gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ góp công sức vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất đạt được Nếu sản xuất có hiệu quả cao sản phẩm thu được, người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp các chi phí đã bỏ ra, đóng góp nghĩa

vụ với Nhà nước theo quy định, phần thu nhập còn lại được sử dụng để trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của gia đình và phát triển sản xuất

Hộ nông dân Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam Hộ nông dân Việt Nam gắn bó, có tính chất truyền thống cả hai mặt vật chất và tinh thần, có quyền lợi cùng hưởng, có khó khăn cùng chịu Sản xuất hộ nông dân vẫn còn là sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp Sản xuất hàng hoá còn rất hạn chế, năng suất lao động thấp, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Việc phát triển ngành nghề phụ chưa phát triển

b Đặc điểm của hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân

Đặc điểm của hộ nông dân

Trang 25

+ Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng

+ Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ

tự cấp, tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường

Đặc điểm kinh tế hộ nông dân

Kinh tế nông hộ nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc điểm:

- Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Nhờ giá trị xã hội của nông dân hướng vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất

- Nhờ việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân

- Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời gian lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc lột sức lao động)

- Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro cao và hiệu quả đầu tư thấp

- Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập

- Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của toàn

xã hội thông qua địa tô, thuế và sự chênh lệch về giá cả Các tiến bộ kỹ thuật làm giảm giá trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cả của sản phẩm nông nghiệp Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơn giản nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài

- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau

- Lý thuyết về doanh nghiệp gia đình nông dân, coi hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình Do đó các khái niệm kinh tế thông thường không áp dụng được cho kiểu doanh nghiệp này Do không thuê lao động nên hộ nông dân không có khái niệm tiền lương và tiếp theo là không thể tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung của tất cả hoạt động kinh tế của gia đình là giá trị sản lượng hàng năm trừ đi chi phí

Trang 26

Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình

a Một số nước trên thế giới

- Hoạt động tín dụng nông thôn ở Trung Quốc

Trung Quốc hiện có gần 1,34 tỷ dân năm 2011, kết quả thống kê cho thấy 665,57 triệu người (49,68%) - tức gần một nửa dân số Trung Quốc - hiện đang sinh sống tại thành thị, người dân trên 60 tuổi (13,3% tổng số dân) tăng 3% kể từ năm 2000 Những người dưới 14 tuổi chiếm tỷ lệ 16,6% vì vậy nông nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Sau 33 năm cùng với tiến trình cải cách mở cửa (1978 - 2011), nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hóa

và bền vững Trước tình trạng giá lương thực trong nước leo thang, khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn, Trung Quốc đang tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng tham gia vào hoạt động cấp vốn cho nông dân Chính phủ Trung Quốc thực hiện những nỗ lực đưa vốn đến vùng nông thôn trong lúc lạm phát ở nước này đạt mức kỷ lục 6,5%, cao nhất trong vòng 12 năm qua, mà nguyên nhân chính là do giá lương thực leo thang

Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng ổn định, sản lượng lương thực liên tục tăng trong 8 năm liền Khu vực I (nông nghiệp) đạt 4.771,2 tỷ nhân dân tệ (NDT), tăng trưởng 4,5%; khu vực II (công nghiệp và xây dựng) đạt 22.059,2 tỷ NDT, tăng trưởng 10,6%; khu vực III (dịch vụ) đạt 20.326 tỷ NDT, tăng trưởng 8,9% Như

Trang 27

vậy, tỷ trọng khu vực I trong GDP là 10,12%, có thể thấy tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế vẫn rất cao (ở các nước phát triển chỉ khoảng 1% - 3%) Cả năm tổng sản lượng lương thực đạt tới 571,21 triệu tấn, tăng 24,73 triệu tấn so với năm trước, tăng trưởng 4,5%, liên tục tăng trong 8 năm liền Sản lượng thịt các loại tăng chậm, cả năm sản lượng thịt lợn, bò, dê,… đạt 78,03 triệu tấn, tăng trưởng 0,3% so với năm trước Trong đó, riêng sản lượng thịt lợn lại giảm 0,4 % so với năm trước đạt 50,53 triệu tấn Đây là một trong những nhân tố khiến giá thịt lợn tăng chóng mặt trong thời gian giữa năm 2011, góp phần đẩy lạm phát lên cao kỷ lục 6,5% vào tháng 7-2011

Trung Quốc cho phép các công ty nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước được thành lập ngân hàng và công ty cho vay ở nông thôn từ tháng 12-2006 Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài vẫn phải giám sát hoạt động của các đơn vị kinh doanh này thông qua pháp nhân nước ngoài với các nhóm làm việc độc lập cho từng đơn vị Năm 2006, Chính phủ Trung Quốc cũng đã mở rộng một kế hoạch thử nghiệm thành lập bảy công ty cho vay nhỏ ở một số tỉnh nông nghiệp như Sơn Tây,

Tứ Xuyên Đến nay, số công ty cho vay nhỏ ở các tỉnh này đã tăng lên đến khoảng

380 Ủy ban Pháp chế ngân hàng của Trung Quốc (CBRC) và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã ban hành một số hướng dẫn nhằm bỏ bớt một số rào cản xung quanh việc xác định loại hình công ty cho vay ở nông thôn, các nguồn vốn huy động của các tổ chức này và các vấn đề khác như quy trình xử lý tình trạng phá sản chẳng hạn Theo các hướng dẫn mới này, các công ty cho vay nhỏ có thể huy động vốn từ hai ngân hàng trở lên bên cạnh các kênh huy động truyền thống như cổ đông

và các nguồn viện trợ Để khuyến khích các công ty cho vay nhỏ ấn định lãi suất cho vay phù hợp với rủi ro tín dụng, Chính phủ Trung Quốc cũng cho phép các công ty này có thể thu lãi cho vay cao hơn chi phí huy động đến bốn lần và tối thiểu bằng 0,9 lần mức lãi suất cho vay thời hạn một năm do PBoC ấn định (hiện nay là 7,47%, mức cao nhất trong chín năm trở lại đây) Nhờ đó, UA Easy Lenders, một trong những công ty cho vay nhỏ thử nghiệm đầu tiên ở Trung Quốc, hiện đang cho vay với lãi suất 27,6%/năm [Du Zhixiong (1998).]

Trang 28

- Ngân hàng Grameen ở Bangladesh

Ngân hàng Grameen (GB) là định chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới về tín

dụng nông thôn GB có mạng lưới chi nhánh rộng khắp đến tận cấp cơ sở, mỗi chi nhánh phục vụ từ 15 đến 22 làng Đối tượng phục vụ là các gia đình có chưa đến 0,2

ha đất Để vay được tín dụng, người trong những gia đình đủ tiêu chuẩn sẽ lập nhóm gồm năm người có hoàn cảnh kinh tế và xã hội gần giống nhau Thông thường, mỗi gia đình chỉ được phép có một người tham gia một nhóm Do đó, các thành viên của một gia đình hay thậm chí cả bà con thân thuộc không thể nằm chung trong một nhóm Mỗi nhóm bầu một trưởng nhóm và một thư ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần Sau khi nhóm được thành lập, một nhân viên ngân hàng sẽ đến thăm gia đình và kiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập và thông tin khác

Khoảng năm hoặc sáu nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địa phương Từ các trưởng nhóm sẽ bầu ra Trưởng trung tâm, là người chịu trách nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu về kỷ cương của ngân hàng và chủ trì cuộc họp hàng tuần Tất cả các thành viên sẽ dự một khóa hướng dẫn kéo dài một tuần, mỗi ngày hai giờ Các nhân viên ngân hàng sẽ giải thích quy định của Grameen, quyền và nghĩa vụ của thành viên Sau khi kết thúc khóa học và nếu đạt yêu cầu, mỗi người được cấp giấy chứng nhận là thành viên chính thức Trước khi đủ tiêu chuẩn vay tiền, mọi thành viên phải chứng tỏ tính thành thực và tính đoàn kết bằng cách tham

dự tất cả các buổi họp nhóm trong ba tuần kế tiếp Các thành viên mù chữ cũng được dạy cách ký tên Các thành viên không cần phải đến trụ sở ngân hàng để giao dịch Nhân viên ngân hàng đến với họ tại những buổi họp hàng tuần để cấp tiền vay, thu tiền trả nợ và vào sổ sách ngay tại trung tâm Có cả các nhân viên nữ để làm việc với khách hàng nữ

Grameen đặc biệt nhấn mạnh những khía cạnh xã hội và con người trong quá trình phát triển của người nghèo, chứ không chỉ dừng lại ở chương trình tiết kiệm - tín dụng thông thường Nhiều nghiên cứu đánh giá rằng Grameen cải thiện tính đoàn kết giữa các thành viên, nâng cao ý thức của họ, khuyến khích họ lập những

Trang 29

trường học quy mô nhỏ và tổ chức các sự kiện thể thao cho con cái họ, loại bỏ tập tục của hồi môn, phòng chống những bệnh thường gặp như tiêu chảy và chứng quáng gà ở trẻ em, và chống những bất công trong xã hội Phần lớn những cam kết này được nêu trong “16 quyết định” mà thành viên nào cũng thuộc làu, thể hiện quyết tâm xây dựng một cuộc sống đàng hoàng và một xã hội tươi đẹp hơn [Tilakaratna (1996).]

- Hệ thống ngân hàng làng xã của Bank Rakyat Indonesia

Năm 1984, ngân hàng quốc doanh chuyên về phát triển nông nghiệp Bank Rakyat Indonesia (BRI) thành lập hệ thống Unit Desa (UD), tức là ngân hàng làng

xã Tuy trực thuộc BRI, UD là đơn vị hạch toán độc lập có lãi, và toàn quyền quyết định chủ trương hoạt động kinh doanh Hệ thống UD dựa vào mạng lưới chân rết các đại lý tại các làng xã, hiểu biết rõ về địa phương và nắm thông tin về các đối tượng đi vay Phần lớn các khoản cho vay không cần thế chấp dựa trên giả định là

uy tín tại địa phương đủ quan trọng để bảo đảm tránh vỡ nợ Hơn nữa, có nhiều chương trình khuyến khích người đi vay trả nợ đúng hạn, ví dụ ai trả nợ sớm thì sẽ được hoàn trả một phần lãi Kết quả là hệ thống UD đã tự lực được về tài chính, và bắt đầu có lãi lớn chỉ vài năm sau khi ra đời Ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 1997-1998, UD vẫn đứng vững, tăng số tiền gửi tiết kiệm trong khi tỷ lệ

vỡ nợ hầu như không tăng Đến năm 1999, UD có 2,5 triệu khách vay tiền, và khoảng 20 triệu tài khoản tiết kiệm Hiện nay, UD có mặt trên toàn quốc với khoảng 3.700 ngân hàng làng xã [Hardy etai (2002).]

b Ở Việt Nam

Quá trình hình thành và thực trạng nông nghiệp:

Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi về phương thức quản lý và lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31-1-1981 của Ban

Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 05-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân

Trang 30

trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Ngoài ra, đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 03-2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước Các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý Nhà nước đối với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ Cho dù những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân Dù phong trào hợp tác xã không còn phát huy tính tích cực, nhưng kinh

tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao sản lượng nông nghiệp, mở mang ngành nghề mới, nâng cao thu nhập Theo số liệu điều tra, trên 74,5% số hộ

đã có từ 2 - 4 loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập Kinh tế hộ nông dân đã dần có sự chuyển biến tích cực Thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp vươn lên sản xuất hàng hóa, trong đó phương thức trang trại gia đình phát triển mạnh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, số hộ sản xuất thuần túy nông nghiệp giảm dần, trong lúc số hộ tham gia sản xuất lâm nghiệp, thủy sản tăng lên Kinh tế hộ nông nghiệp trong nông thôn đã đóng vai trò chính trong việc tạo ra lượng hàng hóa phục vụ xuất khẩu Hiện nay, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đứng đầu thế giới như hạt điều, hạt tiêu đen; đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê; đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cao su thiên nhiên, hải sản; đứng thứ 7 thế giới về hàng giày dép và thứ 10 thế giới về hàng dệt may Trong lĩnh vực nông nghiệp các mặt hàng nông nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao, tạo thế mạnh cho đất nước như: Ngành thủy sản 4,94 tỷ USD, gỗ 3,4 tỷ USD, cà phê 1,67

tỷ USD, gạo 3,23 tỷ USD, cao su 2,32 tỷ USD, hạt điều 4,14 tỷ USD trong 4 năm liền dẫn đầu thế giới

Trang 31

Những khó khăn và thách thức đối với hộ nông dân Việt Nam:

Năm 2011 trung bình cả nước ước tính có khoảng 87,84 triệu dân Dân số khu vực thành thị là 26,88 triệu người, chiếm 30,6% tổng dân số cả nước, tăng 2,5%

so với năm 2010; dân số khu vực nông thôn 60,96 triệu người, chiếm 69,4%, tăng 0,41% so với 2010 như vậy khu vực nông thôn vẫn chiếm đa phần dân số Trong tổng diện tích cả nước 331.051 km2 thì đất nông nghiệp là 251.273 km2 (chiếm tới 75,9%) bao gồm đất sản xuất nông nghiệp là 95.988 km2, đất lâm nghiệp là 147.578

km2, đất nuôi trồng thuỷ sản là 7.384 km2 và đất ở tại nông thôn là 5.151 km2

(chiếm 81% tổng diện tích đất ở của cả nước)

Sau hơn ¼ thế kỷ đổi mới nông nghiệp, nông thôn VN vẫn dừng lại ở phương thức sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún với công nghệ lạc hậu Bên cạnh

đó, mặc dù mỗi năm chúng ta xuất khẩu hơn 10 tỷ USD nông, lâm, thuỷ sản; đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu các mặt hàng nông sản quan trọng như gạo, cà phê, tôm, cá, chè, cao su, hạt điều, song chủ yếu vẫn là xuất khẩu nguyên liệu thô, hàm lượng chế biến thấp, số lượng và chất lượng đều thiếu ổn định trong khi lại phải nhập khẩu nhiều sản phẩm là đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi, thậm chí một số nông sản vốn là ưu thế của VN vẫn bị hàng ngoại nhập lấn sân ngay trên “sân nhà”

Tỷ trọng tín dụng cho nông nghiệp trong tổng tín dụng hàng năm đã giảm từ mức xấp xỉ 30% giai đoạn 2002-2009 xuống còn khoảng 11% năm 2011 Các hộ nông dân VN ngày càng khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng mặc

dù chúng ta có không ít định chế tín dụng hướng vào phục vụ cho nông dân như Ngân hàng NNo&PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển VN

và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, với các chương trình cho vay ưu đãi từ 50 triệu VND, thậm chí tới 500 triệu VND mà không cần thế chấp, đi đôi với việc phát triển tài chính vi mô với sự hỗ trợ của các cấp chính quyền và cả các tổ chức nước ngoài Kết quả là nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thiếu cả vốn dành cho sản xuất kinh doanh cũng như vốn dành cho đời sống sinh hoạt, thị trường tín dụng “đen” vẫn còn nhiều đất sống, đặc biệt ở khu vực nông thôn, các vụ vi phạm pháp luật liên

Trang 32

quan tới tín dụng nông nghiệp, nông thôn hầu như không giảm, thậm chí còn tăng, Rủi ro của các hộ nông dân rất cao mỗi khi gặp thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, do thu nhập quá thấp nên không ít người trong số họ buộc phải tìm cách vay nợ khắp nơi, thậm chí là “vay nóng” với “lãi suất cắt cổ” để mua sắm tư liệu sản xuất, hay chỉ là đóng tiền cho con đi học, đi chữa bệnh, đi lao động ở nước ngoài,

Có rất nhiều lý do khác nhau để giải thích cho những bức xúc về tiếp cận tín dụng nói riêng, có vốn để sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống sinh hoạt nói chung Song tựu chung là những hạn chế nằm trong phương thức sản xuất nông nghiệp của VN hiện nay gắn với cái “vòng kim cô” là thu nhập thấp, nghèo nên thiếu vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu, đầu tư vào máy móc công nghệ để tăng năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đầu tư vào con người để nâng cao trình độ, Cũng

vì nghèo nên thiếu tài sản có giá trị để thế chấp cầm cố vay vốn ngân hàng, nên khó có thể thoát nghèo, khó có cơ hội nâng cao thu nhập và nông nghiệp VN vẫn giẫm chân tại chỗ, khó có thể tạo ra và thu hút các nguồn lực tài chính đầu tư cho

phát triển nông nghiệp, nông thôn

Vốn tích luỹ của hộ nông dân và tín dụng:

Vốn tích lũy của các hộ nông dân có sự phân biệt khá rõ giữa các loại hình sản xuất Cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 (TĐT NTNNTS) được thực hiện trên phạm vi cả nước vào thời điểm 1/7/2011 Kết quả tổng điều tra cho thấy, số hộ nông thôn cả nước là 15,34 triệu hộ, tăng 1,58 triệu hộ

so với năm 2006 Kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển, thu nhập và tích lũy của hộ nông thôn tăng Tại thời điểm 1/7/2011, vốn tích lũy bình quân 1 hộ nông thôn đạt 17,4 triệu đồng, gấp 2,6 lần so với năm 1/7/2006 Nếu loại trừ yếu tố trượt giá (Chỉ

số giá tiêu dùng năm 2011 so với năm 2006 là 18,26%) thì vốn tích lũy bình quân của 1 hộ nông thôn năm 2011 tăng khoảng 41% so với năm 2006 cao hơn so với mức tăng trưởng kinh tế nước ta thời kỳ 2006-2011 gần 40%

Báo cáo tổng điều tra cũng chỉ ra rằng, tích lũy chêch lệch lớn giữa các vùng nhóm hộ Vùng Đông Nam bộ có mức tích lũy cao nhất, đạt 23,6 triệu đồng/hộ, gấp

Trang 33

2,7 lần so với Trung du miền núi phía Bắc - vùng chỉ đạt mức tích lũy bình quân 8,7 triệu đồng/hộ Mức tích lũy của hộ thương nghiệp gấp 5,8 lần của hộ diêm nghiệp, gấp 4,5 lần thu nhập của hộ lâm nghiệp và gấp gần 2,7 lần của hộ nông nghiệp Tích lũy thấp phần nào phản ánh thu nhập và đời sống của hộ diêm nghiệp, lâm nghiệp

và nông nghiệp còn nhiều khó khăn so với các nhóm hộ thuộc các ngành nghề khác

1.1.2.2 Hệ thống các chủ thể cung ứng tín dụng cho phát triển kinh tế nông nghiệp của Việt Nam

Có rất nhiều đối tượng chính thống và không chính thống cung ứng tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam Bao gồm các loại như:

 Hệ thống các ngân hàng như:

+ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn

+ Ngân hàng Đầu tư phát triển (BIDV)

+ Ngân hàng Chính sách xã hội

+ Ngân hàng Công thương (Viettin)

+ Ngân hàng Quân đội (MB)

………

 Quỹ tín dụng trung ương và các quỹ tín dụng cơ sở tại xã, phường

 Các tổ chức quốc tế cho vay tín dụng xuyên quốc gia

 Các cá nhân có nhu cầu cho vay cá nhân với những món vay nhỏ

Hoạt động tín dụng phi chính thống

Tín dụng phi chính thống hay “tín dụng ngầm”, “tín dụng đen” chỉ các hình thức vay và cho vay tiền ngoài sự quản lý và bảo hộ của Nhà nước Tín dụng phi chính thống là một bộ phận cấu thành của khu vực kinh tế ngầm (là hoạt động kinh

tế hợp pháp hoặc bất hợp pháp nằm ngoài khu vực kinh tế chính thống, không lượng hóa được GDP) (Theo http://vi.wikipedia.org)

Ngay từ đầu năm 2011, các ngân hàng thương mại (NH) đã dự báo thị trường tài chính tiền tệ sẽ có diễn biến khó lường, họ đã đề ra nhiều giải pháp về tín dụng

mà mấu chốt là tái cơ cấu nền khách hàng Một số NH đã yêu cầu hệ thống giảm dần dư nợ cho vay DN có tình hình tài chính khó khăn hoặc thuộc các lĩnh vực phải

Trang 34

kiểm soát, giảm tốc độc tăng trưởng tín dụng cho khu vực phi sản xuất và các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro do chính sách tiền tệ và tài khóa của Nhà nước như cho vay, bảo lãnh thi công xây lắp

Nhóm khách hàng được ưu tiên dành cho nguồn vốn là khách hàng truyền thống, khách hàng xếp nhóm A trở lên, quan hệ khép kín với NH thuộc các lĩnh vực sản xuất, chế biến, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, các chương trình, mục tiêu trọng điểm của Nhà nước

Với nguyên tắc chỉ tăng tín dụng khi huy động được nguồn vốn phù hợp thì gần như 100% các NH khó khăn về nguồn vốn trong 6 tháng đầu năm 2011 (đến cuối tháng 5, vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng khoảng +1,74%, trong khi dư nợ cho vay tăng 6,92%) Vì vậy, những khách hàng ngoài nhóm ưu tiên trên rất khó/hoặc không thể tiếp cận nguồn vốn NH và nảy sinh cầu về tín dụng phi chính thức Việc cho vay trực tiếp không thông qua kênh tín dụng chính thức là vô cùng rủi ro vì tổ chức/cá nhân cho vay không có điều kiện thẩm định dự án và thông tin cá nhân của người vay

Hoạt động tín dụng chính thống

Một số tổ chức tín dụng chính thống chủ yếu tại thị xã Tam Điệp cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn:

a Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định

số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước: Tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng nông nghiệp ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây

Trang 35

dựng, Vụ Kế toán và một số đơn vị

Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam (Agribank) và tên gọi đó tồn tại cho đến nay

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các

tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng NNo&PTNT được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Huy động vốn

Đến 31/10/2011, tổng nguồn vốn đạt 483.724 tỷ đồng; ước đạt 504.425 tỷ đồng vào cuối năm 2011 Trong đó, vốn huy động từ khách hàng (thị trường I) đạt 443.815 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 91,7% nguồn vốn huy động; ước đạt 448.938 tỷ đồng vào cuối năm 2011, chiếm tỷ trọng 88,9% Agribank chú trọng đảm bảo cơ cấu, tăng trưởng nguồn vốn có tính ổn định cao từ dân cư, các tổ chức kinh tế; thực hiện đa dạng sản phẩm, hình thức huy động vốn v.v

Tín dụng

Đến 31/10/2011, dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 421.173 tỷ đồng; ước đạt 432.009 tỷ đồng vào cuối năm 2011 Agribank tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực trong đầu tư vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân với nguồn vốn dành cho “Tam nông” luôn chiếm 70%/tổng dư nợ Agribank tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn; Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2006-2010, 2011-2015 v.v

b Ngân hàng Chính sách Xã hội

Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở

Trang 36

tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo Thời hạn hoạt động của NHCSXH là

99 năm kể từ năm hình thành 2002 NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác Bộ máy quản trị của NHCSXH bao gồm: Hội đồng quản trị tại Trung ương, 64 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, thành phố và hơn 660 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp quận, huyện, thị xã NHCSXH cho hộ nghèo vay dưới nhiều hình thức khác nhau, để nguồn vốn có thể đến tay người nghèo

Đối tượng cho vay và các mức lãi suất:

- Từ ngày 01/01/2006, lãi suất cho vay là 0,65%/tháng

- Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay (áp dụng cho

dự án vay kể từ ngày 01/01/2006) Cụ thể như sau:

- Hộ nghèo thuộc các khu vực khác 0,65%/tháng 130%

2 Cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn

- Cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn 0,5%/tháng 130%

3 Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm

- Các tổ chức sản xuất của thương binh, người tàn tật 0,5%/tháng 130%

- Các đối tượng khác 0,65%/tháng 130%

4 Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài

- Cho vay xuất khẩu lao động 0,65%/tháng 130%

5 Các đối tượng khác theo Quyết định của Chính phủ

- Cho vay doanh nghiệp làm nhà ở bán trả chậm cho các

- Cho vay nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn 0,9%/tháng 130%

- Cho vay làm nhà vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long 3%/năm 130%

Trang 37

Mức cho vay

Mức cho vay quy định đối với từng loại mục đích cụ thể như sau:

- Cho vay SXKD, dịch vụ: Mức cho vay tối đa 30 triệu đồng/hộ

- Cho vay giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về nhà ở, nước sạch, điện thắp sáng và học tập với mức cho vay cụ thể như sau:

+ Cho vay sửa chữa nhà ở, mức cho vay tối đa 3 triệu đồng/hộ

+ Cho vay điện thắp sáng, mức cho vay tối đa 1,5 triệu đồng/hộ

+ Cho vay nước sạch, mức tối đa 4 triệu đồng/hộ

+ Cho vay chi phí học tập tại các trường phổ thông

Thời hạn cho vay áp dụng cho từng mục đích sử dụng vốn vay:

- Cho vay ngắn hạn: Cho vay đến 12 tháng (1 năm)

- Cho vay trung hạn: Cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng (5 năm)

- Cho vay dài hạn: Cho vay trên 60 tháng

Đến 12 tháng Trên 12 - 24 tháng Trên 24 - 36 tháng Trên 36 - 60

- Chăn nuôi đại gia súc sinh sản, lấy sữa, lấy lông, lấy sừng

- Đầu tư mua thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, phương tiện vận tải thuỷ, bộ loại vừa và nhỏ, ngư cụ nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản

- Chăm sóc cải tạo vườn cây ăn trái, cây công nghiệp

Trồng mới cây ăn quả, cây nguyên liệu, cây công nghiệp dài ngày

Trang 38

c Các tổ chức tín dụng

Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương có nhiều chi nhánh trên địa bàn khắp cả nước Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Ninh Bình: năm 2011, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong những tháng đầu năm do chỉ số lạm phát và giá cả hàng hóa tăng cao, thị trường lãi suất diễn biến phức tạp, song Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh Ninh Bình vẫn hoàn thành sớm kế hoạch năm trước

2 tháng và tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ năm 2009 Tổng nguồn vốn hoạt động ước đạt trên 215 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ, trong đó vốn huy động trên địa bàn tăng 21,5 tỷ đồng so với năm 2009 Riêng huy động vốn điều hòa từ Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương cũng tăng tới 44 tỷ đồng, tương ứng 45% Huy động vốn tăng là cơ sở để tăng tổng dư nợ, vì vậy ước đến 31-12-2011, tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh đạt 265 tỷ đồng, tăng gần 78 tỷ đồng, tương ứng 45% so với năm 2009; trong đó dư nợ cho vay trong hệ thống gồm các Quỹ tín dụng nhân dân

cơ sở tăng 39% và cho vay ngoài hệ thống tăng 50%

Về cho vay hỗ trợ lãi suất, Chi nhánh đã giải quyết cho vay được 38 khách hàng với số tiền là 31,76 tỷ đồng, số tiền lãi hỗ trợ là 653 triệu đồng Năm 2011, dư

nợ cho vay của Chi nhánh tiếp tục tăng trưởng mở rộng theo hướng ưu tiên nguồn vốn cho vay đối với các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thành viên Đi đôi với phấn đấu tăng tổng dư nợ thì vấn đề đảm bảo an toàn trong hoạt động cũng luôn được Chi nhánh đặc biệt quan tâm, vì vậy tỷ lệ nợ xấu thấp hơn so với quy định

1.2 Tổng quan tài liệu đã nghiên cứu về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn

1.2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hiệu quả của hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có một số đề tài nghiên cứu đánh giá và đã có kết quả nhất định đóng góp cho hoạt động tín dụng của địa phương

Trong nghiên cứu về "Thị trường vốn tín dụng nông thôn và sử dụng vốn tín

dụng của hộ nông dân huyện Gia Lâm - Hà Nội", Kim Thị Dung (1999) đã đánh giá

thị trường vốn tín dụng huyện Gia Lâm như sau: Thị trường vốn tín dụng trong nông thôn của huyện Gia Lâm khá phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần

Trang 39

khác nhau Các hộ ở nông thôn có thể vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau Ngân hàng NNo&PTNT chiếm thị phần lớn nhất và tín dụng không chính thức cũng chiếm thị phần không nhỏ trong thị trường vốn tín dụng nông thôn Số hộ nông dân vay vốn và số vốn vay từ các tổ chức tín dụng chính thống ngày càng tăng, góp phần giảm bớt tín dụng nặng lãi Hộ nông dân Gia Lâm đã sử dụng vốn vay có hiệu quả vào nhiều mục địch sản xuất khác nhau Tuy nhiên, trên địa bàn huyện có nhiều

tổ chức tham gia nắm giữ, quản lý và xét duyệt cho vay với nhiều mức lãi suất khác nhau, quy trình xét duyệt quá phức tạp và mất nhiều thời gian, dẫn đến tiêu cực, lãng phí Mạng lưới hệ thống tổ chức tín dụng chính thống chuyên nghiệp chưa trải rộng đến thôn xã, cả huyện mới có 6 cụm vì thế hạn chế rất lớn đến việc huy động vốn cũng như cho vay vốn tới hộ nông thôn

Góp phần đánh giá về thực trạng vay và sử dụng vốn vay từ nguồn tín dụng chính thức của các hộ nông dân một vùng miền núi của tỉnh Bắc Kạn, Nguyễn Đức

Tú (2006), tiến hành đề tài nghiên cứu "Đánh giá thực trạng vay và sử dụng vốn

vay từ nguồn tín dụng chính thức của các hộ nông dân huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn" Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng giá trị gia tăng do đầu tư vốn tín dụng

đem lại là 521.620.000 đồng Trong đó, các hộ đầu tư vào ngành trồng trọt tạo ra được 202.900.000 đồng; ngành chăn nuôi tạo ra được 175.260.000 đồng; ngành tiểu thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ tạo ra 148.090.000 đồng Các kết quả tính toán về giá trị gia tăng do đầu tư vốn vay vào sản xuất kinh doanh tại Chợ Mới cho thấy có chiều hướng tốt để thực hiện các chương trình đầu tư vốn cho các hộ nông dân góp phần xoá đói giảm nghèo tại địa phương Tuy nhiên, trên thức tế do nhiều nguyên nhân và nguyên nhân chủ yếu là trình độ sản xuất kinh doanh và kinh nghiệm của các hộ còn hạn chế nên nhiều hộ đầu tư vốn chưa mang lại hiệu quả cao, hoặc thua lỗ Nhìn chung, thông qua các chương trình đầu tư hỗ trợ, các dự án chuyển đổi cơ cấu ngành nghề thì tại huyện Chợ Mới đã có nhiều ngành nghề được khôi phục, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân

Nghiên cứu "Thực trạng và tác động của hệ thống tín dụng nông thôn với sự

phát triển kinh tế các hộ gia đình nông dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên"

của Hoàng Minh Đạo (2007) góp phần vào việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về

Trang 40

nguồn và các kênh chuyển tải tín dụng vào nông nghiệp, nông thôn, tìm hiểu thực trạng hệ thống tín dụng nông thôn và tác động của nó với sự phát triển kinh tế các

hộ, đề xuất một số giải pháp thích hợp góp phần nâng cao kinh tế các hộ nông dân huyện Định Hoá Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị gia tăng bình quân/hộ sau vay vốn trong các nhóm gia tăng theo mức vay vốn Nhóm vay có giá trị từ 1-5 triệu đồng có giá trị gia tăng sau vay vốn là lớn nhất, đây là những hộ có kết hợp cả chăn nuôi, trồng trọt Giá trị gia tăng sau vay vốn của các nhóm tăng nhanh so với trước khi vay vốn, thấp nhất là 59,75% (ở mức vay < 1 triệu đồng), cao nhất là 130% (ở mức vay trên 5 triệu đồng) Mức tăng của hộ vay vốn tăng theo sự gia tăng của lượng vốn vay, tuy vốn sử dụng có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào cách thức quản lý vốn của mỗi hộ nhưng thực tế hộ vay vốn giá trị càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao

Nghiên cứu về hệ thống tín dụng chính thức và bán chính thức ở huyện Phú Lương đối với sản xuất nông nghiệp trong nông thôn và các hộ nông dân có sử dụng

tín dụng, Đinh Thị Khánh (2007), tiến hành thực hiện đề tài "Đánh giá tình hình

huy động và sử dụng các nguồn vốn tín dụng đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn tại huyện Phú Lương Thái Nguyên" Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau

khi được vay vốn tổng giá trị sản xuất tăng đáng kể, tổng giá trị sản xuất trên chi phí trung gian bằng 1,36 lần Dịch vụ - ngành nghề chiến tỷ lệ cao nhất bằng 1,58 lần; trồng trọt 1,38 lần; thấp nhất là chăn nuôi 1,17 lần Các kết quả tính toán của đề tài cho thấy không phải bất cứ hộ kinh doanh nào đầu tư vào ngành sản xuất đều đem lại lợi nhuận Trên thực tế tại địa phương cho thấy có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ yếu là trình độ sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý kinh tế của các hộ còn hạn chế nên nhiều hộ đầu tư vốn vào sản xuất nhưng hiệu quả vốn sản xuất không cao

1.2.2 Bài học kinh nghiệm của Việt Nam

Nông thôn Việt Nam hiện nay đang đối đầu với rất nhiều vấn đề khó khăn và yếu kém Quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, khả năng hợp tác, liên kết, cạnh tranh yếu, chuyển dịch cơ cấu chậm Tình trạng thiếu việc làm, thừa lao động là phổ biến; chênh lệch về thu nhập

và về điều kiện sống so với thành thị ngày càng lớn Tình trạng ô nhiễm môi trường

Ngày đăng: 01/09/2017, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w