LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp “Giải pháp quản lý tác động của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Huyện Văn Yên, Tỉnh Yên Bái
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp “Giải pháp quản lý tác động của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Huyện Văn Yên, Tỉnh Yên Bái” là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Đỗ Anh Tuân
Các số liệu, các kết quả trong đề tài là trung thực, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn kinh nghiệm, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi “Hội đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ lâm nghiệp”
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Hồng Văn
Trang 2Xin trân trọng cảm ơn khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu và tất cả bà con nhân dân đã tạo điều kiện, giúp đõ tôi trong quá trình phỏng vấn, thu thập, xác minh số liệu, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện, tuy bản thân có nhiều cố gắng, song do thời gian thực hiện và kinh nghiệm bản thân còn nhiều hạn chế, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được các ý kiến bổ sung, đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Hồng Văn
Trang 3MỤC LỤC Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 9
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.1 Mục tiêu chung 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 17
2.2 Đối tượng, thời gian, phạm vi nghiên cứu 17
2.3 Nội dung nghiên cứu 17
2.4.Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận 18
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 23
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 32
3.1.Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 32
3.1.1.Vị trí địa lý, diện tích và ranh giới 32
3.1.2 Địa hình - địa thế 32
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 33
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 34
Trang 43.1.5 Hiện trạng rừng và sử dụng đất 35
3.1.6 Hệ động vật, thực vật và phân bố của các loài quý hiếm 36
3.1.7 Tài nguyên nước 41
3.1.8 Tài nguyên nhân văn 42
3.1.9 Các giá trị cảnh quan, môi trường, bảo tồn và du lịch 42
3.1.10 Đánh giá đặc điểm tự nhiên và tài nguyên rừng 42
3.2 Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội 44
3.2.1 Dân tộc, dân số, lao động và phân bố dân cư 44
3.2.2 Tập quán sinh hoạt, sản xuất 45
3.2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng 46
3.3 Tiềm năng du lịch 48
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Tình hình công tác quản lý bảo vệ TNR tại KBTTN Nà Hẩu 49
4.1.1 Đánh giá tình hình chung về bảo tồn 49
4.1.2 Đánh giá tình hình phát triển 50
4.1.3.Công tác tổ chức 53
4.1.4 Đánh giá về quản lý 53
4.1.5 Đánh giá hiệu quả tổ chức quản lý và thực thi nhiệm vụ 54
4.2 Các hình thức và mức độ tác động của người dân địa phương đến TNR tại KBTTN Nà Hẩu 55
4.2.1 Sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy 55
4.2.2 Khai thác gỗ 59
4.2.3 Khai thác gỗ củi 64
4.2.4 Khai thác các LSNG khác 66
4.2.5 Chăn thả gia súc trên rừng và đất rừng 70
4.3 Nguyên nhân dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR tại KBTTN Nà Hẩu 72
Trang 54.3.1 Cơ cấu đất canh tác 72 4.3.2 Cơ cấu thu nhập 74 4.3.3 Cơ cấu chi phí 78 4.4.Một số giải pháp góp phần hình thành sinh kế bền vững cho người dân
và giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR 82 4.4.1.Nhóm giải pháp chung cho các nhóm hộ gia đình 82 4.4.2.Nhóm giải pháp cụ thể cho từng nhóm hộ gia đình 89 KẾT LUẬN,TỒN TẠI,KHUYẾN NGHỊ 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học và mang lại lợi ích cho con người Hiện nay các Khu bảo tồn đã và đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía các cộng đồng địa phương, đặc biệt đối với những nước đang phát triển
Nguồn tài nguyên này không những có vai trò quan trọng đối với thế giới nói chung, Việt nam nói riêng, mà còn là nguồn sinh kế chủ yếu của cộng đồng, đặc biệt đối với những cộng đồng sống trong và gần rừng Tuy nhiên việc bảo vệ, quản lý các khu bảo tồn đã và đang gặp không ít những khó khăn
từ phía người dân và cộng đồng địa phương Khó khăn lớn nhất gặp phải trong việc quản lý KBT là số dân sinh sống bên trong KBT đã tạo sức ép rất lớn Tài nguyên rừng là nguồn sống chủ yếu của người dân sống trong và gần rừng từ bao đời nay nhưng từ khi thành lập KBTTN thì những thói quen, phong tục tập quán phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng đã bị hạn chế và kiểm soát Với tỷ lệ HGĐ nghèo lớn, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập Khu bảo tồn không đem lại lợi ích gì hoặc rất ít cho họ, mà chỉ bị thiệt thòi vì không được tự do khai thác nguồn TNR như trước đây Trong khi đó các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác cho người dân địa phương chưa bù đắp được sự thiếu hụt này Cho nên đã gây
ra mâu thuẫn giữa Khu bảo tồn với người dân địa phương - những người đang sống phụ thuộc một phần vào nguồn tài nguyên rừng Do đó, việc tồn tại những tác động bất lợi của người dân vào tài nguyên rừng như là một tất yếu
và Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu cũng trong tình trạng chung như thế Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu - huyện Văn Yên-tỉnh Yên Bái được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ – UB ngày 09 tháng 10 năm 2006 của
Trang 8Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái với diện tích 16.950 ha [31], trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 7.250 ha,phân khu phục hồi sinh thái 9.700 ha, khu vực dịch vụ hành chính 95,5 ha, với nhiệm vụ chủ yếu là: Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, quần thể của các loài động thực vật quý hiếm, các loài đang bị đe doạ và các loài đặc hữu; phục hồi, tái tạo vốn rừng nhằm nâng cao độ che phủ của rừng.KBTTN Nà Hẩu không những có giá trị cao về đa dạng sinh học, về sinh thái, môi trường mà còn có ý nghĩa về du lịch sinh thái, phục vụ tham quan, học tập nghiên cứu Với thành phần dân tộc chủ yếu là Mông, Tày và Dao với những tập quán truyền thống như canh tác nương rẫy, du canh du cư, săn bắn động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm từ rừng Đời sống của người dân địa phương phần lớn dựa vào chính là nguồn tài nguyên rừng
Từ những thực tế trên cho thấy việc tìm ra các giải pháp,đồng thời bảo vệ,phát triển TNR và đảm bảo đời sống của người dân sống ở gần và trong
KBT là vấn đề cấp thiết.Chính vì vậy,đề tài “Giải pháp quản lý tác động của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Huyện Văn Yên, Tỉnh Yên Bái” được thực hiện nhằm đề xuất các giải
pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng tại KBT xét từ góc độ phân tích các tác động của người dân địa phương
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã có những công trình nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBT với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhìn chung các Khu bảo tồn (KBT) đều được thiết lập vì mục đích chung của các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng (TNR) Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn
Theo định nghĩa của IUCN (1994) đã khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của KBTTN:
“Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”.(IUCN 1994 ) [12]
Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19 VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872 VQG này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ
Trang 10mảnh đất của họ Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này,
có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào KBTTN và tiếp cận tài nguyên trong đó Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và KBT và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [12] Hầu hết các KBT đều được thiết lập vì mục đích Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Dựa trên mô hình của Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR Tại các nước Đông Nam Á phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn [10]
Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) theo hướng toàn cầu Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và động vật hoang dã Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nepal đã được thực hiện Nghiên cứu đã khẳng định, 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn [39]
Ở Ấn Độ, nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ) Theo Gadgil và VP.Vartok năm 1976 trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” cho rằng: Người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình
Trang 11thành từ các xã hội chuyên về săn bắn và hái lượm Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó
đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996) Một nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ
mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn [40]
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận [25, tr6]
Các mô hình ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan Chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội (KT-XH) Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới
chẳng khác nào "bắt cá khỏi nước" và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn
và khai thác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [30]
Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG, KBT trên thế giới, từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc
tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới
Trang 12dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương Ở VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [35]
Ở Thái Lan, một thử nghiệm của Dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản
lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ [25] Hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây
đã nhấn mạnh các quyền sở hữu và kiểm soát rừng của Nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỉ lệ phá rừng hàng năm vẫn ở mức cao 2,6% Một nghiên cứu tại vùng đệm của KBT động vật hoang dã Phu Kheio, Đông Bắc Thái Lan
đã giới thiệu một cách tiếp cận mới để quản lý chúng trên cơ sở thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong tiến trình Kết quả thảo luận ở đây cũng đã khẳng định rằng, có một cơ hội để tạo ra một sự hiểu biết tốt hơn giữa người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn thiên nhiên
sẽ dẫn đến một cách quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên trong tương lai
Trang 13[30] Bink Man W (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Tuy nhiên đây là một minh hoạ rất cần thiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996).Theo Poffenberger, M và McGean, B( 1993) trong báo cáo: “Liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dang Yai nằm ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan Tại Dang Yai người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn đồng thời phối hợp với cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái đồng thời phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực Tại Nam Sa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ Họ khẳng định nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên rừng
Ở Philippines, chiến lược Quốc gia về bảo tồn ĐDSH nêu rõ rằng:
"Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn ĐDSH" (Denr và TCSD, 1994) [30]
Ở Indonesia, kế hoạch hành động ĐDSH ghi nhận rằng "Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong
và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của
kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch (Bappenas, 1993) [30]
Trang 14Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G(1986) cho rằng đối với cộng đồng dân cư sống trong và gần các KBTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các
hệ quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng [21]
Dilmour D.A (1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia Do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn
và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng [21]
Theo Nick Salafky và các đồng sự (trong Biodiversity Support Program Washington, DC, USA, 2000) cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích kinh tế và bảo tồn Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các hoạt động sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn Đặc điểm cơ bản của chiến lược này là mối liên hệ giữa ĐDSH và con người xung quanh Các chủ thể địa phương có cơ hội hưởng lợi ích trực tiếp từ ĐDSH và như vậy sẽ có thể hạn chế được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với ĐDSH Sinh kế sẽ giúp cho bảo tồn ĐDSH chứ không phải cạnh tranh với nhau Hơn nữa chiến lược này công nhận vai trò của người dân địa phương trong bảo tồn ĐDSH Cũng trong chiến lược này, các nhà bảo tồn có
Trang 15thể giúp cho người dân địa phương khai thác sử dụng LSNG hoặc phát triển
du lịch sinh thái [21]
Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (WWF) 2001 đã đưa ra một thông điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng”
1.2 Ở Việt Nam
So với nhiều nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tương đối sớm Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tướng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 22.000 ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nước ta Bên cạnh đó, Chính phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng khác Từ đó đến nay, Việt Nam đã có 164 khu rừng đặc dụng được thành lập(có 30 Vườn quốc gia và 134 Khu bảo tồn thiên nhiên) với diện tích 2.265.753,88 ha Trong đó diện tích có rừng 1.941.452,85 ha; diện tích chưa có rừng 257.291,03 ha; diện tích mặt nước biển 67.010,00 ha [17]
Trước hết để công tác bảo tồn đạt hiệu quả thì các quy định phải được thể chế hóa Trong đó bao gồm luật và các văn bản dưới luật Đó là các điều khoản được ghi trong Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/08/1991, Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004;Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc Ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT; Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN và PTNT về hướng dẫn việc thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP Gần đây nhất, Thủ tướng chính phủ có
Trang 16Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006 (Quyết định số 34/2011/QĐ-TTg ngày 24/6/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định
số 186/2006/QĐ - TTg ban hành ngày 14/08/2006) về quy chế quản lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg; Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020 Trong đó, quản lý rừng đặc dụng được quy định rất cụ thể
Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn - phát triển Đó là việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương
Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Tác giả đã chỉ ra rằng: Diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi [10]
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn
Bá Thụ (1997) đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết những vấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân vùng đệm, chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi lãng phí của người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh, nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân địa phương [21]
Trang 17D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu
về quản lý vùng đệm tại 3 VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt nam như: Tình hình KT-XH, tình trạng bảo tồn tại các VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm; tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm [9]
Về quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các KBTTN, Lê Quý An (2001) đã khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm trên cơ sở cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động bảo tồn Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục, tập quán trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi trường, góp sức cho việc bảo tồn [1]
Năm 2001, Đỗ Anh Tuân thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBTTN
Pù Mát cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các CĐĐP và thái
độ của họ về các chính sách bảo tồn Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân địa phương do sự ảnh hưởng của KBT và mức độ chấp nhận của cộng đồng thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên Nghiên cứu cho rằng hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng TNR một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình (HGĐ) trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện tích đất và khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN, nhưng chúng chưa bù lại được những mất mát do thành lập KBTTN [26]
Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự (2002) dưới sự hỗ trợ của chương trình hỗ trợ lâm nghiệp xã hội, trung tâm đào tạo Lâm nghiệp xã hội đã thực hiện một
Trang 18nghiên cứu về khả năng thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp tại khu phục hồi sinh thái (PHST) Các tác giả cho rằng
hệ thống chính sách hiện nay là đầy đủ để có thể thu hút CĐĐP vào quản lý,
sử dụng các khu rừng đặc dụng, không thể loại trừ cộng đồng ra khỏi quyền hưởng lợi từ VQG và đề xuất mô hình quản lý đất đai trong khu PHST của VQG Ba Vì [15]
Nguyễn Thị Phương (2003) khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì- Hà Tây” đã vận dụng phần mềm SPSS trong việc tổng hợp và xử lý số liệu về hình thức tác động và các nguyên nhân tác động và chỉ ra rằng: Cộng đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá, khai thác sản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc….trong đó hình thức
sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong
cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%) Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các dân tộc, các nhóm hộ khác nhau [16]
Hoàng Quốc Xạ (2005) đã có sự kết hợp tốt giữa phân tích định tính và định lượng trong việc xác định các hình thức tác động và nguyên nhân tác động khi nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến TNR tại vùng đệm VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ Các giải pháp được tác giả đưa ra tuy bao hàm nhiều lĩnh vực song chưa dựa trên các yếu tố đã được phân tích cụ thể tại khu vực nghiên cứu và chưa thể hiện được tính khả thi của các giải pháp đưa
ra [37]
Ngô Ngọc Tuyên (2007) đã lượng hoá tốt và thể hiện sinh động ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đển tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như
Trang 19mối quan hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc thực hiện nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến TNR tại KBTTN Na Hang, Tuyên Quang Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong khu vực, mỗi dân tộc 30 HGĐ để phỏng vấn, nhưng chưa chỉ ra cho người đọc cách thức và nguyên tắc chọn mẫu Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng,
để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày người dân đã tác động tới TNR
dưới nhiều hình thức song “sử dụng tài nguyên rừng” là hình thức có tác
động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác động cũng khác nhau Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của HGĐ, tuy nhiên phân tích mới dừng lại ở 3 yếu tố nguồn lực mà chưa phân tích đến các yếu tố hiệu quả [25]
Khuất Thị Lan Anh (2009) khi: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ - tỉnh Bắc Kan” đã nghiên cứu các yếu tố kinh tế và xã hội chi phối các hình thức và mức độ tác động bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng Đề tài
đã phần nào lượng hóa được mức độ tác động của người dân tới KBT như: Sử dụng tài nguyên rừng, khai thác các sản phẩm rừng, sử dụng đất rừng để chăn thả gia súc, tác động đến TNR do các nguyên nhân rủi ro, các hoạt động khai thác vàng…Tuy nhiên đề tài chưa đi sâu nghiên cứu các tác động tích cực của người dân Thêm vào đó, các giải pháp đưa ra còn chung chung, chỉ mang tính chất định hướng, chưa đi sâu vào các giải pháp mang tính khả thi đối với
địa phương [2]
Trần Ngọc Thể (2009) khi: “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương tới tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn” đã đưa ra 1 hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu tác động của người dân tới các KBT Ngoài ra đề tài còn lượng hóa được mức độ tác động của người dân tới tài nguyên rừng ở VQG Ba Bể bằng cách phân tích các yếu tố sản xuất ảnh
Trang 20hưởng tới tổng thu nhập của các HGĐ thông qua hàm Cobb-Douglas (hàm sản xuất có độ co giãn không đổi) Nghiên cứu đã đưa 7 biến sản xuất (diện tích đất, số lao động chính, phân bón, đầu tư bằng công, khai thác gỗ, chăn thả gia súc, số khẩu), 11 biến hiệu quả (Học vấn chủ hộ, độ cao, loại kinh tế
hộ, mức độ gần rừng, dân tộc DT1T, dân tộc DT2T, mức độ thuận tiện giao thông, khả năng tiếp cận thị trường, tỷ lệ LĐC/số khẩu, số lần đốt nương rẫy,
sử dụng giống) vào mô hình để phân tích, kết quả cho 4 biến sản xuất và 6 biến hiệu quả tồn tại trong mô hình Kết quả cho thấy: Tồn tại mối quan hệ rất chặt giữa tổng thu nhập từ rừng với 4 yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và
6 yếu tố hiệu quả với hệ số xác định R2 =0.93( F=14.601, Sig.F=0.000); và 93% biến động của thu nhập được giải thích bởi các yếu tố này Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung phân tích các tác động bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng( TNR) của VQG Ba Bể mà chưa quan tâm tới những tác động tích cực của người dân, trong khi đó sự tham gia của người dân theo hướng tích cực là phần không thể thiếu đối với công tác bảo tồn ở bất kỳ VQG nào [29]
Đỗ Thị Hường (2010) khi: “Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến – huyện Kim Bôi - tỉnh Hòa Bình” đã đánh giá được tình hình hiện trạng công tác quản lý bảo vệ TNR, phân tích kinh tế HGĐ, nghiên cứu các hình thức và mức độ tác động của người dân đến TNR và tổng thu nhập của các HGĐ ở khu vực nghiên cứu Đã phân tích sự phụ thuộc, các nguyên nhân dẫn đến sự tác động bất lợi của người dân đến TNR Đề tài đã đề xuất được một số giải pháp tác động tích cực và hạn chế các tác động bất lợi của cộng đồng người dân tới TNR của KBT, các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn có thể làm tài liệu tham khảo tốt [11]
Trang 21Trong hội thảo Đồng quản lý rừng đặc dụng Việt Nam 24/5/2013 Tại
Hà Nội, Việt Nam Tổ chức FFI Việt Nam ( Tổ chức động vật hoang dã thế giới) và FanNuTure (Trung tâm con người và thiên nhiên) đã xây dựng, nghiên cứu thí điểm dự án thực hiện đồng quản lý tại 3 khu bảo tồn ở vùng núi phía bắc là : Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Chế Tạo, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Hà Giang ; Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông Mục tiêu nhằm hài hòa giữa nhiệm vụ bảo vệ rừng đặc dụng và nhu cầu sinh kế của người dân địa phương cũng như nâng cao hiệu quả quản
lý các khu bảo tồn Các thành viên tham dự đều đi đến thống nhất Mô hình đồng quản lý rừng đặc dụng có sự tham gia của người dân là hướng đi mới và phù hợp với tình hình quản lý bảo vệ rừng hiện nay [38]
KBT thiên nhiên Nà Hẩu từ khi thành lập đến nay chưa có một nghiên cứu nào về tác động của người dân tới TNR của khu bảo tồn Một số nghiên cứu mới điều tra, giám sát các loài chỉ đề cập đến giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học.Vì vậy việc tiến hành thực hiện nghiên cứu này làm cơ sở cho quản
lý bền vững tài nguyên rừng ở KBT
* Một số kết luận phục vụ cho nghiên cứu
Mối quan hệ giữa người dân với công tác bảo tồn ở các KBT và VQG
đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau Qua một số nghiên cứu, đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn khá đầy đủ cũng như đã lượng hóa được hình thức và mức độ tác động của người dân địa phương tới tài nguyên rừng của các khu rừng đặc dụng Ở một số nghiên cứu khác lại tập trung vào phân tích mức độ phụ thuộc của người dân vào TNR Tuy nhiên, cách tiếp cận của các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở khía cạnh phân tích các tác động bất lợi mà chưa đề cập tới các tác động tích cực từ phía người dân trong công tác bảo tồn
Trang 22Tính đến thời điểm này, vấn đề về biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học đang là những mối quan tâm lớn của mọi quốc gia, vì vậy diện tích rừng và chất lượng rừng cần được bảo vệ và nâng cao Số lượng khu rừng đặc dụng của nước ta ngày càng tăng lên, trong khi đó mỗi khu rừng đặc dụng lại có đặc trưng về quy mô, sinh thái, phân bố dân cư, tình hình kinh tế, xã hội, phong tục tập quán khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với các khu rừng đặc dụng nhằm đề xuất các giải pháp thu hút người dân tham gia công tác bảo tồn ở mỗi KBT, VQG trên phạm vi
cả nước là việc cần thiết Hiện nay hầu hết các giải pháp đưa ra trong những nghiên cứu dạng này còn chung chung, tuy gần đây nhất (năm 2010) có một nghiên cứu đã đưa ra được các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn có thể tham khảo tốt nhưng chỉ ở một địa điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội cụ thể Vì vậy, những nghiên cứu về vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và qua thời gian đúc rút sẽ hoàn thiện dần
Trang 23Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Góp phần xây dựng cơ sở lý luận đưa ra giải pháp quản lý tác động của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại khu bảo tồn Nà Hẩu, Huyện Văn Yên,Tỉnh Yên Bái
2.2 Đối tượng, thời gian, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Các hộ gia đình dân tộc H’Mông, Dao,Tày sống trong khu bảo
tồn
+ Phạm vi nghiên cứu: Thực hiện nghiên cứu tại xã vùng đệm Mỏ Vàng, Đại
Sơn và vùng lõi là xã Nà Hẩu
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích và đánh giá thực trạng tác động của các hộ gia đình vào tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những tác động tới tài nguyên rừng
- Phân tích ảnh hưởng và các nhân tố do công đồng người dân ảnh hưởng tới tài nguyên rừng
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động bất lợi của người dân vào tài nguyên rừng tại khu bảo tồn
Trang 242.4.Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên: (1) Lý luận về lý thuyết hệ thống; (2) Quan điểm sinh thái - nhân văn; (3) Quan điểm bảo tồn - phát triển và (4) Tiếp cận có sự tham gia
Một là, vận dụng lý luận về lý thuyết hệ thống: Hệ thống được hiểu là
một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong
hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác động của người dân địa phương gắn liền
với các hoạt động kinh tế của con người như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc… Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt
và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của
người dân địa phương.Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng
tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế Đây là lý do đề tài hướng vào tìm hiểu các nguyên nhân kinh tế có liên quan tới những tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tếđể giảm thiểu sự tác động bất lợi này
Trang 25Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội
vì các hoạt động này là của con người Sự tác động này bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen trong sử dụng TNR… Sự tác động của người dân địa phương đến TNR còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với người dân trong KBT, KBTTN, hệ thống quản lý TNR, việc thực thi luật BVPTR Các tổ chức cộng đồng và những quy định của cộng đồng cũng có ảnh hưởng tới những tác động của người dân địa phương vào TNR
Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR Những tác động của người dân địa phương đến TNR liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội, vì vậy đề tài tiến hành nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi phối sự tác động của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội nhằm làm giảm thiểu những tác động bất lợi này
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan
hệ tương tác chặt chẽ Bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài tới TNR cũng dẫn đến sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ thống TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên Vì vậy, để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những tác động bất lợi tới nó
Hai là, quan điểm sinh thái - nhân văn: Thực tế cho thấy, các hoạt
động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi HGĐ đều rất đa dạng và phong phú Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ KT-XH Điều này chỉ ra rằng, các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời điểm khác
Trang 26hoặc trong cộng đồng khác Để giải thích tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR, đề tài sử dụng tháp sinh thái - nhân văn của Park (1936)
đã được Teherani Kroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001) mô phỏng
Mô hình sinh thái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các hoạt động xã hội của cộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố theo trình tự: Bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức Mô hình này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt động của cá nhân và sự bền vững
Dựa trên hình tháp này (Hình 2.1) có thể giải thích: Quan hệ giữa tác động bất lợi của cộng đồng đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương - bảo tồn TNR là quan hệ có xu hướng nghịch Tức là khi kinh tế -
xã hội địa phương càng phát triển, điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và công tác bảo tồn TNR được thực hiện tốt thì những tác động bất lợi tới TNR sẽ càng giảm Sự tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và chịu sựảnh hưởng của nhiều yếu
tố kinh tế - xã hội
Hình 2.1 Tháp sinh thái nhân văn trong nghiên cứu sự tác động của
người dân địa phương đến TNR
Trang 27Cơ sở sinh thái được được giải thích bằng các yếu tố vật lý sinh học,
được chia làm 2 loại: Những yếu tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình và những yếu tố có thể kiểm soát được hoặc hạn chếđược như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán Những yếu tố kiểm soát hoặc hạn chếđược cần được nghiên cứu bằng các giải pháp khoa học công nghệ
Các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương,
nhu cầu thị trường , những nhân tố này rất có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địa phương tới TNR
Bậc thể chếđược giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức
cộng đồng ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến TNR
Bậc đạo đứcđược hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức cao hơn
nữa là văn hoá của các cộng đồng Mọi tác động của các yếu tố khác đều có thể làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng
Theo tháp sinh thái - nhân văn (Hình 2.1) thì bất kỳ một giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển bền vững TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo được các yếu tố về kinh tế và xã hội của người dân địa phương
Ba là, quan điểm bảo tồn – phát triển: Theo Gilmour D.A và Nguyễn
Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) sau:
- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thểđược đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài
nguyên sẽđược giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: “Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế”
Trang 28- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng sống vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh
tế - xã hội của họđủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài
nguyên: “Cách tiếp cận phát triển kinh tế”
- Thứ ba là cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu như họ có thểđược tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thểđược bảo tồn trong khi một
số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc
sử dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: “Cách tiếp cận tham gia quy hoạch”
Trong nghiên cứu này, cả 3 cách tiếp cận trên được vận dụng linh hoạt để thực hiện nội dung “Đề xuất các giải pháp giảm tác động của người dân vào tài nguyên rừng tại khu bảo tồn”
Bốn là, tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu: Sự tham gia được
định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về TNR với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này
có thể hiểu và đáp ứng các triển vọng được nêu ra Năm 1996, Hosley đưa
ra 7 mức độ của sự tham gia từ thấp đến đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động, tham gia bịđộng, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua
Trang 29hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương, nên thông tin có thểđược sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng TNR, các giải pháp giải quyết xung đột
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
2.4.2.1 Nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp
Các tài liệu liên quan đến khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu và các xã
đã được nghiên cứu và phân tích.Các văn bản pháp quy có liên quan,các báo cáo có liên quan của KBTTN Nà Hẩu
2.4.2.2 Chọn địa điểm nghiên cứu
Các điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát sơ bộ một số xã vùng đệm, vùng lõi KBTTN Nà Hẩu; trao đổi với cán bộ KBTTN, Hạt kiểm lâm Các số liệu thứ cấp được thu thập, bảng câu hỏi phỏng vấn HGĐ được kiểm thử về tính phù hợp để thuận tiện cho quá trình thu thập số liệu chính thức
Nguyên tắc chọn địa điểm nghiên cứu:
- Nguyên tắc chung: Điểm nghiên cứu phải là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu
- Nguyên tắc cụ thể:
Các xã được lựa chọn có đủ 3 dân tộc hiện đang sinh sống là, Dao,Tày và H’Mông Thành phần dân tộc là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới việc lựa chọn hệ thống sản xuất, sinh kế của cộng đồng và đặc biệt là các hình thức tác động của cộng đồng tới TNR Dân tộc và tập tục văn hoá có thể ảnh hưởng đến quá trình đổi mới, việc chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt động phát triển
Trang 30Mỗi xã đại diện cho điều kiện về mức độ gần rừng, điều kiện giao thông, cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận để phát triển kinh tế
Các thôn được lựa chọn đảm bảo đại diện cho xã và các hộ gia đình được lựa chọn phỏng vấn, thảo luận đảm bảo đại diện cho thôn
Các xã, thôn đều đảm bảo có đủ loại kinh tế hộ: (1) Hộ khá hay hộ thoát nghèo ở mức cao; (2) Hộ thoát nghèo hay hộ trung bình; (3) Hộ
nghèo; (4) Hộ rất nghèo
Kết quả lựa chọn địa điểm nghiên cứu:
- Lựa chọn được 3 xã trong khu bảo tồn làm địa điểm nghiên cứu là Nà Hẩu, Mỏ Vàng, Đại Sơn, kết quả cụ thể được trình bày ở Bảng 01:
STT Tên xã Huyện tỉnh Vị trí Dân tộc thích Chú
1 Nà Hẩu Văn Yên/Yên Bái Vùng lõi Mông
2 Mỏ Vàng Văn Yên/Yên Bái Vùng đệm Dao, Tày
3 Đại Sơn Văn Yên/Yên Bái Vùng đệm Dao, Tày
2.4.2.3 Xác định dung lượng mẫu điều tra
Mẫu điều tra, phỏng vấn là một phần của tổng thể được lựa chọn theo những cách thức nhất định và với một dung lượng hợp lý Mẫu có tính đại diện để có thể suy rộng thông tin thu được cho tổng thể
Với nghiên cứu này, đề tài chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp lại theo công thức sau:
N= 𝑁.𝑡2.𝑆2𝑁.𝑑2+𝑡2.𝑆2Trong đó: n:Dung lượng mẫu cần chọn
N:Số hộ của xã điều tra t: Hệ số ứng với mức tin cậy(t=95%)
d : Sai số mẫu(cho trước d=5-10%)
S2 :Phương sai mẫu tổng thể(cho trước S2=0,25)
Trang 312.4.2.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường
Đề tài đã sử dụng các công cụđiều tra có sự tham gia như: Thảo luận nhóm nông dân, thảo luận với cán bộ địa phương, phân tích SWOT, khảo sát thực địa, phỏng vấn kinh tế hộ,…để thu thập những thông tin cơ bản của
3 xã Những thông tin cơ bản bao gồm:
- Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã, những đặc điểm chính của thôn nghiên cứu
- Tình hình quản lý đất đai hiện nay: Ranh giới, chủ sở hữu, thời gian,
- Phỏng vấn ban quản lý các thôn, bản của các cộng đồng nghiên cứu: Công cụ này được thực hiện đầu tiên khi tới thôn, bản, nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội của thôn, bản như: Dân số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình thức sử dụng tài nguyên rừng
- Phỏng vấn hộ gia đình: Được thực hiện thông qua bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn bị và kiểm tra trước (xem Phụ lục) Tiến hành phỏng vấn 120 HGĐ, mỗi xã 40 HGĐ.Trong đó tại xã Nà Hẩu và 4 thôn của hai xã Mỏ Vàng và Đại Sơn chỉ có 3 hộ dân tộc Kinh tham gia phỏng
Trang 32vấn nhưng không tính toán số liệu nên tổng số các hộ được xử lý số liệu là
117 HGĐ Các HGĐ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống Danh sách phân loại hộ được thu thập tại ban quản lý các thôn (Trưởng thôn)
- Thảo luận nhóm, phân tích SWOT: Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn HGĐ Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn Nhóm thảo luận gồm 3-5 người hoặc lớn hơn tuỳ theo số lượng hộđược phỏng vấn mỗi thôn và sự phân tán của các hộ trong thôn, với đầy đủ thành phần kinh tế hộ trong thôn Thảo luận nhóm nhằm bổ sung và thống nhất về các hình thức, mức
độ tác động của người dân vào rừng và đất rừng của KBTTN Nà Hẩu, các nguyên nhân của sự tác động đó, những khó khăn và khuyến nghị của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng
- Phân tích tổ chức, thể chế: Xác định các tổ chức trong cộng đồng, vai trò của các tổ chức đó, các thể chế cộng đồng và sự ảnh hưởng của chúng tới việc quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng
2.4.2.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Số liệu điều tra được tổng hợp, mã hoá trên máy tính bằng phần mềm nhập số liệu được tác giả xây dựng trên nền chương trình MS Access (xem Phụ lục 5) Dữ liệu này dễ dàng liên kết với các phần mềm phân tích cụ thể như SPSS 13.0 và MS Excel để phân tích chuyên đề
Các số liệu được tổng hợp theo từng nhóm nội dung để phân tích Riêng số liệu về kinh tế hộ như: đầu tư sản xuất, chi phí, thu nhập… được tính toán theo nguyên tắc cụ thể sau: (1) Công lao động của gia đình không được quy đổi sang chi phí đầu tư bằng tiền cho sản xuất; công lao động được tổng hợp theo 2 nhóm: nhóm đầu tư bằng công cho sản xuất tại HGĐ
và nhóm đầu tư bằng công cho canh tác trên rừng, đất rừng của KBTTN
Trang 33(2) Gỗ, gỗ củi phục vụ nhu cầu của HGĐđược lấy từ rừng không tính vào thu nhập từ rừng, chỉ tính khi mang bán
Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất với tổng thu nhập
Sản xuất là quá trình chuyển hoá những yếu tốđầu vào (yếu tố nguồn lực) thành những yếu tốđầu ra và kết quả của sản xuất do lượng, chất của các yếu tốđầu vào, công nghệ sử dụng quyết định, mối tương quan phụ thuộc đó được diễn tả qua hàm sản xuất
Nghiên cứu sử dụng hàm sản xuất Cobb - Douglas (hàm có hệ số co
dãn không đổi) để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến tổng
thu nhập của các HGĐ
Hàm sản xuất về cơ bản có dạng:
Y = a X1β1 X2β2 Xnβn.e(γ.Zi) Trong đó:
Y: là biến số phụ thuộc – thể hiện kết quả sản xuất
X1, X2, Xn: là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đây là
các biến số độc lập)
β 1, β2 βn: là hệ sốđóng góp của các yếu tốđầu vào trên
a: hằng số thể hiện năng suất lao động tổng hợp
Zi: là các yếu tố hiệu quả hay các yếu tố khác ngoài yếu tốđầu vào của quá trình sản xuất
γ: là các hệ số đóng góp của các yếu tố hiệu quả Zi
Yếu tố nguồn lựcởđây là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: Số
lao động, vốn (thiết bị, phân bón, giống…), đất đai…
Yếu tố hiệu quả hay các yếu tố khác ngoài yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất như: Dân tộc; nhóm kinh tế hộ; vị trí tương đối của thôn theo độ cao,
Trang 34theo đường ranh giới KBTTN; mức độ gần rừng, mức độ thuận tiện về giao thông, đi lại, khả năng tiếp cận kinh tế hướng ra bên ngoài…
Trong các yếu tố hiệu quả, dân tộc thuộc dạng biến định tính do vậy công cụ xử lý đó chính là biến giả (dummy) Biến giả trong phân tích bằng hàm sản xuất được mã hoá như sau: DTi = một biến giả bằng 1 nếu dân tộc thứ i là người H’Mông và bằng 0 nếu dân tộc thứ i là người khác (số biến giả bằng số dân tộc trừ một)
Để tính toán, hàm số (2) được biến đổi về dạng tuyến tính đối với tham số, bằng việc lấy Logarit tự nhiên cả hai vế:
LnY = a0+ β1LnX1 + β2LnX2 +… + βnLnXn + (γ1Z1 + γ2Z2 + … + γnZn)
Trong đó:
LnY: Là hàm tuyến tính với các tham sốβ
β1, β2, βn : Là các hệ số thể hiện độ co dãn của Y đối với Xi,
điều này được giải thích:
Khi X 1 thay đổi 1% thì Y thay đổi β 1 %
Khi X 2 thay đổi 1% thì Y thay đổi β 2 %
Khi X n thay đổi 1% thì Y thay đổi β n %
γ1, γ2,… γn: Là các hệ số thể hiện độ co dãn của Y đối với Zi,
điều này được giải thích:
Khi Z 1 thay đổi 1 đơn vị thì Y thay đổi γ 1 %
Khi Z 2 thay đổi 1 đơn vị thì Y thay đổi γ 2 %
Khi Z n thay đổi 1 đơn vị thì Y thay đổi γ n %
Sự đóng góp nhiều hay ít, tích cực hay tiêu cực của các yếu tốđầu vào
và yếu tố hiệu quả vào thu nhập phụ thuộc vào hệ sốβ, γ cao hay thấp, dương (+) hay âm (-) Chỉ sốđặc trưng (eigenvalue) càng gần mức 0 và chỉ sốđiều kiện (condition index) lớn hơn 30 cho biết yếu tố có cộng tuyến mạnh đến thu nhập
Trang 35Phân tích sự phụ thuộc của người dân địa phương vào TNR
Nhằm xác định mối quan hệ giữa tổng thu nhập của các HGĐ với các biến số trong khai thác TNR của từng dân tộc Nếu X là 1 đại lượng không ngẫu nhiên còn Y là 1 đại lượng ngẫu nhiên thì Y là hàm số của X Sự phụ thuộc này được biểu diễn bằng hàm số sau:
Y= F(X) Nghiên cứu đưa ra giả thiết: Biến phụ thuộc là tổng thu nhập của HGĐ (Y); biến độc lập (X) là thu nhập từ rừng Mối quan hệ giữa biến X và biến Y thường được lượng hoá mức độ chặt chẽ bằng hệ số R Nếu xác suất của F hoặc T (Sig ≤ 0,05) thì tồn tại hệ số R
- Mối quan hệđó có thể là dạng đường thẳng Y= a + bx ta có hệ số tương quan Pearson ký hiệu là r
n
r =
(N−1).Sx.Sy
Trong đó N: số quan sát
Sx, Sy là độ lệch chuẩn của từng biến X và Y
- Nếu mối quan hệđó là các dạng khác ngoài đường thẳng ta có hệ số xác định đểđánh giá mức độ phụ thuộc giữa biến X và Y Hệ số xác định được tính theo công thức sau:
Trang 36yˆ là trị số lý luận của phương trình hồi quy
Theo công thức thì hệ số xác định R2 là tỷ lệ biến động của đại lượng
Y được giải thích bởi phương trình hồi quy yˆ Giá trị của hệ số xác định
R2được giới hạn từ 0 đến ±1, R2 càng cao thì sự phụ thuộc của tổng thu nhập của các HGĐ vào các biến sốđó càng lớn
Các số liệu đã phân loại theo nhóm công thức được đưa vào phần mềm SPSS để tính toán Việc đánh giá mức độ phù hợp của các phương
trình tương quan, đề tài đã sử dụng những chỉ tiêu: Mức độ liên hệ, sự tồn tại của chỉ tiêu biểu thị mức độ tương quan, sự tồn tại của các tham số trong phương trình tương quan, hệ số biến động, hệ số chính xác của phương trình tương quan…được thực hiện theo hướng dẫn của Ngô Kim
Khôi (1998) ; Nguyễn Hải Tuất và Nguyễn Trọng Bình (2005); Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh và Ngô Kim Khôi (2006)
Các mô hình quan hệ có thể có biến đơn hoặc tổ hợp biến, tuyến tính hoặc phi tuyến tính và mô hình được lựa chọn đảm bảo nguyên tắc chính xác, đơn giản, dễ dàng áp dụng, ưu tiên dạng tuyến tính sau đó mới đến dạng hàm phức tạp như hàm mũ, bậc 2, bậc 3, logarit, phù hợp với thực tế
về chiều hướng quan hệ, mức độảnh hưởng
Phân tích các mối quan hệ nhân quả làm cơ sở đề xuất giải pháp quản
lý TNR ở khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng ma trận Win-Loss (Được - Mất), để phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế hộ với quản lý TNR ở khu vực vùng đệm và vùng lõi KBTTN Nà Hẩu Trên cơ sở những phân tích trên, với mục tiêu hướng tới hài hoà giữa phát triển kinh tế hộ và quản lý TNR, đề tài xác định giải pháp QLTNR gắn với phát triển KT-XH tại khu vực nghiên cứu
Trang 37Quản lý tài nguyên rừng
- “Mất-Mất” nghĩa là kinh tế hộ kém phát triển và tài nguyên rừng
không quản lý được hay cả kinh tế hộ và tài nguyên rừng đều bị thua thiệt
Phân tích này làm cơ sởđểđề xuất giải pháp Phương án tốt nhất là chọn
“Được - Được” trong đề xuất giải pháp và không chọn “Mất - Mất” trong đề xuất giải pháp Trong từng điều kiện cụ thể, tại những thời điểm nhất định
sẽ lựa chọn phương án “Được - Mất” hoặc “Mất - Được” đểđề xuất giải pháp
Win-Win Được)
(Được-+ (Được-+
Win-Loss Mất)
(Được-+ - Loss-Win (Mất-
Được)
- +
Loss-Loss Mất)
(Mất (Mất
Trang 38Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
3.1.Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
3.1.1.Vị trí địa lý, diện tích và ranh giới
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa phận của bốn xã phía Nam của huyện Văn Yên: xã Nà Hẩu, xã Đại Sơn, xã Mỏ Vàng và xã Phong Dụ Thượng Khu BTTN cách trung tâm huyện 30km và có vị trí địa lý như sau:
Từ 104º23’ đến 104º40’ kinh độ Đông
Từ 21º50’ đến 22º01’ vĩ độ Bắc
Phía Bắc giáp các xã Xuân Tầm, Tân Hợp, Đại Phác huyện Văn Yên Phía Đông giáp xã Viễn Sơn huyện Văn Yên
Phía Đông – Nam giáp huyê ̣n Trấn Yên
Phía Nam giáp huyện Văn Chấn
Phía Tây và Tây – Nam giáp huyện Mù Cang Chải
Phía Tây Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
Tổng diện tích tự nhiên khu vực 4 xã là 43.850ha, chiếm 31,6% tổng diện tích (27 xã) toàn huyện
3.1.2 Địa hình - địa thế
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trong vùng địa hình đồi núi trung bình và cao thuộc lưu vực sông Hồng của dãy Hoàng Liên Sơn Nhìn toàn cảnh, các dãy núi cao phổ biến từ 1000-1400m, chạy theo hướng từ Tây – Bắc đến Đông – Nam và thoải dần về phía Đông – Bắc Cao nhất trong khu vực là đỉnh núi ở phía Nam, là điểm tiếp giáp ranh giới giữa Nà Hẩu – Phong Dụ Thượng và Văn Chấn, cao khoảng 1783m Tiếp đến là đỉnh phía Bắc thuộc Núi Khe Vàng cao 1412m, là điểm tiếp giáp ranh giới của ba xã Xuân Tầm, Đại Sơn và Phong Dụ Thượng
Trang 39Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu là đầu nguồn của hai lưu vực suối lớn chảy theo hướng Bắc đổ ra sông Hồng, đó là lưu vực Ngòi Thia trên địa phận
ba xã Nà Hẩu, Đại Sơn và Mỏ Vàng, lưu vực thứ hai trên địa phận xã Phong
Dụ Thượng thuộc Ngòi Hút Phân chia giữa hai lưu vực này chính là dãy núi cao 1000m nối 2 đỉnh cao nhất kể trên, là ranh giới giữa Phong Dụ Thượng với Nà Hẩu và Đại Sơn
Khu vực có các kiểu địa hình chính sau đây:
- Kiểu địa hình núi cao (N1):
- Kiểu địa hình Núi trung bình (N2
- Kiểu địa hình Núi thấp (N3)
- Kiểu địa hình Đồi (Đ)
- Kiểu địa hình thung lũng (T)
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho biết: Khu vực KBT có quá trình hình thành và phát triển địa chất rất phức tạp Toàn vùng có cấu trúc dạng nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ
Được hình thành trong điều kiện địa chất phức tạp vời nhiều kiểu dạng địa hình và đá mẹ khác nhau, nên có nhiều loại đất được hình thành trong khu vực Chủ yếu gồm các loại đất Feralit với tầng đất được phong hoá từ đá trầm tích, đá mác ma và đá vôi Do khí hậu nóng ẩm tạo nên tầng đất dày với các khoáng vật khó phong hoá như Thạch anh và Silíc Thành phần cơ giới chủ yếu từ trung bình đến nặng
Những nhóm loại đất chính có trong khu vực gồm:
Đất alít có mùn trên núi cao, được hình thành trong điều kiện mát ẩm,
độ dốc lớn, không đọng nước, tầng mùn nhiều, phân bố trên các đỉnh núi cao trên 1400m, chủ yếu tập trung ở phía Nam của Khu bảo tồn
Trang 40Đất feralit có mùn trên núi cao và núi trung bình, được hình thành trong điều kiện ẩm mát, không có kết von và nhiều mùn Nhóm loại đất này phân bố tập trung ở các đai độ cao từ 700m đến 1400m
Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi và núi thấp, được hình thành với quá trình feralitic rất mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào đá
mẹ và độ ẩm Nhóm loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 700m Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất đai khá màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng
Đất dốc tụ chân đồi và ven suối, là loại đất tốt, thích hợp với việc canh tác nông nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 400m hoặc vùng thung lũng và bồn địa Đất có tầng dày, màu mỡ
Đất biến đổi do trồng lúa, là loại đất bị biến đổi do canh tác lúa nước, đất chua, quá trình glây hoá mạnh
3.1.4 Khí hậu, thủy văn