Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững, việc xác định và hoàn thiện một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nề
Trang 1LÊ THỊ ĐIỆP MINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2013
Trang 2LÊ THỊ ĐIỆP MINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ MINH CHÍNH
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Thị Điệp Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình cũng như sự đóng góp chỉ bảo của nhiều đơn vị và cá nhân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các cá nhân và tập thể đã giúp đỡ tôi suốt thời gian qua
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc và sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo – TS Lê Minh Chính là người trực tiếp hướng dẫn khoa học để tôi hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Sau Đại học, các thầy cô giáo những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Uỷ ban nhân dân huyện Yên Mô, phòng Tài nguyên và môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, phòng Thống kê đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu cho tôi thực hiện luận văn
Cảm ơn sự động viên và giúp đỡ của các anh chị đồng nghiệp cũng như bạn bè trong quá trình học tập và thời gian thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn
Lê Thị Điệp Minh
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN……… ……….…………i
LỜI CAM ĐOAN……… ……….…… …ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 5
1.1.2 Các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
1.1.3 Yêu cầu khách quan phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 17
1.1.4 Các nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 21 1.1.5 Các chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 34
1.1.6 Lý luận về hiệu quả sử dụng các nguồn lực chính trong sản xuất nông nghiệp 39
1.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 52
1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở một số nước 52
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 56
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 58
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Mô – tỉnh Ninh Bình 58
2.1.1 Giới thiệu chung về huyện Yên Mô – tỉnh Ninh Bình 58
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 59
Trang 62.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 63
2.2 Phương pháp nghiên cứu 66
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 66
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 66
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 67
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 67
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68
3.1 Thực trạng về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Yên Mô giai đoạn 2000 đến nay 68
3.1.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại huyện Yên Mô giai đoạn 2000 đến nay 68
3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Yên Mô giai đoạn 2000 đến nay 69
3.1.3 Đánh giá tác động của các nhân tố đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Yên Mô 79
3.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với hiệu quả sử dụng các nguồn lực ở huyện Yên Mô 84
3.1.5 Đánh giá chung 94
3.2 Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả các nguồn lực 97
3.2.1 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới của huyện Yên Mô 97
3.2.2 Phương hướng chủ yếu chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Yên Mô 99
3.2.3 Những giải pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
Trang 83.3 Cơ cấu giá trị sản xuất của ngành Nông-Lâm - thủy sản
3.5 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội huyện theo nguồn vốn cấu
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thuỷ sản 70 3.2 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp 72 3.3 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt 73 3.4 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 74 3.5 Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp 75 3.6 Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành thủy sản 76 3.7 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo TPKT 77 3.8 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển cho xã hôi theo nguồn vốn 80 3.9 Dân số trung bình phân theo thành thị, nông thôn 81
3.12 Vốn đầu tư phát triển theo ngành kinh tế 89 3.13 Vốn đầu tư cho ngành nông – lâm – thuỷ sản 90 3.14 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế 92 3.15 Lao động trong các ngành nông – lâm – thuỷ sản 93
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1- Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam trước đây được biết đến là một nước thuần nông, hơn 80% dân số làm làm trong lĩnh vực nông nghiệp Ngay sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Nhà nước đã có chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng tuy nhiên lại chưa đem lại hiệu quả cho nền kinh tế cả nước từ năm 1982, Đảng này quyết định Việt Nam sẽ tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp
và coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng,
và kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý Thời kỳ 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Kinh tế Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuất khẩu gạo Khoán 10 được triển khai từ năm 1988 trên quy mô toàn quốc càng khuyến khích nông dân sản xuất lúa gạo
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đang dần phát triển kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cơ cấu kinh tế thay đổi theo từng thời kỳ với xu hướng giảm tỷ trọng của ngành nông lâm nghiệp Và tập trung phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả các nguồn lực
Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994), tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây, trong khi các các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng Đóng góp của
Trang 11nông nghiệp vào tạo việc làm còn lớn hơn cả đóng góp của ngành này vào GDP Trong năm 2005, có khoảng 60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản Sản lượng nông nghiệp xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2005 Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ ba trên thế giới về xuất khẩu gạo
Phát triển nông nghiệp luôn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững, việc xác định và hoàn thiện một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế không chỉ là yêu cầu có tính khách quan, mà còn là một trong những nội dung chủ yếu của quá trình công nghiệp, hiện đại hóa đất nước Đó là quá trình biến đổi về chất, toàn diện và là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, phát huy lợi thế so sánh của từng khu vực, trong đó phát triển một nền nông nghiệp và thị trường hàng hoá đa dạng trên cơ sở một nền nông nghiệp gắn bó với công nghiệp, phát triển ngành nghề mới, một hệ thống dịch vụ có hiệu quả đáp ứng các yêu cầu phát triển trên địa bàn nông thôn
Để hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên những nguồn lực sẵn có để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu đó theo hướng phát triển bền vững Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có hoàn thiện, có tận dụng được các nguồn lực thì mới là đòn bẩy cho phát triển kinh tế cả nước nói chung Việc xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm phát huy tối đa tiềm lực và lợi thế của huyện để phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao việc sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và với huyện Yên Mô – tỉnh Ninh Bình nói riêng Đó là lý do tôi lựa chọn đề tài:
“Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 12nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” làm luận văn tốt nghiệp Nguồn lực
trong phát triển kinh tến nói chung và với phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng có rất nhiều nguồn lực trong đó gồm nguồn lực kinh tế và phi kinh tế
Để tập trung đánh giá được hiệu quả sử dụng nguồn lực với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tôi chỉ lựa chọn ba nguồn lực chính có vai trò chủ đạo nhất đó là vốn, đất đai và lao động trong phạm vi giới hạn của luận văn
2-Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
+ Đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp ở huyện Yên Mô và hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài :
Trang 13+Phạm vi về nội dung: Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
+Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình và đi sâu cụ thể vào một số xã điển hình
+Phạm vi về thời gian: Tiến hành nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Yên Mô từ năm 2000 đến nay
4- Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luâ ̣n về vấn đề nghiên cứu
- Thực tra ̣ng vấn đề nghiên cứu
- Giải pháp đề xuất
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia trên thế giới, bởi vì cơ cấu hợp lý sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và vững chắc hơn Hiện nay, khi toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành
xu thế tất yếu khách quan thì việc xây dựng cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng không thể chỉ căn cứ vào điều kiện trong nước,
mà còn phải tính đến yếu tố bên ngoài, trong đó có xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố
có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian
và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể, hướng vào thực hiện các mục tiêu đã định
Cơ cấu kinh tế thường gồm 3 phương diện hợp thành, đó là: (1) cơ cấu ngành kinh tế: phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội của một quốc gia; (2) cơ cấu thành phần kinh tế: biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng, lãnh thổ trong quá trình phát
Trang 15triển; (3) cơ cấu vùng lãnh thổ: được hình thành bởi việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Trong cơ cấu vùng lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ Tùy theo tiềm năng phát triển kinh tế, gắn liền với sự hình thành phân bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp hay ưu tiên một vài ngành kinh tế nào đó Việc chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệu quả của các ngành kinh tế trên lãnh thổ và trên phạm vi cả nước
Ba loại hình cơ cấu trên đặc trưng cho cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ
có thể được hình thành và phát triển trên phạm vi vùng lãnh thổ và trên phạm
vi cả nước Đồng thời, việc phân bố sản xuất trên những vùng lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên vùng lãnh thổ
Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật cụ thể của từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế, trên cơ sở đó khai thác thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước và tao điều kiện nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khắc phục sự lạc hậu của nhiều vùng, nhiều dân tộc
1.1.1.2 Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nông - lâm - ngư nghiệp là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn của cơ cấu kinh tế Cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp cũng là một cấu trúc gắn bó hữu cơ nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau cùng tồn tại và phát triển trong những thời gian và không gian nhất định Do đó, cơ cấu nông nghiệp bao gồm các
Trang 16ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng đánh bắt thủy sản Bản thân nhiều ngành trong nông nghiệp lại là những hệ thống nhỏ mà trong nhiều hệ thống nhỏ đó lại có những yếu tố, những thuộc tính giống nhau tạo thành hệ thống nhỏ hơn Sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng, cơ cấu các ngành trong nông nghiệp cũng vận động, biến đổi không ngừng mở rộng Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong cơ cấu ngành nông nghiệp còn có thêm các ngành như: ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ nông nghiệp… mang tính chuyên môn hóa rõ rệt và tiếp tục có những phát sinh thêm những ngành mới nữa (công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp) Thiếu những ngành này không thể có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh được
Do vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh tế là một ngành lớn một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp hệ khác nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn định tương đối, trong các mối quan hệ khăng khít, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố, được xác định bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng Cơ cấu nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, nguồn nước và các điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.1.3 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế luôn thay đổi Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển, gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tất yếu gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, đặt biệt là sự phát triển trong quá trình hội nhập Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra như thế nào phụ thuộc vào các yếu tố như quy mô kinh tế, mức độ mở cửa của nền kinh tế với bên ngoài, dân số của một quốc gia, các lợi thế tự nhiện, nhân lực, điều kiện kinh tế, văn
Trang 17hóa,… Nhân tố quan trọng khác góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đó là quá trình chuyên môn hóa trong phạm vi quốc gia và mở rộng chuyên môn hóa quốc tế và thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật Chuyên môn hóa mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng suất lao động xã hội Chuyên môn hóa cũng tạo
ra những hoạt động dịch vụ và chế biến mới, làm cho tỷ trọng các ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành dịch vụ kỹ thuật mới tăng trưởng nhanh chóng và dần dần chiếm ưu thế Phân công lao động và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát triển sâu sắc tạo ra những tiền đề cho phát triển thị trường các yếu tố sản xuất Và ngược lại, việc phát triển thị trường các yếu tố sản xuất lại thúc đẩy quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và do vậy làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thực chất chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phát triển không đều giữa các ngành Ngành có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại Nếu tất cả các ngành có cùng một tốt
độ tăng trưởng thì tỷ trọng các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có chuyển dịch cơ cấu ngành
Độ dịch chuyển cơ cấu thường thay đổi nhiều trong thời kỳ tăng trưởng nhanh vì khi đó sự chênh lệch về tốc độ giữa các bộ phận sẽ lớn Khi tăng trưởng thấp độ dịch chuyển cơ cấu sẽ chậm hơn do sự chênh lệch trong tốc độ phát triển giữa các bộ phận sẽ không lớn
1.1.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự vận động của các yếu tố cấu thành của kinh tế nông nghiệp theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định
Trang 18Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp là sự thay đổi tương quan
tỷ lệ của mỗi ngành chuyên môn hóa trong tổng thể các ngành trong nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng nông nghiệp là sự chuyển dịch của các ngành nông nghiệp xét theo từng vùng trong nông nghiệp Về thực chất, đó cũng là sự chuyển dịch của ngành nhưng được xem xét ở phạm vi hẹp hơn theo từng vùng lãnh thổ Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên nước ta, việc kết hợp sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp trên toàn vùng lãnh thổ cũng như trong từng vùng là yêu cầu tất yếu khách quan Thực chất đó là quan điểm sinh thái của sự kết hợp Vì việc kết hợp giữa nông, lâm, ngư nghiệp cho phép tạo ra cân bằng sinh thái hợp lý đảm bảo những điều kiện cần thiết cho sản xuất (đất đai, khí hậu, nước, độ ẩm, …) kinh doanh lâu dài với hiệu quả cao
Đó còn là yêu cầu tất yếu của việc sử dụng tài nguyên, tổ chức sản xuất hợp
lý theo lãnh thổ
Ở nước ta hiện nay, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có những đặc điểm chủ yếu là nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng công nghiệp có tăng song chưa đạt mức mong muốn Trong nội bộ ba nhóm ngành lớn, cơ cấu ngành đã có những thay đổi theo hướng tích cực, có tác dụng bước đầu đối với sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân, song chưa vững chắc, chưa đáp ứng yêu cầu thị trường Trong nội bộ các ngành, đặc biệt là ngành nông – lâm – ngư nghiệp, trình độ trang bị kỹ thuật còn thấp, năng suất cây trồng vật nuôi chưa cao, chất lượng hàng hóa (kể cả hàng hóa
đã qua chế biến) còn thấp đã hạn chế khả năng xuất khẩu ra thị trường thế giới Lao động thủ công và bán cơ giới còn khá phổ biến nên năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trong công nghiệp máy móc thiết bị đã ít về chủng loại lại lạc hậu về công nghiệp, phần lớn thuộc về thế hệ cũ trang bị
Trang 19chấp vá, nhất là công nghiệp nhẹ, công nghiệp nông thôn còn nhỏ bé, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, nên chưa có sức thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp
Nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trùng với thời điểm thế giới đang diễn ra những thay đổi lớn về chính trị, kinh tế
Xu hướng hòa bình và hợp tác để phát triển, toàn cầu hóa và khu vực hóa đời sống kinh tế
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hóa và hợp tác hóa giữa các quốc gia làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng Trong điều kiện đó, chúng ta muốn nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành mới tích cực nhưng gặp khó khăn là vốn, trình độ công nghệ thấp kém, lao động trình độ thấp… Bởi vậy các khó khăn bất cập xảy ra thường xuyên trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu là điều kiện tất yếu và chúng đòi hỏi phải có các giải pháp và điều chỉnh hợp lý
1.1.2 Các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cho đến nay, trên thế giới có nhiều lý thuyết lý giải về nguồn gốc, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ra đời và ngày càng hoàn thiện thông qua việc kế thừa, chọn lọc và kiểm nghiệm qua thực tiễn tùy thuộc vào đặc điểm
cụ thể của từng nền kinh tế trong từng giai đoạn khác nhau Đối với nền nông nghiệp nước ta nước chung và các vùng miền nói riêng hiện nay, việc lựa chọn các lý thuyết kinh tế để làm cơ sở cho phân tích, đánh giá và xác định hướng đi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu cần căn cứ vào các đặc điểm chủ yếu sau:
- Nền nông nghiệp đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng hội nhập kinh tế toàn cầu, làm thế nào để lựa chọn các ngành, các lĩnh vực ưu tiên đầu tư trong điều kiện nguồn lực có hạn mà vẫn có thể đạt được một cơ cấu hợp lý và thúc đẩy tăng trưởng bền vững
Trang 20- Nền kinh tế đang tồn tại và phát triển hai khu vực kinh tế, những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đòi hỏi không chỉ có sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế giữa các khu vực mà phải chuyển dịch ngay cả trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp thông qua việc phân bố lại các yếu tố nguồn lực
- Sản xuất nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển dịch nhanh theo hướng tập trung, thâm canh cao với phát triển bền vững cả về tự nhiên và
xã hội
Với những đặc điểm nêu trên việc vận dụng đan xen các lý thuyết kinh
tế có liên quan trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tận dụng những mặt mạnh, hạn chế những mặt yếu là cần thiết Các lý thuyết được trình bày thành ba nhóm phù hợp một cách tương đối với các đặc điểm
đã nêu
1.1.2.1 Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa
Lý thuyết của K Marx: theo Marx, đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật là các yếu tố cơ bản tác động đến quá trình tái sân xuất Trong đó Marx cho rằng đất đai chính là sự giới hạn của tăng trưởng, còn lao động là một hàng hóa đặc biệt, có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị
đó bằng giá trị sức lao động (V) dành cho bản thân người lao động cộng với giá trị thặng dư (m) thuộc về nhà tư bản Phần giá trị thặng dư này, sau khi nhà tư bản tiêu dung cho sinh hoạt, được sử dụng cho tái sản xuất cả theo chiều rộng và chiều sâu Tiến bộ kỹ thuật, Marx xem là yếu tố chính giúp tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và là cách duy nhất để tăng năng suất lao động nhằm mục đích cuối cùng là tăng giá trị thặng dư Vốn là phần giá trị thặng
dư tích lũy cho phát triển sản xuất thông qua tiết kiệm ngoài phần tiêu dùng của nhà tư bản Như vậy, Marx đã chỉ rõ vai trò đóng góp của từng yếu tố cơ bản vào quá trình tái sản xuất mở rộng nền kinh tế và là nền tảng cơ bản để
Trang 21nhiều lý thuyết ra đời sau này kế thừa Marx đã chỉ rõ vai trò của từng yếu tố vốn, lao động, đất đai, tiến bộ kỹ thuật đối với quá trình tái sản xuất xã hội
mở rộng và từ bài học kinh nghiệm về vận dụng quy luật ưu tiên phát triển công nghiệp nặng của Marx đối với các nước cho thấy quá trình lựa chọn các ngành và các lĩnh vực nhằm thực hiện công nghiệp hóa cần phải được xem xét trong những điều kiện cụ thể cũng như cần coi trọng đúng mức vai trò của ngoại thương gồm chiến lược thay thế nhập khẩu và chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu
1.1.2.2 Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu hai khu vực
Lý thuyết hai khu vực của A Lewis: Nền kinh tế ở các nước đang
phát triển song song tồn tại hai khu vực kinh tế, đó là khu vực kinh tế truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và khu vực tinh tế hiện đại, chủ yếu là sản xuất công nghiệp Khu vực nông nghiệp có năng suất cận biên bằng không và luôn thặng dư lao động Số lao động thặng dư này có thể rút ra khỏi khu vực nông nghiệp mà vẫn không làm sản lượng nông nghiệp giảm Việc chuyển bớt lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp sẽ làm cho năng suất lao động và lợi nhuận trong khu vực nông nghiệp tăng lên Khu vực công nghiệp, có năng suất lao động và mức tiền lương cao hơn khu vực nông nghiệp nên có thể thu hút số lao động thặng dư từ khu vực nông nghiệp chuyển đến, nhờ đó tổng sản phẩm và lợi nhuận tăng vì tiền lương công nhân không đổi
Mô hình Lewis cho thấy, tăng trưởng của công nghiệp thông qua tích lũy vốn từ thu hút lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp, không chỉ tạo điều hẹn tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, mà còn tạo sự chuyển dịch cơ cấu lao động và gia tăng năng suất lao động trong khu vực nông nghiệp Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các nền kinh tế còn chủ yếu là nông nghiệp như nước ta
Trang 22Lý thuyết về thay đổi cơ cấu của Chenery: Tỷ trọng của ngành nông
nghiệp trong GDP có xu hướng giảm dần, trong khi tỷ trọng công nghiệp có
xu hướng tăng tương ứng với GDP bình quân đầu người tăng dần Ở mức GDP bình quân đầu người nhỏ hơn 600 USD thì tỷ trọng GDP của nông nghiệp cao hơn công nghiệp Ở mức GDP bình quân đầu người đạt 600 USD thì tỷ trọng GDP của nông nghiệp bằng với công nghiệp và ở mức GDP bình quân đầu người trên 600 USD thì tỷ trọng GDP của nông nghiệp thấp hơn công nghiệp Như vậy, theo lý thuyết của Chenery đặc trưng của các giai đoạn phát triển chính là cơ cấu GDP và sự thay đổi qua các giai đoạn từ thấp lên cao dựa vào sự thay đổi cơ cấu GDP theo hướng tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm dần
Lý thuyết hai khu vực của Harry T Oshima: Tình trạng dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp chỉ xảy ra khi thời vụ không căng thẳng và đối với các nước đang phát triển, đầu tư chiều sâu cả nông nghiệp và công nghiệp là không khả thi vì nguồn lực và trình độ lao động của các nước này
có hạn, từ đó ông đã đưa ra mô hình thay đổi cơ cấu kinh tế hai khu vực theo
ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Đầu tư nông nghiệp theo chiều rộng nhằm tạo ra việc làm cho nông dân trong lúc nông nhàn bằng cách đa dạng hóa cây trồng, phát triển các ngành nghề về chăn nuôi và chế biến ngay trong địa bàn nông thôn Kết quả của giai đoạn này là chủng loại nông sản đa dạng với quy mô sản lượng tăng lên, chế biến nông sản tăng, thúc đẩy xuất khẩu tạo ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động phát triển
Giai đoạn 2: Đầu tư phát triển theo chiều rộng cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong đó tiếp tục đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp ở quy mô lớn và ứng dụng công nghệ sinh học để gia tăng sản lượng, phát
Trang 23triển công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng việc làm cao hơn tốc độ tăng trưởng lao động
Giai đoạn 3: Phát triển tất cả các ngành theo chiều sâu nhằm giảm nhu cầu lao động, trong đó đối với nông nghiệp Đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ sinh học để tăng nhanh năng suất lao động, tạo điều kiện rút bớt lao động ra khỏi khu vực này mà không làm giảm sản lượng; còn đối với công nghiệp, thu hẹp công nghiệp thâm dụng lao động, mở rộng công nghiệp thâm dụng vốn để nâng sức cạnh tranh của sản phẩm và giảm nhu cầu lao động
Mô hình Todaro: Quá trình phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn
từ thấp đến cao, tương ứng với mỗi giai đoạn là một cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp gắn với vai trò tác động của các nhân tố
Giai đoạn 1: Nền nông nghiệp tự cung tự cấp: đất đai và lao động là
những yếu tố chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất, đầu tư vốn không cao Sản lượng nông nghiệp tăng trong giai đoạn này chủ yếu do mở rộng diện tích và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, lợi nhuận nông nghiệp có xu hướng giảm dần và thể hiện rõ khi mở rộng sản xuất trên diện tích đất không màu mỡ
Giai đoạn 2: Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng đa dạng
hóa: đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ sở cải tiến kỹ thuật canh tác Sử dụng giống mới, tăng bón phân hóa học và mở rộng diện tích tưới tiêu chú động để gia tăng năng suất cây trồng và năng suất đất đai trong nông nghiệp, dẫn tới sản lượng lương thực tăng, đủ đáp ứng nhu cầu xã hội và tạo điều kiện chuyển một phần diện tích sản xuất lương thực sang sản xuất các sản phẩm hàng hóa khác theo nhu cầu thị trường và mức tăng thu nhập của dân cư
Trang 24Giai đoạn 3: Nền nông nghiệp hiện đại: phát triển sản xuất ở quy
mô trang trại lớn theo hướng chuyên môn hóa, áp dụng tối đa công nghệ mới vào sản xuất một số loại sản phẩm riêng biệt có lợi thế cạnh tranh cao
Như vậy, Todaro nhấn mạnh vai trò tác động của các yếu tố đến quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp qua các giai đoạn từ độc canh chuyển sang đa canh và sang chuyển môn hóa ở mức cao
Mô hình Sung Sang Park: quá trình phát triển nông nghiệp trải qua 3
giai đoạn, gồm: sơ khai, đang phát triển và phát triển Mỗi giai đoạn của quá trình phát triển Sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau
và được mô tả dưới dạng hàm sản xuất
Giai đoạn sơ khai: sản lượng nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào các
yếu tế tự nhiên và lao động, được khái quát bằng hàm sản xuất: Y = F (N, L) trong đó Y là sản lượng nông nghiệp, N là các yếu tố tự nhiên và L là lao động Trong giai đoạn này, quy luật năng suất cận biên có xu hướng tăng dần
là do lao động nông nghiệp chuyển sang khu vực phi nông nghiệp diễn ra chậm
Giai đoạn đang phát triển: sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc
vào các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp (phần bón, thuốc trừ sâu), hàm sản xuất được khái quát: Y = F (N, Li + P(R), trong
đó R là các yếu tố đầu vào do công nghiệp cung cấp Trong giai đoạn này, nhờ sử dụng nhiều các yếu tố đầu vào được sản xuất từ công nghiệp làm cho sản lượng tăng nhanh và đạt mức cao hơn nhiều so với giai đoạn sơ khai, sau đó sẽ giảm xuống theo quy luật năng suất biên giảm dần
Giai đoạn phát triển: sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào công nghệ
thâm dụng vốn hay máy móc sử dụng trong nông nghiệp
Trang 25Tóm lại, Sung Sang Park cho rằng, trong giai đoạn phát triển, để tăng năng suất đất nông nghiệp cần tăng cung ứng các yếu tố đầu vào được sản xuất từ công nghiệp, còn muốn tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp cần tăng đầu tư vốn cho nông nghiệp dưới dạng máy móc, trang thiết bị hay nói cách khác là yếu tố quyết định để nâng cao thu nhập của lao động là tăng năng suất lao động nông nghiệp thông qua hiện đại hóa các khâu trong quy trình sản xuất
1.1.2.3 Nhóm lý thuyết về phát triển nông nghiệp bền vững
Mặc dù vẫn còn những quan điểm khác nhau về mô hình phát triển nông nghiệp bền vững, nhưng hầu hết các nhà kinh tế học đều nhìn nhận giữa tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với môi trường tự nhiên, sự nghèo đói và môi trường nhân văn ở nông thôn có mối quan hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau và được thể hiện ở các khía cạnh dưới đây:
Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với môi trường tự nhiên: để gia tăng sản lượng nông nghiệp, có hai phương thức thực hiện, đó là phương thức quảng canh và phương thức thâm canh
Đối với phương thức quảng canh, việc mở rộng diện tích canh tác do chặt phá rừng và sản xuất độc canh, chỉ có thể đưa đến tăng trưởng nông nghiệp trong ngắn hạn, còn trong dài hạn môi trường tự nhiên sẽ bị suy thoái, dẫn tới sản lượng và thu nhập sẽ giảm sút
Đối với phương thức thâm canh, tình trạng lạm dụng cao các hóa chất
để gia tăng sản lượng cũng dẫn đến suy thoái môi trường tự nhiên và sản lượng nông nghiệp giảm sút Tuy nhiên, phương thức thâm canh có khả năng khắc phục suy thoái môi trường bằng việc sử dụng các hóa chất đầu vào đúng liều lượng và đúng cách, đầu tư phát triển hệ thống tưới tiêu ngăn mặn cũng như đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và vật nuôi, khôi phục và bảo vệ tốt tài nguyên rừng
Trang 26Rõ ràng là nguyên nhân của mất cân bằng sinh thái không phải do tăng, trưởng và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp mà do phương thức thực hiện chúng gây ra Do đó, mô hình phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình sử dụng các phương thức canh tác đa canh, tiến bộ để thực hiện tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhưng không làm suy thoái môi trường Có nhiều chỉ tiêu có thể sử dụng để phản ánh mối quan hệ này, trong đó chỉ tiêu được xem là tổng hợp và thường được sử dụng nhiều nhất là tỉ lệ che phủ của rừng
Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với sự nghèo đói: cả phương thức quảng canh và phương thức thâm canh thiếu khoa học đều dẫn đến suy thái môi trường và giảm sản lượng nông nghiệp trong dài hạn, trong khi dân số liên tục tăng, hệ quả là thất nghiệp và nghèo đói trong nông thôn xuất hiện, ngay cả khi áp dụng các kỹ thuật sản xuất đảm bảo không suy thoái môi trường vẫn dẫn đến tình trạng nghèo đói
do sản lượng tăng nhanh, làm giá giảm và thu nhập của nông dân, nhất là các
hộ sản xuất nhỏ bị giảm sút Như vậy, một hệ thống nông nghiệp phát triển bền vững, phải là một hệ thống nông nghiệp vừa bền vững về môi trường tự nhiên, vừa bền vững về phát triển tinh tế - xã hội Tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp với môi trường con người ở nông thôn: chất lượng môi trường sống của con người ở nông thôn bao gồm hai mặt cơ bản, đó là tình trạng sức khoẻ - dinh dưỡng và trình độ văn hóa của nguồn nhân lực ở nông thôn
1.1.3 Yêu cầu khách quan phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.3.1 Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp phải gắn với khai thác triệt để các lợi thế so sánh của đất, nước cũng như của từng vùng, từng địa phương
Nước ta có nhiều lợi thế trong kinh tế, như lợi thế về tự nhiên, lao động,
Trang 27lợi thế về các nghề truyền thống Một số địa phương lại có những lợi thế riêng, để vận dụng quan điểm này vào quá trình chuyển dịch cơ cấu, đòi hỏi phải đánh giá khách quan, có cơ sở khoa học những lợi thế so sánh của đất nước cũng như từng vùng địa phương trong quá trình phát triển các ngành
Khai thác lợi thế so sánh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành các sản phẩm, các ngành mũi nhọn mà đất nước có khả năng, từ đó hình thành các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn, đi vào chuyên môn hóa Tuy nhiên, nhiều lợi thế so sánh của đất nước cũng như từng vùng địa phương đa dạng ở tiềm năng Khai thác có hiệu quả các lợi thế đó hay không còn phụ thuộc chiến lược phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Mặt khác, cần nhận thức rằng khai thác lợi thế so sánh trong chuyển dịch cơ cấu không có nghĩa là tập trung sản xuất sản phẩm
ta có, mà phải luôn hướng theo nhu cầu thị trường, phải nhạy bén trước nhu cầu thị trường
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp phải phù hợp khả năng của nền kinh
tế và quan hệ quốc tế hiện nay
Đòi hỏi phải đánh giá khách quan đúng khả năng nền kinh tế (tài nguyên, vốn, lao động, khoa học ) Trên cơ sở đánh giá đúng khả năng nền kinh tế, lựa chọn một cơ cấu thích hợp, xác định quy mô phát triển đúng từng ngành, từng sản phẩm Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có tác động lớn đến
sự phát triển nông nghiệp Việt Nam Từ khi Việt Nam đổi mới các chính sách kinh tế (1986), sản lượng nông nghiệp đã tăng nhanh, với động lực chính là việc tự do hóa nhanh chóng nền kinh tế quốc dân và thừa nhận vai trò của người nông dân như là một tác nhân kinh tế tự chủ Sự tăng trưởng này đã giúp giảm nghèo một cách rõ rệt ở nông thôn và Việt Nam đã chuyển mình từ một nước phải nhập khẩu lương thực thành một nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới Đồng thời từ một nước xuất khẩu cà phê như Việt Nam cũng đã
Trang 28trở thành nước xuất khẩu nhiều nhất cà phê Trong trường hợp lúa gạo, sự gia tăng sản lượng nếu không có xuất khẩu chắc chắn sẽ chậm hơn nhiều, bởi vì lượng gạo dư thừa sẽ làm giảm giá gạo trong nước xuống mức thấp hơn so với giá đạt được nhờ xuất khẩu Do đó, rõ ràng là sự tồn tại của thị trường thế giới và sự hội nhập của Việt Nam vào những thị trường này là điều kiện tiên quyết cho sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành nông nghiệp
Nền nông nghiệp Việt Nam đã chứng tỏ khả năng cạnh tranh quốc tế bằng cách tăng thị phần một loạt các hàng hóa nông nghiệp quan trọng của mình trong thương mại toàn cầu Nhưng bên cạnh những mặt tích cực đó, khu vực nông thôn tăng trưởng chậm hơn so với toàn bộ nền kinh tế nói chung và vẫn là một khu vực có vấn đề với tỷ lệ nghèo phổ biến với nhiều hình thức
1.1.3.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là xu hướng vận động có tính khách quan, dưới tác động của nhiều nhân tố ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan; trong nước và nước ngoài Trên thực tế, cùng với quá trình hình thành và phát triển phong phú, đa dạng của các ngành kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, thì cơ cấu giữa các ngành cũng ngày càng phức tạp và luôn biến đổi theo nhu cầu xã hội, theo đà phát triển của thị trường và theo khả năng của sản xuất để khai thác các nguồn lực vừa để đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa nâng cao hiệu quả của sản xuất Quá trình đó thể hiện sự tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp, là bước chuyển
từ chỗ khai thác sử dụng các tài nguyên và nguồn lực thực dụng vì mục đích trước mắt, mục đích có tính nội bộ (người sản xuất, trong từng vùng riêng biệt, tiêu dùng nội bộ) sang sử dụng hợp lý, khoa học hơn, gắn lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, gắn lợi ích kinh tế với các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái Quá trình đó được khái quát bởi các xu hướng sau:
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 29Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trước hết là quá trình chuyển từ nền nông nghiệp độc canh, mang tính tự cấp, tự túc sang nền nông nghiệp sinh thái đa dạng và bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có nghĩa là sản xuất sản phẩm để bán chứ không phải để tiêu dùng cho bản thân và gia đình
họ Vì vậy, sản xuất ra loại hàng hóa gì? Sản lượng bao nhiêu? Cơ cấu chủng loại thế nào? Điều đó không phụ thuộc người sản xuất mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ và khả năng tiêu thụ của thị trường, do sự chi phối của thị trường,
đó là mối quan hệ: Thị trường - Sản xuất hàng hóa - Thị trường
Phát triển sản xuất hàng hóa giúp phá bỏ cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu, xác lập cơ cấu kinh tế mới tiên tiến phù hợp Một khi cơ cấu kinh tế nông nghiệp được xác lập hợp quy luật, sẽ mở đường cho phát triển sản xuất hàng hóa Cho nên có thể nói, không thể đẩy mạnh sản xuất hàng hóa mà không biến đổi
cơ cấu sản xuất và ngược lại, nếu không biến đổi cơ cấu sản xuất thì cũng không có hoặc có rất ít hàng hóa để cung ứng ra thị trường Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa phải được xem là vấn
Trang 30từ yêu cầu nội tại của từng ngành, từng mối quan hệ giữa các ngành và yêu cầu của việc khai thác sử dụng các tiềm năng để phát triển kinh tế, vừa giải quyết vấn đề việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời khôi phục, bảo vệ và tạo lập môi trường sinh thái bền vững
Sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo các xu hướng vận động trên là kết quả tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp thủy sản và dịch vụ nông nghiệp Sự phát triển của nông nghiệp tổng hợp và dịch vụ nông nghiệp được phát triển và phát triển với tốc độ nhanh làm cho cơ cấu kinh tế
có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành lâm ngư nghiệp và dịch vụ nông nghiệp Sự phát triển của các ngành được thực hiện trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó gắn bó giữa nông nghiệp với các ngành dịch vụ, kể cả dịch vụ du lịch
Như vậy cơ cấu nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh
tế, là một ngành lớn một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp
hệ khác nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn định tương đối, trong các mối quan hệ chằng chịt, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố, được xác định bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng
Cơ cấu nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, nguồn nước và các điều kiện kinh tế xã hội
1.1.4 Các nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.4.1 Nhóm các nhân tố kinh tế
* Vốn
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Vốn sản xuất vận động không ngừng: từ phạm vi sản xuất đến phạm vi lưu thông và trở về sản xuất Vốn trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao
Trang 31động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, nhằm bảo đảm an toàn lương thực quốc gia, tăng nông sản xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính chất quyết định là vốn
Vốn đầu tư nông nghiệp: là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất và khi phân tích tác động của vốn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần lưu ý đặc điểm chủ yếu sau:
- Nhu cầu vốn trong nông nghiệp mang tính thời vụ cao hơn các ngành khác
do phụ thuộc vào mùa vụ của cây trồng và vật nuôi
- Đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro hơn do kết quả sản xuất nông nghiệp côn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên
- Mức lưu chuyển vốn chậm do chu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài
- Một số loại vốn như hạt giống, phân bón, được nông dân sử dụng trực tiếp vào sản xuất mà không được trao đổi trên thị trường, nên khi tính toán vốn phải dựa trên giá trị cơ hội của các loại vốn đó
- Nguồn vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ vốn tự có của nông dân đo tiết kiệm được và đầu tư vào tái sản xuất mô rộng; vốn đầu tư của ngân sách nhà nước chủ yếu cho xây dựng kết cấu hạ tầng, nghiên cứu và triển khai khoa học; vốn vay từ hệ thống định chế tài chính nông thôn; vốn viện trợ và cho vay ưu đãi
từ các chính phủ và tổ chức tài chính - tiền tệ trên thế giới và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Nhu cầu vốn đầu tư cho tái sản xuất mở rộng sản xuất nông nghiệp rất lớn, nhưng khả năng tiết kiệm của nông dân thấp, đầu tư từ ngân sách nhà nước hạn chế, thu hút đầu tư từ nguồn vốn tín dụng và đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp không cao dẫn tới cần phải có sự can thiệp tích cực từ nhà nước thông qua hệ thống cơ chế, chính sách về vốn Cụ thể:
+Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Vấn đề đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn luôn được Nhà nước quan tâm Trước hết cần khẳng định rằng vốn đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước
Trang 32đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Vốn Nhà nước đầu tư cho nông nghiệp có vai trò to lớn, giúp tăng cường năng lực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Vốn ngân sách đóng vai trò đi tiên phong,
mở đường để thu hút các nguồn vốn khác thông qua các hình thức: tạo ra cơ sở hạ tầng tốt, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp đồng thời tạo cho các nhà đầu tư có cảm giác yên tâm hơn đầu tư vào nông nghiệp khi có sự tham gia của Nhà nước
Vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu đầu tư cho thuỷ lợi, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đầu tư vào các công trình trồng rừng, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
+Vốn đầu tư của các hộ nông dân
Tiềm năng của nguồn vốn này là rất to lớn bởi vì nó phụ thuộc lớn vào thu nhập của các hộ nông dân Khi năng lực sản xuất tăng, năng suất lao động tăng thì thu nhập của hộ nông dân cũng tăng Thu nhập của các hộ nông dân một phần phục
vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày, một phần tích luỹ Mặt khác, đầu tư của các hộ nông dân phụ thuộc phần lớn vào tiết kiệm của họ nên khi năng lực sản xuất tăng thì đầu tư của hộ nông dân cũng tăng lên
+Vốn đầu tư cho nông nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng
Ngoài vốn ngân sách, Nhà nước còn đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn qua
hệ thống ngân hàng như ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng
vì người nghèo, ngân hàng thương mại theo phương thức cho vay không lãi hoặc lãi suất ưu đãi để bù giá vật tư nông nghiệp, giá bán nông sản hàng hoá cho nông dân Các ngân hàng trên cho các hộ nông dân vay với lãi suất ưu đãi để phát triển sản xuất nông nghiệp, mua phân bón, mua giống, mua máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, phục vụ cơ sở hạ tầng nông thôn Ngoài ra, các ngân hàng này còn cho các doanh nghiệp vay để mua nông sản của các hộ nông dân với giá trần hợp lý, bù đắp một phần thua thiệt của họ khi giá nông sản trên thị trường xuống quá thấp
Các ngân hàng thương mại cho vay với lãi suất ưu đãi trong các lĩnh vực trọng điểm hoặc các lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích Chênh lệch giữa lãi suất ưu đãi
Trang 33và lãi suất thông thường của ngân hàng thương mại được ngân sách Nhà nước cấp bù- đó là vốn có nguồn gốc từ ngân sách Hình thức này được áp dụng đối với các chương trình chung sống với lũ, chương trình xoá đói giảm nghèo Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn
+Vốn nước ngoài
Đối với các nước đang phát triển, để phát triển kinh tế, thoát khỏi cảnh nghèo thì vấn đề nan giải ngay từ đầu là thiếu vốn gay gắt, từ đó sẽ dẫn đến thiếu nhiều thứ khác như công nghệ, cơ sở hạ tầng
Nông nghiệp cũng là ngành nằm trong xu thế đó Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững thì tất yếu phải đầu tư cho nông nghiệp Tuy nhiên, Việt Nam là một nước nghèo, nên vốn đầu tư từ trong nước còn rất hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư phát triển đất nước Vì vậy, trên con đường phát triển không thể không huy động nguồn vốn nước ngoài, tranh thủ nguồn vốn này nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở
Đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã đóng góp tốc độ
và quy mô đầu tư cho nông nghiệp và cho nền kinh tế Phương thức đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp là hỗ trợ kỹ thuật, giống cây trồng vật nuôi, ứng trước vốn cho nông dân mua vật tư, phân bón để đảm bảo sản xuất Ngoài ra các doanh nghiệp còn bao tiêu sản phẩm nông nghiệp cho các hộ nông dân, nhất là những sản phẩm nông sản là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Nguồn vốn này đã góp phần hỗ trợ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết phần nào nhu cầu về vốn cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước
* Con người (lao động)
Con người là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững Tất nhiên, đó
là con người có sức khỏe, có trí tuệ, có kỹ năng cao, có ý trí và nhiệt tình lao động và được tổ chức có hợp lý
Trang 34Lao động là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất, không chỉ là số lượng người lao động mà còn cả chất lượng lao động Do đó, đầu tư nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này
Nguồn nhân lực nông nghiệp (NNLNN) là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có làm việc hay không và những người ngoài đọ tuổi lao động có thể và cần hay trong tương lai sẽ tham gia vào lực lượng sản xuất nông nghiệp với tất cả những kiến thức, kỹ năng
và năng lực về chuyên môn nông nghiệp có liên quan tới sự phát triển xã hội, ngoài ra nó còn đề cập đến vấn đề thể chất, trình độ văn hóa
Nguồn nhân lực trong nông nghiệp có các đặc điểm sau:
- NNLNN dồi dào, tốc độ tăng nhanh hơn so với khu công nghiệp và thành thị
Đây là đặc điểm cơ bản của NNLNN ở các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam Do ở nông thôn người dân còn nghèo nên cơ hội tiếp xúc với
hệ thống giáo dục cũng như các phương tiện truyền thông, biện pháp tránh thai còn hạn chế, trình độ dân trí còn thấp và còn nhiều tư tưởng lạc hậu như trọng nam kinh nữ, thích nhiều con để có nhân lực trong những mùa vụ nên tỷ
lệ sinh và tốc độ phát triển dân số ở nông thôn tăng nhanh hơn so với khu vực thành thị và khu công nghiệp
- NNLNT nhìn chung có trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật thấp
và không đồng đều hơn so với các khu vực khác của nền kinh tế
Do cuộc sống ở nông thôn nhất là vùng sâu, vùng xa hết sức khó khăn, không có điều kiện đến trường nên hiện tại một bộ phân đáng kể số lao động
ở nông thôn vẫn chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp cấp I Nếu ở thành thị có khoảng 12% lao động làm việc chưa tốt nghiệp tiểu học thì con số đó ở nông thôn gấp 2 lần Khoảng 90% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật
Trang 35và nghiệp vụ mới chỉ được đào tạo chắp cá trong một thời gian ngắn Do khó khăn nên người dân không có điều kiện chăm lo cho sức khỏe cũng như học hành của con em mình Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo thấp là trở ngại lớn trong việc thúc đẩy phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, trở ngại tăng năng suất lao động để đáp ứng mục tiêu CNH - HĐH
- NNLNT (đặc biệt là bộ phân lao động sản xuất trực tiếp) làm việc có tính chất thời vụ, chưa có việc làm thường xuyên
Ở nông thôn hiện nay, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu Tính thời vụ cao là nét điển hình tuyệt đối không thể xóa bỏ được của sản xuất nông nghiệp bời vì quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhau song lại không hoàn toàn trùng khớp nhau, hơn nữa do sự biến thiên của thời tiết, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó cũng làm nên các mùa vụ khác nhau Do tính chất thời vụ cao nên lao động ở nông thôn thiếu việc làm thường xuyên Thất nghiệp ở nông thôn chủ yếu là bán thất nghiệp
- Phân bố lao động nông thôn không đều giữa các vùng miền trong cả nước Lao động nông thôn thường tập trung ở các đồng bằng và ven biển do ở đây có diều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình… thuận lợi hơn Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là 2 vùng có dân số đông nhất cả nước, đồng bằng sông Hồng chiếm 23,24% dân số cả nước Những cùng có số dân
và lao động ít là những cùng có trình độ kinh tế thấp hơn so với các vùng khác, chủ yếu là vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều dân tộc thiếu số sinh sống Do sự cách biệt về các điều kiện mà hiện nay tình trạng di cư tự do vẫn còn tồn tại Tại nhiều địa phương, sức ép tăng dân số cơ học đang làm mất cân đối nhiều kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, nhất là bố trí trường lớp
để đào tạo nguồn lao động cũng như chăm sóc y tế cho người dân
Trang 36- Sức ép của lao động nông thôn đang ngày một lớn do xu hướng phát triển kinh tế
Do ở nước ta quy mô và tốc độ tăng dân số cao làm cho quy mô và tốc độ tăng nguồn lao động hàng năm về lao động ở nông thôn nhanh hơn khả năng tạo việc làm của nền kinh tế Trong khi đó thì tư liệu sản xuất cỏ bản trong nông nghiệp là đất đai có hạn và có xu hướng ngày càng giảm do dân số tăng nhanh Bên cạnh đó thì do quá trình CNH - HĐH và quá trình đô thị hóa nên đất đai của người đân bị thu hẹp, nhiều người dân bị mất đất mà khả năng tạo việc làm từ quá trình này còn hạn chế, đồng thời do người lao động nông thôn
có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp không đáp ứng được yêu cầu công việc nên sức ép việc làm lao động nông thôn ngày càng tăng do xu thế phát triển của xã hội
- Thu nhập và thù lao lao động thuộc vào loại thấp nhất so với các lĩnh vực khác Mức sống của lao động nông thôn thấp hơn nhiều so với thành thị Trong thời kỳ 1999 -2002, chênh lệch về thu nhập giữa nhóm giàu nhất
và nhóm nghèo nhất đã lên tới 14 lần, sự cách biệt giữa thành thị, nông thôn, giữa người giàu và người nghèo ngày càng tăng Một con số cụ thể về mức thu nhập bình quân đầu người năm 2001 - 2002 cho thấy,trong khi mức chung của cả nước là 356000đ/ người/tháng, thì dân cư khu vực thành thị ở mức 622000đ/ người/tháng, vùng nông thôn chỉ là 275000đ/ người/tháng Bên cạnh đó thu nhập giữa các vùng miền cũng có sự khác nhau Ở các vùng đồng bằng và ven biển có mức thu nhập cao hơn so với vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng có dân tộc thiểu số sinh sống Nguyên nhân chính đưa đến
sự phân hóa giàu nghèo, sự cánh biệt giữa thành thị và nông thôn là vấn đề sử dụng thời gian hữu ích Ở đâu có thời gian sử dụng lao động hữu ích cao thì ở
đó mức sống cao hơn
Trang 37- Thị trường lao động nông thôn chưa phát triển, sức cạnh tranh của hàng hóa sức lao động nông thôn còn yếu
Thị trường lao động nông thôn còn chậm phát triển, nguyên nhân chủ yếu
là do phương thức lao động ở nông thôn chưa vươn lên sản xuất hàng hóa một cách đồng đều Sức cạnh tranh yếu của thị trường lao động ở nông thôn xuất phát từ đặc thù của sản xuất có tính thời vụ và việc làm không thường xuyên, việc làm chỉ rộ lên vào mùa thu hoạch trong thời gian ngắn và bấp bênh Ở nông thôn chủ yếu lao động làm việc trong các nghề không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (khoảng 80% năm 2002) Do việc làm bếp bênh nên nhiều lao động ở nông thôn đã rời quê ra thành phố, khu công ghiệp làm thuê Đối với các khu công nghiệp tuy nguồn lao động ở nông thôn dồi dào nhưng tính hấp dẫn đối với người sử dụng lao động thấp Cần có thời gian và dày công giáo dục mới có thể có được một tác phong công nghiêp thực thụ đối với lao động nông thôn
* Đất đai nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân phố cuả ngành nông nghiệp Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất… ngày càng tăng và nông nghiệp phát triển, trở thành ngành kinh tế chủ đạo Vì vậy phải nghiên cứu, tìm hiểu quy mô, đặc điểm đất đai để bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân
Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử
Trang 38dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt
- Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
- Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất được đánh giá gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Trang 39- Hiệu quả kinh tế của sử dụng đất: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
- Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế, nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và lượng chi phí bỏ ra Ở đây hiệu quả xã hội phản ánh những khía cạnh về mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
- Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người được lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy sử du ̣ng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hô ̣i trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử du ̣ng đất nông nghiê ̣p trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hô ̣i, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiê ̣p gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử du ̣ng đất nông
Trang 40nghiệp và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác
* Khoa học và Công nghệ
Trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vũ bão Tiến
bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên thế giới và trong nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế Trước hết nó làm thay đổi vị trí của các ngành kinh tế quốc dân Sự phát triển của khoa học – công nghệ không những làm thay đổi các công cụ sản xuất, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, mà nó còn làm thay đổi cả phương thức lao động, tạo khả năng đổi mới khoa học - công nghệ trong các ngành kinh tế Từ đó làm cho năng suất lao động ngày càng tăng cao, tạo ra khả năng mở rộng sản xuất của các ngành truyền thống; đồng thời hình thành nên các ngành sản xuất kinh doanh mới Sự thay đổi về tốc độ phát triển của các ngành cũng như hệ thống các ngành mới chính là sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng dưới tác động của khoa học và công nghệ
Trong kinh tế nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật có những tác động với cơ giới hóa, thủy lợi hóa, cách mạng về sinh học Do đó trong nông nghiệp hàng loạt giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao và hiệu quả kinh tế lớn từng bước được đưa vào sản xuất Nhu cầu của xã hội về nông sản, trước hết là lương thực đã được đáp ứng
Ở nước ta hiện nay, vai trò của nhân tố khoa học với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phụ thuộc vào 2 nhân tố:
+ Chính sách khoa học – công nghệ của Đảng và Nhà nước
+ Sự lạc hậu của công cụ lao động, trình độ tay nghề của người lao động và khả năng hạn hẹp về vốn đầu tư cho đổi mới khoa học – công nghệ
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay đặc biệt các vùng kinh tế nông nghiệp, vấn
đề quan trọng phải nhanh chóng và không ngừng thay đổi kỹ thuật và công nghệ lạc hậu; phá thế độc canh cây lúa, một số vùng đưa công nghệ sinh học để nâng cao năng