1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình

98 330 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu cụ thể: + Hệ thống hóa được cơ sở lý luận chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp + Đánh giá được thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Kỳ Sơn,

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và kết quả nghiên cứu là của bản thân Số liệu và kết quả trong luận văn này chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 4 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Diệu Thúy

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Cục thuế Tỉnh Hòa Bình, Phòng

kê khai và kế toán thuế và cán bộ công chức Văn phòng Cục thuế đã tạo điều kiện giúp đỡ trong công tác để tôi có thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo và chuyên viên Phòng thống

kê huyện Kỳ Sơn, Cục Thống kê Hòa bình và các đơn vị cá nhân đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, nắm bắt tình hình thực tế tại địa phương

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quí Thầy, Cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Diệu Thúy

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Nông nghiệp và vai trò của nông nghiệp 4

1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 7

1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 8

1.1.4 Các nguồn lực chủ yếu trong nông nghiệp 15

1.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp một số nước trên thế giới và ở Việt nam 20

1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch kinh tế nông nghiệp ở một số nước trên thế giới 20

1.2.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam……….35

Chương 2 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Những đặc điểm cơ bản của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình 40

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Kỳ Sơn 43

Trang 4

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển KT-XH

của huyện 47

2.1.4 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kỳ Sơn 48

2.2 Phương pháp nghiên cứu 50

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 50

2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 51

2.2.3 Phương pháp chuyên gia 52

2.2.4 Các chỉ tiêu sử dụng 53

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Kỳ Sơn 55

3.1.1 Chủ trương của huyện Kỳ Sơn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung 55

3.1.2 Tình hình thực tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện đến 2012 56

3.2 Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Kỳ Sơn trong giai đoạn 2008-2012 58

3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lĩnh vực sản xuất 58

3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực trồng trọt 60

3.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực chăn nuôi 63

3.2.4 Chuyển dịch cơ cấu trong lĩnh vực Lâm nghiệp 66

3.2.5 Cơ cấu sản xuất lĩnh vực thủy sản 67

3.2.6 Cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp 69

3.3 Hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Kỳ Sơn 70

3.4 Những thành công và tồn tại của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình 72

3.4.1 Những thành công trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trang 5

huyện Kỳ Sơn giai đoạn 2008-2012 72

3.4.2 Những tồn tại trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Kỳ Sơn giai đoạn 2008-2012 74

3.5 Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình 76 3.5.1 Giải pháp về quy hoạch 76

3.5.2 Về khoa học công nghệ 77

3.5.3 Giải pháp về thị trường 78

3.5.4 Giải pháp về đất đai 79

3.5.5 Giải pháp về lao động 81

3.5.6 Giải pháp về cơ chế chính sách 82

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CDCCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung huyện Kỳ Sơn giai đoạn

3.5 Tình trạng chăn nuôi gia súc, gia cầm và Lâm nghiệp huyện Kỳ Sơn 67

3.7 Cơ cấu đầu tư cho lĩnh vực Nông nghiệp huyện Kỳ Sơn 72

3.8 Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong ngành nông nghiệp huyện Kỳ Sơn

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài

Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá là con đường đã được Đảng và Nhà nước xác định là hướng đi tất yếu để phát triển kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nền kinh tế của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình có nhiều tiến bộ và đạt được những thành công nhất định Giá trị sản xuất, sản lượng nông sản ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu xã hội, cung cấp hàng hóa cho tiêu dùng và xuất khẩu, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới Từ

đó, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề nông thôn Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở nông thôn ngày càng được cải thiện

Huyện Kỳ Sơn là một huyện thuộc tỉnh miền núi Hoà Bình Có thành phần dân tộc khá đa dạng, ngoài dân tộc Kinh còn có dân tộc Mường, Dao, trong đó dân tộc Mường chiếm tỷ lệ khá cao Trong những năm qua, kinh

tế của huyện đó có những bước phát triển mạnh mẽ Hàng năm diện tích đất NN giảm do chuyển mục đích sử dụng sang công nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải ngày càng tăng để góp phần cung cấp cơ sở khoa học đề ra những giải pháp hợp lý nhằm thúc đẩy tiến trình chuyển dịch CCKTNN của tỉnh thông qua việc đề xuất nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực

trên địa bàn theo hướng hiệu quả, bền vững tôi chọn Đề tài ”Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình”

Trang 9

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Góp phần thúc đẩy tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

2.2 Mục tiêu cụ thể:

+ Hệ thống hóa được cơ sở lý luận chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông nghiệp

+ Đánh giá được thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2008 - 2012;

+ Đánh giá được sự biến động hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh giai đọan 2008-2012;

+ Đề xuất được một số giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp của tỉnh theo hướng sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực chủ yếu trong nông nghiệp, nông thôn của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là ngành kinh tế nông nghiệp huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp

và thủy sản

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

* Phạm vi về nội dung:

+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp được xem xét bao gồm các lĩnh vực:

- Lĩnh vực trồng trọt (bao gồm: nhóm cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày;

- Lĩnh vực chăn nuôi (bao gồm: gia súc, gia cầm);

Trang 10

- Lĩnh vực thủy sản (bao gồm: nuôi trồng và khai thác thủy sản);

- Lĩnh vực lâm nghiệp (bao gồm: Trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng và khai thác gỗ)

* Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong SXNN bao gồm:

+ Nguồn lực đất đai + Nguồn lực lao động + Nguồn lực tài chính + Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu trên phạm vi huyện

Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

+ Phạm vi về thời gian: giai đoạn 2008 - 2012

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luâ ̣n về vấn đề nghiên cứu:

- Thực tra ̣ng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện trong giai đọan 2008 - 2012

- Hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện giai đoạn 2008 - 2012

- Các giải pháp góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nông nghiệp và vai trò của nông nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản

Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc loại nào cũng rất quan trọng:

- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai

- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc

sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài

Trang 12

chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi

1.1.1.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn

- Cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội

Nhu cầu ăn là nhu cầu cơ bản, hàng đầu của con người Xã hội có thể thiếu nhiều loại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm cho XH Do đó, việc thoả mãn các nhu cầu về lương thực, thực phẩm trở thành điều kiện khá quan trọng để ổn định xã hội, ổn định kinh tế Sự phát triển của nông nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việc thoả mãn nhu cầu này Bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm không chỉ là yêu cầu duy nhất của nông nghiệp, mà còn là cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội

- Cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ, các ngành công nghiệp nhẹ như: chế biến lương thực thực phẩm, chế biến hoa quả, công nghiệp dệt, giấy, đường phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nông nghiệp Quy mô, tốc độ tăng trưởng của các nguồn nguyên liệu là nhân tố quan trọng quyết định quy mô, tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp này

- Cung cấp một phần vốn để công nghiệp hoá công nghiệp hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để công nghiệp hoá thành công, đất nước phải giải quyết rất nhiều vấn

đề và phải có vốn Là nước nông nghiệp, thông qua việc xuất khẩu nông sản phẩm, nông nghiệp, nông thôn có thể góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế

- Nông nghiệp, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, với những nước lạc hậu, nông nghiệp, nông thôn tập trung phần lớn lao động và dân cư, do đó, đây là thị trường quan trọng

Trang 13

của công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp, nông thôn càng phát triển thì nhu cầu về hàng hoá tư liệu sản xuất như: thiết bị nông nghiệp, điện năng, phân bón, thuốc trừ sâu càng tăng, đồng thời các nhu cầu về dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp như: vốn, thông tin, giao thông vận tải, thương mại cũng ngày càng tăng Mặt khác, sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn làm cho mức sống, mức thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên và nhu cầu của họ về các loại sản phẩm công nghiệp như ti vi, tủ lạnh, xe máy, vải vóc và nhu cầu về dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục, du lịch, thể thao cũng ngày càng tăng Nhu cầu về các loại sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của khu vực kinh tế rộng lớn là nông nghiệp, nông thôn góp phần đáng kể

mở rộng thị trường của công nghiệp và dịch vụ Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ

- Phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội

- Nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của đất nước Phát triển kinh tế nông thôn, một mặt bảo đảm nhu cầu lương thực, thực phẩm cho xã hội; nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ; là thị trường của công nghiệp và dịch vụ Do đó, phát triển kinh tế nông thôn là cơ sở

ổn định, phát triển nền kinh tế quốc dân Mặt khác, phát triển nông thôn trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân nông thôn Do

đó, phát triển nông thôn là cơ sở ổn định chính trị, xã hội Hơn thế nữa, cư dân nông thôn chủ yếu là nông dân, người bạn đồng minh, là chỗ dựa đáng tin cậy của giai cấp công nhân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Phát triển nông nghiệp, nông thôn góp phần củng cố liên minh công nông, tăng cường sức mạnh của chuyên chính

vô sản

Trang 14

1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

 Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu của một nền Kinh tế quốc dân là tổng thê những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền Kinh tế, như các lĩnh vực sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng các ngành Kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.), các thành phần Kinh tế, các vùng kinh tế Đó là những yêu tố, những bộ phận hợp thành một chỉnh thê - nền kinh tế quốc dân

 Cơ cấu kinh tế nông thôn

Cơ cấu Kinh tế nông thôn là một tổng thể các mối quan hệ Kinh tế trong khu vực nông thôn, nó có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về chất; chúng tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện Kinh tế - xã hội nhất định, tạo ra một hệ thống Kinh tế

ở khu vực nông thôn thống nhất trong toàn bộ nền Kinh tế của một quốc gia

 Chuyển dịch cơ cấu Kinh tế nông nghiệp nông thôn là làm biến đổi

cơ bản, toàn diện kinh tế - xã hội về cả nội dung, cấu trúc, tỷ trọng, quy mô của nền Kinh tế, lẫn hình thức tổ chức sản xuất, quy hoạch tổ chức sản xuất, quy hoạch đồng ruộng, quy hoạch nông thôn lẫn đời sống nhân dân

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo nghĩa chung nhất là mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền nông nghiệp của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương Trong tổng thể các mối quan hệ phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đáng chú ý nhất là quan hệ giữa các ngành sản xuất, giữa các vùng sinh thái và các thành phần kinh tế Các mối quan hệ này được xác định theo các yếu tố sản xuất và kết quả sản xuất

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu

Trang 15

kinh tế vùng và cơ cấu thành phần kinh tế

1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình vận động của các bộ phận, thành phần trong nền kinh tế, là sự biến đổi phá vỡ cơ cấu cũ và sự điều

chỉnh để tạo ra cơ cấu kinh tế mới ổn định, cân đối

Để đánh giá mức độ, kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, người ta thường căn cứ vào các tiêu chí:

- Tỷ trọng và vị trí, tác động của các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp, xây dựng và dịch vụ) trong nền kinh tế

- Sự liên kết giữa các ngành, giữa các lãnh thổ: Sự liên kết được thể hiện qua mối quan hệ phối hợp hoặc cung cấp thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, dịch vụ, cũng như kết hợp tạo ra sản phẩm cuối cùng một cách có hiệu quả Sự thay đổi cơ cấu vùng theo hướng công nghiệp hoá có thể được

đo bằng các tiêu chí như : Mức độ đô thị hoá, sự tăng trưởng thực tế của các khu vực công nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu lao động và dân cư

- Trình độ công nghệ và sức cạnh tranh giữa các ngành :

Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tính chất công nghiệp hoá nông nghiệp thể hiện ở mức độ chuyển hướng các phương pháp canh tác thủ công cổ truyền, giảm các phương pháp canh tác thô sơ, tăng các hoạt động canh tác bằng phương pháp công nghiệp, áp dụng cách mạng xanh, cách mạng trắng, cơ khí hoá, điện khí hoá, tự động hoá, vi sinh hoá…

Trong công nghiệp, đó là mức độ ứng dụng khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất

Cơ cấu kinh tế ở nước ta và các nước trên thế giới chuyển dịch theo các xu hướng sau:

Trang 16

- Xu hướng chuyển dịch từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh

1.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

 Khái niệm

Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định Đó là sự thay đổi số lượng các ngành (nông, lâm, ngư nghiệp) hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều

Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển Đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do

đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tế mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ

Trang 17

cấu kinh tế cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu (ngành, vùng, thành phần) nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển

 Mục đích của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

Mục đích của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tạo ra sự cân đối giữa nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân Đồng thời tạo dựng một ngành nông nghiệp có cơ cấu hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền

và trên cả nước nhằm phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân, nâng cao thu nhập và mức sống cho người nông dân ở nông thôn

 Các điều kiện đảm bảo cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý:

+ Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với các quy luật khách quan;

+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải tạo ra khả năng khai thác các điều kiện tự nhiên và lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền và trong cả nước, đáp ứng được yêu cầu hội nhập với quốc tế và khu vực nhằm tạo ra sự cân đối, phát triển bền vững

+ Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải phù hợp với xu thế kinh tế chính trị của khu vực và trên thế giới

Bối cảnh thế giới và trong nước hiện nay đòi hỏi nền nông nghiệp Việt Nam phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm thích ứng với

sự biến động của quan hệ cung – cầu nông sản hàng hoá ở cả thị trường trong nước và thế giới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 18

 Những nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp:

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn luôn luôn biến đổi, chuyển dịch dưới tác động của nhiều nhân tố: nhân tố bên trong – bên ngoài, nhân tố khách quan – chủ quan Trong những nhân tố tác động, có những nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển, song cũng có những nhân tố hạn chế, kìm hãm sự chuyển dịch và phát triển Các nhân tố ảnh hưởng đến

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn có thể chia thành các nhóm sau:

+ Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ của XH

- Thị trường là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến

sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng Nhân tố thị trường tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế ở nông thôn, thể hiện như sau:

- Tạo ra quá trình mở rộng và khai thác tiềm năng cho sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn

- Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn, khuyến khích mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra sự tăng trưởng nhanh cho các ngành kinh tế ở nông thôn nói riêng và cả nước nói chung

- Tác động của sự cạnh tranh và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao trên thị trường tạo động lực thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, đổi mới công nghệ ở trong nội bộ từng ngành trở nên bức thiết

- Thông qua lợi ích kinh tế thu được sẽ tạo ra động lực chuyển dịch

cơ cấu ngành nghề ở nông thôn nhằm đạt hiệu quả ở mức cao hơn

Như vậy, thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế Nó không chỉ qui định số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nên nó có tác động

Trang 19

trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các ngành, lĩnh vực ở địa phương…

+ Nhân tố các nguồn lực

Các nguồn lực của một quốc gia, một vùng lãnh thổ có vai trò quan trọng trong việc hình thành và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh

tế, nhất là ở khu vực nông thôn

- Vị trí địa lý của một vùng lãnh thổ góp phần tạo ra sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng đó

- Tài nguyên thiên nhiên: gồm khoáng sản, đất đai, khí hậu, lâm sản, hải sản…là một trong những nguồn lực cơ bản của quá trình sản xuất, là điều kiện cần thiết để phát triển các ngành kinh tế Tuy nhiên tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, do đó cần tính toán chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đó, đồng thời bảo vệ môi trường sống cho thế hệ sau

- Dân số, sức lao động: được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng Dân số và tốc độ tăng dân số của một quốc gia hay vùng lãnh thổ có ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế Có một nguồn lao động dồi dào thì sẽ có nguồn nhân lực phục vụ cho sản xuất nhiều hơn, nhưng nếu tốc độ tăng dân số quá cao

sẽ làm tăng trưởng kinh tế chậm lại

Việc cải thiện chất lượng lao động hay nguồn nhân lực là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành kinh tế kỹ thuật cao, có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế

- Vốn đầu tư: Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất, quyết định sự tăng trưởng kinh tế Nhà nước sử dụng ngân sách để đầu tư phát triển sản xuất sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ

Trang 20

cấu ngành công nghiệp một cách nhanh chóng

Vốn đầu tư là chìa khoá cho mọi sự phát triển của quốc gia nói chung

và địa phương nói riêng Không có vốn đầu tư để hiện đại hoá trang thiết

bị, đổi mới công nghệ thì không có tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng

+ Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tại khu vực nông thôn

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào các đối tượng lao động, tạo

ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của xã hội Lực lượng sản xuất phát triển sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, công nghệ, trang thiết bị… làm hình thành và phát triển các ngành nghề mới, chuyển lao động từ đơn giãn thành phức tạp, từ ngành nghề này sang ngành nghề khác… Làm phá

vỡ những cơ cấu cũ, thiết lập một cơ cấu kinh tế mới phù hợp hơn

+ Cơ chế quản lý của Nhà nước

Cơ chế quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng Cơ chế quản lý khoa học, phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn thì nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh và hiệu quả Ngược lại

nó sẽ kìm hãm, làm chậm lại quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

+ Định hướng chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn

Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và tính lịch sử xã hội, nhưng nó lại chịu sự tác động, chi phối của Nhà nước Nhà nước tác động gián tiếp thông qua định hướng chiến lược, đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển nhằm

Trang 21

đạt các mục tiêu đề ra

Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, không quy định cụ thể về cơ cấu kinh tế song thông qua chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, Nhà nước có sự điều tiết vĩ mô, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển theo định hướng chung, đảm bảo tính cân đối và đồng bộ của nền kinh tế

* Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài

+ Xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất

Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế, cùng với việc ứng dụng các công nghệ mới và sự phát triển mạnh

mẽ của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch sản xuất kinh doanh vượt xa hơn biên giới của một vùng lãnh thổ

Xu thế này tạo ra sự đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, thúc đẩy hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ Tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế tăng lên, các mối quan hệ hợp tác kinh

tế giữa các nước và các khu vực ngày càng trở lên sâu rộng và mật thiết Quá trình phân công lao động trở lên sâu sắc và chuyên môn hoá hơn, làm

cơ sở cho quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất

+ Xu hướng chính trị xã hội của khu vực và thế giới

Xét đến cùng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Sự biến động về chính trị – xã hội của một nước, một khu vực hoặc thế giới sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương, đầu tư, chuyển giao công nghệ…buộc các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế – xã hội

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp, đảm bảo cho nền kinh

tế ổn định và phát triển

Trang 22

+ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ

Khoa học kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến được coi là nhân tố quyết định đối với quá trình sản xuất, làm tăng mạnh giá trị kinh tế các ngành, lĩnh vực, tạo ra những bước đột phá lớn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Như vậy, các nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, là nhân tố tác động đến việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông thôn Tuy nhiên, chính các nhân tố bên trong mới giữ vai trò then chốt và quyết định đối với quá trình chuyển dịch trên

1.1.4 Các nguồn lực chủ yếu trong nông nghiệp

1.1.4.1 Khái niệm nguồn lực

Khái niệm nguồn lực được đề cập ở đây giới hạn trong phạm vi phục

vụ cho sự phát triển kinh tế, chứ không bàn đến các lĩnh vực khác như chính trị, an ninh quốc phòng v.v

Theo đó: nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo nên nền kinh tế của một đất nước và thúc đẩy nó phát triển Khái niệm trên cho chúng ta thấy hai điểm:

Một là, nguồn lực tạo ra một nền kinh tế không phải chỉ có các yếu

tố vật thể như các quan niệm cổ đại, mà nó còn có các yếu tố phi vật thể Đặc biệt trong nền kinh tế hiện đại, các yếu tố phi vật thể có vị trí hết sức quan trọng

Hai là, Cơ cấu của nguồn lực không cố định, mà có sự biến động (biến động về thành phần, về vai trò và vị trí của từng yếu tố) cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của xã hội loài người

Trang 23

Hiện nay trong xu thế phát triển mới của thời đại mà khoa học công nghệ đóng vị trí then chốt, thì nguồn lực của một nền kinh tế được xác định bao gồm năm nhóm cơ bản sau đây:

- Nguồn lực con người mà trung tâm là nguồn lực lao động;

- Nguồn lực đất đai và tài nguyên (rừng, biển, nguồn nước, khoáng sản v.v );

1.1.4.2 Phân loại nguồn lực

Nguồn lực trong nước (còn gọi là nội lực) bao gồm các nguồn lực tự nhiên, nhân văn, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách đang được khai thác, Nguồn lực trong nước đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

- Nguồn lực nước ngoài (còn gọi là ngoại lực) bao gồm khoa học - kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất

và kinh doanh từ nước ngoài Nguồn lực nước ngoài có vai trò quan trọng, thậm chí đặc biệt quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể

Mặc dù có vai trò khác nhau, nhưng giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau Đây là mối quan

Trang 24

hệ hỗ trợ, hợp tác, bổ sung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi

và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợp nguồn lực trong nước (nội lực) với nguồn lực nước ngoài (ngoại lực) thành sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế nhanh và bền vững

1.1.4.3 Các nguồn lực chủ yếu trong nông nghiệp

Trong khuôn khổ của Luận văn này, xin phép được đề cập đến ba nguồn lực (nội lực) chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp đó là: Nguồn nhân lực, đất đai và vốn

 Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng, chất lượng của dân số và người lao động được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, sẵn sàng được huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Theo đó, nguồn nhân lực có 2 cách tiếp cận:

Cách tiếp cận rộng, coi nguồn nhân lực là toàn bộ nguồn lực về con

người bao gồm cả những người chưa đến tuổi lao động và những người trong độ tuổi lao động

Cách tiếp cận hẹp, nguồn nhân lực được giới hạn trong số người ở

tuổi lao động, thực chất là nguồn lao động sẵn sàng cung cấp cho nhu cầu hoạt động kinh tế

Ở Việt Nam, hiện nay đã thống nhất cách tiếp cận coi nguồn lực lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người đang độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do đang trong tình trạng thất nghiệp, đang đi học, đang đảm đương nội trợ trong gia đình

 Đất đai:

Ðất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Ðất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng

Trang 25

để sản xuất nông lâm nghiệp

Ðất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian

Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác nữa nhưng tuỳ theo lĩnh vực

mà người ta có thể định nghĩa đất đai theo nhiều cách khác nhau

+ Vai trò của đất đai:

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống và là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng

Đất đai tham gia vào tất cả các ngành, các lĩnh vực của xã hội Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá và mở cửa hội nhập thì đất đai vẫn giữ một vị trí then chốt trong các ngành Đồng thời đất đai là nguồn lực cơ bản quan trọng nhất góp phần cho

sự phát triển đất nước

+ Phân loại đất đai:

Theo sự thống nhất về quản lý và sử dụng đất của Luật đất đai 2003, đất đai nước ta được phân loại theo các nhóm sau:

- Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác

- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: Đất ở (gồm đất ở nông thôn và đất ở đô thị), đất chuyên dùng (gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng), đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông ngòi

Trang 26

kênh rạch, suối và mặt nước, đất phi nông nghiệp khác

- Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm: Đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng chuyển dịch sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ, do hiệu quả kinh tế tương đối của sản xuất nông nghiệp là tương đối thấp, diện tích đất nông nghiệp có khuynh hướng bị thu hẹp lại để nhường chỗ cho các khu công nghiệp và đô thị Điều đó có tác động xấu tới tới nhiệm vụ an ninh lương thực và ảnh hưởng tới công ăn việc làm của những người nông dân

Nhận thấy mâu thuẫn này, Đảng và Nhà nước đã đề xuất tới chính sách Tam nông nhằm kêu gọi toàn bộ xã hội quan tâm tới vấn đề mới nảy sinh này trong quá trình phát triển kinh tế ngày nay Tuy nhiên, để hoàn thành nhiệm vụ được đề ra, một trong những việc đầu tiên từ góc độ phân tích kinh tế là phải ước tính được giá trị kinh tế của các phương án lựa chọn khác nhau và trên cơ sở đó đề xuất những phương án khả thi tốt nhất

có thể nhằm bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện đời sống của nông dân

mà vẫn tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững

 Vốn trong nông nghiệp:

Vốn trong SXNN là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực phục vụ cho sản xuất đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư cho hệ thống thuỷ nông, vườn cây lâu năm, máy móc thiết bị, nông cụ và tiền mua vật tư (phân bón, nông dược, thức ăn gia súc …)

Vốn trong nông nghiệp cũng được phân thành vốn cố định và vốn lưu động:

Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào TSCĐ, đó là những tư liệu lao động có giá trị lớn, sử dụng trong thời gian dài nhưng vẫn giữ nguyên trạng thái ban đầu và giá trị của nó được chuyển dần sang giá

Trang 27

trị sản phẩm sản xuất ra theo mức độ hao mòn Ví dụ: máy móc nông nghiệp, nhà kho, sân phơi, công trình thuỷ lợi, vườn cây lâu năm, gia súc sinh sản…

Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu và tài sản lưu động,

là những tư liệu lao động có giá trị nhỏ, thời gian sử dụng ngắn, sau một chu kỳ sản xuất nó mất đi hình thái vật chất ban đầu và chuyển toàn bộ vào giá trị sản phẩm sản xuất ra Ví dụ: Phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, nguyên vật liệu …

Vốn là nguồn lực hạn chế đối với kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất sang lưu thông và trở về sản xuất Hình thức của vốn sản xuất cũng thay đổi từ hình thức tiền tệ sang TLSX và tiền lương người lao động đến sản phẩm hàng hoá và quay về tiền tệ Theo đó, vốn trong sản xuất nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng

1.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp một số nước trên thế giới và ở Việt nam

1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch kinh tế nông nghiệp ở một số nước trên thế giới

Lịch sử phát triển của kinh tế thế giới đã cho thấy quá trình phát triển kinh tế cũng đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên một nền kinh tế công nghiệp hoá và dần chuyển sang một nền kinh tế mà trong đó dịch vụ đóng vai trò quan trọng nhất hay còn gọi là một nền kinh tế đã phát triển Xuất phát điểm của mọi ngành kinh tế đều từ nông nghiệp, đi lên từ nông nghiệp và muốn đi lên thì trước hết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý bằng việc tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong phát triển nông nghiệp nông thôn Nghiên

Trang 28

cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở một số nước trên thế giới và khu vực sẽ cho ta bài học quí giá về việc thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Thái lan; Trung Quốc, Pháp, Hà Lan và Nhật Bản

 Kinh nghiệm ở Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước, là một nước có bước phát triển mạnh

về nông nghiệp, hiện nay đang dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo và một số hàng nông sản xuất khác Những năm qua kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2002-2006 là 5,7%% năm, năm

2008, tốc độ phát triển đạt 7,8%

Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thuỷ hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý

Trang 29

các công trình thuỷ lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thuỷ lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hoá nông thôn với việc xây dựng các trạm thuỷ điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thuỷ, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:

- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2008 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng

- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 30

Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận

- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu

tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, những việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thuỷ sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thuỷ sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp

Trang 31

dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn

Tuy nhiên, ở Thái Lan kinh tế nông nghiệp nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế, nếu không được quan tâm giải quyết sẽ là trở ngại cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong thời gian tới: đó là kinh tế nông thôn còn lạc hậu so với thành thị; việc quản lý các nguồn tài nguyên nông nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp chưa hợp lý [28]

 Kinh nghiệm ở Trung Quốc

Sau hơn 30 năm cải cách và mở cửa, kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã

có những bước tăng trưởng vượt bậc, từ 2006 đến 2008 kinh tế Trung Quốc duy trì mức tăng trưởng mạnh GDP trung bình mỗi năm đạt tới hơn 10%, trong khi GDP đầu người cũng vượt 4.000 USD, Tính cả năm 2008, tổng GDP của Trung Quốc (theo công bố hồi tháng 01-2012) là 5.878,6 tỷ USD lớn hơn con số về chỉ tiêu này của Nhật Bản là 5.474,2 tỷ USD và trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 của thế giới sau Mỹ [22]

Duy trì mức tăng trưởng kinh tế vượt bậc và đối phó với những tác động bất lợi của hội nhập WTO, Trung Quốc đã tiền hành điều chỉnh một loạt biện pháp, điều chỉnh chính sách trong khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn Những hướng tập trung là: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập cho nhân dân, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của nông sản

+ Thành công trước tiên của công cuộc điều chỉnh là xây dựng được cơ cấu cây trồng hợp lý, giảm diện tích cây lương thực, tăng diện tích cây công nghiệp, cây thức ăn gia súc chiếm 30,6% tổng diện tích trồng trọt

+ Thành công trong ngành chăn nuôi: Nhờ thức ăn dồi dào, phong phú, tất cả các vùng đều phát triển chăn nuôi, so với năm 1998, năm 2001 sản xuất lượng thịt đạt 6,23 triệu tấn, tăng 10%; sản xuất lượng trứng tăng 2,7 triệu tấn tương ứng với 13,4%; Thuỷ sản xuất 4,73 triệu tấn tăng 12,1%

Trang 32

+ Chất lượng nông sản tăng đáng kể, lúa chất lượng cao chiếm 50% diện tích trồng lúa Lúa mì chất lượng cao chiếm 25% diện tích, diện tích hạt cải dầu chất lượng cao chiếm 56%, ngô chất lượng cao cúng phát triển mạnh Các sản phẩm tươi sống như gia cầm, thuỷ sản, rau và quả cũng có tăng trường mạnh về chất lượng Sản xuất phẩm sạch ngày càng được mọi người quân tâm

+ Các vùng đất chuyên canh cũng được xác định rõ nét, vùng An Huy chiếm tới 56,7% diện tích trồng lúa cả nước; vùng đồng bằng châu thổ sông Hoàng Hà chiếm 60% diện tích lúa mì cả nước, Ở vùng đông bắc và ba tỉnh Sơn Đông, Hà Bắc và Hà nam chiếm 55% diện tích ngô cả nước Diện tích hạt cải dầu tập trung ở vùng dọc An Huy, lạc ở vùng Hoàng Hà và đậu tương

ở vùng Đông bắc [22]

+ Song song với điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Trung Quốc điều chỉnh một loạt chính sách về: thương mại hàng nông sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân, chính sách hỗ trợ nông nghiệp , đô thị hoá nông thôn, chính sách phát triển nông nghiệp bền vững, cải cách hệ thống quản lý nông nghiệp

 Kinh nghiệm của Pháp

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp là nước nông nghiệp với 50% dân

số nông thôn Trình độ sản xuất còn khá lạc hậu, phần lớn còn dùng Ngựa làm sức kéo và phân bón của gia súc, sản lượng nông nghiệp chưa đảm bảo được

tự cung, tự cấp Song trải qua nữa thế kỷ, nông nghiệp Pháp có bước phát triển vượt bậc, năng suất lao động nông nghiệp trung bình tăng từ 10 đến 30 lần Đến năm 1988, sản lượng nông nghiệp của Pháp đạt mức rất cao, lao động nông nghiệp chỉ còn chiếm 10% lực lượng lao động xã hội Năng suất lao động nông nghiệp tính trên một người sản xuất nông nghiệp thời kỳ 95 –

1997 là 34.760 USD gấp 153 lần so với Việt Nam Để thực hiện chuyển dịch

Trang 33

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Pháp đã sử dụng các biện pháp sau:

+ Kết hợp tốt các hình thức quản lý trang trại gia đình, HTX, công ty công ích Hình thức tổ chức chủ yếu của nông nghiệp Pháp là các trang trại gia đình Để thúc đẩy tập trung hoá ruộng đất theo yêu cầu hiện đại hoá đại hoá và phát triển sản xuất dưới sự kiểm soát của nhà nước, trong giai đoạn

1960 – 1975 Chính phủ Pháp chủ trương phát triển 3 loại trang trại: trang trại

có diện tích thấp hơn ngưỡng quy định theo loại hình sản xuất và theo từng vùng (quy mô từ 20 -30 ha)được nhà nức khuyến khích giải thể, nhận tiền thưởng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang ngành nghề khác; trang trại loại vừa (trên 30 đến dưới 50 ha) được Nhà nước cho vay tín dụng trực tiếp đến từng hộ với lãi suất thấp để mua trang thiết bị; trang trại loại lớn tự lo liệu việc hiện đại hoá Nhà nước có cơ chế hạn chế việc tập trung quá nhiều ruộng đất vào loại hình này

+ Chiến lược phát triển của Nhà nước:

- Chính Phủ thực hiện đại hoá chiến lược vừa tranh thủ vừa viện trợ, đồng thời nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế độc lập để thoát khỏi

sự lệ thuộc vào Mỹ bằng cách tập trung phát triển lương thực, dầu ăn, bò sữa Đến đầu thập niên 60 đã đảm bảo tự túc lương thực, thực phẩm và có dư để xuất khẩu

- Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn: Nhà nước ưu tiên cho việc sản xuất phân bón hoá học và các thiết bị nông nghiệp, nhất là các loại máy kéo nông nghiệp cỡ nhỏ Hiện đại hoá trong chăn nuôi có chậm hơn trồng trọt do phải lựa chọn và lai tạo giống thích hợp với phương thức chăn nuôi công nghiệp, tăng sản xuất lượng và chế biến thức ăn, thiết bị vắt sữa Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn gắn liền với phát triển các vùng chuyên môn hoá sản xuất cao, Phát triển huỷ lợi thế canh tác các vùng sinh thái khác nhau để hình thành các hệ thống sản xuất nông nghiệp chuyên môn

Trang 34

hoá thích hợp từng vùng và phát triển mạnh mẽ

- Nhà nước tăng cường quản lý vĩ mô thông qua tổ chức thị trường, có quy chế trên cả nước Nhà nước quy định địa điểm giao dịch và trao đổi, họp chợ; xây dựng qui chế giao dịch, quy chế chợ, không ấn định giá với mục đích là thị trường được công khai rõ ràng Để giải quyết các cuộc khủng hoảng thị trường đối với những sản phẩm chủ yếu, Nhà nước đã lập ra các quỷ định hướng và điều tiết thị trường nông nghiệp thông qua các Cục dự trữ nông sản

+ Chính sách khuyến nông: Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết bị kỹ thuật, chuyển giao công nghệ để hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, cho vay vốn mua thiết bị, thưởng để khuyến khích tập trung hoa ruộng đất, lập quỷ bình ổn giá thị trường Ngoài ra còn rất quan tâm đến thị trường tiêu thụ nông sản, tổ chức các loại hình chế biến, bảo quản và lưu giữ sản phẩm của nông dân Hình thức tổ chức pháp lý của họ là HTX, công ty công ích tập thể [16]

 Kinh nghiệm của Hà Lan

Là một nước nhỏ, diện tích và dân số chỉ bằng đồng bằng sông Cửu Long, Hà lan giống Việt nam là bình quân đất nông nghiệp đầu người rất thấp (0,058ha/người, thấp nhất thế giới) nhưng lại là một nước xuất khẩu mạnh nông sản Nhìn chung Hà Lan là một nước không có lợi thế tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp ngoài thế mạnh duy nhất là tài nguyên con người Chỉ tiêu HDI xếp vào hàng những nước đứng đầu thế giới Đất thấp, sát biển, có 30% diện tích bị uy hiếp bởi nước mặn xâm nhập và ngập úng

Hà Lan tập trung chiến lược và giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn vào những ngành có lợi thế, phát triển hoa, cây cảnh và chăn nuôi, chuyển sang sản xuất phi nông nghiệp (như du lịch) hoặc phát triển khu bảo tồn tự nhiên, nông nghiệp hữu cơ…cả bốn mùa, Hà Lan bán ra thị trường

Trang 35

5.500 loại hoa cắt, 2.000 giống cây trong chậu cảnh, 2.200 loại cây cảnh kể cả nhiều loài hoa nhiệt đới, á nhiệt đới là những giống cây mới nhập khẩu Hàng năm sản xuất 7 tỷ củ hoa các loại, có giá trị 750 triệu USD Hà Lan có nhiều giống mới về các loại rau Sản phẩm nấm của Hà Lan đứng thứ ba thế giới, khoảng 200.000 tấn/năm Trái cây của Hà Lan chủ yếu là táo và lê

Chăn nuôi là ngành sản xuất quan trọng nhất của nền nông nghiệp Hà Lan Ngành sản xuất sửa giúp phát triển HTX và công nghiệp chế biến, là ngành giúp nông dân tăng thu nhập như mức sống đô thị, là nước sản xuất và chế biến sửa bò lớn nhất thế giới Hơn một nửa sản lượng sử dùng để sản xuất pho mát, phần còn lại là sản xuất các sản phẩm khác như bơ, sữa bột Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm sửa của Hà Lan hằng năm đạt 2,5 tỷ Euro Chăn nuôi lợn phát triển mạnh, quy mổ trang trại ngày càng lớn, nhưng trang trại nuôi trên 1.000 đầu lợn tăng 22% Đàn lợn năm 1998 đạt 13,45 triệu con, sản lượng thịt 1,68 triệu tấn Chăn nuôi gà phát triển mạnh, nuôi cả gà tây, đàn gà tây lên đến 1,36 triệu con…

Hà Lan là một trong tám nước sản xuất thuỷ sản lớn của Châu Âu Kim ngạch xuất khẩu của Hà Lan năm 1996 là1,48 tỉ USD, đứng thứ 11 thế giới, nhập khẩu 1,14 tỉ USD, xuất siêu 337 triệu USD Để bảo vệ tài nguyên, việc đánh bắt thuỷ sản ven bờ bị hạn chế, từ đó nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt đã phát triển nhanh Hà Lan có diện tích rừng ít ỏi.32.330 ha năm 1996, chiếm 13,7% diện tích lục địa, nhà nước hạn chế khai thác, khuyến khích trồng rừng, tiêu dùng gỗ và sản phẩm gỗ từ nhập khẩu Chức năng của rừng chủ yếu là bảo tồn tự nhiên và sử dụng làm nơi nghỉ dưỡng cho dân

Để có được những thành tựu trong nông nghiệp nói trên Hà Lan đã có những chính sách phù hợp như chính sách ứng dụng công nghệ cao vào SX nông nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu; phát triển những trang trại lớn; phát triển các tổ chức của nông dân như các HTX, hiệp hội

Trang 36

ngành nghề giúp nông dân từ nguyên liệu đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm; ngoài ra Hà Lan còn có chính sách tín dụng thích hợp cho phát triển nông nghiệp như ngân hàng hợp tác…

Nhờ các chính sách và chiến lược phát triển đúng đắn, nên Hà Lan, một nước nhỏ, không thuận lợi về điều kiện tự nhiên đã biết phát huy tài nguyên con người, vận dụng cơ chế thị trường, phát huy lợi thế, phát triển một nền nông nghiệp có sức cạnh tranh và có hiệu quả cao nhất thế giới GDP bình quân đầu người đạt 24.040 USD, đứng thứ 10 thế giới Là một nước công nghiệp phát triển cao, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế rất thấp [14]

 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, lương thực thiếu hụt trầm trọng, Nhật Bản phải dựa vào sự viện trợ của Mỹ và thực hiện chế độ định lượng khẩu phần ăn Nhờ các chính sách khôn khéo về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản nhanh chóng có sự đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn Đến nay Nhật Bản đã có một nền nông nghiệp đa dạng, hiện đại, với cơ cấu hợp lý, có thể rút ra ở Nhật Bản những kinh nghiệm dưới đây: + Đã tiến hành cải cách ruộng đất, tự do hoá nông dân, xem trọng các hình thức nông trại gia đình, phát triển kinh tế trang trại gia đình gắn liền với HTX, xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp về tận các trang trại Coi trọng các vùng sản xuất nông nghiệp đặc thù, bảo đảm mục tiêu an toàn lương thực, đồng thời phát triển nông nghiệp toàn diện, mở rộng sản xuất các cây trồng khác và phát triển chăn nuôi thông qua phát triển các vùng nông nghiệp đặc thù Để chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Nhật Bản áp dụng chính sách an toàn lương thực thông qua việc cải tạo đất đai, định cư cho nông dân, thiết lập chế độ sở hữu nhỏ, xoá bỏ quyền chiếm dụng ruộng đất bất hợp pháp, tạo điều kiện để nông dân yên tâm phát triển sản xuất

Trang 37

+ Chiến lược sản xuất sản phẩm nông nghiệp và sự tăng cường quản lý

vĩ mô bằng các chính sách nông nghiệp của Chính phủ Nhật: Sau năm 1945, Nhật Bản bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển nông nghiệp, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là an toàn lương thực trên cơ sở phát triển chăn nuôi

và các loại cây trồng khác Từ năm 1947 Nhật thực hiện các chính sách hướng dẫn, hỗ trợ nông nghiệp như chính sách bình ổn giá, cải cách hành chính, khuyến khích đầu tư vốn, Luật tài trợ cho nông dân khi bị thiên tai, luật đất đai nông nghiệp Từ năm 1975, khi nông nghiệp phát triển không tương xứng với công nghiệp và nhu cầu xã hội, Nhật Bản đã thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực hiện trợ giá cho nông sản, hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, đẩy mạnh các công trình phúc lợi ở nông thôn

+ Công nghiệp hoá nông thôn: Do ruộng đất bình quân mỗi trang trại gia đình quá thấp nên Chính phủ Nhật đã chú trọng phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, nông thôn và đưa công nhân về các trang trại gia đình, kế cả những ngành công nghiệp tinh vi như lắp ráp điện tử, làm nghề thủ công mỹ nghệ

+ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn liền với tập trung phát triển các vùng nông nghiệp đặc thù Chương trình vùng nông nghiệp đặc thù được triển khai từ năm 1977, nội dung của nó dựa trên nguyên tắc tôn trọng sáng kiến và tính truyền thống trong việc bố trí sản xuất của người nông dân, các vùng chuyên canh được hình thành trên cơ sở trao đổi thống nhất với người sản xuất trực tiếp trên vùng đó

+ Tăng cường dịch vụ khuyến nông, xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội hoá nhằm phục vụ đầu ra, đầu vào cho nông nghiệp, cho các hộ trang trại, hệ thống các HTX đã cung cấp các dịch vụ về kỹ thuật, tài chính, chế biến bảo quản và tiêu thụ sản phẩm cho hầu hết các nông trại gia đình ở Nhật Bản, trên

Trang 38

cơ sở bảo đảm tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của từng trang trại

+ Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, coi đó là yếu tố quyết định trong việc đi sâu vào chuyên môn hoá và mở rộng quy mô kinh doanh, hình thành các trang trại trồng trọt, chăn nuôi chuyên môn hoá lớn và các trang trại chuyên môn hoá trong lĩnh vực phi nông nghiệp Chính Phủ chú trọng tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, đặc biệt hệ thống thuỷ lợi

đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, kết hợp với cải tạo đồng ruộng, đảm bảo diện tích đất trồng cây được tưới nước chiếm 62.6% diện tích đất canh tác theo công nghệ tưới tiên tiến, khoa học Nhật Bản sử dụng chủ yếu là hệ thống máy móc nhỏ thích hợp với các nông trại và thửa ruộng quy mô nhỏ

Về công nghệ sinh học, Nhà nước rất quan tâm đến việc lai tạo giống mới cây trồng vật nuôi, các công nghệ “gen” Chăn nuôi được hiện đại hoá, sử dụng công nghệ tổng hợp tường tự như thâm canh trong trồng trọt

Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, nền nông nghiệp truyền thống của Nhật Bản, dựa trên phương pháp thâm canh và đòi hỏi nhiều lao động, đã chuyển thành một hệ thống cần nhiều vốn và chủ yếu sử dụng máy móc, và nói chung kỹ thuật mới của nông nghiệp Nhật Bản được coi là hình mẫu cho các nước đang phát triển khác ở châu Á Tuy nhiên, trong tương lai còn có một số vấn đề cần giải quyết, Chi phí sản xuất, nhất là đối với gạo, vẫn quá cao và nông nghiệp Nhật Bản cần được trợ cấp rất lớn Hầu hết các nông trang quá nhỏ về quy mô để sử dụng tối đa đất đai và vốn Khi nào và bằng cách nào các nông trang của Nhật Bản sẽ đạt tới quy mô hiệu quả hơn vẫn là một câu hỏi cho tương lai Bên cạnh đó việc ổn định nông nghiệp đang bị đe doạ bởi môi trường bị thoái hoá nghiêm trọng; bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người giảm do gia tăng dân số, sử dụng đất cho mục đích phi nông nghiệp ngày càng tăng và số thanh niên làm việc trong các trang trại ngày càng ít đi [29]

Trang 39

 Bài học rút ra đối với Việt Nam

Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của các nước có nền nông nghiệp mạnh, hiện đại hoá đại như Pháp, Hà Lan, Nhật bản, Thái Lan, Trung Quốc là những bài học quý giá giúp Việt Nam đẩy nhanh sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Kinh nghiệm của mỗi nước có mỗi đặc thù riêng, nhưng tựu trung lại có thể rút ra một số bài học sau:

- Bài học trong việc định hướng phát triển và tiếp tục hoàn chỉnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Tuỳ theo điều kiện phát triển và yêu cầu của nền kinh tế, trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn các nước có những định hướng riêng về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên xét trong chặng đường dài và xu hướng phát triển đều thấy, ở các nước nghiên cứu đều định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn vào sản xuất hàng hoá

và khai thác tiềm năng lợi thế của từng nước, từng vùng, một mặt phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước, mặt khác hướng ra thị trường nước ngoài Phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, gắn sự phát triển sản xuất nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ trong mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau, làm điều kiện tiền đề cho nhau cùng phát triển Trong đó sự phát triển nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, ngược lại sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ là điều kiện để thúc đẩy nông nghiệp phát triển ngày càng hiệu quả hơn Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở các nước nói trên đều theo hướng kết hợp giữa chuyên môn hoá với phát triển tổng hợp tên cơ sở khai thác những lợi thế từng nước, từng vùng

- Bài học về xác lập chế độ sở hữu và chế độ quản lý

+ Về chế độ sở hữu: Phải đổi mới thực sự chế độ sở hữu trong sản xuất nông nghiệp nhất là sở hữu về đất đai và chính sách đối với các thành phần

Trang 40

kinh tế tham gia vào sản xuất nông nghiệp Đây là cơ sở quan trọng để phát triển các tiềm năng về phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng khai thác các lợi thế để sản xuất hàng hoá

+ Về chế độ quản lý: Để tạo được mức độ phát triển và ổn định, Nhà nước đều có sự quản lý, điều tiết vĩ mô chặt chẽ nhưng không can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế mà chỉ hoạch định chính sách, chủ trương, định hướng hoạt động, giúp đỡ về khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực lượng sản xuất, tìm kiếm thị trường, gọi vốn đầu tư Với chế độ quản lý này, một mặt nông thôn có sự định hướng phát triển kinh tế thống nhất, tạo ra sự chuyển dịch phù hợp theo cơ cấu chung của toàn bộ nền kinh tế, mặt khác đã giúp cho các địa phương, các ngành và đặc biệt là các chủ thể kinh tế phát huy được tính chủ động, khai thác mọi tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế và chuyển dịch vừa phù hợp với định hướng chung vừa mang lại hiệu quả cao

- Bài học về phát huy khai thác các lợi thế so sánh

Tất cả các nước đều coi trọng việc phát triển các vùng nông nghiệp đặc thù, coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn gắn liền với việc hình thành các vùng chuyên canh có sản xuất lượng lớn, có thể phục vụ xuất khẩu Bên cạnh đó việc hình thành các vùng chuyên canh, đa canh, luân canh

để đảm bảo an ninh lương thực cũng được các nước rất quan tâm

- Bài học về xây dựng các chính sách khuyến khích sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn

Khuyến khích sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn là chủ trương

mà tất cả các nước đều áp dụng bằng các chính sách cụ thể, đó là các chính sách khuyến khích nông nghiệp như: Ưu tiên phát triển toàn diện cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn; có kế hoạch và đầu tư kinh phí đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho nông dân; tập trung vốn phát triển cơ sở hạ

Ngày đăng: 01/09/2017, 10:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Kỳ Sơn năm 2012 - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Kỳ Sơn năm 2012 (Trang 49)
Bảng 2.2. Tình hình dân số và lao động của huyện Kỳ Sơn - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 2.2. Tình hình dân số và lao động của huyện Kỳ Sơn (Trang 50)
Bảng 3.1: Tình hình chuyển dịch Cơ cấu kinh tế chung huyện Kỳ Sơn thời kỳ - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.1 Tình hình chuyển dịch Cơ cấu kinh tế chung huyện Kỳ Sơn thời kỳ (Trang 64)
Bảng 3.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực trồng trọt - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực trồng trọt (Trang 68)
Bảng 3.5. Tình trang chăn nuôi gia súc, gia cầm và Lâm nghiệp huyện Kỳ Sơn - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.5. Tình trang chăn nuôi gia súc, gia cầm và Lâm nghiệp huyện Kỳ Sơn (Trang 71)
Bảng 3.6. chuyển dịch cơ cấu kinh tế lĩnh vực Thủy sản - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.6. chuyển dịch cơ cấu kinh tế lĩnh vực Thủy sản (Trang 75)
Bảng 3.7. Cơ cấu đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp huyện Kỳ Sơn - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.7. Cơ cấu đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp huyện Kỳ Sơn (Trang 76)
Bảng 3.8: Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong ngành nông nghiệp - Giải pháp góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực chủ yếu trên địa bàn huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
Bảng 3.8 Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong ngành nông nghiệp (Trang 78)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm