Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu đã đưa cây đậu tương trồng trong vụ xuân vào chân đất ruộng bậc thang một vụ ở vùng cao các tỉnh miền núi phía Bắc và đạt được một s
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu
lý luận và tích lũy kinh nghiệm thực tế của cá nhân Những kiến thức mà thầy
cô giáo truyền thụ đã làm sáng tỏ những ý tưởng, tư duy của tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với Tiến sỹ Đinh Đức Thuận, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Có được kết quả này, tôi không thể không nói đến công lao và sự giúp
đỡ của Ủy ban Nhân dân huyện Văn Chấn, các phòng ban chức năng và bà con nông dân - những người đã cung cấp số liệu, tư liệu khách quan, chính xác giúp tôi đưa ra những phân tích đúng đắn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình
đã giúp đỡ tôi lúc khó khăn, vất vả để hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi
và đóng góp những ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cây đậu tương 4
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 11
1.2 Một số vấn đề canh tác trên đất ruộng bậc thang vùng cao ở Việt Nam 15
1.3 Hiệu quả kinh tế 18
1.3.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế 18
1.3.2 Hiệu quả kinh tế và các tiêu chuẩn đánh giá 20
1.3.3 Phân loại hiệu quả kinh tế 22
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương 24 1.3.5 Các chỉ tiêu, phương pháp tính toán 24
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 29
2.2 Mô hình nghiên cứu điểm 36
Trang 42.3 Phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 38
2.3.2 Nghiên cứu điểm: 38
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, xử lý số liệu 40
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 40
2.3.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đánh giá thực trạng, hiệu quả quá trình sản xuất đậu tương trên đất ruộng bậc thang tại huyện Văn Chấn- tỉnh Yên Bái 42
3.1.1 Tình hình chung về sản xuất đậu tương của huyện 42
3.1.2 Tình hình chung của nhóm hộ nghiên cứu 45
3.1.3 Hiệu quả sản xuất đậu tương của hộ 53
3.1.4 So sánh hiệu quả kinh tế của đậu tương với các cây khác 54
3.1.5 Hiệu quả kinh tế tại mô hình nghiên cứu điểm 55
3.2 Đánh giá về tiềm năng, hạn chế trong quá trình sản xuất đậu tương trên đất ruộng bậc thang tại huyện Văn Chấn- tỉnh Yên Bái 59
3.2.1 Thuận lợi và tiềm năng 60
3.2.2 Khó khăn và hạn chế 62
3.3 Các giải pháp đề xuất 66
3.3.1 Các căn cứ đề xuất 66
3.3.2 Các giải pháp 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
BCR Tỉ suất thu nhập trên chi phí
IRR Tỉ suất thu nhập nội bộ
NPV Giá trị hiện tại của lợi nhuận thuần
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 6
1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 cường quốc
sản xuất đậu tương chủ yếu trên thế giới 7
1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương Việt Nam trong
2.1 Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện 35
3.1 Năng suất, sản lượng đậu tương của huyện năm 2009 - 2011 44
3.7 So sánh hiệu quả kinh tế cây đậu tương với ngô 54
3.9 Doanh thu, Chi phí sản xuất của mô hình 56
3.11 So sánh hiệu quả của mô hình trình diễn và hộ nông dân 58
3.13 Khó khăn trong sản xuất của các hộ gia đình 63
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 31
2.3 Diện tích đất toàn huyện theo mục đích sử dụng 34
3.1 Diện tích đậu tương huyện Văn Chấn qua 5 năm 2007 - 2011 43
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn Chấn là 1 huyện miền núi còn gặp nhiều khó khăn, nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện (80%) Trong nhiều năm qua, do sức ép tăng dân số và để đảm bảo nhu cầu lương thực tại chỗ, người dân đã mở rộng diện tích đất canh tác bằng việc phát rừng làm nương rẫy để trồng cây lương thực ngắn ngày Việc làm này đã gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường: tài nguyên đất, nước bị suy thoái sau nhiều chu kỳ canh tác, hạn hán, lũ lụt, nhất là lũ quét càng xảy ra thường xuyên hơn, dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của cho nhân dân và gây nhiều khó khăn cho phát triển sản xuất Để hạn chế tối đa các tác động tiêu cực của việc quảng canh thì biện pháp thâm canh trên diện tích đất sẵn có là việc làm hữu hiệu cần được chú trọng trong nghiên cứu, phân tích
Huyện Văn Chấn có khoảng 1.170 ha diện tích đất ruộng bậc thang nhưng phần lớn ruộng bậc thang ở đây bị bỏ hoang hóa hoặc chỉ cấy được một vụ do thiếu nước Đây là sự lãng phí tiềm năng đất đai trong khi cuộc sống của người dân đang gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên việc lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lý cho diện tích đất này lại là một vấn đề vô cùng nan giải Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu đã đưa cây đậu tương trồng trong vụ xuân vào chân đất ruộng bậc thang một vụ ở vùng cao các tỉnh miền núi phía Bắc và đạt được một số kết quả nhất định góp phần giải bài toán kinh tế cho vùng cao, giúp người dân thoát đói nghèo Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên mới chỉ mang tính nhỏ lẻ, không đồng bộ,
ít có tính tổng hợp theo hệ thống Thực tế để sản xuất đậu tương trên đất ruộng bỏ hoang hoá trong vụ xuân ở vùng cao đạt kết quả còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết; ngoài các yếu tố mang tính kỹ thuật thì các yếu tố về kinh tế cũng rất cần được xem xét như chi phí cao, sản phẩm của người dân
Trang 9làm ra chưa thành hàng hoá, khả năng tiêu thụ sản phẩm còn nhiều khó khăn, mối lên kết với các đơn vị chế biến, bảo quản, thu mua chưa bền vững, dẫn đến giá bán thấp lợi nhuận mang lại chưa cao
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đề ra, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương trên đất ruộng bậc thang của các hộ gia đình tại huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất đậu tương trên đất ruộng bậc
thang cho các hộ gia đình tại huyện Văn Chấn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương trên đất ruộng bậc thang của các
hộ gia đình tại huyện Văn Chấn – Yên Bái
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu, đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất đậu tương trồng trên đất ruộng bậc thang tại huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái
Trang 10+ Phạm vi về không gian: huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái
+ Phạm vi về thời gian: năm 2009-2011, điều tra trong năm 2012
4 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu về thực trạng sản xuất của cây đậu tương
Xác định các chỉ tiêu về diện tích (ha), sản lượng (tấn/năm), tổng giá trị (đồng/năm), năng suất bình quân (tấn/ha), giá trị bình quân (đồng/ha), chi phí (đồng), tổng chi phí (đồng), doanh thu (đồng), lợi nhuận (đồng)
- Nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các sản phẩm từ cây đậu tương
Xác định các loại sản phẩm từ đậu tương, các kênh tiêu thụ chính hiện nay, cơ cấu hàng hóa trên tổng sản phẩm, tình hình chế biến, bảo quản sản phẩm
- Đánh giá tiềm năng và hạn chế trong quá trình sản xuất, tiêu thụ
+ Tiềm năng: Xác định khả năng thâm canh, quảng canh, sản lượng tiềm năng, năng suất tiềm năng, khả năng mở rộng các kênh tiêu thụ, bảo quản, chế biến
+ Hạn chế: Đánh giá về diện tích, mức độ tập trung đất đai, công tác chế biến, bảo quản
- Đề xuất giải pháp:
+ Đánh giá nguyên nhân các hạn chế
+ Đề ra giải pháp hợp lý
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cây đậu tương
Cây đậu tương hay đỗ tương, đậu nành (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Ðậu (Fabaceae), đặc điểm của hạt đậu tương giàu hàm lượng protein, chính vì vậy là cây thực phẩm quan trọng cho người và gia súc Trên thế giới có trên 1.000 loại đậu tương với nhiều đặc điểm khác nhau, hạt đậu tương có kích thước nhỏ nhất như hạt đậu Hà lan (pea) cho tới lớn nhất giống trái anh đào (cherry), hạt đậu có nhiều màu sắc như đỏ, vàng, xanh, nâu và màu đen Trong ngũ cốc, đậu tương được đánh giá cao nhất
Theo thời gian sinh trưởng, đậu tương được chia hành 3 nhóm:
+ Nhóm giống ngắn ngày, thời gian sinh trưởng 70-80 ngày gồm có: ĐT12, ĐT13, ĐVN9, AK02, AK03, V48, MTD176, DT99, ML2, VN9, MTĐ45-3, MTĐ10, DT96, ĐVN5, ĐVN8
+ Nhóm giống trung ngày, thời gian sinh trưởng 85-90 ngày gồm có: HL2, DT84, ĐT92, ĐN42, AK04, AK05, M103, VX93, DT22, DT2006
+ Nhóm giống dài ngày, thời gian sinh trưởng 95-110 ngày gồm có: T57, TN01, ĐT80, ĐT95, ĐT2000, ĐT2003, DT2601, DT2008
Đậu tương không đòi hỏi nghiêm ngặt về đất đai, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau và thường trồng luân canh với cây lúa, nhưng tốt nhất là đất thịt nhẹ, tơi xốp, giữ ẩm nhưng thoát nước tốt
Đậu tương là cây trồng cạn nhưng cũng rất cần nước, thiếu nước cây kém phát triển, ảnh hưởng đến năng suất Ba giai đoạn cây phải đủ nước: giai đoạn nảy mầm, giai đoạn ra hoa tạo trái và giai đoạn tạo hạt Đậu tương cần nước nhưng cũng có khả năng chịu hạn trong thời gian nhất định, cây con cũng có khả năng chịu úng trong thời gian ngắn Trong điều kiện đất thiếu ẩm
Trang 12và bị úng đều làm ảnh hưởng đén sinh trưởng, phát triển của cây, sự hình thành nốt sần và quá trình cố định đạm cũng bị kìm hãm
Nhiệt độ thích hợp cho đậu tương phát triển khoảng 24- 300C, trong mỗi giai đoạn sinh trưởng cây đòi hỏi nhiệt độ tối thích khác nhau Đậu tương
là cây ưa sáng, thích hợp với ánh sáng ngày ngắn, do cần cường độ ánh sáng thấp hơn cây trồng khác nên có thể trồng xen với cây trồng khác như ngô, mía
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Đậu tương là cây lấy dầu quan trọng và cho hiệu quả kinh tế cao
Đậu tương là 1trong 8 cây lấy dầu (đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa, cọ) có sản lượng lớn nhất thế giới: đậu tương 190 triệu tấn, hạt bông 87 triệu tấn, lạc 73 triệu tấn, hướng dương 40 triệu tấn
Mặc dù có nguồn gốc ở phương Đông (vùng Đông Á), song đến nay đậu tương đã có mặt ở tất cả các lục địa Trên thế giới có 78 nước trồng đậu tương Sản phẩm của cây đậu tương là mặt hàng buôn bán rộng rãi, ổn định trên toàn thế giới Mặt hàng đậu tương trên thị trường thế giới ở 3 dạng khác nhau:
- Dạng thô: xuất dạng hạt đậu tương
- Dạng bán thành phẩm: như khô dầu đậu tương, dầu đậu tương
- Dạng xuất tinh: như bơ thực vật, protein chiết xuất từ đậu tương, thịt đậu tương
Về dạng thô: hạt đậu tương từ những năm 80 đã xuất khẩu khoảng 24 -
25 triệu tấn/năm Từ năm 2000 đến nay đã có hàng trăm triệu tấn đậu tương được xuất khẩu mỗi năm Nhu cầu đậu tương ngày càng tăng nhanh vì nó là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như: công nghiệp ép dầu, bánh kẹo,
đồ hộp, công nghiệp dược
Diện tích và sản lượng đậu tương trên thế giới không ngừng gia tăng qua các năm, được thể hiện ở bảng 1.1
Trang 13Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
(Nguồn: FAO Statistic Database, 2011)
- Về diện tích: Năm 1960 thế giới trồng được 21,0 triệu ha thì sau 40
năm, đến năm 2000, diện tích trồng đã đạt 74,34 triệu ha, tăng 3,5 lần Năm
2005 diện tích trồng đậu tương là 91,39 triệu ha và đến năm 2010 cả thế giới trồng được 102,39 triệu ha, tăng 4,87 lần so với năm 1960
- Về năng suất: Năm 1960 năng suất đậu tương thế giới chỉ đạt 12,0
tạ/ha đến năm 1990 là 19,17 tạ/ha, tăng 59,8% Đến năm 2010 năng suất đậu tương thế giới đạt 26,05 tạ/ha, tăng 117,1% so với năm 1960
- Về sản lượng: Cùng với sự tăng nhanh về diện tích và năng suất, sản
lượng đậu tương của thế giới cũng tăng rất nhanh Năm 1960 trên thế giới sản suất mới đạt được 25,2 triệu tấn thì đến năm 1990 sản lượng là 104,19 triệu tấn, tăng lên gấp 4 lần Đến năm 2010, sản lượng đậu tương của toàn thế giới
là 261,59 triệu tấn, tăng gấp 10,38 lần so với năm 1960
Trên thế giới, bốn nước sản xuất đậu tương hàng đầu là Mỹ, Braxin, Achentina và Trung Quốc chiếm khoảng 90 - 95% tổng sản lượng đậu tương
Trang 14Tình hình sản xuất đậu tương của bốn cường quốc được thể hiện ở Bảng 1.2
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương
của 4 cường quốc sản xuất đậu tương chủ yếu trên thế giới
ha)
SL (triệu tấn)
DT (triệu ha)
NS (tạ/
ha)
SL (triệu tấn)
DT (triệu ha)
NS (tạ/
ha)
SL (triệu tấn)
DT (triệu ha)
NS (tạ/
ha)
SL (triệu tấn)
Braxin là cường quốc sản xuất đậu tương lớn thứ 2 trên thế giới Từ
Trang 15những năm 1960 do nhiều yếu tố tác động và lợi ích từ việc sản xuất đậu tương mang lại mà diện tích đậu tương của nước này tăng với tốc độ cao và trở thành nước sản xuất đậu tương lớn thứ 2 trên thế giới Năm 2000, diện tích đậu tương của Braxin là 13,6 triệu ha, năng suất đạt 25,1 tạ/ha, sản lượng đạt 34,2 triệu tấn Năm 2005 diện tích sản xuất đậu tương của nước này đạt 22,0 triệu ha, tăng 8,4 triệu ha so với năm 2000; năng suất đạt 25,0 tạ/ha; sản lượng đạt 55,0 triệu tấn, tăng 20,8 triệu tấn so với năm 2000 Đến năm 2010 diện tích đậu tương của Braxin là 23,3 triệu ha, tăng 71,3%, năng suất đạt 29,0 tạ/ha, tăng 15,5% và sản lượng là 68,5 triệu tấn, tăng 100,2% so với năm 2000
Nước sản xuất đậu tương lớn thứ 3 là Achentina Năm 2000, diện tích đậu tương của Achentina là 8,5 triệu ha, năng suất đạt 24,7 tạ/ha và sản lượng đạt 21,2 triệu tấn Năm 2005, diện tích đậu tương của Achentina đạt 15 triệu
ha, năng suất đạt cao: 27,0 tạ/ha, sản lượng đạt 40,5 triệu tấn, tăng 91% so với năm 2000 Đến năm 2010, diện tích sản xuất đậu tương của nước này là 18,1 triệu ha, năng suất đạt 29,0 tạ/ha và sản lượng 52,7 triệu tấn; so với năm 2000, diện tích tăng 112,9%, năng suất tăng 17,4% và sản lượng tăng 148,6%
Trung Quốc là nước sản xuất đậu tương đứng đầu châu Á và đứng thứ 4 của thế giới Năm 2000 diện tích đậu tương của Trung Quốc là 8,1 triệu ha, sản lượng đạt 14,2 triệu tấn Năm 2005 diện tích là 9,50 triệu ha, năng suất đạt 18,10 tạ/ha, sản lượng đạt 17,4 triệu tấn Đến năm 2010, diện tích đạt 8,5 triệu ha; năng suất đạt 17,7 tạ/ha, tăng so với năm 2000 nhưng giảm so với năm 2005 và sản lượng đạt 15,1 triệu tấn, giảm hơn so với năm 2005 là 1,0 triệu tấn
Ngoài 4 nước nói trên thì Ấn Độ, Paraguay, Úc, Canada, Nhật Bản cũng là những nước sản xuất đậu tương lâu đời và đóng góp sản lượng đáng
kể cho sản xuất đậu tương trên thế giới
1.1.1.2 Đậu tương là cây trồng được áp dụng nhiều thành tựu của công nghệ sinh học
Trang 16Đậu tương là 1 trong 3 cây trồng (đậu tương, ngô, bông) áp dụng công nghệ chuyển gen phổ biến nhất Ở Mỹ diện tích cây chuyển gen chiếm tỷ lệ như sau:
- Đậu tương: 57 % diện tích gieo trồng
- Bông: 55 % diện tích gieo trồng
- Ngô: 33 % diện tích gieo trồng
Mỹ cũng là nước có nhiều thành tựu trong nghiên cứu phát triển đậu tương, có tới 560 mẫu đậu tương hoang dại và 9.861 mẫu giống trồng Nguồn vật liệu phong phú này đã giúp Mỹ gặt hái nhiều thành công trong chọn tạo giống đậu tương mới theo hướng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh hại và thích nghi với nhiều vùng sinh thái
Trung Quốc là nước gần Việt Nam và có tập quán canh tác tương tự, gần đây Trung Quốc đã chọn được một số giống như Trung Chi số 8, năng suất tiềm năng có thể đạt 30 - 45 tạ/ha, thích ứng cho vùng Hồ Bắc Giống Trung đậu 29 có tỷ lệ đậu quả 4 hạt cao, năng suất tiềm năng 26 - 37 tạ/ha
Kỹ thuật đột biến cũng đã được ứng dụng rộng rãi để tạo ra các dòng, giống đậu tương có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn và thích ứng với điều kiện sinh thái rộng
Gần đây, một số nước có nền nông nghiệp tiên tiến đã ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống: Mỹ đã nghiên cứu thành công chuyển ghép gen tạo ra vật liệu chọn giống mới ở đậu tương, Úc đã áp dụng kỹ thuật công nghệ
tế bào để phân lập được gen chịu hạn thành công
Nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về phương diện sinh lý, hoá sinh, di truyền đặc biệt các cơ chế chống chịu (ngoại cảnh bất lợi, sâu bệnh), các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng hạt nhằm phát triển diện tích gieo trồng cũng như nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng đậu tương
Đi đôi với công tác nghiên cứu chọn tạo giống, ứng dụng các thành tựu
Trang 17công nghệ sinh học việc nghiên cứu hệ thống cây trồng giữa cây đậu tương nói riêng và cây đậu đỗ nói chung với các cây trồng khác cũng được các nhà khoa học hết sức quan tâm
Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn Ấn Độ 1960 -
1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: Hệ canh tác dành ưu tiên cho cây lương thực, chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc đưa thêm vào 1 vụ trồng cây họ đậu Điều này đã giải quyết được các vấn đề chính là khai thác tối ưu tài nguyên của đất đai, góp phần ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân
Ở Thái Lan, trong điều kiện thiếu nước, một hệ thống cây trồng: lúa xuân - lúa mùa ít mang lại hiệu quả và chi phí tiền nước quá lớn, cộng thêm
sự độc canh cây lúa ảnh hưởng xấu tới đất đai Bằng việc chuyển dịch cây lúa xuân sang cây đậu tương đã làm tăng hiệu quả kinh tế một cách đáng kể và độ phì nhiêu của đất cũng được cải thiện một cách rõ rệt Điều này đã mang lại thành công to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở Thái Lan Cụ thể
là hệ thống luân canh 2 vụ lúa + 1 vụ màu Cây màu thường là đậu tương, đậu xanh, thuốc lá, rau
Ở Trung Quốc, hệ thống cây trồng phổ biến là 2 vụ lúa + 1 vụ lúa mì hoặc đậu Hà Lan, khoai tây Trên các vùng đất 1 vụ lúa thì hệ thống cây trồng
là 1 vụ lúa + 1 vụ cây trồng cạn
1.1.1.3 Đậu tương là cây trồng góp phần cải thiện độ phì đất
Đậu tương là cây có nốt sần cố định đạm, góp phần cải thiện độ phì đất, cải thiện cân bằng đạm giữa đất và cây trồng và làm giảm lượng phân bón cho
vụ sau Người ta tính được rằng trong điều kiện sinh trưởng thuận lợi, hoạt động cố định đạm của bộ rễ đậu tương có thể đem lại cho đất một lượng đạm tương đương 20 - 25 kg urê/ha
Trang 18Rất nhiều kết quả nghiên cứu ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương đã
đi đến kết luận: trên đất dốc của các vùng đồi núi, nếu phải sử dụng vào mục đích sản xuất lương thực thì nên trồng các loại cây có củ như sắn, khoai lang, khoai sọ Các loại cây này không đòi hỏi phải đầu tư cao và phần lớn đều có thể chịu được xói mòn, hạn hán và cỏ dại hơn các loại cây ngũ cốc khác Đồng thời kết hợp trồng các cây họ đậu theo băng, đường đồng mức để chống xói mòn và tăng độ màu mỡ cho đất Hệ thống trồng xen cây họ đậu và cây lương thực đã làm tăng năng suất cây trồng và tăng nguồn phân xanh tại chỗ, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho nông dân
Ngoài ra do điều kiện nhiệt đới, hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất thường thấp, do đó khả năng cố định đạm của cây đậu tương nói riêng và cây đậu đỗ nói chung là một lợi thế quan trọng cho phép có thể gieo trồng đậu đỗ trên nhiều loại đất khác nhau
1.1.2 Ở Việt Nam
1.1.2.1 Sự phát triển gieo trồng đậu tương ở Việt Nam
Việt Nam có lịch sử trồng đậu tương lâu đời Nhân dân ta đã biết trồng
và sử dụng đậu tương từ hàng nghìn năm nay, nhưng trước đây sản xuất đậu tương chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc
Trước kia đậu tương chủ yếu được trồng ở các vùng miền núi Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ có những thành tựu nghiên cứu về giống, phát triển sản xuất vụ đậu tương Đông ở đồng bằng sông Hồng, biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương trên đất ướt, kỹ thuật gieo đậu tương làm đất tối thiểu, gieo vãi, gieo vào gốc rạ thì cây đậu tương đã có những bước tiến bộ vượt bậc cả về diện tích, năng suất và sản lượng
Tình hình sản xuất đậu tương của nước ta trong những năm gần đây được thể hiện ở Bảng 1.3
Trang 19Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương Việt Nam
trong những năm gần đây
và không ổn định dần; tuy nhiên đến 2010 lại phục hồi đạt gần 198 nghìn ha
- Về năng suất: Năng suất đậu tương liên tục tăng, từ 11,6 tạ/ha năm
1999 đến năm 2010 đã đạt 15 tạ/ha, tăng 29,3%
- Về sản lượng: Sản lượng năm 1999 là 141,9 nghìn tấn đến năm 2005
Trang 20đạt 292,7 nghìn tấn tăng 106% Năm 2010 sản lượng đậu tương của Việt Nam đạt 296,9 nghìn tấn, tăng 109% so với năm 1999
1.1.2.2 Đậu tương trong cơ cấu cây trồng
Nhìn chung vai trò của cây đâu tương trong hệ thống nông nghiệp ngày càng được khẳng định Ở nước ta đậu tương được đưa vào nhiều công thức luân canh, trồng xen, trồng gối
Ở đồng bằng đậu tương được đưa vào nhiều công thức luân canh cây trồng, đặc biệt là trên chân đất vàn và vàn cao Ở chân đất lúa để tránh cạnh tranh diện tích canh tác lúa người ta đã phát triển vụ đậu tương đông (vụ 3) và gần đây ở miến Bắc xuất hiện “Biện pháp trồng đậu tương trên đất ướt” (không làm đất hoặc làm đất tối thiểu)
Ở miền núi xuất hiện cơ cấu luân canh hoặc xen canh ngô - đậu tương
1.1.2.3 Công tác chọn tạo giống đậu tương
Mặc dù đậu tương là cây trồng truyền thống của nông dân Việt Nam và được khá nhiều các cơ quan trong cả nước nghiên cứu từ những năm 1960 Tuy nhiên công tác chọn tạo giống cũng như phát triển giống ra sản xuất mới bắt đầu được quan tâm từ năm 1996 thông qua nhiều đề tài nghiên cứu và các chương trình, dự án cấp nhà nước và cấp ngành
Do điều kiện sinh thái và nhu cầu sử dụng bộ giống đậu tương khác nhau nên định hướng chọn tạo giống cũng luôn thay đổi để phù hợp với sản xuất
1.1.2.4 Các chính sách ảnh hưởng tới sự phát triển sản xuất cây đậu tương
Chính sách phát triển nông nghiệp
Đây là lĩnh vực trọng tâm được Đảng và Chính phủ quan tâm chỉ đạo Nội dung của chính sách thể hiện: Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, đầu
tư của Nhà nước ngày càng tăng, phát huy tiềm năng lao động, đất đai vào sản xuất Chính sách khuyến nông được cụ thể hoá sau Nghị định số 13/NĐ-CP ngày 02/03/1993 của Chính phủ về công tác khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật
Trang 21canh tác cho các hộ Nghị quyết 38/CP và các quyết định của Chính phủ về công tác định canh định cư: ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư sản xuất nông nghiệp Nghị quyết số 06/CP, Uỷ ban dân tộc miền núi đã cùng các Bộ, Ngành, các địa phương tích cực thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Các chính sách về tài chính, tín dụng
Nhà nước có ưu đãi về thuế nông nghiệp, thuế lưu thông hàng hoá, thuế đất ở vùng dân tộc và miền núi, miễn thuế sử dụng đất đối với các xã đặc biệt khó khăn Ưu tiên vốn tín dụng hỗ trợ phát triển nông, lâm nghiệp, xoá đói, giảm nghèo với lãi suất thấp Thông qua các chính sách này người dân được vay vốn, đầu tư vào sản xuất trồng đậu tương cũng như một số cây trồng khác Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp
Nghị định 20/1998/ NĐ - CP ngày 31/03/1998 của Chính phủ đã nêu những chính sách phát triển thương mại miền núi, chính sách trợ cước, trợ giá thu mua nông sản, lâm sản góp phần ổn định giá cả thị trường và đời sống nhân dân; khuyến khích phát triển sản xuất, thực hiện xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho đồng bào, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng
Chính sách phát triển khoa học và chuyển giao công nghệ
Nhà nước thực hiện các chính sách ưu tiên đầu tư các thiết bị chính sách chuyển giao công nghệ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật thâm canh, kỹ thuật canh tác trên đất dốc Khuyến khích các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học, các trường đại hoc, trường đào tạo cán bộ, cá nhân các nhà khoa học tham gia nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật Trong vùng có các dự án với nội dung hoàn thiện
và chuyển giao các công nghệ trước thu hoạch (giống, quy trình canh tác, bảo
vệ cây trồng …), phát triển công nghệ sau thu hoạch (bảo quản, chế biến …)
Trang 221.2 Một số vấn đề canh tác trên đất ruộng bậc thang vùng cao ở Việt Nam
Trong những năm qua, năng suất và sản lượng lúa gạo của các tỉnh miền núi, đặc biệt là ở vùng cao không ngừng tăng và ổn định Phần lớn diện tích này được canh tác trên chân ruộng bậc thang vốn có từ lâu đời và một số diện tích mới được mở rộng trong thời gian gần đây Nhiều công trình trong
và ngoài nước đã khẳng định tính ưu việt vượt trội của kiểu canh tác này
Đối với sử dụng đất ở vùng cao, ruộng bậc thang là giải pháp mang lại hiệu quả cao nhất về môi trường cũng như bền vững về kinh tế
Hiệu quả về môi trường: Ruộng bậc thang là một phương thức định canh trên mặt bằng, có không gian khép kín tránh được xói mòn, tiếp nhận vật liệu rửa trôi từ xung quanh, hạn chế tốc độ dòng chảy từ trên cao xuống thung lũng Do không còn độ dốc nên kiểm soát được xói mòn, rửa trôi, duy trì được độ phì nhiêu đất do có bờ giữ nước và có thể canh tác được lâu bền Các bậc thang dần dần hình thành tầng đế cày tích sét tương tự như ruộng lúa đồng bằng, nhờ vậy tuy trên thế dốc nhưng phần lớn các phần tử đất mịn lắng đọng, không bị trôi tuột như trên đất dốc Nhờ hệ thống bể lớn nhỏ, cao thấp khác nhau, sự điều tiết nước khá chủ động cho từng thửa ruộng, tạo điều kiện cho việc dùng giống mới và phân khoáng dễ dàng
Hiệu quả kinh tế, xã hội: Canh tác trên đất ruộng bậc thang góp phần giải quyết vấn đề an ninh lương thực cho đồng bào vùng cao Do có khả năng cho thâm canh đạt năng suất cây trồng cao, hiệu quả kinh tế lớn, duy trì năng suất cây trồng ổn định và canh tác được lâu dài Giảm công lao động trong sản xuất lúa, tăng hệ số sử dụng đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên một đơn
vị diện tích, xoá bỏ chu kỳ hoang hoá, tăng số vụ trong năm
- Hiện trạng sử dụng ruộng bậc thang ở vùng cao hiện nay:
Được sử dụng gần như triệt để vào vụ mùa (mùa mưa) cho sản xuất lúa bằng những giống năng suất cao, chất lượng tốt, đồng thời áp dụng khá đầy
Trang 23đủ các giải pháp kỹ thuật Năng suất lúa nước trên ruộng bậc thang khá cao
(vùng thâm canh đạt 6,0 tấn/ha), chất lượng sản phẩm tốt (nhờ lợi thế về điều
kiện sinh thái) Hệ số sử dụng đất thấp: ngoài một phần nhỏ diện tích được
trồng 2 vụ/năm thì phần lớn diện tích bậc thang đều chỉ cho canh tác 1 vụ, còn
phương pháp sản xuất thủ công
- Tiềm năng có thể khai thác đối với ruộng bậc thang
Diện tích đất hiện bị bỏ hoá trong vụ xuân ở các tỉnh còn khá lớn (Mù Cang Chải, Trạm Tấu - Yên Bái gần như 100% ruộng bậc thang canh tác một
vụ lúa mùa Ở Nà Hang - Tuyên Quang; Hoàng Su Phì - Hà Giang, Sông Mã - Sơn La hơn 50% diện tích đất ruộng bậc thang bị bỏ hoá trong vụ xuân) Thời gian bị bỏ hoá trong vụ xuân là khá dài (từ tháng 11 năm trước đến tháng 6 năm sau)
- Những cơ sở để phát triển đậu tương trên đất ruộng bậc thang ở vùng cao
Hiện nay chúng ta có một tập đoàn giống đậu tương khá phong phú, đa dạng cả về số lượng và các tính trạng, là vật liệu quan trọng cho việc khai thác,
Trang 24mở rộng diện tích gieo trồng Quan trọng nhất phải kể đến như DT84, D2001, ĐT26, Đ2010… Nhiều quy trình sản xuất đậu tương, mô hình sản xuất đã được áp dụng ở nhiều nơi Các Viện, trung tâm nghiên cứu và các trạm khuyến nông trên khắp các tỉnh thành đều có các công trình nghiên cứu, thử nghiệm và đưa ra các quy trình sản xuất phù hợp với từng địa phương, từng vùng; đảm bảo cung cấp cho bà con nông dân những tiến bộ kỹ thuật mới nhất để đưa vào sản xuất Diện tích ruộng bậc thang đang bỏ hoá trong vụ xuân ở các tỉnh miền núi phía Bắc là khá lớn, trong khi đó đất ruộng bậc thang tương đối phì nhiêu Điều kiện sinh thái vụ xuân ở vùng cao cho phép cây đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt khi có các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp Nguồn lao động tại chỗ dồi dào, không bị cạnh tranh Do điều kiện giao thông khó khăn, nghề thủ công, tiểu thủ công ít phát triển nên người dân vùng cao đa số là thuần nông, thời gian nông nhàn chủ yếu thực hiện các công việc thủ công phục vụ đời sống của cá nhân, và gia đình
Nhu cầu đậu tương trên thị trường trong nước là rất lớn (mỗi năm cần trên 1 triệu tấn nhưng chỉ đáp ứng được 30%), hàng năm chúng ta phải nhập khẩu khoảng 700 nghìn tấn đậu tương Sản phẩm từ đậu tương dễ chế biến, phục vụ tiêu dùng tại chỗ, phục vụ chương trình nâng cao sức khoẻ cộng đồng Đậu tương có thể được chế biến theo phương pháp truyền thống như làm đậu, làm sữa đậu nành tại các cơ sở thủ công hay trong chính từng hộ gia đình với những máy làm sữa đậu nành tự động và bán tự động vô cùng tiện lợi Ngoài ra việc trồng và phát triển cây đậu tương cũng được nông dân chấp nhận, các cấp chính quyền, đoàn thể ủng hộ Được đánh giá như một loại cây trồng phù hợp để đưa vào cơ cấu cây trồng cho người dân vùng cao Các trung tâm, trạm khuyến nông đưa vào khuyến khích sản xuất đã được bà con nông dân nhiệt tình hưởng ứng Cuối cùng phải kể đến là ta đang có một lực lượng cán bộ khoa học trẻ dồi dào, có nhiệt huyết bên cạnh đội ngũ các nhà
Trang 25khoa học có kinh nghiệm nhiều năm trong việc nghiên cứu, chuyển giao và phát triển sản xuất
1.3 Hiệu quả kinh tế
1.3.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh
tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội xuất phát từ nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng
Xuất phát từ các giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
+ Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp bởi cùng một kết quả xuất nhưng có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này sẽ có cùng một hiệu quả
+ Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp
độ tăng của các tiêu chí đó cao Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao Hơn nữa, điều kiện sản xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này cũng chưa thỏa đáng
+ Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị Quan điểm này chưa phản ánh hết được ý nghĩa của hiệu quả kinh tế
+ Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kì, góp phần làm
Trang 26tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt sản lượng một loại hàng hóa nào khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường khả năng giới hạn sản xuất của nó Giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng Tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng là tổng sản phẩm quốc dân cao nhất
có thể đạt được, là mức sản lượng tương ứng với tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ giữa tổng sản phẩm quốc dân thực tế với tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng là chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu chênh lệch tuyệt đối giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế là phần lãng phí Tuy nhiên, khái niệm tiềm năng phụ thuộc vào lao động tiềm năng là lao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Sản lượng tiểm năng cũng phải ứng với một tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó thì mới hợp lý
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả, do đó việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mácxit và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn
- Theo quan điểm triết học Mácxit thì bản chất của hiệu quả kinh tế là
sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một
hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các nhu
Trang 27cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
- Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng
mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo
ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội
Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa việc xác định hiệu quả là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về cả
lý luận và thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đính của sản xuất
và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy, sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thỏa mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.3.2 Hiệu quả kinh tế và các tiêu chuẩn đánh giá
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hóa và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức độ đặc trưng quan hệ so sánh
Trang 28giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư
Từ khái niệm chung đó cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh
tế, đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể ở một giai đoạn nhất định Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế -
xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau Mặt khác, tùy theo nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả của xí nghiệp Vì vậy, nhu cầu thì đa dạng, thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất… Mặt khác, nhu cầu cũng gồm nhiều loại: nhu cầu tối thiểu, nhu cầu có khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung Có thể coi thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay
Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra
Đối với cây trồng, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải đứng trên
Trang 29góc độ hạch toán kinh tế, tính toán chi phí, các yếu tố đầu vào đồng thời tính toán được đầu ra từ đó Xác định mối tương quan kết quả giữa đầu vào và kết quả đạt được, đó chính là lợi nhuận
1.3.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là nâng cao cuộc sống, giả quyết công ăn việc làm, góp phần ổn định chính trị và xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn hóa cho nhân dân, tức là đã đạt hiệu quả về mặt xã hội
Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh tế xã hội còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà các ngành kinh tế khác không thể có được Có thể một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị nhưng khi xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung, vì vậy khi đánh giá hiệu quả cần phân loại chúng để có kết luận chính xác
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành ba loại: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội Chúng tuy khác nhau
về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối
mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối Kết quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập,
Trang 30lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả kinh tế đạt được và lượng chi phí bỏ ra, thì hiệu quả
xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế xã hội thể hiện mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp trong các lĩnh vực kinh tế xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Có thể nói hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm có vai trò quyết định nhất và nó được đánh giá một cách đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội Hiệu quả kinh tế có thể được phân loại theo các tiêu thức nhất định, từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế
- Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia thành:
+ Hiệu quả kinh tế theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ… trong từng ngành lớn có lúc phải phân bổ hiệu quả kinh tế cho những ngành hẹp hơn
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội
+ Hiệu quả kinh tế theo lãnh thổ là xét riêng cho từng vùng, từng tỉnh, từng huyện… + Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp là xem xét cho từng doanh nghiệp, vì doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng rẽ và lấy lợi nhuận làm mục tiêu cao nhất nên hiệu quả của doanh nghiệp không đồng nhất với hiệu quả của quốc gia
+ Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất và sản xuất dịch vụ
- Xét theo yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia thành các loại:
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Hiệu quả sử dụng lao động
+ Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị
Trang 31+ Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng
+ Hiệu quả áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và quản lý
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương
Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương thành 5 nhóm chính:
- Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên: Đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng
- Nhóm nhân tố về biện pháp canh tác: Giống, phân bón, kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh
- Nhóm nhân tố về kinh tế, tổ chức: Trình độ, năng lực của chủ thể sản xuất, quy mô sản xuất, vốn, thị trường
- Nhóm nhân tố về xã hội: Thu nhập, thói quen tiêu dùng
- Nhóm nhân tố về chính sách: định hướng phát triển, giải pháp hỗ trợ, khuyến khích
1.3.5 Các chỉ tiêu, phương pháp tính toán
- Tổng sản lượng (tấn)
Tổng sản lượng là số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1 đơn vị thời gian nhất định Trong nông nghiệp, chỉ tiêu tổng sản lượng có ý nghĩa vô cùng quan trọng Để xác định được tổng sản lượng cần thống kê số liệu trên toàn bộ diện tích hoặc cũng có thể tính toán dựa trên diện tích gieo trồng và năng suất thực tế đạt được
- Tổng giá trị hay tổng doanh thu (đồng)
Tổng giá trị hay tổng doanh thu là giá trị của tổng sản lượng sản phẩm Tổng giá trị sản phẩm sản xuất ra là giá trị của tất cả các sản phẩm sản xuất ra không phụ thuộc vào mục đích sử dụng sản phẩm, được tính bằng tổng sản lượng nhân với đơn giá bình quân
1.
Trang 32Trong đó: GO: Tổng giá trị sản xuất
Qi: khối lượng của sản phẩm i Pi: giá cả của từng sản phẩm i Tổng giá trị hàng hóa là tổng giá trị của các sản phẩm sản xuất ra có trao đổi mua bán trên thị trường Tổng giá trị hàng hóa luôn nhỏ hơn hoặc bằng tổng giá trị sản xuất bởi sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra 1 phần trở thành hàng hóa khi được mua bán trao đổi trên thị trường, một phần không trở thành hàng hóa mà được tiêu dùng trực tiếp phục vụ nhu cầu tại chỗ của người dân
Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất của mỗi đơn vị sản phẩm
- Giá trị gia tăng (đồng)
Giá trị gia tăng (VA) là phần giá trị tăng thêm khi sản xuất
VA = GO – IC
Giá trị gia tăng là chỉ tiêu rất được quan tâm, nó thể hiện kết quả của quá trình đầu tư chi phí vật chất và lao động sống vào quá trình sản xuất
- Năng suất (tấn/ha, kg/sào)
Năng suất là sản lượng đạt được trong 1 thời vụ trên 1 diện tích gieo trồng
Trang 33- Cơ cấu giá trị của sản phẩm trong tổng giá trị sản phẩm toàn ngành là
tỉ lệ phần trăm giá trị của 1 loại sản phẩm trong tổng giá trị sản phẩm của 1 ngành nhất định Cho biết tỉ lệ đóng góp của sản phẩm trong tổng giá trị chung toàn ngành nông nghiệp
- Tổng giá trị hiện tại của doanh thu
Tổng giá trị hiện tại của doanh thu là tổng giá trị của doanh thu khi quy đổi về giá trị hiện tại
Trong đó: BPV: Giá trị hiện tại của các khoản doanh thu
Bi: Các khoản doanh thu thứ i r: lãi suất
BPV càng lớn càng tốt Tổng giá trị hiện tại của doanh thu phụ thuộc vào: mức phát sinh thực tế của doanh thu, thời điểm phát sinh doanh thu và mức lãi suất Nông nghiệp có đặc điểm riêng là sản xuất mang tính thời vụ Doanh thu chỉ có được sau khi kết thúc chu kì sản xuất
- Tổng giá trị hiện tại của chi phí
Tổng giá trị hiện tại của chi phí là tổng giá trị của chi phí khi quy đổi
về giá trị hiện tại
Trong đó: CPV: Giá trị hiện tại của các khoản chi phí
Ci: Các khoản chi phí thứ i r: lãi suất
CPV càng nhỏ càng tốt Tổng giá trị hiện tại của chi phí phụ thuộc vào: mức phát sinh thực tế của chi phí, thời điểm phát sinh chi phí và mức lãi suất
Trong khi doanh thu chỉ phát sinh vào cuối chu kì thì chi phí sản xuất
Ci CPV
1 ( 1 )
Trang 34lại phát sinh trong suốt quá trình sản xuất Vì vậy việc tính toán để đưa doanh thu, chi phí về cùng thời điểm là vô cùng quan trọng
- Giá trị hiện tại của thu nhập thuần
Giá trị hiện tại của thu nhập thuần là phần chênh lệch giữa tổng các khoản doanh thu và tổng các khoản chi phí sau khi đã chiết khấu về thời điểm hiện tại
Trong đó: NPV: Giá trị hiện tại của thu nhập thuần
Bi: Các khoản doanh thu thứ i Ci: Các khoản chi phí thứ i BPV: Giá trị hiện tại của các khoản doanh thu CPV: Giá trị hiện tại của các khoản chi phí r: lãi suất
NPV càng lớn càng tốt Giá trị hiện tại của thu nhập thuần phụ thuộc vào: mức phát sinh thực tế của doanh thu, chi phí; thời điểm phát sinh doanh thu, chi phí và mức lãi suất
- Tỷ suất thu nhập trên chi phí
Tỷ suất thu nhập trên chi phí là tương quan giữa giá trị hiện tại của dòng doanh thu so với giá trị hiện tại của dòng chi phí
Trong đó: BCR: Tỷ suất thu nhập trên chi phí
Bi: Các khoản doanh thu thứ i Ci: Các khoản chi phí thứ i BPV: Giá trị hiện tại của các khoản doanh thu
CPV BPV
r
Ci Bi NPV
n i
Ci r
) 1 (
Trang 35CPV: Giá trị hiện tại của các khoản chi phí r: lãi suất
BCR càng lớn càng tốt
- Tỷ suất thu nhập nội bộ IRR
Tỷ suất thu nhập nội bộ IRR là lãi suất cao nhất mà phương án sản suất
có thể chịu đựng được để lợi nhuận của sản xuất không âm
Trong đó: NPV: Giá trị hiện tại của thu nhập thuần
IRR: Tỷ suất thu nhập nội bộ Bi: Các khoản doanh thu thứ i Ci: Các khoản chi phí thứ i IRR được tính theo phương pháp nội suy:
Trong đó: IRR: Tỷ suất thu nhập nội bộ
r1: Tỉ suất chiết khấu thấp hơn tại đó NPV1 > 0 gần sát 0 nhất
r2: Tỉ suất chiết khấu cao hơn tại đó NPV2 < 0 gần sát 0 nhất IRR cần tìm (ứng với NPV = 0) sẽ nằm giữa r1 và r2
0 ) 1
i
IRR
Ci Bi NPV
2 1
1 1
2
NPV NPV
NPV r
r r IRR
Trang 36Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
- Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu
Huyện Văn Chấn là huyện miền núi, tổng diện tích tự nhiên 120.758,5 ha, chiếm 17% diện tích toàn tỉnh Huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Yên Bái, phía Bắc giáp huyện Mù Cang Chải, phía Đông giáp huyện Văn Yên và Trấn Yên, phía Tây giáp huyện Trạm Tấu, phía Nam giáp tỉnh Sơn La Văn Chấn cách trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá tỉnh 72 km; cách thị xã Nghĩa Lộ
10 km; cách Hà Nội 200 km, có đường quốc lộ 32 chạy dọc theo chiều dài của huyện, là cửa ngõ đi vào thị xã Nghĩa Lộ, huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải, huyện Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La và tỉnh Lai Châu Đường quốc lộ
37 chạy qua 4 xã, đây là điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế với các huyện trong tỉnh và các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Lai Châu
- Các đặc điểm tự nhiên:
+ Địa hình:
Văn Chấn nằm ở sườn phía Đông Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn Địa hình phức tạp, có nhiều rừng, núi, hang động, suối khe chằng chịt, thung lũng bằng phẳng Độ cao trung bình so với mặt nước biển 400m Tuy địa hình khá phức tạp nhưng chia thành 3 tiểu vùng kinh tế:
Vùng trong (vùng cánh đồng Mường Lò) bao gồm các xã Sơn Thịnh, Đồng Khê, Phù Nham, Sơn A, Phúc Sơn, Thanh Lương, Hạnh Sơn, Sơn Lương, Thạch Lương, Thị trấn Nông trường Liên Sơn, Thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ Phía Đông có dãy núi Bu và núi Dông; phía Tây là dãy núi Sà Phình, hai dãy núi này vòng ra như một vành đai kiên cố bảo vệ 9 xã vùng đồng bằng Mường Lò nhìn từ núi cao xuống, theo quan niệm xưa, đây là thế
Trang 37“tả Thanh Long - hữu Bạch Hổ”, một thế địa hình để dựng nghiệp muôn đời Vùng trong có diện tích tự nhiên là 13.572,7 ha chiếm 11,26% diện tích toàn huyện, là vùng tương đối bằng phẳng, có cánh đồng Mường Lò rộng trên 2.400 ha đứng thứ 2 trong 4 cánh đồng Tây Bắc, có dân cư đông đúc, đại bộ phận là người Kinh, Thái, Mường… có tập quán canh tác tiến bộ hơn các vùng khác, đây là vùng lúa trọng điểm của huyện và của tỉnh với diện tích lúa ruộng tập trung 3.874 ha
Vùng ngoài gồm 9 xã, thị trấn, bao gồm các xã Chấn Thịnh, Bình Thuận, Nghĩa Tâm, Đại Lịch, Minh An, Thượng Bằng La, Tân Thịnh, Cát Thịnh, Thị trấn Nông trường Trần Phú Vùng ngoài có đèo Lũng Lô và dãy núi Đá Xô, đèo ách hùng vĩ, có diện tích tự nhiên là 53.155 ha chiếm 44,15% diện tích toàn huyện Vùng ngoài có mật độ dân cư thấp hơn vùng trong, đại
bộ phận là người Tày, Kinh có tập quán canh tác, có lợi thế về phát triển lúa nước và vườn đồi, vườn rừng, đời sống dân cư khá hơn so với toàn vùng
Vùng cao thượng huyện bao gồm các xã Tú Lệ, Nậm Búng, Gia Hội, Sùng Đô, An Lương, Nậm Mười, Nậm Lành, Suối Quyền, Suối Bu, Suối Giàng, Nghĩa Sơn Vùng thượng huyện có một bộ phận thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ kéo dài quá Đông Bắc Mù Cang Chải về gần đến Tú Lệ hình thành đèo Khau Phạ nổi tiếng, có độ cao trung bình từ 600 m trở lên, có diện tích tự nhiên là 53.798,8 ha chiếm 44,6% diện tích toàn huyện Vùng này dân
cư thưa thớt đại bộ phận là đồng bào thiểu số: Mông, Dao, Khơ Mú… tập quán canh tác lạc hậu, đời sống còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ
sở hạ tầng yếu kém… nhưng tiềm năng đất đai, lâm sản, khoáng sản có khả năng huy động vào phát triển kinh tế thời gian tới tương đối khá
+ Khí hậu:
Văn Chấn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 20 – 300C; mùa đông rét đậm nhiệt độ xuống dưới tới -2 đến -30C Tổng nhiệt độ cả năm đạt 7.500 – 8.100 0C
Trang 38(Nguồn: Số liệu đo tại trạm Văn Chấn – Cục thống kê tỉnh Yên Bái )
Hình 2.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm
Lượng mưa: được chia thành hai mùa rõ rệt, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa mưa ít, từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm là mùa mưa nhiều Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.200 đến 1.600 mm Số ngày mưa trong năm 140 ngày
Hình 2.2 thể hiện lượng mưa theo các tháng trong năm theo số liệu của cục thống kê tỉnh Yên Bái đo tại trạm Văn Chấn
(Nguồn: Số liệu đo tại trạm Văn Chấn - Cục thống kê tỉnh Yên Bái)
Hình 2.2: Lượng mưa các tháng trong năm
Trang 39Độ ẩm bình quân từ 83% - 87%, thấp nhất là 50% Thời gian chiếu sáng nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9, ít nhất từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; lượng bức xạ thực tế đến được mặt đất bình quân cả năm đạt 45%, thích hợp phát triển các loại động thực vật á nhiệt đới, ôn đới và các loại cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp
Gió: Do địa hình lòng máng chạy theo hướng Đông nam - Tây bắc nên hướng gió chủ yếu thổi theo độ mở của thung lũng Gió khô và nóng thường xuyên xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm (tập trung nhất vào tháng 5 đến tháng 7), ngày gió nóng nhiệt độ lên tới 35 – 3800C, bình quân mỗi năm
và lưu lượng nước thay đổi theo từng mùa; bao gồm 3 hệ thống ngòi, suối lớn:
- Hệ thống suối Ngòi thia: dài 104 km có diện tích lưu vực 824 km2, bao gồm các nhánh:
+ Ngòi nhì: Dài 30 km, diện tích lưu vực 360 km2
+ Nậm tăng: Dài 28 km, diện tích lưu vực 156 km2
+ Nậm mười: Dài 18 km, diện tích lưu vực 166 km2
+ Nậm đông: Dài 28 km, diện tích lưu vực 142 km2
- Hệ thống suối bao gồm các nhánh:
+ Ngòi lao: dài 66 Km có diện tích lưu vực 510 km2
+ Ngòi phà: dài 14 Km, diện tích lưu vực 50 km2
+ Ngòi tú: dài 20 Km, diện tích lưu vực 63 km2
+ Ngòi mỵ: dài 10 Km, diện tích lưu vực 27 km2
- Hệ thống suối Ngòi hút: có diện tích lưu vực thuộc Văn Chấn 397 km2, gồm nhiều suối nhỏ
Trang 40Các hệ thống ngòi suối Văn Chấn đều bắt nguồn từ núi cao, độ dài ngắn nên độ dốc lớn, ngoài tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt đời sống còn có tiềm năng phát triển thuỷ điện nhỏ và vừa
- Các đặc điểm kinh tế xã hội:
Huyện Văn Chấn, có 31 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn (03 thị trấn
và 28 xã) Xã Sơn Thịnh đồng thời là huyện lỵ Dân số 145.858 người, gồm
23 dân tộc anh em cùng sinh sống: Kinh, Thái, Tày, Mường, Dao, H'Mông, Nùng, Hoa, Khơ Mú, Phù Lá, Bố Y Trong đó 8 dân tộc chủ yếu Kinh 34,05
%; Thái 22,38%; Tày 17,11%; Dao 8,93%; Mường 7,57%; H'Mông 6,22%; Giáy 1,48%; Khơ Mú 0,74 %, chia thành 3 vùng cư trú; vùng ngoài đại đa số dân tộc Tày; vùng đồng bằng đa số đồng bào Thái, đồng bào Kinh và Mường; vùng cao chủ yếu dân tộc Dao, H'Mông Mật độ dân số 121 người/km2
Năm 2010, dân số trung bình là 145.858 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,15% Dân cư phân bố không đồng đều giữa các vùng trong huyện Mật độ dân số trung bình toàn huyện năm 2010 là 121 người/km2 Trong đó dân cư nông thôn hiện nay chiếm 89,3 %, dân cư thành thị 10,7 % Tổng số lao động trong độ tuổi là 88.554 người; lực lượng lao động đông đảo chính là nguồn lực, tiềm năng phát triển kinh tế của huyện
- Thực trạng sản xuất nông lâm nghiệp:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 đạt 10,6% 13,5% Bình quân 3 năm 2006 - 2008 đạt 11,9% Trong đó năm 2008: Nông lâm nghiệp tăng 6,4%; Công nghiệp - Xây dựng tăng 18,2%; Thương mại dịch vụ tăng 15,4% + Theo số liệu kiểm kê ngày 01/01/2010, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện
là 120.758,5 ha Căn cứ vào sự hình thành của các loại đất phân chia thành 7 nhóm sau:
+ Nhóm phù sa 11.196 ha chiếm 9,27% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện