Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên là tổng hoà năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của tổ chức kinh tế hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sả
Trang 1LÒ HỒNG PHONG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
SẢN PHẨM GẠO ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2LÒ HỒNG PHONG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
SẢN PHẨM GẠO ĐIỆN BIÊN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ QUANG TRUNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Lò Hồng Phong
Trang 4Cho phép tôi được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hà Quang Trung người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện
và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Cục Thống kê tỉnh, Sở Khoa học và công nghệ của tỉnh Điện Biên
và UBND, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Phòng Nội vụ, Trạm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ Thực vật và cán bộ, nhân dân trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Điện Biên; các Công ty: Cổ phần Giống Nông nghiệp Điện Biên, Cổ phần Lương thực Điện Biên; các chủ hộ sản xuất kinh doanh Gạo Điện Biên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu, thực hiện luận văn của mình
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình: bố, mẹ, anh, chị, em, đặc biệt là vợ, con tôi luôn luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần cũng như vật chất để tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đó!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Lò Hồng Phong
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Những đóng góp mới của Luận văn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh 4
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh 4
1.1.2 Đặc điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo 11
1.1.3 Nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên 12
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm Gạo Điện Biên 15
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo 19
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo một số nước 19
1.2.2 Bài học cho Việt Nam 21
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 23
2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 23
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 23
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.3.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu 23
2.3.2 Điểm nghiên cứu 24
Trang 62.3.3 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.4 Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích 28
2.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 28
2.4.2 Phương pháp phân tích 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế 35
3.1.3 Dân số, dân tộc và lao động 37
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên 37
3.2.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư tư nhân 37
3.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực đầu tư công 50
3.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên so với một số tỉnh 53
3.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của Gạo Điện Biên 56
3.2.5 Đánh giá chung về sản phẩm Gạo Điện Biên 68
3.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên 75
3.3.1 Quan điểm và định hướng về nâng cao năng lực cạnh tranh 75
3.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên 77
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Đề nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
APHIS Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Mỹ
FOB Giá xuất khẩu hàng hóa tại cảng nước xuất khẩu
GCI Năng lực cạnh tranh quốc gia
HACCP Hệ thống phân tích mối nguy hại và kiểm soát điểm tới hạn
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PHRTC Trung tâm nghiên cứu và công nghệ sau thu hoạch
VietGAP Thực hành nông nghiệp tốt
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Diện tích đất sản xuất lúa bình quân của hộ năm 2015 38
Bảng 3.2: Năng suất lúa bình quân của hộ năm 2015 39
Bảng 3.3 Tỷ lệ sản phẩm lúa đã được công nhận VietGAP của các địa phương 39
Bảng 3.4: Giá bán thóc bình quân của các địa phương năm 2015 40
Bảng 3.5: Sản lượng, doanh thu, chi phí và lợi nhuận của các địa phương 41
Bảng 3.6: Khả năng tiếp cận của các thương lái tại địa nghiên cứu 42
Bảng 3.7 Sản lượng thu mua của thương lái tại các địa phương năm 2015 43
Bảng 3.8 Chi phí và giá thành cho 1 tấn sản phẩm tại các địa phương năm 2015 43
Bảng 3.9: Kết quả kinh doanh bình quân một thương lái tại địa phương năm 2015 44
Bảng 3.10: Diện tích phân theo vùng nguyên liệu và nhóm công ty 45
Bảng 3.11 Chất lượng của Gạo Điện Biên 48
Bảng 3.12 Tỷ lệ sản phẩm của Công ty được cấp chứng chỉ về các tiêu chuẩn chất lượng năm 2015 48
Bảng 3.13 So sánh năng lực cạnh tranh của Gạo Điện Biên với một số tỉnh……….54
Bảng 3.14 Phân tích SWOT đối với sản xuất lúa hàng hóa tỉnh Điện Biên 72
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Sơ đồ 1.1 Mối liên quan giữa năng lực cạnh tranh ngành với năng lực cạnh
tranh sản phẩm, các tổ chức kinh tế, tỉnh và quốc gia 8 Biểu đồ 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005 - 2015 36 Biểu đồ 3.2: Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Điện Biên 2005 - 2015 36
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điện Biên là tỉnh thuộc vùng miền núi Tây Bắc, có vị trí địa lý tiếp giáp với các nước Trung Quốc, Lào và các tỉnh Lai Châu, Sơn La (Việt Nam) Với trên 85% dân số sống ở khu vực nông thôn và là tỉnh có nhiều đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống Cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nông nghiệp và thủy sản, giảm tỷ trọng lâm nghiệp Giá trị gia tăng ngành nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 bình quân hằng năm đạt 3,55% (theo giá so sánh năm 2010)
Vấn đề sản xuất nông nghiệp hàng hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo vùng sản xuất bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm, tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân Nên một số tỉnh đã nghiên cứu xác định danh mục các sản phẩm nông lâm nghiệp chủ lực để tập trung đầu tư nghiên cứu, phát triển theo chuỗi giá trị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa có giá trị cao như: An Giang, Tiền Giang, Thái Bình, Hà Tĩnh, Kon Tum, v.v
Trong số nhưng sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Điện Biên như: Lúa gạo, cà phê Mường Ảng, chè cây cao Tủa Chùa, chăn nuôi đại gia súc,… Thì gạo đặc sản Điện Biên là hàng hóa đã nổi tiếng trong và ngoài tỉnh nên nhiều năm qua
đã có mặt trong các siêu thị, cửa hàng tại nhiều địa phương trong cả nước Tuy nhiên, do cách “mạnh ai nấy làm” nên các loại gạo đặc sản này chưa thực sự phát huy được giá trị vốn có, kinh doanh theo tính mùa vụ, không bền vững Đặc biệt là người sản xuất vẫn làm theo kiểu manh mún, sản xuất đến đâu bán đến đó để trang trải cuộc sống Chưa có tư duy về trữ thóc gạo, liên kết với doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu thị trường, nhất là phục vụ những sự kiện lớn, dịp thu hút đông đảo khách du lịch mua sắm Bên cạnh đó, người nông dân vẫn đang tự tìm lối ra cho chính mình, tự tìm thị trường cho sản phẩm Sản phẩm vẫn phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường, vì thế mà giá trị kinh tế của gạo Điện Biên vẫn chưa thực xứng tầm với giá trị vốn có làm nên “thương hiệu” gạo đặc sản Điện Biên Cũng vì thế mà cuộc sống của người trồng lúa - trực tiếp sản xuất chưa được nâng cao Như vậy, vấn đề đặt ra trong sản xuất nông sản nói chung và sản xuất lúa gạo Điện Biên chất lượng cao cần có tầm nhìn chiến lược, đẩy mạnh liên doanh liên kết “4 nhà” ngay từ khâu sản xuất đến chiến lược kinh doanh để người trồng lúa bớt phần thiệt thòi và đưa gạo Điện Biên xứng tầm với giá trị thực
Trang 11Do vậy,để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Điện Biên đến năm 2020 gắn với quy hoạch, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp và chương trình mục tiêu quốc gia trong xây dựng nông thôn mới thì việc xác định được thực trạng, lộ trình và giải pháp phát triển các sản phẩm nông lâm nghiệp chủ lực của tỉnh Điện Biên (nhất là sản phẩm Gạo Điện Biên) sẽ là tiền đề để phát triển các sản phẩm này thành sản phẩm hàng hóa có giá trị cao
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gạo Điện Biên” với mong muốn góp phần công sức nhỏ bé giúp tỉnh Điên Biên phát triển bền vững cho sản phẩm chủ lực chính của ngành nông nghiệp là sản xuất lúa gạo
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất, tiêu thụ của sản phẩm Gạo Điện Biên; đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm Gạo Điện Biên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh và giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh
- Đánh giá và phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên
3 Những đóng góp mới của Luận văn
3.1 Những đóng góp về lý luận và học thuật
Luận văn hệ thống hoá được cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên là tổng hoà năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của tổ chức kinh tế (hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã) tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm gạo và năng lực cạnh tranh của địa phương (xã, huyện, tỉnh) trong việc cung cấp các dịch vụ công và hành chính công cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh gạo Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên, bao gồm năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh tế trong khu vực đầu tư tư nhân và năng lực cạnh tranh của địa phương trong hỗ trợ khu vực tư nhân sản xuất kinh doanh Gạo Điện Biên Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên là
Trang 12quá trình cải thiện năng lực cạnh tranh của khu vực đầu tư tư nhân và hoàn thiện việc cung cấp các dịch vụ, đầu tư ở khu vực công, đảm bảo cho sản phẩm Gạo Điện Biên ngày càng cạnh tranh và phát triển bền vững ở thị trường trong tỉnh và cả ngoại tỉnh Luận văn chỉ ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Gạo Điện Biên trong khu vực tư nhân và khu vực công
3.2 Những đóng góp về thực tiễn
Đề tài phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực tư nhân (hộ sản xuất lúa, thương lái, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu) ở khu vực công (đầu tư công, dịch vụ công) Luận văn chỉ ra rằng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập, làm tốt đầu tư công (công tác quy hoạch, xây dựng vùng nguyên liệu, thuỷ lợi, giao thông, điện, v.v.) thực hiện tốt dịch vụ công (khuyến nông, khuyến công và cấp phép kinh doanh, quản lý nhà nước trong sản xuất lúa gạo), thực hiện tốt các chính sách (đất đai, đầu tư, liên kết, xuất nhập khẩu, ) để tạo môi trường thuận lợi cho hộ sản xuất lúa gạo, thương lái
và doanh nghiệp chế biến phát triển sản xuất lúa gạo theo tín hiệu thị trường là các giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên Luận văn là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý, nhất là các địa phương tham khảo, đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên trong thời gian tới
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.1.1 Cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm rất phổ biến của kinh tế, là một đặc trưng của nền sản xuất hàng hoá Cạnh tranh, hiểu theo nghĩa khái quát là sự ganh đua giữa những người theo đuổi cùng mục đích nhằm đánh bại đối thủ và giành cho mình lợi thế nhiều nhất Theo ý nghĩa kinh tế, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn)
để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như: chiếm lĩnh thị trường, tối đa hoá lợi ích, nâng cao vị thế, ;trên bình diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển Cạnh tranh khiến cho các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng tối ưu các nguồn lực, hạn chế các méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội
Về phía doanh nghiệp, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu về chất
lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý để thích ứng với những biến động của thị trường Nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành tiền đề, động lực và mục tiêu theo đuổi liên tục trong suốt quá trình phát triển của doanh nghiệp
Về phía người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn về chủng
loại, chất lượng, giá cả, mẫu mã của hàng hoá và dịch vụ Cạnh tranh bảo đảm rằng
cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả một cách tuỳ tiện Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường và lành mạnh hoá các mối
quan hệ xã hội [M Porter and K Ketels, 2008]
Ngoài ra, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về cạnh tranh là khác nhau và phạm vi cũng như cấp độ cũng khác nhau Xét theo hướng tiếp cận nội dung của nghiên cứu này, khái niệm cạnh tranh có thể được quan niệm như sau:
Cạnh tranh là một quá trình tranh đấu mà trong đó, các chủ thể kinh tế chủ động ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn kinh doanh)
Trang 14để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như: hướng đến vị thế thống lĩnh thị trường, tạo dựng lòng tin tưởng của khách hàng, cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối
đa hoá lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêu dùng
là tối đa hoá độ thoả dụng, đối với các quốc gia là người dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an toàn, khoẻ mạnh lâu dài và bền vững so với người dân của quốc gia khác
1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh
Có nhiều tác giả như M Porter (1985, 1998, 1990a, 1990b), M Porter và K Ketels, 2008) đã thảo luận năng lực cạnh tranh Các tác giả trên đã chỉ ra năng lực cạnh tranh là khả năng của một tổ chức đưa sản phẩm dịch vụ ra thị trường có tính
ưu việt hơn với tổ chức hay đơn vị khác cung cấp cùng chủng loại sản phẩm hay dịch vụ Năng lực cạnh tranh thể hiện ở nhiều nội dung như chất lượng, chủng loại sản phẩm, mức độ đáp ứng nhu cầu, khả năng tiếp cận thị trường và tiếp cận người tiêu dùng Trên phương diện tổ chức sản xuất, năng lực cạnh tranh thể hiện tính hơn hẳn về nguồn lực (nhân lực, công nghệ, tài chính, các tài nguyên khác)
Tuy vậy, Micheal Porter là người có quan điểm rõ nét nhất Theo M Porter
(1990a và 1990b), năng lực cạnh tranh là khả năng của một tổ chức kinh tế, một
địa phương hay một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó, thể hiện ưu thế của tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia trong việc đáp ứng một cách bền vững và lâu dài nhu cầu của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ đó, tổng hoà các yếu tố kỹ thuật, công nghệ, tổ chức
và quản lý trong việc cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường
Tác giả Đinh Văn Ân (2004) còn chỉ rõ năng lực cạnh tranh cao cho phép tổ
chức kinh tế tồn tại và phát triển được trên thị trường
Năng lực cạnh tranh sản phẩm thể hiện năng lực của doanh nghiệp có sự ưu
việt khi đưa ra thị trường một sản phẩm hay dịch vụ (M Porter, 1990b) Sự ưu việt này thể hiện ở sự tốt hơn về chất lượng, phù hợp hơn về nhu cầu khách hàng, lớn
hơn về quy mô và thị phần, cạnh tranh hơn về giá bán [Đỗ Kim Chung, 2010]
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong
việc cung cấp một số loại sản phẩm và dịch vụ có năng lực cạnh tranh ra thị trường Khả năng của doanh nghiệp thể hiện ở năng lực sản xuất, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ tổ chức sản xuất, khả năng đổi mới sản phẩm, chiến lược sản phẩm, khả năng điều chỉnh sự thay đổi trên thị trường của doanh nghiệp
Trang 15Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì tất yếu có sản phẩm cạnh tranh Các doanh nghiệp đóng trên một địa bàn xác định và có vai trò lớn trong phát triển kinh tế của một địa phương
Năng lực cạnh tranh tỉnh là chỉ số thể hiện môi trường cạnh tranh của tỉnh
trong nền kinh tế thị trường so với các tỉnh, thành phố khác ở một quốc gia trên 9 phương diện: Chi phí gia nhập thị trường; các vấn đề đất đai cho các tổ chức kinh tế
- sản xuất kinh doanh; Tính minh bạch và trách nhiệm của cơ quan cung cấp dịch vụ công và hành chính công; chi phí thời gian để được nhận các dịch vụ hành chính công và dịch vụ công; chi phí không chính thức khi thực hiện các dịch vụ công và hành chính công; tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; dịch vụ hỗ trợ
kinh doanh; đào tạo lao động; thiết chế pháp lý [Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam, 2015]
Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một quốc gia đối
với các quốc gia khác trên thị trường về một sản phẩm, dịch vụ và cả nền kinh tế, là tổng hoà kết quả của năng lực cạnh tranh sản phẩm, của doanh nghiệp, của các
ngành kinh tế và của dịch vụ công và hành chính công ở cấp quốc gia [M Porter
1990a, Đinh Văn Ân, 2004] Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của
Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình đầu tư, tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ Mặt khác, môi trường cạnh tranh thuận lợi sẽ tạo khả năng cho chính phủ hoạch định chính sách phát triển, cải thiện đầu tư, tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập ngày càng có hiệu quả, đồng thời có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh quốc gia gồm một hệ thống chỉ số - cũng còn gọi là chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (GCI - Global Competitiveness Index) được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố lần đầu tiên trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2004 - 2005 Các chỉ số này được phân làm chín nhóm, còn được gọi là chín trụ cột thể hiện năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia Chín trụ cột đó gồm: (1) thể chế; (2) kết cấu hạ tầng;
Trang 16(3) kinh tế vĩ mô; (4) y tế và giáo dục cơ bản; (5) đào tạo và giáo dục bậc cao; (6) hiệu quả thị trường; (7) mức độ sẵn sàng về công nghệ; (8) trình độ kinh doanh; (9) đổi mới và sáng tạo
1.1.1.3 Năng lực cạnh tranh ngành
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu năng lực cạnh tranh.Tuy nhiên, các nghiên cứu lý luận này chủ yếu tập trung vào năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp, của tỉnh và của quốc gia Ở Việt Nam, có một số tác giả như Nguyễn Văn Bảy (2009) đã nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Nguyễn Phúc Khanh và Phùng Minh Nguyệt (2003) đã nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam và Ninh Đức Hùng (2013) nghiên cứu về nâng cao năng lực của ngành trái cây Việt Nam Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào thảo luận các yếu tố cấu thành của năng lực cạnh tranh của sản phẩm như giá thành, năng suất lao động, chất lượng, chưa có nghiên cứu nào thảo luận một cách rõ ràng và hệ thống về năng lực cạnh tranh ngành theo nghĩa rộng Vì vậy, trên phương diện lý luận, luận án này đi tìm câu trả lời cho vấn đề trên
M Porter (1990a) trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” đã chỉ ra
rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp, các địa phương và năng lực điều hành của chính phủ đó, phụ thuộc vào kết quả của đầu tư công và đầu tư tư nhân Với quan điểm này của M Porter có
thể hiểu:năng lực cạnh tranh ngành là khả năng cạnh tranh của một ngành kinh tế
về một hay nhóm các sản phẩm, dịch vụ mà ngành đó cung cấp ra thị trường Nó liên quan đến năng lực cạnh tranh của quốc gia, tỉnh, doanh nghiệp, sản phẩm thuộc hai khu vực đầu tư công và đầu tư tư nhân được nhìn nhận theo góc độ của một ngành kinh tế
Nộị hàm của năng lực cạnh tranh ngành là sự kết hợp hữu cơ giữa năng lực
cạnh tranh trong khu vực đầu tư tư nhân và khu vực đầu tư công Năng lực cạnh tranh của khu vực công là điều kiện cơ bản và là “bà đỡ” cho năng lực cạnh tranh ở khu vực tư nhân phát triển Năng lực cạnh tranh của khu vực đầu tư tư nhân thể hiện năng lực tham gia thị trường của các tổ chức kinh tế trong việc cung cấp một sản phẩm, một dịch vụ trong ngành kinh tế đó, vì thế khi nói đến năng lực cạnh tranh ngành không thể không xét đến sự tổng hoà mối quan hệ của năng lực cạnh tranh sản phẩm, năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh tế, năng lực cạnh tranh tỉnh và năng lực cạnh tranh Quốc gia như thể hiện ở sơ đồ 1.1
Trang 17Sơ đồ 1.1 Mối liên quan giữa năng lực cạnh tranh ngành với năng lực cạnh
tranh sản phẩm, các tổ chức kinh tế, tỉnh và quốc gia
Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành chính là việc phân tích và đánh giá các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh của ngành đó.Môi trường kinh doanh của ngành bao gồm tổng thể các yếu tố thuộc điều kiện khách quan và chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngành.Các nhân tố của môi trường cạnh tranh bao gồm các nhân tố về môi trường vĩ mô, về môi trường ngành và các nhân tố bên trong.Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và
có ảnh hưởng nhiều đến cạnh tranh.Khác với môi trường vĩ mô, môi trường ngành không được tổng hợp từ những qui định, qui luật mà nó mang tính thời điểm
1.1.1.4 Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm
Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 317, tháng 10 năm 2004 của TS Nguyễn
Văn Thanh: “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng mà sản
phẩm có được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh”
Năng lực cạnh tranh sản phẩm được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh của sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại Đó là những đặc tính, giá trị sử dụng mà sản phẩm có được lợi thế so với các sản phẩm thay thế như chất lượng, mẫu mã, giá cả,… Nếu sản phẩm giống nhau về hình thức kiểu dáng, mẫu mã,… mà có chi phí trên một đơn vị thấp hơn từ đó dẫn đến giá thành và giá bán sản phẩm thấp hơn, có chất lượng cao hơn do được áp dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ tiên tiến,… so với đối thủ cạnh tranh cùng sản xuất sản phẩm đó, thì doanh nghiệp đó đã tạo ra sản phẩm có năng lực cạnh tranh Ngoài ra thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm còn được thể hiện ở rất nhiều mặt khác như khả năng đáp ứng và thỏa mãn khách hàng,
hệ thống mạng lưới bán hàng và sau bán hàng tốt,…
Năng lực cạnh
tranh sản phẩm
Năng lực cạnh tranh Quốc gia
Năng lực cạnh tranh Tỉnh
Năng lực cạnh tranh tổ chức kinh
tế
NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH
Trang 18Như vậy, ta có thể thấy ba cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc lập tương đối nhưng giữa chúng vẫn tồn tại mối quan hệ mật thiết Năng lực cạnh tranh sản phẩm sẽ là yếu tố cơ bản tạo nên năng lực cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp) và tổng hợp lại góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Ngược lại, năng lực cạnh tranh của quốc gia được nâng cao sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hay doanh nghiệp, và chính năng lực cạnh tranh của ngành hay doanh nghiệp khi được nâng cao sẽ tạo nên sức hút, sự hấp dẫn với sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng từ đó tạo nên năng lực cạnh tranh cho sản phẩm
1.1.1.5 Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam
Năm 2014, Việt Nam được mùa nhờ khí hậu điều hòa, sản lượng đạt đến 45 triệu tấn lúa (tăng 2,3% so với 2013), năng suất bình quân 5,77 tấn/ha và xuất khẩu 6,2 triệu tấn gạo trị giá 2,7 tỉ đô la Mỹ, so với mục tiêu đầu năm 6,5 triệu tấn và 6,7 triệu tấn của 2013, đứng vị trí thứ ba xuất khẩu gạo thế giới, sau Thái Lan và Ấn Độ.Tuy nhiên, ngành sản xuất lúa gạo vẫn đang tồn tại những vấn đề về chất lượng, giá trị gia tăng xuất khẩu và năng lực cạnh tranh còn khá thấp, cơ sở hạ tầng phục
vụ chế biến bảo quản và quy mô công nghệ chế biến còn nhỏ, thiết bị lạc hậu, Điều này dẫn tới giá trị mặt hàng lúa gạo Việt Nam trên thị trường thường thấp hơn
từ 15%- 50% so với sản phẩm cùng loại của nước khác
Nước ta đã tạo ra hàng trăm giống lúa (con số được công bố chính thức là 102), nhưng không giống nào tạo ra được sự cạnh tranh hay có thương hiệu trên thị trường gạo thế giới Nhiều giống lúa mới chậm được đưa vào sản xuất.Hiện ở vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long mới chỉ có khoảng 30 - 40% giống lúa xác nhận được đưa vào sử dụng Trong khi đó, Thái Lan trong nhiều năm chỉ tập trung vào việc cải tiến các giống tiềm năng là Khao Dawk Mali, Khao Hom Klong Luang và Khao Hom Suphanburi và Jasmine (giống nhập nội từ Hoa Kỳ); còn Ấn Độ thì nhiều năm liên tục tập trung cải tiến các tính trạng của giống Basmati 370; ngay như Mỹ trong nhiều năm cũng chỉ tập trung nghiên cứu trên 3 giống lúa thơm đặc sản là Dellrose, Della và Jasmine 85 Nhờ thế mà Mỹ, Thái Lan và Ấn Độ đã có mặt hàng gạo xuất khẩu có sức cạnh tranh cao, giá cao, nhờ mang thương hiệu nổi
trội[Lúa gạo thế giới và Việt Nam 2014-2015 của Tiến sĩ Trần Văn Đạt- Nguyên
Chánh chuyên gia FAO, Rome tại
[http://www.chebien.gov.vn/ContentDetail.aspx?&CatId=11&Id=15169] Hiện tổn thất sau thu hoạch lúa cả về số lượng và chất lượng còn rất lớn Năm 2014, diện tích trồng lúa của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đạt gần 4,3
Trang 19triệu lượt ha; sản lượng lúa toàn vùng đạt 25,2 triệu tấn, tăng 708.000 tấn so năm
2013, chiếm 56% sản lượng lúa cả nước, đóng góp quyết định vào thành tích xuất khẩu gạo của cả nước Tuy nhiên, theo thống kê, tổn thất sau thu hoạch lúa hiện rất cao, khoảng từ 11- 13%, trong đó, tổn thất từ khâu phơi sấy chiếm trên 4% Những tổn thất này khiến nhà nông thất thu hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm Ngoài ra, các doanh nghiệp thu mua lúa gạo của nông dân với độ ẩm cao (từ 18% đến 20%), nên khi đưa vào xay xát tỷ lệ gạo vỡ rất cao; khi xuất khẩu các doanh nghiệp phải mất thêm công đoạn đánh bóng, chi phí sản xuất đội lên 30%, dẫn tới khó cạnh tranh được về chất lượng và giá cả của các nước xuất khẩu cùng mặt hàng này như: Thái Lan, Ấn Độ
Trong điều kiện đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, ngành sản xuất lúa gạo đang đứng trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt do năng lực cạnh tranh thấp so với thế giới trên nhiều mặt cả về trình độ sản xuất, công nghiệp chế biến, chất lượng, giá cả
Trong năm 2015 và đầu năm 2016, Việt Nam đã ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do, cả song phương và đa phương như: Hiệp định Thương Mại Tự
Do Việt Nam-Liên Minh Châu Âu (FTA Vietnam-EU), Hiệp định Thương mại Tự
do Việt Nam - Hàn Quốc, Hiệp định Thương mại tự do với Liên Minh Kinh tế
Á-Âu (EAEU),… và mới đây nhất là Hiệp định hợp tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) Từ ngày 31.12.2015, Cộng Đồng Kinh tế ASEAN cũng đã có hiệu lực với thuế xuất nhập khẩu trở về 0% với các hàng hóa từ các nước ASEAN được tự do dịch chuyển và thị trường 10 nước ASEAN trở thành một thị trường thống nhất Trong tương lai không xa, 10 nước ASEAN sẽ ký kết Hiệp định Hợp tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) với 6 nước đối tác là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Ấn Độ, Australia và New Zealand Nếu hoàn thành việc ký kết các FTAs, Việt Nam
sẽ có quan hệ thương mại tự do với 57 nền kinh tế trên thế giới Vị thế đó sẽ giúp Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo thêm việc làm và tăng trưởng GDP Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, với tác động của TPP, tới năm 2035 GDP của Việt Nam có thể tăng 8,1%; xuất khẩu tăng 17,1% và tổng lượng vốn tăng 11,9% Bước đi hội nhập này của Việt Nam là mạnh mẽ và sâu rộng hơn cả mức độ hội nhập của những nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn nước
ta trong khu vực Nỗ lực to lớn đó hy vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội phát triển hơn cho Việt Nam và thúc đẩy cải cách môi trường kinh doanh Đặc biệt, hai Hiệp định Thương mại Tự do kiểu mới TPP và FTA Việt Nam-EU bao gồm nhiều cam kết với
Trang 20đòi hỏi rất cao về cạnh tranh bình đẳng, doanh nghiệp nhà nước, lao động và công đoàn, sở hữu trí tuệ, môi trường… mà các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp phải
có nỗ lực rất cao để thực hiện [theo co-hoi-cho-phat-trien-va-thach-thuc-cho-moi-truong/c/19323057.epi]
Do đó, chỉ có nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành sản xuất lúa gạo mới
phát triển và đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, vượt qua được hàng rào kỹ thuật của các quốc gia trong xuất khẩu, cạnh tranh với nhiều sản phẩm của nhiều quốc gia khác ở thị trường trong nước và quốc tế Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo đòi hỏi sự nỗ lực của các tổ chức kinh tế (hộ sản xuất lúa, doanh nghiệp) trực tiếp tham gia vào sản xuất kinh doanh lúa gạo, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ công của các cơ quan quản lý nhà nước
cấp xã, huyện, tỉnh và trung ương (Đỗ Kim Chung, 2010) Trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, các hàng rào thuế quan đã bị dỡ bỏ, các hàng rào kỹ thuật của các nước ngày càng xiết chặt, thì ngành lúa gạocần phải cạnh tranh với các quốc gia
khác ngay cả trên thị trường trong nước Từ quan niệm trên, nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngành lúa gạo là quá trình cải thiện năng lực cạnh tranh của khu vực đầu tư tư nhân và hoàn thiện việc cung cấp các dịch vụ công, đầu tư ở khu vực công, đảm bảo cho ngành lúa gạo ngày càng cạnh tranh và phát triển bền vững cả trên thị trường trong nước và quốc tế
1.1.2 Đạ c điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo ̆
Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo bao gồm cải thiện năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư tư nhân và khu vực đầu tư công trong sản xuất kinh doanh lúa gạo Do đó, cần quán triệt một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, ngành sản xuất lúa gạo là một ngành sản xuất hàng hóa chính Vì
thế, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành là phải tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất lúa gạo, thu gom, chế biến và phân phối sản phẩm
Thứ hai, ngành sản xuất lúa gạo gồm nhiều loại giốngvà cho chất lượng,
phẩm cấp khác nhau, tuỳ theo lợi thế so sánh của mỗi địa phương mà phát triển một
số giống lúa phù hợp, trên cơ sở quy hoạch và thực hiện đầu tư công hợp lý
Thứ ba, ngành sản xuất lúa gạo trải rộng theo chuỗi cung của sản phẩm từ
người trồng lúa đến người tiêu dùng cuối cùng Vì thế, năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo phụ thuộc nhiều vào môi trường đầu tư kinh doanh do khu vực công tạo ra Môi trường này đòi hỏi phải làm tốt việc cung cấp đầu tư công và
Trang 21dịch vụ công cho các tổ chức kinh tế đầu tư kinh doanh lúa gạo phù hợp với tín hiệu thị trường
Thứ tư, sản xuất kinh doanh và chế biến lúa gạo đa dạng về giống lúa cóchất
lượng, phẩm cấp khác nhau; phục vụ nhiều thị trường khác nhau cả ở trong nước và quốc tế Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh cần tập trung vào các giống lúa chủ lực để tạo ra sự khác biệt lớn trên thị trường
Thứ năm, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) có
nhiều yếu tố đã được thị trường hoá nhưng vẫn còn yếu tố phi thị trường Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo phải được cải thiện theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.1.3 Nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên
Từ phân tích khái niệm và bản chất của nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất lúa gạo, nội dung nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên là nghiên cứu năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực đầu tư tư nhân và khu vực đầu tư công trên địa bàn tỉnh Điện Biên
1.1.3.1 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biênở khu vực đầu tư tư nhân
Nội dung nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong khu vực đầu tư tư nhân gồm các vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm, giảm giá thành và nâng cao năng suất lao động sản xuất và kinh doanh lúa gạo, để cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của tổ chức kinh tế khác, tỉnh khác và thậm trí là của nước khác Trong điều kiện của sản phẩm Gạo Điện Biên, năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư tư nhân được thể hiện qua năng lực cạnh tranh ở hộ trồng lúa, thương lái, doanh nghiệp thu mua, chế biến và tiêu thụ
a Năng lực cạnh tranh của hộ trồng lúa
Năng lực cạnh tranh của hộ trồng lúa thể hiện trước hết ở quy mô diện tích, năng suất, chất lượng, giá thành và giá bán Người trồng lúa được coi là có năng lực khi họ sản xuất với quy mô diện tích lớn, không manh mún, phân tán, phù hợp với điều kiện tự nhiên của ruộng vườn, chất lượng sản phẩm tốt tuân thủ quy trình thực hành nông nghiệp tốt - GAP (đất phù hợp, giống tốt, làm tốt khâu canh tác, sử dụng hợp lý đầu vào, chăm sóc, thu hoạch và sau thu hoạch, giá thành hạ, giá bán đảm bảo có lãi)
b Năng lực cạnh tranh của thương lái
Thương lái là trung gian giữa ngườitrồng lúa với người tiêu dùng, bán buôn, hay với doanh nghiệp chế biến Năng lực cạnh tranh của thương lái thể hiện trước hết
Trang 22là năng lực về sản lượng có thể thu gom được trong thời điểm nhất định Năng lực này thể hiện ở quy mô diện tích trồng lúa, số hộ trồng lúa thuộc trong mạng lưới thu mua của thương lái Sản lượng nhiều, diện tích trồng lúa, số hộ nông dân nằm trong mạng lưới thu mua của thương lái lớn, khả năng thu gom của thương lái tốt thì thương lái sẽ có năng lực cạnh tranh cao Hơn nữa, chi phí thu mua của thương lái thấp thì năng lực cạnh tranh của thương lái tốt hơn Lợi nhuận và năng lực tiết kiệm chi phí thu mua phụ thuộc vào năng lực vận chuyển trên đường, tình trạng đường xá, năng lực bảo quản sản phẩm, các chi phí ngoài hoá đơn và giá bán của nông dân
c Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong việc sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên, các doanh nghiệp đóng vai trò chủ yếu là chế biến, phân phối xuất khẩu và thương mại sản phẩm Trên cơ sở liên kết với nông dân và thương lái, doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm thu mua của nông dân và thương lái Vì thế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện trước tiên và trước hết ở năng lực phát triển vùng nguyên liệu, sự đa dạng và mức độ phù hợp về sản phẩm và bao bì, mẫu mã; công suất chế biến, năng suất chế biến; chất lượng sản phẩm; giá thành sản phẩm, giá bán và thị trường tiêu thụ Năng lực phát triển vùng nguyên liệu là điều kiện hàng đầu cho nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu không có vùng nguyên liệu thì doanh nghiệp không có khả năng tồn tại Năng lực phát triển vùng nguyên liệu thể hiện ở quy mô diện tích trồng lúa, sản lượng lúa có thể thu mua từ hộ nông dân, thương lái, năng lực này thể hiện ở sự liên kết giữa người trồng lúa, thương lái và doanh nghiệp Sự đa dạng về chủng loại sản phẩm và mẫu mã, phù hợp với thị trường thể hiện rằng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt được thị trường ưa chuộng cũng là tiêu chí đảm bảo cho doanh nghiệp cạnh tranh Chất lượng sản phẩm phải thoả mãn với yêu cầu của các hàng rào kỹ thuật Công suất cao, năng suất chế biến cao là điều kiện hạ giá thành sản phẩm Năng lực tiếp cận thị trường tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp có giá bán hợp
lý đảm bảo có lãi và cạnh tranh được các sản phẩm cùng loại
Như vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên trong khu vực đầu tư tư nhân, cần tập trung vào một số định hướng sau:
- Hoàn thiện hình thức tổ chức - sản xuất kinh doanh Hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh của Gạo Điện Biên bao gồm các hộ trồng lúa, thương lái, doanh nghiệp và hiệp hội sản xuất kinh doanh lúa gạo Hệ thống này cần được hoàn thiện
Trang 23theo hướng tăng hiệu quả và hiệu lực của các quyết định quản lý, phản ứng nhanh nhạy hơn với thị trường
- Cải thiện năng lực tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của hộ trồng lúa,
thương lái, doanh nghiệp tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu thụ Sự cải thiện về năng lực tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh tập trung vào sự hoàn thiện kiến thức và kỹ năng ra quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp với tín hiệu thị trường, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực, hạ được giá thành sản phẩm, tăng được chất lượng của sản phẩm Sự cải thiện này tập trung vào năng lực của người lãnh đạo của tổ chức kinh tế và năng lực tổ chức sản xuất, năng lực liên kết
và hợp tác sản xuất kinh doanh
- Cải thiện năng lực công nghệ của tổ chức sản xuất, chế biến, kinh doanh
lúa gạo Trình độ công nghệ phù hợp cho phép các tổ chức kinh tế nâng cao được
năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguồn lực, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm Năng lực công nghệ liên quan đến giống, quy trình sản xuất - thâm canh, kỹ thuật thu hoạch, công nghệ chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển, tiếp thị và phân phối sản phẩm
- Cải thiện năng lực nguồn nhân lực của các tổ chức kinh tế tham gia vào
sản xuất kinh doanh Nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng lao động
tham gia vào sản xuất ở các hộ trồng lúa và doanh nghiệp ở khâu sản xuất, chế biến, phân phối, tiêu thụ sản phẩm thương mại Cải thiện năng lực nguồn nhân lực theo hướng nâng cao kiến thức, kỹ năng để nâng cao năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và tiết kiệm nguồn lực trong sản xuất kinh doanh
- Cải thiện năng lực tài chính của các tổ chức kinh tế tham gia vào sản xuất,
kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên Cải thiện năng lực tài chính thể hiện ở việc
tăng cường khả năng tiếp cận tới đất đai để sản xuất, mặt bằng để kinh doanh, các nguồn vốn khác nhau cho sản xuất- kinh doanh Gạo Điện Biên
1.1.3.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực đầu tư công
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực đầu tư công bao gồm năng lực của chính quyền địa phương các cấp từ thôn/bản, xã, huyện, tỉnh trong việc cung cấp đầu tư công và dịch vụ công cho các tổ chức kinh tế ở khu vực đầu tư tư nhân phát triển sản xuất kinh doanh lúa gạo
a Năng lực đầu tư công của các địa phương
Năng lực đầu tư công của các địa phương trước hết là năng lực quy hoạch và thực hiện quy hoạch vùng trồng lúa để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung,
Trang 24năng suất hiệu quả và bền vững Năng lực này thể hiện ở chất lượng quy hoạch khoa học và thực tiễn, năng lực tổ chức thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt Trên cơ sở quy hoạch, các địa phương đầu tư vào cơ sở hạ tầng như: giao thông, thuỷ lợi, hệ thống điện, nghiên cứu khoa học, phục vụ cho sản xuất và chế biến Mặt khác, năng lực đầu tư về khuyến nông, tín dụng cho nông dân, thương lái và doanh nghiệp tham gia vào sản xuất Gạo Điện Biên cũng là những biểu hiện quan trọng của năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên trong lĩnh vực đầu tư công
Trong sản xuất kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên thì năng lực cạnh tranh thể hiện ở sự tiện lợi, hiệu quả của các tổ chức kinh tế trong tiếp cận tới các dịch vụ công về thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin và giáo dục Nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này bao gồm xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ, xây dựng cơ chế quản lý sử dụng hệ thống đó một cách phù hợp, tạo điều kiện để trồng lúa, doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng tới các dịch vụ công về thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin và giáo dục
b Dịch vụ công của các địa phương
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên trong lĩnh vực dịch vụ công bao gồm: năng lực cung cấp các dịch vụ cho hộ trồng lúa như: tổ chức dồn điền đổi thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cho người sản xuất; năng lực cung cấp các dịch vụ khuyến nông, thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, an ninh trật
tự bảo vệ đồng ruộng cho các hộ trồng lúa Năng lực này tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Năng lực hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh
và chế biến như hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục gia nhập kinh doanh của địa phương (đăng ký kinh doanh, hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, thủ tục xuất nhập khẩu) Nhưng năng lực này thể hiện chủ yếu ở các ngành chức năng như:
Kế hoạch Đầu tư, Công thương, cung cấp các dịch vụ công cho các doanh nghiệp Hơn nữa, năng lực của chính quyền địa phương là nhân tố quan trọng trong thực thi các chính sách, các chủ trương đầu tư công và cung cấp các dịch vụ công cho ngành phát triển Các dịch vụ công cần được cải thiện theo hướng cải thiện tổ chức, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng khả năng tiếp cận và giảm chi phí của nông dân, doanh nghiệp tới các dịch vụ đó
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm Gạo Điện Biên
1.1.4.1 Các nhân tổ ảnh hưởng đến khu vực đầu tư tư nhân
Có hàng loạt nhân tố tác động đồng thời đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên trong khu vực đầu tư tư nhân Tuy nhiên, để dễ phân tích,
Trang 25nghiên cứu này gồm các nhân tố tác động riêng đến năng lực cạnh tranh của hộ trồng lúa, thương lái, doanh nghiệp và các nhân tố tác động chung đến các tổ chức kinh tế này
a Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hộ trồng lúa
Năng lực cạnh tranh của hộ trồng lúa bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau.Trong đó, đặc điểm, kiến thức và trình độ kỹ năng của chủ hộ là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đầu tiên đến việc ra quyết định sản xuất kinh doanh của hộ Kế đó, nguồn lực (diện tích đất, lao động, tài sản khác của hộ) ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh Khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn để sản xuất kinh doanh của hộ, nguồn cung cấp giống từ tổ chức tin cậy như doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ quan khuyến nông cũng ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm của hộ sản xuất ra Sự tiếp cận thị trường để tiêu thụ sản phẩm cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hộ
b Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của thương lái
Năng lực cạnh tranh của thương lái phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của các thương lái (thâm niên, kinh nghiệm, trình độ văn hoá) Thường thì thương lái có thâm niên, kinh nghiệm, có kiến thức để tiếp cận được thông tin thị trường, sự liên kết và gần gũi của thương lái với nông dân, sự am hiểu tường tận về địa phương thì năng lực cạnh tranh tốt hơn Mặt khác, vốn kinh doanh thể hiện ở lượng vốn lưu động của thương lái đảm bảo cho thương lái chủ động được nguồn hàng Thương lái có thể ứng trước vốn cho nông dân đầu vụ, hay mua non các sản phẩm Chính vì
lẽ đó, vốn là nhân tố giúp thương lái chủ động được nguồn hàng.Mặt khác, thương lái thường là kinh doanh tư nhân, nên mọi quyết định linh hoạt và nhanh nhẹn, giúp phản ứng kịp thời với thị trường Ngoài ra, phương tiện kinh doanh, nhất là phương tiện thu gom, bảo quản giúp thương lái giảm được chi phí vận chuyển, tổn thất sau thu hoạch góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thương lái
c Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào năng lực của người đứng đầu doanh nghiệp đó Trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, trình độ ngoại ngữ, sự am hiểu thị trường của người đứng đầu doanh nghiệp là nhân tố cơ bản đầu tiên ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bản chất của doanh nghiệp, trong điều kiện của Việt Nam, nếu doanh nghiệp được cổ phần hoá
Trang 26hay là doanh nghiệp tư nhân thì khả năng quản lý và sử dụng nguồn lực có hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước Nguồn vốn và khả năng về vốn của doanh nghiệp dồi dào cho phép doanh nghiệp mở rộng đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến để nâng cao năng lực cạnh tranh Đội ngũ lao động được đào tạo, nhất là lao động làm ở khâu chế biến, marketing, tiêu thụ sản phẩm cũng là điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra, khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường trong nước và quốc tế cũng sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
d Sự tham gia liên kết trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ của hộ trồng lúa,
thương lái và doanh nghiệp
Sản xuất và kinh doanh lúa gạo luôn cần đến sự liên kết giữa người trồng lúa với thương lái thu mua; giữa người trồng lúa với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu; giữa các doanh nghiệp chế biến với nhau Nếu không có sự liên kết với nhau thành một chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng thì không thể thành sức mạnh để cạnh tranh với thị trường bên ngoài được; thậm chí còn tranh mua, tranh bán ngay tại sân nhà, ép giá nhau dẫn đến thua lỗ cho cả người sản xuất đến doanh nghiệp chế biến
và xuất khẩu Sự tham gia này thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, tạo ra sự phân
bố lợi ích bình đẳng giữa nông dân, thương lái và doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh ở khu vực tư nhân
e Tổ chức cộng đồng (Nhóm sở thích, hương ước, hợp tác xã, liên kết, liên doanh)
Chính quyền địa phương các cấp có những chính sách khuyến khích các hộ trồng lúa thành lập các tổ chức cộng đồng như: các nhóm sở thích, các hợp tác xã sản xuất theo quy trình VietGAP, các nhóm liên kết, liên doanh trong sản xuất và tiêu thụ hoặc các hương ước, quy ước của địa phương về phong tục tập quán sống trong tổ chức cộng đồng những người trồng lúa tại địa phương
1.1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng trong khu vực đầu tư công
a Quy hoạch và thực hiện quy hoạch vùng trồng lúa
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên phụ thuộc vào năng suất, sản lượng, chất lượng hàng hoá tạo ra Điều này có được nhờ công tác quy hoạch Công tác quy hoạch vùng trồng lúa là rất cần thiết, có như vậy thì mới tạo thành được những vùng trồng lúa có diện tích lớn, tập trung sản xuất số lượng lớn hàng hoá cho xuất khẩu, mỗi địa phương chỉ nên tập trung trồng một số giống lúa chủ lực, thực
Trang 27hiện chủ trương dồn điền đổi thửa ở các địa phương Để làm được việc này thì cần có những chính sách của nhà nước xây dựng vùng chuyên canh lúa Doanh nghiệp, nông
hộ nằm trong vùng được đầu tưtheo quy hoạch sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn
b Hệ thống hạ tầng cơ sở (thuỷ lợi, giao thông, điện, kho bãi, chợ đầu mối)
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực đầu tư công còn phụ thuộc vào ngân sách, chính sách đầu tư hạ tầng cơ sở về thuỷ lợi, giao thông, điện, kho bãi, chợ đầu mối, Hệ thống hạ tầng cơ sở là một việc lớn cần được nhà nước quan tâm, hỗ trợ đầu tư xây dựng mới, tạo điều kiện cho việc sản xuất kinh doanh chế biến: hệ thống thuỷ lợi, hệ thống đường giao thông nội đồng, hệ thống điện để sản xuất, hệ thống kho bãi và chợ đầu mối
c Sự tiếp cận tới các dịch vụ công như thuỷ lợi, khuyến nông, bảo vệ thực
vật, tín dụng
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ngoài sự nỗ lực của chính nội bộ trong các thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh, thì sự tiếp cận của các tổ chức kinh tế đến các dịch vụ công như thuỷ lợi, khuyến nông, bảo vệ thực vật, tín dụng, các dịch vụ này phải được tiếp cận một cách thuận lợi, đầy đủ và kịp thời thì mới có tác dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh Sự tiếp cận này phụ thuộc nhiều vào năng lực của các cán bộ thực hiện đầu tư công và cung cấp các dịch
vụ công nói trên
d Sự phối kết hợp giữa chính quyền địa phương các cấp với doanh nghiệp
trong sản xuất kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên còn phụ thuộc nhiều vào
sự phối hợp của chính quyền địa phương các cấp trong tổ chức vùng nguyên liệu, thực hiện quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, thu mua sản phẩm Sự kết hợp của chính quyền thôn/bản, xã, huyện tạo điều kiện cho hình thành được vùng sản xuất lúa hàng hoá tập trung
e Các chính sách về sự hỗ trợ của Chính phủ cho ngành sản xuất lúa gạo
phát triển (trong đó có Gạo Điện Biên)
Năng lực cạnh tranh chung của ngành sản xuất lúa gạo phụ thuộc nhiều vào các chính sách của chính phủ và sự vận dụng chính sách của chính phủ vào các địa phương Các chính sách liên quan đến đất đai, đầu tư, hỗ trợ liên kết, liên doanh, kiểm soát chất lượng, xuất khẩu và nhập khẩu, đều ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành Sự phù hợp của các chính sách nói trên góp phần nâng cao năng
Trang 28lực cạnh tranh của ngành Trong các chính sách trên, nổi cộm lên là chính sách đất đai, đầu tư phát triển, kiểm soát chất lượng và chính sách xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngành Mỗi địa phương có sản xuất và kinh doanh lúa gạo phải vận dụng các chính sách của Chính phủ một cách linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mình, tạo điều kiện tối đa để cho các doanh nghiệp, các
hộ sản xuất kinh doanh được thuận tiện và được hưởng lợi từ các chính sách của nhà nước đối với ngành ngày một phát triển bền vững
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành lúa gạo một số nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong nhiều năm qua Hàng năm, Thái Lan sản xuất khoảng 25 triệu tấn gạo trong đó 40 - 50 % là để cho xuất khẩu Từ những năm 1960, giá gạo xuất khẩu (loại 5% tấm FOB Bangkok) của Thái Lan được thế giới coi là chỉ số tốt nhất phản ánh giá trị của thị trường gạo vì nó phản ánh trung thực biến động cung cầu thế giới Có được điều đó là có sự hỗ trợ từ phía Chính phủ trong việc hoặch định chính sách, đề ra biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo ra thị trường các nước, xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp với chất lượng cao trên cơ sở ý thức được tầm quan trọng của hạt gạo đối với nền kinh tế của đất nước nên đã chú trọng đầu tư và ba yếu tố cơ bản đó là chất lượng - thương hiệu
- thị trường Thái Lan chú trọng nâng cao trình độ của nông dân và cán bộ nông nghiệp, tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi đảm bảo tưới tiêu, phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất lúa.Chính phủ tích cực đầu tư cho công tác hiện đại hóa, cơ giới hóa nông nghiệp nông thôn, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
Ngoài ra còn có các hoạt động về hỗ trợ nghiên cứu như: Trước tiên chú trọng đầu tư cho khâu giống có chất lượng cao Hiệp hội về lúa gạo của Thái Lan đã
có những hoạt động tích cực nhằm thực hiện, hỗ trợ và đánh giá những nghiên cứu
về giống lúa của Thái Lan Hàng năm, Thái Lan đầu tư cho công tác nghiên cứu giống mới khoảng 1,4% GDP nông nghiệp và 1% ngân sách Không chỉ tập trung nghiên cứu giống lúa chất lượng cao, năng suất cao mà Thái Lan còn tập trung nghiên cứu cho các lĩnh vực liên quan đến xuất khẩu lúa gạo như đóng gói, thiết kế
Trang 29bao bì, xúc tiến thương mại,… và có chính sách phát triển sản phẩm: có chiến lược phân vùng sản xuất theo những giống lúa khác nhau nhằm tập trung sản xuất đồng loạt, tăng cường chất lượng và đặc tính của từng giống lúa phù hợp với các điều kiện sản xuất khác nhau Bên cạnh đó, Thái Lan rất quan tâm đến vấn đề quản lý chất lượng, chú trọng việc có được những chứng nhận thích hợp về hệ thống sản xuất và chế biến gạo xuất khẩu để tạo sự tin cậy trong lòng người tiêu dùng Chính phủ và các Hiệp hội lúa gạo đã thực hiện hơn 10 năm chương trình giới thiệu về HACCP (hệ thống phân tích rủi ro tại điểm tới hạn) thông qua việc tổ chức những buổi hội thảo ở những vùng khác nhau trong cả nước, đào tạo hơn 300 cán bộ trong ngành quản trị lúa gạo Cùng với đó là xây dựng và bảo vệ thương hiệu: thương hiệu gạo của Thái Lan không chỉ là chỉ dẫn địa lý về xuất xứ gạo là từ Thái Lan mà đồng thời còn chỉ ra gạo đã được chứng nhận về chất lượng bởi các tổ chức có năng lực Thương hiệu gạo ở Thái Lan là thương hiệu gạo quốc gia với thương hiệu đã rất quen thuộc với người tiêu dùng thế giới và khu vực như Jasmine, Hom Mali,…
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Pakistan
Pakistan là một nước có diện tích canh tác nhỏ (khoảng 2,3 triệu Ha) nhưng
là một nước xuất khẩu gạo lớn của thế giới và lượng gạo xuất khẩu hàng năm đạt hơn 8 triệu tấn Tuy là nước đang phát triển nhưng Pakistan có trình độ sản xuất gạo tiên tiến với năng suất cao.Gạo xuất khẩu của Pakistan chủ yếu là gạo Indica chất lượng trung bình.Gạo Basmati chiếm 1/3 lượng xuất khẩu Nhờ vậy, Pakistan có nhiều gạo chất lượng khác nhau để xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau
Pakistan định hướng sản xuất các loại gạo chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu đang dần thay đổi của thị trường thế giới Do đó, Pakistan không ngừng nâng cao công nghệ thu hoạch và chế biến để cho ra đời những sản phẩm có chất lượng cao Bên cạnh đó, Pakistan còn đẩy mạnh công tác quảng bá cho loại gạo đặc sản Basmati.Những nỗ lực đó đã giúp cho Gạo Basmati ngày càng tiếp cận người tiêu dùng ở những thị trường khó tính.Để bảo vệ tài nguyên cho thương hiệu gạo quí Basmati, Pakistan đã đăng ký chỉ dẫn địa lý cho thương hiệu này.Chỉ những sản phẩm gạo xuất xứ từ Pakistan mới được sử dụng thương hiệu “gạo Basmati” trên bao bì Nhờ hành động này mà Pakistan có thể bảo vệ được quyền lợi của mình trước hành động lạm dụng sử dụng tên Basmati của các nhà sản xuất gạo Mỹ Đây
là bài học cho Việt Nam trong việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu đặc sản của mình trên thị trường thế giới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 301.2.2 Bài học cho Việt Nam
Những chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hang xuất khẩu gạo của Thái Lan và Pakistan là bài học quý báu cho Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh về mặt hàng gạo ngày càng gay gắt Từ kinh nghiệm của Thái Lan và Pakistan
ta có thể rút ra mộ số bài học sau:
Đẩy mạnh hỗ trợ nghiên cứu khoa học:Hiện nay, tại Việt Nam việc nghiên
cứu các giống lúa mới chưa thật sự được chú trọng, số lượng trung tâm nghiên cứu
về lúa gạo không nhiều và chưa phát huy được hiệu quả Chúng ta chưa có một giống lúa nào có chất lượng cao, năng suất tốt và phù hợp với điều kiện sản xuất của nước ta Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng gạo của nước ta còn thấp Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp chưa đồng bộ cũng như còn ở mức thấp so với các nước xuất khẩu lớn trên thế giới
Chính sách quản lý chất lượng:Dù Việt Nam đứng hang thứ hai thế giới về
xuất khẩu gạo, thâm trí năm 2012 Việt Nam còn vượt qua Thái Lan về khối lượng gạo xuất khẩu, nhưng chất lượng gạo của Việt Nam chưa được đánh giá cao trên thị trường gạo thế giới Vì vậy, nhà nước cần quản lý các giống lúa để tạo chất lượng đồng bộ cho hạt gạo, đồng thời phải hú trọng công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo chất lượng cao đồng nhất cho hạt gạo và tâm lý an tâm cho người tiêu dùng Nhà nước cần xây dựng một cơ quan quản lý chất lượng gạo chung cho cả nước để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng quốc tế
Hỗ trợ thâm nhập thị trường xúc tiến thương mại cho doanh nghiệp: Cần
nghiên cứu và tiếp tuc đầu tư hơn nữa cho việc xúc tiến thương mại để hạt gạo Việt Nam trở nên quen thuộc và tạo lòng tin trong lòng người tiêu dung thế giới Do đó, bên cạnh những nỗ lực của doanh nghiệp, nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác nghiên cứu thị trường để nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng, từ đó có những bien pháp xúc tiến thương mại phù hợp Chính phủ cần đóng vai trò là người dẫn dắt giúp các doanh nghiệp trong việc trong việc đàm phán và ký kết các hợp đồng xuất khẩu gạo Chính phủ cần mở rộng ngoại giao và ký kết các hiệp định kinh tế, tạo mối quan hệ gần gũi với các chính phủ có tiềm năng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường các nước
Xây dựng và bảo hộ thương hiệu: Kinh nghiệm từ hai quốc gia xuất khẩu
gạo thành công là Thái Lan và Pakistan cho thấy việc xây dựng và bảo hộ
Trang 31thương hiệu gạo quốc gia là vô cùng quan trọng, giúp người tiêu dùng thế giới biết đến hạt gạo Việt Nam Một mặt, thương hiệu quốc gia là chỉ dẫn xuất xứ hạt gạo, mặt khác còn thể hiện chất lượng hạt gạo cũng như những chứng nhận mà hạt gạo đó đạt được Bên cạnh đó, công tác bảo hộ thương hiệu cũng cần được chú ý nhằm bảo vệ gạo Việt Nam trước những nước khác do đó cần có một cơ quan đứng ra đăng ký bảo hộ và chăm lo công tác bảo vệ thương hiệu gạo Việt Nam ở thị trường quốc tế
Đẩy mạnh đầu tư công vào phát triển hạ tầng, thực hiện tốt các dịch vụ công: Tập trung đầu tư phát triển thuỷ lợi, hệ thống điện, hệ thống chợ, thúc đẩy
chế biến, các dịch vụ bảo vệ thực vật, bảo quản nông sản Đẩy mạnh đầu tư công để
hỗ trợ các tổ chức kinh tế nâng cao năng lực tiếp thị, thực hiện những chiến dịch quảng bá rộng rãi cho gạo Việt Nam cả ở thị trường trong nước và quốc tế
Đào tạo nguồn nhân lực: Tăng chất lượng nguồn nhân lực về hệ thống thông
tin thị trường đến các vùng sản xuất bằng cách tăng cường đầu tư cho đào tạo cán
bộ nông nghiệp, hỗ trợ cho các trung tâm thông tin nhằm nắm bắt kịp thời thông tin
về nhu cầu, giá cả thị trường,
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Một là, thực trạng tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm Gạo Điện Biên như thế nào?
Hai là, những yếu tố, rào cản nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm Gạo Điện Biên hiện nay?
Ba là, để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm Gạo Điện Biên cần thực hiện các giải pháp nào?
2.2 Phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa bàn tỉnh Điện Biên
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Số liệu thứ cấp thu thập đến năm 2015;
Số liệu sơ cấp thu thập năm 2016
2.3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh và các vấn đề liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm Gạo Điện Biên, tỉnh Điện Biên
2.3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Gạo Điện Biên trên địa bàn tỉnh Điện Biên và một số tỉnh, thành phố trong nước
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh của Gạo Điện
Biên nhằm thúc đẩy sản xuất lúa gạo của tỉnh phát triển bền vững về mặt kinh tế, xã
hội và môi trường
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
2.3.1.1 Tiếp cận hai khu vực kinh tế
Theo cách tiếp cận này, tổng thể nền kinh tế được chia thành hai khu vực cơ
bản: khu vực kinh tế công và khu vực kinh tế tư nhân Trong cơ chế thị trường, nhà
nước không can thiệp trực tiếp vào quyết định sản xuất kinh doanh lúa gạo mà
thường do tư nhân quyết định theo tín hiệu thị trường Khu vực kinh tế tư nhân bao
Trang 33gồm các hộ gia đình, doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh doanh về lĩnh vực lúa gạo
sẽ quyết định cơ cấu sản xuất - kinh doanh của mình theo tín hiệu thị trường Khu
vực kinh tế công sẽ can thiệp vào các lĩnh vực đầu tư công như: phát triển cơ sở hạ
tầng, phát triển nhân lực, đào tạo, chuyển giao và các dịch vụ công như: cấp quyền
sử dụng đất, giấy phép kinh doanh, xuất nhập khẩu, để hỗ trợ kinh tế tư nhân phát
triển (Đỗ Kim Chung, 2010)
2.3.1.2 Tiếp cận ngành hàng
Phương pháp tiếp cận ngành hàng coi ngành sản xuất lúa gạo là sự tham gia của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị lúa gạo từ người sản xuất đến trung gian mua bán (thương lái), đến doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất nhập khẩu và đến người tiêu dùng Các tác nhân tham gia vào ngành hàng là những đối tượng chính sẽ được phân tích cụ thể
2.3.1.3 Tiếp cận về kinh tế thể chế
Phương pháp tiếp cận về kinh tế thể chế xem xét việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên trong mối quan hệ về thể chế nhà nước, cộng đồng, người sản xuất, người thu gom, chế biến và xuất khẩu Các vấn đề thể chế liên quan đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên sẽ được xem xét Các chính sách về kinh tế, các cơ chế của nhà nước, các văn bản pháp quy, các quy định trong hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa người sản xuất, thu gom, chế biến
và xuất khẩu đã ban hành áp dụng cho ngành sản xuất lúa gạo được phân tích và được coi là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Biểu hiện của phương pháp tiếp cận thể chế trong nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ về kinh tế giữa các tác nhân tham gia vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Gạo Điện Biên
2.3.2 Điểm nghiên cứu
2.3.2.1 Yêu cầu của chọn điểm nghiên cứu
Để nghiên cứu được thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên, điểm nghiên cứu phải đảm bảo các yêu cầu sau: i) Đại diện thực trạng tình hình sản xuất lúa gạo của tỉnh Điện Biên; ii) Đại diện cho trình độ sản xuất kinh doanh, chế biến lúa gạo của các doanh nghiệp, hộ sản xuất lúa gạo; iii) Đại diện cho
hộ, những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh khá và những hộ, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh còn yếu kém
Trang 342.3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu
a Chọn hộ sản xuất lúa gạo
Dựa vào tình hình sản xuất thực tế lúa gạo của tỉnh và các tài liệu đã công bố của tỉnh Điện Biên, ngành Nông nghiệp và PTNT và kết quả khảo sát thực tế từ năm 2011, các huyện: Điện Biên, Mường Ảng, Tuần Giáo được chọn làm điểm nghiên cứu và thu thập số liệu Sở dĩ các huyện này được chọn là vì những lý do sau: i) Các huyện này có vị trị địa lý trải dài theo các khu vực thời tiết mang tính đặc thù tiểu vùng khí hậu; ii) Đây là những huyện đại diện cho các vùng sản xuất lúa gạo chính của tỉnh
Trong mỗi huyện trên, mỗi huyện chọn 02 xã có diện tích trồng lúa lớn để nghiên cứu sâu về tình hình sản xuất lúa gạo trên địa bàn huyện, phản ánh được thực trạng đầu tư công và các dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng ở từng địa phương Tại mỗi xã chọn 04 thôn/bản và mỗi thôn/bản chọn 30 - 40% số hộ để điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên về một số thông tin như sau: đất canh tác; Quá trình canh tác lúa, năng suất, chi phí và lợi nhuận; Thu thập thông tin và ghi vào phiếu điều tra, đồng thời phỏng vấn về các vấn đề có liên quan trong quá trình sản xuất lúa.
b Chọn doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lúa gạo để nghiên cứu
Bên cạnh việc chọn hộ sản xuất lúa gạo và vùng nghiên cứu, để có đủ thông tin cho nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên, nghiên cứu này còn thu thập thông tin từ các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh Gạo Điện Biên Việc chọn cácdoanh nghiệpsản xuất kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên gạo
để nghiên cứu phảI đảm bảo các yêu cầu sau: (i) Cácdoanh nghiệp này phải nằm trên địa bàn tỉnh để nghiên cứu và nằm trong vùng nguyên liệu đã được chọn, (ii) Đại diện cho nhóm doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực lúa gạo để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của từng doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên, (iii) Các doanh nghiệp này phải có nhà máy và các dây chuyền chế biến sản phẩm Gạo Điện Biên Dựa vào kết quả khảo sát thực tế và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong những năm gần đây và các yêu cầu trên, cũng như thực tế tại tỉnh Điện Biên mới chỉ có hai doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Gạo Điện Biên nhưng cũng đã đại diện được cho mục tiêu nghiên cứu, cụ thể là: Công ty Cổ phần Giống Nông nghiệp Điện Biên và Công ty cổ phần lương thực Điện Biên
Trang 352.3.3 Phươ ng pháp thu thập số liệu
2.3.3.1 Thu thập số liệu đã công bố
Các số liệu đã được công bố là số liệu về thống kê tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Gạo Điện Biên; tình hình đầu tư công và dịch vụ công vào tiêu thụ thông qua sách, báo, Internet, hội thảo khoa học, các báo cáo nghiên cứu, các loại báo cáo tổng kết năm của Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Công thương, các huyện thị trong tỉnh, các Công ty sản xuất kinh doanh Gạo Điện Biên; niên giám thống kê của tỉnh và các tài liệu khác liên quan Số liệu liên quan đến chỉ số cạnh tranh tỉnh Điện Biên được trích từ báo cáo Năng lực cạnh tranh tỉnh của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam năm 2015
2.3.2.2 Thu thập số liệu mới
Các số liệu mới về thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên trong khu vực tưnhân (hộ sản xuất, thương lái, doanh nghiệp), năng lực cạnh tranh trong khu vực công được thu thập bằng các phương pháp sau:
a Thảo luận trực tiếp với lãnh đạo địa phương
Việc thu lượm thông tin còn được thực hiện thông qua thảo luận với lãnh đạo các địa phương như: Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT, Chủ tịch UBND các huyện, các xã và các cán bộ của phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Trồng trọt thuộc địa bàn nghiên cứu Nội dung tìm hiểu về tình hình sản xuất Gạo Điện Biên trên địa bàn, tình hình quy hoạch của địa phương, diện tích, năng suất, sản lượng, các chính sách của địa phương đối với phát triển lúa gạo; thuận lợi, khó khăn cũng như phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên trong thời gian tới, đồng thời nhờ cử cán bộ hỗ trợ để khảo sát thực tế tại các hộ sản xuất
b Đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rural Rapid Appraisal)
Sau khi làm việc với các Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, Phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện về tình hình sản xuất sản phẩm Gạo Điện Biên của huyện, với sự hỗ trợ của cán bộ huyện sẽ tiến hành khảo sát ở các xã thông qua các công cụ đánh giá nhanh như: phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát thực tế Trong quá trình đến địa phương và tiếp cận với các hộ nông dân, sử dụng phương pháp quan sát để thu thập một số thông tin chung từ thực tế: về hiện trạng cơ sở hạ tầng, tình
Trang 36hình, quy mô sản xuất, điều kiện sản xuất của hộ sản xuất của các địa bàn cần nghiên cứu Dựa vào kết quả quan sát thực tế để chọn được điểm, danh sách hộ sản xuất để tiến hành điều tra theo nội dung đã được chuẩn bị trước
c Đánh giá nhanh có sự tham gia PRA (Participatory Rural Appraisal)
Để thuận lợi hơn cho quá trình nghiên cứu, trước khi đi điều tra các hộ sản xuất, các công cụ PRA được áp dụng để tìm hiểu sơ lược về tình hình sản xuất, kỹ thuật cũng như những thuận lợi, khó khăn của nông dân trong sản xuất Các công cụ chủ yếu của PRA sau đây đượcc dùng là:
- Thảo luận nhóm: Các cuộc thảo luận với nhóm từ 6 đến 7 nông dân đại
diện dự kiến được tiến hành để đánh giá nhanh tình hình sản xuất trên địa bàn; tình hình sản xuất, kinh doanh, những khó khăn mà người sản xuất đang gặp phải Kết quả thảo luận nhóm làm nền tảng cho kiểm tra chéo các kết quả phỏng vấn của hộ
và lựa chọn hộ để phỏng vấn sâu
- Phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ yếu:Là phương pháp phỏng vấn
để thu thập thông tin ở những người nắm thông tin chuyên sâu về thực trạng sản xuất kinh doanh Gạo Điện Biên; những thuận lợi, khó khăn cũng như là những gợi
ý chung nhất về những định hướng và giải pháp chủ yếu về vấn đề nghiên cứu Các cán bộ được phỏng vấn sâu để tìm hiểu tình hình sản xuất chung, về thực tiễn thực hiện quy trình sản xuất theo quy trình VietGAP, các chương trình, các lớp tập huấn
và định hướng phát triển trong thời gian tới
- Phỏng vấn nhóm cán bộ chuyên môn:Một số cán bộ chuyên môn của các
phòng Nông nghiệp và PTNT, các Công ty, chuyên gia có kinh nghiệm chuyên môn cũng được phỏng vấn để nắm được tình hình sản xuất kinh doanh Gạo Điện Biên, theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP cùng với một số lĩnh vực khác có liên quan đến đề tài
d Phương pháp chọn mẫu điều tra
Trên cơ sở kết quả PRA, căn cứ vào tình hình thực tế của các địa phương nghiên cứu, yêu cầu độ chính xác của mẫu, khung chọn mẫu; phương pháp thu thập
số liệu, nghiên cứu này áp dụng phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu theo xác suất
ngẫu nhiên có hệ thống Cụ thể về số mẫu điều tra từ người sản xuất dựa vào danh
sách số hộ sản xuất, chọn ngẫu nhiên theo quy luật cứ cách 5 hộ thì chọn một hộ vào mẫu, từ đó ta tính được số mẫu cụ thể của người sản xuất Số mẫu còn lại dựa
Trang 37vào tình hình thực tế khi đi điều tra của từng cơ quan, doanh nghiệp, cán bộ địa phương, và người tiêu dùng để đảm bảo tính chính xác, số mẫu tối thiểu điều tra không thấp hơn 20 mẫu trên một địa phương và 5 mẫu trên một doanh nghiệp
Bên cạnh phỏng vấn sâu các hộ, thương lái và doanh nghiệp, phiếu phỏng vấn bán cấu trúc được chuẩn bị để xin ý kiến các lãnh đạo tỉnh, huyện, xã Các bộ phiếu này giúp thu đủ thông tin về thực trạng sản xuất kinh doanh Gạo Điện Biên ở các cấp độ khác nhau Bộ phiếu được xây dựng và được thử nghiệm ở huyện Điện Biên, sau đó tiến hành điều chỉnh cho phù hợp với từng địa phương
2.3.2.3 Xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được, được chuẩn hoá và tổng hợp, phân tổ thành bộ cơ sở dữ liệu và xử lý bằng các phần mềm máy tính trợ giúp như Excel và SPSS 15.0
2.4 Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích
2.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phân tích
2.4.1.1 Các chỉ tiêu thể hiện năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư tư nhân
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực tư nhân bao gồm các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của hộ sản xuất, thương lái và doanh nghiệp
Đối với hộ sản xuất, đó là các chỉ tiêu thể hiện quy mô và diện tích trồng lúa
của hộ, năng suất thu được trong một đơn vị diện tích trong một vụ thu hoạch, chất lượng sản phẩm thể hiện thông qua tỷ lệ phần trăm diện tích được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP, giá thành sản phẩm, giá bán, lợi nhuận thu được từ một đơn vị diện tích hay vốn đầu tư vào sản xuất Các chỉ tiêu này phản ánh quy mô và hiệu quả, năng lực cạnh tranh của hộ
Đối với thương lái, năng lực cạnh tranh được đánh giá bằng năng lực thu
gom sản phẩm (số hộ sản xuất mà thương lái thường xuyên thu mua, số diện tích và sản lượng mà thương lái có thể mua, chi phí thu mua một tấn sản phẩm, lợi nhuận thu được trên một đồng chi phí bỏ ra cho thu gom) Các chỉ tiêu này được tính bình quân cho một thương lái ở các địa phương
Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực xây
dựng vùng nguyên liệu (diện tích vùng trồng lúa, số hộ nông dân tham gia liên kết sản xuất trong vùng), số chủng loại, mẫu mã sản phẩm mà doanh nghiệp chế biến, công suất thiết kế và mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ, sản lượng và năng
Trang 38suất sản phẩm chế biến, chất lượng sản phẩm chế biến (mức độ đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, số người am hiểu về hàng rào kỹ thuật của các thị trường, giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của doanh nghiệp so với giá bán sản phẩm cùng loại của các tỉnh khác, doanh nghiệp khác, thị phần và khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước)
2.4.1.2 Các chỉ tiêu thể hiện năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư công
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực đầu tư công được đánh giá bằng bốn nhóm chỉ tiêu:
a Năng lực đầu tư công cho sản phẩm Gạo Điện Biên phát triển: Các chỉ tiêu thể
hiện tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch vùng sản xuất, nguồn vốn đầu tư và kết
quả đầu tư vào hệ thống giao thông, thủy lợi, hệ thống điện phục vụ sản xuất
b Năng lực cung cấp dịch vụ công cho ngành phát triển: Công tác tổ chức
dồn điền đổi thửa, tỷ lệ các hộ và tỷ lệ diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất, tình hình tham gia và kết quả thực hiện các hoạt động khuyến nông, bảo vệ thực vật và dịch vụ thủy lợi, mức độ đảm bảo về an ninh đồng ruộng, sự hài lòng của doanh nghiệp về thủ tục đăng ký kinh doanh, chi phí của doanh nghiệp trong xây dựng vùng nguyên liệu, mức độ hài lòng của doanh nghiệp về hỗ trợ mặt
bằng sản xuất kinh doanh, và thủ tục gia nhập kinh doanh của địa phương
c Chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay
(PCI) (viết tắt của Provincial Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền tỉnh Điện Biên của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh
Có tất cả 9 chỉ số thành phần (với thang điểm 100) nhằm đánh giá và xếp hạng tỉnh
về chất lượng điều hành cấp tỉnh tại Việt Nam Những chỉ số đó là: gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, tính năng động của lãnh đạo tỉnh, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động, thiết chế pháp lý Nghiên cứu này sử dụng PCI của
tỉnh do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam công bố năm 2015
2.4.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh
Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh của sản phẩm Gạo Điện Biên sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: sản lượng, diện tích và cơ cấu diện tích sản xuất qua các năm, năng suất một số giống lúa chủ lực của Điện Biên so với một số tỉnh, thị phần sản phẩm lúa gạo của Điện Biên trong nước Các chỉ tiêu trên được lấy từ nguồn số liệu của Sở Công thương; Sở Nông nghiệp và PTNT; Niên giám thống kê năm 2015
Trang 392.4.1.4 Chỉ tiêu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Có hai nhóm chỉ tiêu phản ánh các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Gạo Điện Biên ở khu vực đầu tư tư nhân và khu vực đầu tư công
a Khu vực tư nhân: Đối với hộ sản xuất lúa gạo, các chỉ tiêu cơ bản bao
gồm: vốn và khả năng tiếp cận đến tín dụng, tỷ lệ các hộ tiếp cận tới nguồn cung cấp giống từ doanh nghiệp và khuyến nông sẽ được dùng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hộ Đối với thương lái, các chỉ tiêu như: tỷ
lệ thương lái theo các nhóm thâm niên và trình độ văn hoá khác nhau, số vốn và khả năng tiếp cận tới vốn dùng trong kinh doanh; tỷ lệ thương lái có phương tiện thu gom, phương tiện bảo quản Đối với doanh nghiệp, các chỉ tiêu bao gồm nhóm chỉ tiêu thể hiện đặc điểm của chủ doanh nghiệp, tỷ lệ đội ngũ lao động của doanh nghiệp theo trình độ kỹ thuật, chuyên môn, nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng tiếp cận thị trường cũng được dùng để phân tích, ngoài ra sự tham gia ý kiến đánh giá về sự liên kết giữa các tác nhân của hộ với thương lái và doanh nghiệp trong sản
xuất kinh doanh trái cây cũng được xem xét
b Khu vực công: Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành
sản xuất lúa gạo ở khu vực công bao gồm khả năng nguồn vốn đầu tư công cho phát triển ngành, cung cấp dịch vụ công, năng lực cung cấp dịch vụ công của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, sự liên kết và phối kết hợp giữa chính quyền các cấp với
doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên
2.4.2 Phương pháp phân tích
2.4.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Trong nghiên cứu này, phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích thực trạng sản xuất và kinh doanh sản phẩm Gạo Điện Biên của hộ sản xuất và doanh
nghiệp, bao gồm ba nội dung chính: i) Phản ánh mức độ (dùng các chỉ tiêu tổng
hợp bao gồm số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân, tần suất, độ lệch chuẩn
bình quân); ii) Phản ánh tình hình biến động (dùng dãy số và chỉ số về tình hình biến động trong sản xuất và kinh doanh của hộ và doanh nghiệp); iii) Phản ánh mối
quan hệ (dùng phương pháp phân tổ thống kê, đồ thị, thể hiện mối quan hệ giữa
các chủ thể trong ngành kinh tế) Các phương pháp trên dùng để đánh giá thực trạng
Trang 40về năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh ở cả khu vực tư nhân và khu vực công
2.4.2.2 Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp thống kê so sánh được áp dụng để so sánh năng lực cạnh tranh giữa doanh nghiệp có lãi và doanh nghiệp chưa có lãi trong cùng một sản phẩm, so sánh giữa các địa phương trong một loại sản phẩm để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng
và từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương để khắc phục được các yếu kém còn tồn tại và đưa sản xuất lúa gạo ngày càng phát triển bền vững