Tuy nhiên, vấn đề trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm và đời sống của một bộ phận nông dân, những người bị mất đất trong quá trình đô thị hóa của huyện... Đặc điểm chủ yếu của quá t
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được
sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Phan Văn Huy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy, Cô giáo trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học Đặc biệt là TS Lê Khắc Côi đã nhiệt tình, tận tâm, đầy trách nhiệm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ phòng KHCN - HTQT - ĐTSĐH trường Đại học Lâm Nghiệp; Lãnh đạo và cán bộ phòng Tài Nguyên - Môi trường; Lãnh đạo và cán bộ UBND xã đóng trên địa bàn huyện Quảng Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn toàn thể những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra phỏng vấn và thu thập số liệu Xin chân thành cảm ơn Qúy Thầy,
Cô cùng bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn này cũng như sự ủng hộ, tạo điều kiện của cơ quan và gia đình trong thời gian vừa qua
Để thực hiện luận văn, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tự nghiên cứu với tinh thần chịu khó, nghị lực và ý chí vươn lên Tuy nhiên, không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định Kính mong Quý Thầy, Cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến để đề tài ngày càng được hoàn thiện hơn Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, ngày 05 tháng 11 năm 2012
Tác giả
Phan Văn Huy
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa……… ………
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các hình vii
Danh mục các bảng viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT, VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP 5
1.1 Khái quát chung về lao động, việc làm và thu nhập của người lao động 5
1.1.1 Khái niệm về lao động 5
1.1.2 Quan niệm về việc làm 6
1.1.3 Khái niệm về thu nhập 7
1.2 Đô thị hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa 7
1.2.1 Khái niệm đô thị hóa 7
1.2.2 Đặc điểm chủ yếu của quá trình đô thị hóa 8
1.2.3 Sự cần thiết phải thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa 10
1.2.4 Những tác động của quá trình đô thị hóa đối với nông thôn 11
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động bị thu hồi đất 18
1.3.1 Các nhân tố thuộc về chủ thể 18
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài 20
1.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động sau thu hồi đất 23
1.4.1 Ở các nước trên thế giới 23
1.4.2 Ở Việt Nam 26
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá việc làm và thu nhập của lao động 29
Trang 41.51 Tỷ lệ thất nghiệp của lao động 29
1.5.2 Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động trong năm 30
1.5.3 Thu nhập bình quân của một lao động trong năm 31
1.6 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 32
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG NINH 36
2.1 Một số nét cơ bản về huyện Quảng Ninh 36
2.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
2.2 Khái quát chung về tình hình thu hồi đất và vấn đề việc làm của lao động ở huyện Quảng Ninh 46
2.2.1 Tình hình thu hồi đất của huyện Quảng Ninh 46
2.2.2 Tình hình lao động và việc làm của lao động huyện 48
2.3 Tình hình thu hồi đất và vấn đề việc làm của lao động tại 5 đơn vị điều tra 50 2.3.1 Đặc diểm của các xã điều tra 50
2.3.2 Tình hình thu hồi đất của các xã điều tra 53
2.3.3 Số hộ bị thu hồi đất 56
2.3.4 Cơ cấu việc làm của 5 xã điều tra trước và sau thu hồi đất 57
2.4 Thực trạng thu hồi đất của các hộ điều tra và ảnh hưởng của nó đến việc làm và thu nhập của lao động 61
2.4.1 Khái quát chung về các hộ điều tra 61
2.4.2 Tình hình thu hồi đất của các hộ 63
2.4.3 Biến động việc làm của lao động trước và sau thu hồi đất 65
2.4.4 Biến động thời gian làm việc 70
2.4.5 Biến đổi thu nhập của lao động 72
2.4.6 Đánh giá của các hộ gia đình về tình trạng việc làm 77
2.5 Ảnh hưởng của các nhân tố đến việc làm và thu nhập của lao động bị thu hồi đất 81
2.5.1 Các nhân tố thuộc về chủ thể 81
Trang 52.5.2 Các nhân tố bên ngoài 88
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN QUẢNG NINH KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 93
3.1 Mục tiêu, quan điểm và định hướng đề xuất giải pháp 93
3.1.1 Mục tiêu 93
3.1.2 Quan điểm 93
3.1.3 Định hướng 94
3.2 Một số giải pháp chủ yếu đảm bảo việc làm và thu nhập của lao động nông thôn huyện Quảng Ninh khi bị thu hồi đất 95
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với các hộ gia đình 96
3.2.2 Nhóm giải pháp thuộc về cơ chế chính sách 97
3.2.3 Giải pháp về công tác quy hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai và quy hoạch về việc làm 109
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
1 KẾT LUẬN 111
2 KIẾN NGHỊ 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Vai trò và tác động tích cực của quá trình đô thị hoá 19
2.2 Cơ cấu diện tích đất thu hồi của 5 xã điều tra 54 2.3 Cơ cấu số hộ thu hồi đất của 5 xã điều tra 57 2.4 Cơ cấu việc làm của lao động ở 5 xã điều tra năm 2008-2010 60 2.5 Cơ cấu việc làm của lao động trước và sau thu hồi đất 68
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tình hình phát triển dân số đô thị Việt Nam 14 2.1 Danh mục các đơn vị hành chính huyện Quảng Ninh 38 2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Quảng Ninh 3 năm 2008-
2.5 Tình hình thu hồi đất của huyện Quảng Ninh qua 3 năm 2008-2010 47
2.7 Tình hình thu hồi đất của 5 xã 3 năm 2008-2010 55
2.9 Cơ cấu việc làm của 5 xã điều tra năm 2008 và 2010 59
2.11 Tình hình biến động đất nông lâm nghiệp của các hộ trước và sau
thu hồi đất
64
2.12 Việc làm của lao động trước và sau thu hồi đất 69 2.13 Biến đổi thời gian làm việc của lao động điều tra 70 2.14 Phân tổ thời gian làm việc của lao động ở các hộ điều tra 71
2.17 Phân tổ quy mô thu nhập lao động ở các hộ điều tra 77 2.18 Ý kiến đánh giá của các hộ điều tra về tình hình việc làm của các
hộ trước và sau thu hồi đất
78
2.19 Ý kiến của các hộ gia đình về điều kiện việc làm sau thu hồi đất 78
Trang 92.20 Ý kiến của các hộ gia đình về sự hài lòng của công việc trước và
sau thu hồi đất
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy CNH - HĐH và đô thị hóa là nhân tố quyết định thay đổi phương thức sản xuất, chuyển từ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới hiện đại, do đó cũng làm thay đổi bộ mặt nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH và đô thị hóa có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
Về mặt kinh tế, CNH - HĐH làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế, chuyển nền kinh tế sang một bước phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao
Về mặt xã hội, đó là quá trình đô thị hóa Trong nền kinh tế hiện đại, đô thị hóa không chỉ đơn thuần là sự hình thành các đô thị mới mà còn là nấc thang tiến hóa vượt bậc của xã hội với trình độ văn minh mới, phương thức phát triển mới Đó
là cách thức tổ chức, bố trí lức lượng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế
Hiện nay, quá trình CNH - HĐH và đô thị hóa ở nước ta nói chung và trên địa bàn huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình nói riêng đang diễn ra mạnh mẽ Để đáp ứng nhu cầu cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và đô thị hoá địa phương, thực hiện mục tiêu đưa huyện Quảng Ninh thành huyện phát triển trọng điểm về kinh tế-
xã hội, trong những năm qua (từ 2003 đến nay) nhiều diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp - nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện bị thu hồi để phục vụ mục tiêu chung Mặt khác, theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất toàn huyện từ năm 2006 - 2010
và định hướng quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2020 thì sẽ có sự biến động lớn
về diện tích đất các loại theo xu hướng đất nông nghiệp ngày càng giảm dần Việc thu hồi đất trên địa bàn huyện, hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phục vụ phát triển kinh tế xã hội là đúng, đáp ứng yêu cầu phát triển hiện tại và tương lai Tuy nhiên, vấn
đề trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm và đời sống của một bộ phận nông dân, những người bị mất đất trong quá trình đô thị hóa của huyện
Trang 11Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã chọn đề tài: “Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn dưới tác động của thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa ở huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
+ Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của lao động
nông thôn bị thu hồi đất cho quá trình đô thị hóa Đề xuất các giải pháp tạo việc làm, tăng thu nhập cho các nông hộ sau khi thu hồi đất ở huyện Quảng Ninh
- Đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo việc làm và thu nhập của người lao động
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Sự thay đổi việc làm và thu nhập của các lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình
Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng sự thay đổi
việc làm, thu nhập của lao động nông thôn bị thu hồi đất cho quá trình đô thị hóa ở huyện Quảng Ninh
+ Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi huyện Quảng Ninh
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu
- Số liệu sơ cấp: Để phù hợp với điều kiện, đặc điểm nghiên cứu trên địa bàn
huyện Quảng Ninh, tôi tiến hành chọn 5 xã điều tra: xã Lương Ninh, xã Hiền Ninh,
xã Xuân Ninh, xã Hải Ninh, thị trấn Quán Hàu Tổ chức phân tổ điều tra và sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có phân loại Cơ cấu mẫu điều tra được phân thành 3 nhóm theo diện tích đất bị thu hồi: Nhóm I: thu hồi <50% diện tích; nhóm II: thu hồi từ 50% đến cận 70% diện tích; nhóm III: thu hồi từ 70% đến 100% Kết quả điều tra 135 hộ; trong đó nhóm I có 45 hộ, nhóm II có 50 hộ, nhóm III có 40 hộ
- Số liệu thứ cấp: Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã sử dụng các tài
liệu đã được công bố ở: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2010 và Niên giám thống kê huyện Quảng Ninh 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 Thống kê, kiểm
kê diện tích đất theo đơn vị hành chính - phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quảng Ninh Các tài liệu từ UBND huyện Quảng Ninh…Ngoài ra, trong quá trình phân tích chúng tôi còn tham khảo một số giáo trình, các báo cáo khoa học, tạp chí chuyên ngành và mạng internet… có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp phân tổ thống kê
Phân tổ các mẫu điều tra theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn… nhằm hệ thống hoá các số liệu điều tra và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động sau thu hồi đất
4.3 Phương pháp thống kê, phân tích kinh tế
Thống kê các số liệu cần thu thập như: Tình hình thu hồi đất của địa bàn nghiên cứu, các xã điều tra, tình hình về việc làm và thu nhập của lao động nông thôn Xây dựng hệ thống bảng biểu đánh giá tình hình thu hồi đất nông nghiệp, việc làm và thu nhập của lao động nông thôn bị thu hồi đất Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến việc làm và thu nhập của lao động nông thôn, đánh giá mức độ hài lòng công việc của người lao động đến điều kiện việc làm, tính chất công việc của họ trước và sau thu hồi đất
Trang 134.4 Phương pháp duy vật biện chứng
Đánh giá thực trạng thu hồi đất trong mối quan hệ tác động qua lại giữa việc làm và thu nhập của lao động bị thu hồi đất và quá trình đô thị hóa của huyện Quảng Ninh
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các nội dung của luận văn thông qua ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc thu hồi đất, việc làm và thu nhập
Chương 2: Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nông thôn bị thu
hồi đất trên địa bàn huyện Quảng Ninh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đảm bảo việc làm và thu nhập của lao
động nông thôn ở huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình khi bị thu hồi đất
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT, VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP
1.1 Khái quát chung về lao động, việc làm và thu nhập của người lao động
1.1.1 Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua các công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho nhu cầu của mình và xã hội
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất,
là quá trình con người sử dụng sức lao động hay năng lực lao động bao gồm toàn bộ thể lực và trí lực của mình để phát động và đưa vào các tư liệu hoạt động lao động tạo ra sản phẩm Do vậy, trong quá trình lao động, sức lao động là yếu tố tích cực và hoạt động nhiều nhất, bởi sức lao động là một trong những nguồn lực khởi đầu của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa
Lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hay không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Trong đó lực lượng quan trọng nhất là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động gồm những người đủ 15 - 55 tuổi đối với nữ, đến 60 tuổi đối với nam đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Trên thực tế vẫn có một số lao động, thường là lao động nông nghiệp mặc dù ngoài độ tuổi nhưng vẫn tham gia lao động như thiếu niên từ 13 - 15 tuổi hay những người nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi
Dân số không hoạt động kinh tế, bao gồm số người từ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm Những người này không hoạt động kinh tế vì các lý do: đang đi học, đang làm công việc nội trợ cho bản thân hoặc gia đình, tàn tật không có khả năng lao động, các lý do vì sức khỏe, hoặc ở vào tình trạng khác
Trang 151.1.2 Quan niệm về việc làm
Tùy theo tình trạng việc làm mà dân số hoạt động kinh tế được chia làm hai loại: người có việc làm và người thất nghiệp
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là người đang làm việc trong các lĩnh vực ngành nghề, các dạng hoạt động có ích không bị pháp luật nghiêm cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp một phần cho xã hội
Một định nghĩa khác cụ thể hơn thì người có việc làm là những người thuộc nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra người đó:
- Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền công hoặc hiện vật
- Đang làm công việc không được hưởng tiền lương hay lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình
- Đã có công việc trước đó song tại thời điểm điều tra tạm thời không làm việc
và sẽ làm việc trở lại sau thời gian tạm nghỉ
Căn cứ vào thời gian làm việc và nhu cầu làm thêm mà người có việc làm được chia thành hai loại, người đủ việc làm và người thiếu việc làm
- Người đủ việc làm bao gồm những người có thời gian làm việc trong tuần lễ trước điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc số giờ đó bằng hoặc lớn hơn số giờ quy định cho từng ngành nghề riêng biệt
- Người thiếu việc làm bao gồm những người có thời gian làm việc trong tuần
lễ trước điều tra nhỏ hơn 40 giờ, hoặc số giờ làm việc nhỏ hơn quy định và có nhu cầu làm thêm( trừ những người có thời gian làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm thêm mà không tìm được việc)
Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm Hay thất nghiệp là một tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành
Trang 161.1.3 Khái niệm về thu nhập
Về bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương…) và phần có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận) Tuy nhiên, ở phạm trù khác nhau (toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân) biểu hiện của thu nhập có những đặc thù riêng biệt Sau đây là một số khái niệm về thu nhập của lao động:
- Theo từ điển kinh tế thị trường thì “ thu nhập cá nhân là tổng số thu nhập đạt được từ các nguồn thu khác nhau của cá nhân trong thời gian nhất định, thu nhập cá nhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ thu nhập quốc doanh”
- Theo Robert Gorden thì “ thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia đình nhận được từ mọi người bao gồm các khoản làm ra và các khoản chuyển nhượng Thu nhập cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thuế cá nhân” Tóm lại: thu nhập của người lao động là số tiền mà họ nhận được từ các nguồn thu và họ được toàn quyền sử dụng cho bản thân và cho gia đình”
1.2 Đô thị hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa
1.2.1 Khái niệm đô thị hóa
Trên quan điểm kinh tế quốc dân: “ Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân
bổ lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ
sở vật chất, kỹ thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị Đó là quá trình tập trung, tăng cường, phân hóa các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ dân số thành thị trong các vùng, các quốc gia cũng như trên thế giới Đồng thời đô thị hóa cũng là quá trình phát triển của các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư”
Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tiến trình phát triển xã hội đã có
sự thay đổi cơ bản là:1) phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn; 2) làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Cùng với quá trình
Trang 17công nghiệp hóa, đô thị hóa được coi như một khía cạnh quan trọng trong sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hóa có hai hình thức biểu hiện chủ yếu:
- Một là ; đô thị hóa theo chiều rộng, trong đó quá trình đô thị hóa diễn ra tại các đô thị trước đây không phải là đô thị Đó cũng chính là quá trình mở rộng quy
mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới Đô thị hóa theo chiều rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triển trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa
- Hai là ; đô thị hóa theo chiều sâu: đó là quá trình hiện đại hóa nâng cao trình
độ của các đô thị hiện có Đô thị hóa theo chiều sâu là quá trình thường xuyên và là yêu cầu tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển Quá trình đó đòi hỏi các nhà quản lý đô thị, các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động, tận dụng tối đa những tiềm năng có sẵn, hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hóa mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội
1.2.2 Đặc điểm chủ yếu của quá trình đô thị hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở nước ta cũng chính là quá trình
cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu lại công việc, phân bố lại dân cư theo hướng tăng nhanh khối lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm mạnh số lượng, tỷ lệ dân cư sống ở khu vực nông thôn Quá trình hình thành các đô thị ở nước ta trong những năm gần đây có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các đô thị lớn: sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong những đô thị lớn
là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiện của tính chuyên môn hóa cao trong sản xuất, kinh doanh
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùng ngoại ô: sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng là tất yếu khách quan nhằm đáp
ứng các nhu cầu của sản xuất, đời sống ngày càng tăng nhanh của chính vùng đó là hạt nhân lan tỏa sang các vùng khác Đó cũng là biểu hiện của tính tập trung hóa trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, quy mô sản xuất và hoạt động
Trang 18thương mại - dịch vụ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng để đảm bảo hoạt động có hiệu quả Đồng thời các trung tâm này còn là điểm nối, sự chuyển tiếp giữa các đô thị lớn làm cho tính hiệu quả của hệ thống đô thị được nâng cao Trong quá trình đô thị hóa, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thị lớn
- Mở rộng các đô thị hiện có: việc mở rộng các đô thị hiện có theo mô hình
làn sóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu xây dựng về đất đô thị tăng và khả năng mở rộng có thể thực hiện tương đối dễ dàng Xu hướng này tạo sự ổn định và giải quyết vấn đề quá tải cho đô thị hiện có
- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị: đây là xu hướng hiện đại trong
quá trình công nghiệp hóa nông thôn ở nước ta Vấn đề cơ bản là tạo nguồn tài chính để xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại
- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất: cả hai hình thức đô thị hóa đều dẫn đến sự
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, hình thức phát triển theo chiều rộng đưa đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nông nghiệp nhanh chóng Một phần đất do nhà nước thu hồi để xây dựng các công trình, một phần đất dân cư bán cho những người từ nơi khác đến ở, làm cơ sở sản xuất kinh doanh Hình thức phát triển theo chiều sâu cũng dẫn đến tình trạng thay đổi mục đích sử dụng đất Trong quá trình đô thị hóa, nhà nước chủ động chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế: trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu ngành kế trong
đô thị, trong vùng và cả nền kinh tế đều thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực CN - DV Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu dân cư đô thị thì các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng khu vực thương mại, dịch vụ
- Thay đổi hình thái kiến trúc: hình thái kiến trúc đô thị được biểu hiện tập
trung ở các kiểu nhà ở Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hóa, mức sống, đặc điểm
xã hội ở mỗi thời kỳ
Trang 19- Hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng: quá trình đô thị hóa là quá trình
hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng kỹ thuật bắt đầu bằng hệ thống giao thông, tiếp theo đó là hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, dịch vụ và cuối cùng là khu dân cư
- Thay đổi lối sống: thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phương thức kiếm sống là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hóa Người dân sẽ nhanh chóng thích nghi và biến đổi tập quán cho phù hợp với lối sống đô thị hiện đại
- Thay đổi cơ cấu dân cư: cơ cấu dân cư theo tuổi, giới, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp cũng biến đổi trong quá trình đô thị hóa Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét Thu nhập của dân cư nói chung tăng lên nhưng tốc độ tăng của mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau Cơ cấu giàu nghèo có quan hệ chặt chẽ với cơ cấu nghề nghiệp, việc làm của người lao động [11]
1.2.3 Sự cần thiết phải thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa
Thực tiễn nước ta trong những năm qua cho thấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận đất đai được chuyển đổi mục đích
sử dụng.Trong quá trình đó, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia Đô thị hóa là xu thế đã, đang và diễn ra ở các vùng trên khắp cả nước Đây là một hướng đi nhằm góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước, giúp nước ta thoát khỏi nghèo và lạc hậu Lẽ dĩ nhiên quá trình đô thị hóa tất yếu dẫn đến sự phân bố lại các nguồn lực trong đó có nguồn lực về đất đai Một bộ phận đất đai, trước hết là đất nông nghiệp được chuyển sang phục vụ cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất mở rộng các khu đô thị cũ và xây dựng các khu
đô thị mới Xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục
vụ lợi ích quốc gia
Hiện nay, đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra đồng thời cả hai quá trình; đô thị hóa theo chiều rộng và đô thị hóa theo chiều sâu Từ nay cho đến năm 2020, khi nền kinh tế ở nước ta cơ bản trở thành một nền kinh tế công nghiệp - đô thị hóa đã và đang tiếp tục diễn ra với quy mô lớn theo chiều rộng Đó là quá trình hình thành các
Trang 20trung tâm công nghiệp, dịch vụ, các khu đô thị mới Do vậy việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là một tất yếu
có vai trò quan trọng trong quá trình CNH - HĐH và đô thị hóa Tác động này thể hiện rõ ở những điểm sau:
- Thứ nhất; nhờ có đất thu hồi mới có thể xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất thu hút hàng trăm các dự án đầu tư ở trong và ngoài nước
- Thứ hai; việc thu hồi chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm cho quá trình đô thị hóa được đẩy mạnh
- Thứ ba; tạo điều kiện nâng cấp và xây dựng mới khá đồng bộ và tương đối hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng
- Thứ tư; việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị mới đã tạo điều kiện thu hút đầu tư, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhập tương đối khá, giúp họ từng bước cải thiện không còn manh mún, nhỏ lẻ
Tóm lại, nếu CNH - HĐH và đô thị hóa là tất yếu khách quan đối với nước ta thì việc thu hồi đất phục vụ CNH - HĐH và đô thị hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Vì thế, muốn quá trình CNH - HĐH và đô thị hóa diễn ra thuận lợi và hiệu quả cần có những biện pháp thu hồi đất đúng đắn đặc biệt là khi thu hồi đất sản xuất nông nghiệp
1.2.4 Những tác động của quá trình đô thị hóa đối với nông thôn
Đô thị hóa là hệ quả tất yếu của nền kinh tế phát triển theo hướng CNH - HĐH ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Nó đã trở thành xu thế chung của quá trình chuyển từ nền kinh tế văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp
Đầu thế kỷ XX, cả thế giới có khoảng 10% dân số sống ở đô thị, đến nay là 50% và sẽ tiếp tục tăng trưởng trong tiến trình đô thị hóa, đặc biệt là ở những nước đang phát triển Vào những năm 1050 dân cư đô thị chỉ chiếm 16% dân số ở các nước, đến năm 1985 tăng lên là 30% và theo ước tính của Liên Hiệp Quốc số cư dân ở đô thị đang phát triển là hơn 2 tỷ người, tăng vọt từ 31 đô thị (1950) lên 150
đô thị (1991) và 297 đô thị (2000) Như vậy tốc độ đô thị hóa ở mỗi vùng miền là
Trang 21khác nhau Trên thế giới, có những quốc gia bắt đầu đô thị hóa rất sớm và tốc độ đô thị hóa rất nhanh như Seoul ( Hàn Quốc) được hình thành từ 600 năm trước đây, nhưng từ những năm 1990 trở lại đây đã phát triển nhanh chóng, năm 1990 chỉ có
10 triệu dân chiếm 25% dân số cả nước đến năm 1995 là 24,4 triệu dân chiếm 45% dân số cả nước [6]
Thành phố Tokyo của Nhật Bản từ những năm 1960 đô thị hóa đã diễn ra mạnh mẽ với diện tích 2187 km2 , dân số chiếm 12 triệu người chiếm trên 50% các hoạt động kinh tế - xã hội của cả nước và hiện tại là một trong những thành phố có dân số đông nhất thế giới với trên 30 triệu dân
Qua đó, cho chúng ta thấy đô thị hóa ở các nước Châu Á diễn ra mạnh mẽ trong mấy thập kỷ gần đây và đi kèm với quá trình đó là quá trình suy giảm đất nông nghiệp cùng sự gia tăng dân số đô thị và sự phát triển kinh tế của các ngành phi nông nghiệp cộng với sự ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên bức xúc hơn…Để giảm bớt áp lực dân số đô thị và ô nhiễm môi trường, các quốc gia đều quy hoạch, mở rộng các thành phố Tokyo đã mở rộng 7 tỉnh xung quanh như (Saitama, Kanarawa, Chima, Gumma, Tochigi, Ibaraki và Yamanashi), lập vành đai xanh, hạn chế các phương tiện cá nhân đi lại để giảm bớt ô nhiễm; Trung Quốc cũng đã quy hoạch vành đai xanh và mở rộng 12 thành phố về tinh cách đều xung quanh Bắc Kinh 40km [40]
Từ đầu những năm 1980, Việt Nam bắt đầu đổi mới khu vực nông nghiệp, sau đó là các khu vực kinh tế khác Giống như Lào, Trung Quốc, đây cũng là thời điểm Việt Nam bắt đầu làm rõ các vấn đề sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong
hệ thống chính sách và pháp luật về đất đai Một điểm nổi bật trong chế độ sở hữu đất đai mới này là việc nhà nước phân 3 loại quyền cơ bản về đất đai do các thực thể khác nhau nắm giữ đó là: quyền sở hữu thuộc về toàn dân, quyền quản lý của nhà nước và quyền sử dụng được giao cho các cá nhân, hộ gia đình và tổ chức nắm giữ, sử dụng trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào từng loại đất Do đó, khi thu hồi quyền sử dụng đất, nhà nước chỉ đền bù cho người nắm giữ quyền sử dụng đất giá trị kinh tế của quyền sử dụng đất và những giá trị vật chất khác hiện diện
Trang 22trên diện tích đất bị thu hồi Đây thường là điểm mấu chốt gây mâu thuẫn giữa người nắm giữ quyền sử dụng đất và các cơ quan phụ trách việc thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất
Khởi đầu đổi mới ở Việt Nam đã ngụ ý một quá trình công nghiệp hóa Đến đầu những năm 1990, CNH chính thức trở thành một khẩu hiệu quốc gia để Đảng
và Nhà nước thực hiện chính sách phát triển của mình trong nhiều khu vực và trên nhiều địa bàn của cả nước Đi cùng với công nghiệp hóa là đô thị hóa Các thành phố ở Việt Nam xuất hiện từ thời trung đại, tuy nhiên đô thị hóa chỉ gia tăng nhanh chóng từ đầu những 1990 Trong số các trung tâm đô thị, Hà Nội là thủ đô lâu đời nhất ở Việt Nam Vào thế kỷ 19, đây là một trung tâm hành chính, kinh tế với 36 phố phường và mỗi phố phường được đặt tên gắn với hàng hóa trao đổi ở phố đó Đầu những năm 2000, Hà Nội có 4 quận và 5 huyện Từ 8 - 2008, thủ đô Hà Nội được mở rộng sang toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của Tỉnh Vĩnh Phúc và 4
xã của tỉnh Hòa Bình [6]
Giống như Trung Quốc, công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam trong hai mươi năm qua đã thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, Việt Nam chưa có những số liệu đầy đủ, hệ thống và chính xác về tổng diện tích các loại đất; đặc biệt là đất nông nghiệp bị thu hồi từ đầu những năm
1990 để phục vụ mục đích công nghiệp hóa và đô thị hóa trong cả nước Các tài liệu còn thiếu tính hệ thống cho thấy ở cấp độ quốc gia từ 1990 đến 2003 có 697.417 ha đất thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng và các mục đích phi nông nghiệp khác (Lê Du Phong 2005:9) và 200.000 ha (theo Báo Nhân dân 2005)
Ở Hà Nội, hơn một thập kỷ vừa qua để phục vụ cho việc phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và đô thị hóa đã nhanh chóng mở rộng khu đô thị của thành phố Theo quy hoạch của thành phố, trong vòng 10 năm từ năm 2000 đến 2010 hơn 11.000 ha đất, trong đó đất công nghiệp chiếm một tỷ lệ quan trọng được chuyển đổi thành đất đô thị và đất công nghiệp để phục vụ cho 1.736 dự án Ước tính việc chuyển đổi này sẽ làm mất việc làm truyền thống của 150.000 nông dân
Trang 23Giai đoạn 1990 trở lại đây, đô thị hóa ở Việt nam phát triển mạnh Năm 1990
cả nước mới có 500 đô thị lớn nhỏ, năm 2000 đã tăng lên tốc độ 649 đô thị và năm
2003 là 650 đô thị, trong đó có 4 đô thị loại I; 10 đô thị loại II; 13 đô thị loại III; 59
đô thị loại IV và 570 đô thị loại V Theo phân cấp quản lý cả nước có 4 thành phố trực thuộc trung ương, 83 thành phố thị xã thuộc tỉnh còn lại là các thị trấn Dân số
đô thị tăng từ 12,87 triệu năm 1986 (chiếm 19,30% dân số cả nước) lên 13 triệu năm 1990 (chiếm 20,75%) năm 2000 chiếm 25%, năm 2005 chiếm 25,3% Tính đến năm 2007 cả nước có 729 đô thị bao gồm hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh; 4 đô thị loại I là Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế 13 đô thị loại II; 36 đô thị loại III; 39 đô thị loại IV và 635 đô thị loại V, tỷ lệ dân số đô thị là 40% [10]
Các khu công nghiệp phát triển mạnh, năm 1991 có một khu công nghiệp mới nhưng đến năm 2003 cả nước đã thành lập thêm 82 khu công nghiệp tập trung, 22
đô thị mới và 18 khu kinh tế cửa khẩu Cùng với sự gia tăng dân số, tăng trưởng không gian đô thị hóa cũng đạt tỷ lệ đáng kể, đất đô thị tăng từ 0,2% tổng diện tích đất tự nhiên của quốc gia (1999) lên 1% (2003) Chúng ta có thể thấy được qua bảng sau:
Bảng 1.1: tình hình phát triển dân số đô thị của việt nam
Nguồn: Theo dự báo của Liên Hợp Quốc
Năm 2000 tỷ lệ dân số đô thị thế giới là 51% (ở Châu Á trung bình là 28%; Châu Phi là 32%; Châu Mỹ La Tinh là 68%), như vậy ta thấy rằng dân số đô thị nước ta còn thấp Mặt khác, sự phân bố đô thị theo lãnh thổ cũng không đều, vùng đồng bằng Bắc Bộ là 2,7 đô thị/1000k2, Bắc Trung Bộ là 1,5 đô thị/1000k2, vùng Nam Trung Bộ là 0,9 đô thị/1000k2, vùng Nam Bộ là 1,9 đô thị/1000k2 Vì vậy
Trang 24trong định hướng phát triển đô thị ở Việt Nam không đơn thuần là đưa người sống ở nông thôn lên thành thị mà vấn đề là phải đầu tư vào nông thôn để xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển công nghiệp chế biến nông sản, mở rộng dịch vụ đời sống để giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo định hướng đô thị hóa
Quá trình đô thị hoá nói trên đã có những mặt tác động nhất định đến khu vực nông thôn theo 2 hướng tích cực và tiêu cực
1.2.4.1 Những tác động tích cực
- Khi đô thị hóa theo chiều rộng thì diện tích và dân số không ngừng gia tăng,
các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và các hoạt động kinh tế đô thị không ngừng được mở rộng Sự hình thành các đô thị mới được tạo trên cơ sở phát triển các khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, ở vùng nông thôn và ngoại ô là xu hướng tất yếu của sự phát triển, là nhân tố mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
- Đối với các vùng đô thị hóa theo chiều sâu thì mật độ dân số có thể tiếp tục tăng cao, phương thức và các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng tăng, hiệu quả kinh tế xã hội cũng ngày càng cải thiện và nâng cao
- Đô thị sẽ là nơi cung cấp những cơ sở kỹ thuật để CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn như: thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa… xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hình thành nông thôn hiện đại
- Đô thị là thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến, của thị trường trong
và ngoài nước
- Đô thị còn là nơi tạo nguồn vốn, cung cấp vốn cho nông thôn Mặc dù chính các đô thị cũng đang thiếu vốn đầu tư cho sự phát triển của mình, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nhưng các đô thị tạo điều kiện thu nhập khá hơn nhiều so với nông thôn
Trang 25Hình 1.1: vai trò và tác động tích cực của quá trình đô thị hoá
- Đô thị hóa nông thôn mạnh mẽ sẽ hạn chế được sự di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị Vì đô thị hóa bao gồm cả việc đưa công nghiệp về nông thôn qua các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút lao động nông thôn đồng thời xây dựng lối sống đô thị ở vùng nông thôn Và chính điều này sẽ tạo ra những đô thị sầm uất, thị trường được mở rộng cả về quy mô lẫn phạm vi ảnh hưởng Các đô thị với thị
Phát triển ĐTH
Phát triển và phân bổ các ngành công nghiệp mới
Tăng việc làm và
DS trong vùng tới các hoạt động kinh Tạo ra các ngoại ứng
tế
Cung cấp kết cấu hạ tầng tốt hơn cho
SX và đời sống Nâng cao trình độ lao
động của CN Phát triển các ngành SX đáp ứng nhu cầu
đầu vào của công nghiệp
Tăng nguồn thu cho ngân sách
Thu hút vốn đầu tư và sự
phân bổ của DN mới
Nâng cao phúc lợi xã hội cho các vùng
Mở rộng quy mô và phát
triển các ngành DV đáp
ứng nhu cầu sản xuất và
đời sống
Trang 26trường của nó sẽ gắn kết sự phát triển các xí nghiệp nhỏ trên địa bàn huyện, nhất là các xí nghiệp chế biến các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống với dịch vụ tổng hợp và thương mại Qua đó, góp phần công nghiệp hóa nông thôn phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa các ngành nghề và sản phẩm, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân
Vậy có thể xem đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Sự phát triển đô thị kích thích tăng trưởng và phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế, lan truyền tiến bộ công nghệ, văn hóa, xã hội Sơ đồ 1.1 biểu thị rõ hơn vai trò và tác động tích cực của quá trình đô thị hóa
1.2.4.2 Những tác động tiêu cực
Sự phát triển nhanh chóng của các đô thị là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến cân bằng sinh thái khi tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, khối lượng khai thác và sử dụng nước sạch tăng, ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt, giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ gia tăng cơ giới Giới khoa học cảnh báo nguy cơ động đất đang tăng lên cùng với quá trình đô thị hóa nhanh chóng trên toàn cầu gây thiệt hại lớn về người và của
- Vấn đề phân tầng xã hội: phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo là một thực
tế đang diễn ra ở các đô thị Trong lĩnh vực sản xuất, phân tầng xã hội được thể hiện trong sự chênh lệch và thù lao Trong lĩnh vực giáo dục là tình trạng thất học, bỏ học của học sinh là con em của các gia đình nghèo
- Vấn đề văn hóa xã hội và lối sống đô thị: đây là vấn đề hết sức nhức nhối hiện nay, nhiều khía cạnh tốt đẹp của văn hóa truyền thống bị mai một, các tệ nạn
xã hội tăng
- Sự gia tăng dòng dân cư từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội… gây khó khăn trong công tác quản lý đô thị
Trang 27- Đối với nước ta, với 80% dân cư sống ở nông thôn và khoảng 60% lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp khi đô thị hóa diễn ra, đất đai bị thu hồi thì bộ phận dân cư thiếu việc làm và khó khăn trong chuyển đổi việc làm sẽ tăng lên nhanh chóng Thậm chí có một bộ phận dân cư phải chuyển đổi chỗ ở do đất ở
bị thu hồi và cuộc sống của họ bị xáo trộn
Như vậy, những tác động tiêu cực của đô thị hóa trong nông thôn chủ yếu xuất phát từ việc thu hồi đất nông nghiệp Do vậy, nhiệm vụ cấp bách là phải có quy hoạch cụ thể, các công tác sau quy hoạch như bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải quyết việc làm cho lao động nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do quá trình đô thị hóa gây ra
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động
bị thu hồi đất
Trên thực tế, đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị , kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia chủ yếu là đất nông nghiệp Những người bị mất đất chủ yếu là nông dân Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân, không thể thay thế được Vì thế, khi mất
tư liệu sản xuất, người nông dân mặc nhiên trở thành người thất nghiệp Việc làm
và giải quyết việc làm cho người nông dân trở thành vấn đề bức xúc nhất của vấn đề thu hồi đất Trong các nhân tố ảnh hưởng thì có hai nhân tố chủ yếu đó là: nhân tố thuộc về chủ thể và các nhân tố bên ngoài
1.3.1 Các nhân tố thuộc về chủ thể
Việc chuyển những người nông dân bị thu hồi đất sang làm công nghiệp và dịch vụ dường như là một tất yếu của quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Song điều hết sức khó khăn là đa số những người nông dân bị thu hồi đất là những người lao động giản đơn theo kiểu cha truyền con nối, trình độ văn hóa thấp lại không được đào tạo về nghề nghiệp, chuyên môn, vốn lại không có…Do
đó, họ rất khó kiếm được việc làm tốt
Trang 28+ Trình độ văn hoá - chuyên môn
Trong điều kiện sản xuất như hiện nay, trình độ văn hoá - chuyên môn có tác động rất lớn đến khả năng tìm kiếm việc làm của người lao động
Ông Nguyễn Lương Trào, Thứ trưởng thường trực Bộ Lao động Thương binh
xã hội nêu, nguyên nhân phổ biến của người nông dân trong việc chuyển nghề và tìm kiếm việc làm mới là do không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề, nhiều địa bàn có tới hàng ngàn lao động mất việc làm nhưng chỉ có 10 – 20 người là đã qua đào tạo nghề
Một nguyên nhân thường gặp ở các vùng chuyển đổi đất là nhận thức của người lao động còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ Nhà nước, vào tiền đền bù mà chưa
tự mình tìm kiếm việc làm Ông Trào còn cho biết, một nguyên nhân khác là việc tổ chức, chỉ đạo, tuyên truyền hướng dẫn cho người lao động ở các địa phương còn hạn chế
+ Độ tuổi
Tuổi của lao động có ảnh hưởng nhất định đến tìm kiếm việc làm và thu nhập của họ Những đối tượng lao động có độ tuổi từ 15 đến 35 tuổi, đây là những lao động trẻ, khoẻ, khả năng tiếp cận nhanh với những công việc mới, những công việc nặng nhọc, khả năng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật rất lớn Do đó khả năng chuyển đổi ngành nghề, tìm kiếm việc làm cao; những đối tượng này ít có kimh nghiệm trong công việc Ngược lại, những lao động trên 35 tuổi có kinh nghiệm trong công việc nhưng họ lại khó có khả năng chuyển đổi ngành nghề và tìm kiếm việc làm
Thu hồi đất diễn ra, các lao động có đất bị thu hồi mất việc làm Trong số những người lao động bị mất việc này, nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là từ 35 tuổi trở lên (chiếm khoảng 50%) Đây là số người lao động quá tuổi tuyển dụng, độ tuổi khó thích nghi với môi trường lao động mới [2]
Tuy nhiên, theo bà Phan Lệ Xiêm, Phó ban Kinh tế (Hội Nông dân Việt Nam), nhiều nông dân thiếu việc làm là do sự thất hứa của các chủ sử dụng lao động trước và sau khi đầu tư tại địa phương, khiến tỷ lệ sử dụng lao động rất thấp
Trang 29Nguồn vốn của người nông dân có được là từ tiết kiệm chi tiêu, vay ngân hàng
và một phần nhận từ tiền đền bù đất thu hồi Việc sử dụng vốn hợp lý và hiệu quả là điều rất cần thiết đối với người lao động Với các mục đích sử dụng vốn như đào tạo nghề, kinh doanh, mua sắm hoặc học tập của con cái; tất cả các mục đích sử dụng
đó đều có ảnh hưởng đến việc làm
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
+ Chính sách đào tạo nguồn nhân lực
Xã hội càng phát triển, trình độ người lao động đòi hỏi càng cao, người lao động có trình độ, cơ hội tìm kiếm việc làm thuận lợi hơn Để thực hiện tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động; Bộ Lao động Thương binh & Xã hội đã đề ra giải pháp trong thời gian tới sẽ hỗ trợ cho đào tạo dạy nghề cho người lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp Theo đó, lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề; tăng cường tư vấn dịch vụ hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là đối tượng 15-30 tuổi, đồng thời đào tạo tại chỗ chuyển đổi nghề đối với lao động trên 35 tuổi với những công việc không đòi hỏi kỹ năng phức tạp Giải pháp khác là đào tạo phương pháp quản lý tiếp cận thị trường cho đội ngũ kinh doanh vừa và nhỏ, tạo cơ hội mở rộng sản xuất, thu hút thêm lao động [13] Chính sách này sẽ góp phần cải thiện và nâng cao trình độ tay nghề cho các lao động, giúp lao động có thể làm việc tại các lĩnh vực ngành nghề có trình độ chuyên môn khác nhau Nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trên cơ sở biết được những thông tin và nhu cầu việc làm để tránh được số lao động dư thừa tại các lĩnh vực không phát triển còn các lĩnh vực phát triển lại thiếu lao động
Trang 30UBND xã, phường cũng cần chủ động liên kết với các trung tâm dạy nghề nhằm tăng cường công tác tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghề nhất là đối với thanh niên - lao động ở độ tuổi 15 đến 30 nhằm chuẩn bị cho họ các điều kiện về tay nghề
để chuyển đổi ngành nghề Hỗ trợ đào tạo lại đối với những lao động tuổi cao nhưng vẫn có khả năng chuyển đổi
+ Chính sách xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với việc làm
và thu nhập của người lao động Mặt tích cực; nó đã giải quyết được số lượng lao động không có việc làm có nhu cầu đi làm việc tại nước ngoài, có thể tạo thu nhập của người lao động cao nếu tìm kiếm công việc hợp lý, thuận lợi Mặt tiêu cực; người lao đông chủ động công việc của chính bản thân mình, chỉ tuyển những lao động trẻ tuổi, người lao động phải bỏ ra kinh phí một lần quá lớn nằm ngoài khả năng của họ, phải trả lãi vay nếu sử dụng tiền vay ngân hàng, hạn chế ngoại ngữ, trình độ và khả năng giao tiếp gây khó khăn trong thực hiện công việc
Theo nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực, những năm qua, Chính phủ đã dành nhiều ưu tiên giải quyết việc làm cho người dân có đất
bị thu hồi, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu (ước tính tạo việc làm cho khoảng 55.000 người/năm) Trong hai năm 2006 và 2007, Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm cũng đã dành 22 tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc làm cho gần 10 nghìn lao động bị thu hồi đất Bên cạnh đó, xuất khẩu lao động cũng là một kênh quan trọng cho người dân có đất bị thu hồi [13]
+ Chính sách thu hút vốn đầu tư
Tạo điều kiện để người dân được góp vốn vào các dự án bằng giá trị đất bị thu hồi Chủ trương này đã được nêu ra từ Hội nghị BCH trung ương lần thứ 5 khoá IX, phù hợp với Luật Đất đai hiện hành, nhưng đến nay vẫn chưa được nhiều địa phương và các dự án thực hiện Các hướng dẫn cụ thể để thực hiện chủ trương này cần được triển khai để người dân có đất bị thu hồi có điều kiện tiếp tục duy trì vị thế làm chủ đối với một tư liệu sản xuất mới là các dự án mới được đưa vào hoạt động Thông thường, người dân bị thu hồi đất, sau khi nhận được tiền đền bù, thường
Trang 31tiêu dùng cho nhiều mục đích khác nhau, ít người nghĩ đến việc phải tìm cho mình một công việc mới, sau khi không còn đất để canh tác nông nghiệp Giải pháp này nếu được thực hiện, sẽ tạo điều kiện cho người dân góp vốn vào những dự án có triển vọng đạt hiệu quả cao, từ đó có điều kiện đảm bảo cuộc sống ổn định một cách tương đối cùng với hoạt động của các dự án Mặt khác, nhà đầu tư( người sử dụng đất) không phải bỏ ra nhiều tiền để đền bù mà lại phát hành được cổ phiếu cho chính chủ đất cũ
Đối với những người không có được nguyện vọng góp vốn bằng giá trị đất bị thu hồi, họ vẫn nhận được tiền đền bù theo quy định của từng dự án để có phương
án đầu tư phù hợp
+ Sự phát triển các doanh nghiệp, nhà máy trên địa bàn
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển như vũ bão, việc ứng công nghệ thông tin trong công việc ngày một nâng cao, các doanh nghiệp và nhà máy ngày càng được hình thành và phát triển mạnh mẽ Sự phát triển các doanh nghiệp, nhà máy trên địa bàn càng nhiều thì cơ hội tạo việc làm cho người lao động càng cao Tuy nhiên, do lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất chưa được đào tạo lại về trình
độ chuyên môn Do đó, không đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp
Để giải quyết tốt công tác thu hút lao động vào làm việc trong các doanh nghiệp, nhà máy; điều quan trọng nhất là cần chính sách yêu cầu các doanh nghiệp, nhà máy thu hút chính lao động trên địa bàn tỉnh, thành phố, ưu tiên số lao động ở vùng có đất bị thu hồi Thực tế, lực lượng lao động được thu hút vào các doanh nghiệp, nhà máy còn rất ít do không đáp ứng được nhu cầu công việc của các doanh nghiệp Đó là do phần nhiều lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất chưa được đào tạo lại về trình độ chuyên môn
Thứ trưởng Nguyễn Lương Trào cho biết, hầu hết các địa phương đều yêu cầu hoặc khuyến khích các doanh nghiệp đóng tại địa phương, đặc biệt là doanh nghiệp
sử dụng đất thu hồi ưu tiên tuyển lao động tại chỗ Chẳng hạn, Hà Nội quy định mỗi hecta đất thu hồi phục vụ cho dự án, chủ dự án phải đào tạo tại chỗ và tuyển dụng ít nhất 10 lao động địa phương; Hưng Yên quy định doanh nghiệp thuê 100m2 sẽ phải
Trang 32nhận 1 lao động địa phương; Hải Dương quy định hỗ trợ cho doanh nghiệp kinh phí đào tạo lao động nếu tuyển dụng lao động khu vực thu hồi đất nông nghiệp
Tuy nhiên, trước thực trạng ở một số địa phương vẫn thiếu việc làm, thừa lao động, ông Trào giải thích, doanh nghiệp tuyển dụng cũng cần phải đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của họ; có doanh nghiệp tuyển dụng lao động tại chỗ một thời gian rồi lại thải hồi vì họ không đáp ứng yêu cầu công việc Một trong những nguyên nhân là do người lao động không chịu học nghề một cách nghiêm túc.Theo ông Trào, cần phải tuyên truyền thêm, vận động thêm để người lao động có trách nhiệm hơn
Theo nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực, để xử lý vấn đề tồn tại trong giải quyết việc làm cho người nông dân thuộc diện thu hồi đất, Nhà nước phải có chính sách vĩ mô để xử lý chung cho cả nước Phải gắn chiến lược về phát triển kinh tế xã hội với việc bố trí lực lượng sản xuất hợp lý giữa các vùng, đồng thời có quy hoạch kế hoạch sử dụng đất một cách hợp lý, để trên cơ sở
đó địa phương chủ động đề ra các kế hoạch giải quyết việc làm đối với người lao động trong vùng bị thu hồi đất
1.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động sau thu hồi đất
1.4.1 Ở các nước trên thế giới
+ Kinh nghiệm của Trung Quốc
- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động Các chính sách khuyến khích phát triển các xí nghiệp địa phương đã làm cho công cuộc cải cách và
mở cửa của Trung Quốc diễn ra sâu rộng hơn Các doanh nghiệp địa phương đóng vai trò chính trong việc thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa Chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân của khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương có tốc độ tăng trưởng rất cao
- Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào các thành phố lớn Trung Quốc cho rằng có hai cách để chuyển đổi lao động dư thừa trong nông thôn Cách thứ nhất là chuyển họ sang các ngành công nghiệp, dịch
Trang 33vụ ở các vùng nông thôn Cách thứ hai là chuyển họ đến thành phố Các chính sách đúng đắn trong việc thúc đẩy hình thành các khu đô thị quy mô nhỏ đã gặt hái được những thành công đáng khích lệ Theo các nhà kinh tế Trung Quốc, lợi thế của việc phát triển các đô thị nhỏ là các đô thị này dân số ít, nhiều ngành công nghiệp có khả năng thu hút nhiều lao động; những đô thị này nằm giữa thành phố và nông thôn sẽ đem lại cho nó những đặc trưng về lối sống ở cả hai khu vực nên người nông dân sẽ
dễ dàng định cư ở đây hơn; Ở các đô thị nhỏ người nông dân sẽ dễ dàng hơn trong việc kinh doanh do điều kiện cạnh tranh thấp và yêu cầu về vốn nhỏ Chính vì vậy, chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện để hình thành hơn 19.000 đô thị nhỏ Trong những năm 1990, các đô thị nhỏ đã thu hút trên 30 triệu lao động nông nghiệp dư thừa, chiếm hơn 30% tổng số lao động nông thôn dư thừa [11]
+ Kinh nghiệm của Nhật Bản
Quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian tăng trưởng trong nông nghiệp Nhật Bản luôn là nước bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai
ít và dân số đông, diện tích canh tác bình quân của một hộ nông dân khoảng 0,8 ha Nhật Bản thực hiện chính sách đưa nông nghiệp về nông thôn Chính điều này đã làm cơ cấu nông thôn thay đổi, các ngành phi nông nghiệp đã đóng góp ngày càng tăng vào thu nhập của người dân nông thôn (năm 1950 tỷ lệ này là 29% đã tăng lên 85% năm 1990) Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa đã cơ bản giải quyết được vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng giảm
Chính phủ Nhật Bản đã thành lập mạng thông tin việc làm trên khắp đất nước với mục đích cung cấp đầy đủ các việc làm từ các tổ chức, doanh nghiệp qua internet đến những người đang tìm việc, giúp họ có những lựa chọn phù hợp với năng lực điều kiện của mình Chính phủ cũng bồi dưỡng những công nhân có tay nghề cao qua việc hỗ trợ tài chính, tạo cơ hội phát triển năng lực, nâng cao chất lượng các tổ chức giáo dục đào tạo Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi cũng được chú trọng để xóa bỏ những bất cân đối về việc làm do tuổi tác gây
Trang 34ra Các loại hình tuyển dụng và thuê mướn cũng được đa dạng hóa, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường Chế độ tuyển dụng được thay đổi theo khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang các khu vực lân cận và địa phương
Từ chính sách của Nhật Bản trong quá trình đô thị hóa có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trên cơ sở nhu cầu lao động của xã hội
- Phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật và những ngành sử dụng nhiều lao động
- Phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường lao động
- Thực hiện cải cách chế độ tiền lương, thu nhập của người lao động
+ Kinh nghiệm của Đài Loan
Quá trình công nghiệp hóa của Đài Loan khởi đầu từ khu vực nông thôn Chính quyền Đài Loan đã dành ưu tiên hàng đầu về vốn đầu tư, cơ chế, chính sách cho nông nghiệp, nông thôn Trong những năm 1950, 2/3 viện trợ từ Mỹ được dành cho phát triển kết cấu hạ tầng và nông nghiệp, chỉ 1/5 cho công nghiệp Khi nông nghiệp phát triển, lao động dư thừa trong khu vực nông thôn mới chuyển sang các ngành công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động và sau cùng mới là phát triển công nghiệp nặng
Vào những năm 1950, do đất đai hạn chế cộng với số lượng dân di cư từ Đại lục sang, dẫn đến nguy cơ thất nghiệp lớn ở nông thôn, nhưng nhờ công nghiệp nông thôn phát triển nên đã thu hút nhiều lao động Lao động nông nghiệp từ chỗ chiếm trên 50% những năm 1950 đã giảm xuống còn 14,2% năm 1988 Lao động được chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp đã không gây ra tình trạng di dân số lượng lớn từ nông thôn vào thành thị mà họ có thể làm việc ngay tại các nhà máy ở vùng lân cận Có thể khái quát những kinh nghiệm của Đài Loan trong việc giải quyết việc làm khu vực nông thôn trong quá trình đô thị hóa là:
Trang 35- Nông nghiệp được ưu tiên phát triển làm cơ sở để phát triển công nghiệp nông thôn, trước hết là công nghiệp chế biến nông sản
- Chú trọng phát triển doanh nghiệp nông thôn quy mô vừa và nhỏ, lấy công nghệ sử dụng nhiều lao động là chính
- Công nghệ nông thôn phát triển không tập trung nhưng vẫn có liên kết với nhau và liên kết với các công ty lớn ở đô thị
- Chính quyền có chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực ở nông thôn
- Chính quyền có kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp gắn với quy hoạch phát triển các cơ sở nông - công nghiệp sẽ được bố trí ở nông thôn với vùng nguyên liệu và các nhà máy chế tạo máy nông nghiệp
- Tạo môi trường chính sách vĩ mô thuận lợi cho công nghiệp hóa nông thôn thông qua các chính sách về lãi suất, tiền lương, tỷ giá, khuyến khích sản xuất nông sản, trợ giá đầu vào cho chế biến thức ăn gia súc và chăn nuôi…Từ đó, khuyến khích chuyển lao động sang hoạt động phi nông nghiệp
- Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao khả năng sử dụng công nghệ
- Chính quyền tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn
1.4.2 Ở Việt Nam
Công nghiệp hóa và cùng với nó là đô thị hóa đã trở thành xu thế chung cho phát triển kinh tế của một quốc gia Điều này cũng có nghĩa là đô thị hóa càng phát triển thì quỹ đất của xã hội giành cho nông nghiệp có xu hướng giảm Trong những năm qua, việc thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng trên khắp cả nước cũng như ở các thành phố trọng điểm ngày một tăng cao Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm và thu nhập của người dân trước kia luôn gắn bó với nghề nông Theo số liệu của Viện Nghiên cứu định cư (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hàng nặm, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho phát triển công nghiệp lầ khoảng trên 70.000 ha, chưa kể cho phát triển đô thị là khoảng 10.000
Trang 36Chỉ tính riêng một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như: Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng và Ninh Bình, số diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho phát triển công nghiệp trong những năm vừa qua đã lên chục nghìn hecta (Bắc Ninh: gần 2.000 ha, Hải Phòng: gần 4.000 ha, Bình Dương, trong số 24 KCN đã đưa vào sử dụng với tổng diện tích trên 8.100 ha thì cũng chủ yếu là đất nông nghiệp Ninh Bình là một tỉnh nhỏ, nhưng cũng có tới 735 ha đất cho công nghiệp được lấy từ nông nghiệp), ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của hàng chục nghìn hộ gia đình Trong quy hoạch từ nay đến năm 2020, một số tỉnh, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi có thể tăng lên gấp đôi [2]
Mặc dù quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư… Tuy nhiên, hầu hết cư dân sống trong các khu vực bị thu hồi đất đều sống bằng nghề nông, trình độ học vấn không cao Một điều tra tại tỉnh Ninh Bình cho thấy, trong tổng số hơn 14.000 lao động bị mất việc làm, chỉ có 17,61% có trình độ trung học phổ thông, số còn lại (82,39%) là có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống, chưa qua đào tạo nghề, không đáp ứng được yêu cầu của các cơ sở công nghiệp Chính vì vậy mà số lao động được thu hút trực tiếp vào các dự án phát triển công nghiệp là rất thấp Trong số 57 dự án đầu tư đã
đi vào hoạt động tại 3 khu công nghiệp của Ninh Bình, theo yêu cầu của UBND tỉnh Ninh Bình thì các dự án này phải thu hút 20.825 lao động địa phương, nhưng thực tế qua
4 năm hoạt động (2006 - 2009), mới chỉ thu hút được 2.940 lao động (chiếm 14,11%) Một báo cáo của Sở Lao động và Thương binh-Xã hội Vĩnh phúc cũng cho thấy, trong
số 203 dự án đầu tư vào tỉnh, có 87 dự án thu hút tới 11.700 lao động, nhưng chỉ có khoảng 1.000 lao động địa phương được thu nhận[2]
Như trên đã nói, sau khi bị thu hồi đất, số lao động địa phương được thu hút vào các dự án phát triển công nghiệp thường rất thấp Số còn lại, một số tự tìm kiếm việc làm ngoài xã hội (các công việc tạm bợ, thời vụ, như buôn bán nhỏ, chạy xe
ôm, phụ hồ…), một số theo học các lớp đào tạo chuyển đổi nghề (thoát ly hoặc ngay tại địa phương), nhưng do lựa chọn ngành nghề không phù hợp, chủ yếu chạy
Trang 37theo phong trào ngoài xã hội, nên dù có được đào tạo nhưng vẫn thất nghiệp, vì không phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp tại ngay địa phương mình cư trú Số lao động này hoặc di cư về các đô thị để tìm việc làm hoặc trở về nhà, tiếp tục gia nhập đội quân thiếu việc làm của các vùng nông thôn Cùng với hiện tượng thiếu việc làm cho lao động nông thôn nơi có đất bị thu hồi, thì một loạt hệ luỵ nảy sinh từ nhu cầu tìm việc làm của những lao động thiếu việc, đó là: Dòng lao động nhập cư các thành phố lớn ngày một tăng, bao gồm cả người lớn và trẻ em, gây nên tình trạng quá tải đối với các dịch vụ như nhà ở, giao thông,
y tế, giáo dục… ở các đô thị Đó là chưa kể những tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy… nảy sinh từ những lao động nhập cư
Do nam giới chủ yếu đi tìm việc ở các đô thị nên ở nhiều vùng nông thôn chỉ còn người già, phụ nữ và trẻ em Công việc đồng áng, dù đồng đất bị thu hẹp, nhưng với những diện tích còn lại, do thiếu lao động để gánh vác những công việc nặng nhọc, nên đôi khi cũng bị bỏ hoang Chính điều đó làm cho số lao động ở lại nông thôn cũng rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp hoặc thiếu việc làm Do lao động nông nghiệp nặng nhọc, chủ yếu ở nhà chỉ còn lao động nữ, thu nhập lại thấp nên nhiều nông dân không còn gắn bó với ruộng đồng Tình trạng bỏ đất hoang hóa đã xuất hiện ở một số địa phương
Nhiều hộ nông dân nhận tiền đền bù do không có nghề nên đã sử dụng không hợp lý, chủ yếu là xây nhà, mua sắm đồ dùng sinh hoạt, rất hạn chế đầu tư tạo việc làm bằng một nghề mới phi nông nghiệp hay đầu tư giáo dục con em, cho nên chỉ sau một đến hai năm bị thu hồi đất, nông dân bị rơi vào “bần cùng hóa tương đối” dẫn đến các tệ nạn xã hội, trộm cắp, mại dâm, cờ bạc, nghiện hút…
Người lao động mất đất sản xuất, thiếu việc làm dẫn đến di dân tự do, không
có tổ chức từ nông thôn ra thành thị ở chính địa phương, cũng như đến các thành phố lớn tìm việc làm Trong khi đó các doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp trên địa bàn lại yêu cầu lao động có nghề, đặt ra các tiêu chí tuyển dụng lao động quá cao so với năng lực, tay nghề, sở trường của lao động địa phương Thêm vào đó, lao động ở những vùng bị thu hồi đất mang nặng dấu ấn của người sản xuất nhỏ, không
Trang 38có tác phong công nghiệp, ý thức kỹ luật kém, nên các khu công nghiệp không thể tuyển hết số lao động địa phương, dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ không
có việc làm sau khi đất sản xuất bị thu hồi
Tuy nhiên việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị hóa cũng
đã có những ảnh hưởng tích cực đến đời sống của người dân nói riêng và toàn xã hội nói chung Cần phải thấy rằng, việc thu hồi đất thời gian qua đã góp phần rất lớn vào việc phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước Chúng ta đã xây dựng được hàng trăm khu công nghiệp, đã thu hút được hàng chục ngàn dự án đầu tư của các nhà đầu tư ở trong và ngoài nước Cơ cấu của nền kinh tế nước nhà nhờ đó đã chuyển dần theo hướng tiến bộ, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng ngày càng hợp lý Trình độ công nghệ của các ngành sản xuất được cải thiện rõ rệt
Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được nâng cấp, được xây mới ngày càng nhiều, to đẹp hơn, ổn định hơn Đó là những thành tựu rõ ràng Thu hồi đất, giải quyết việc làm cho người lao động có tác động tích cực đối với việc chuyển đổi ngành nghề trong nền kinh tế Điều này góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nước ta
Tóm lại, quá trình đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây đã diễn ra rất nhanh và còn nhanh hơn nữa trong tương lai, thu hồi đất phục vụ cho đô thị hóa ngày càng lớn Do vậy cần thiết phải đảm bảo bền vững của nông nghiệp nông thôn trong tiến trình đô thị hóa ở nước ta
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá việc làm và thu nhập của lao động
1.51 Tỷ lệ thất nghiệp của lao động
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động là tỷ số giữa người thất nghiệp so với lực lượng lao động Tỷ lệ thất nghiệp lao động được tính theo công thức:
Tn = x 100%
Llđ
Trang 39Trong đó:
- Tn: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động (%)
- Tm: Tổng số lao động thất nghiệp (người)
- Llđ: Lực lượng lao động (người)
Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu được sử dụng ở tất cả các nước thực hiện theo cơ chế thị trường Chỉ tiêu này phản ánh tình hình lao động, việc làm, vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở mỗi quốc gia hay mỗi địa phương
Đối với khu vực nông thôn, phần lớn người lao động có việc làm Tuy nhiên, việc làm của họ thường mang tính mùa vụ và phụ thuộc vào diện tích đất được giao
Vì thế, ngoài chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp, luận văn còn sử dụng thêm chỉ tiêu tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian làm việc trong năm
1.5.2 Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động trong năm
Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động trong năm là tỷ số giữa số ngày - người có thể làm việc được trong năm (quỹ thời gian làm việc trong năm tính bình quân cho một lao động)
Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động được tính bằng công thức sau:
Nlv
Tq = x 100%
Tlv
Trong đó:
- Tq: Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động trong năm (%)
- Nlv: Số ngày đầu tư vào sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ tính bình quân cho một lao động trong năm (ngày)
- Tlv: Quỹ thời gian làm việc trong năm của lao động (ngày)
Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian trong năm nói lên trình độ sử dụng lao động theo ngày và qua đó thấy được tỷ lệ quỹ thời gian chưa sử dụng hết cần phải huy động trong năm Tất nhiên, ngày lao động được tính theo ngày chuẩn, tức thời gian làm việc phải đạt 8 giờ trong một ngày Trường hợp chưa phải là ngày chuẩn thì phải
Trang 40tính tỷ suất sử dụng lao động theo giờ để tính ra số ngày làm việc (theo ngày chuẩn) bình quân của một lao động trong năm Qua chỉ tiêu này sẽ thấy được tình hình và mức độ việc làm, thấy được số ngày còn phải dôi ra chưa được sử dụng vào sản xuất, trên cơ sở đó lập kế hoạch và có biện pháp tạo thêm việc làm để người lao động có thể sử dụng tối đa quỹ thời gian làm việc trong năm
Quỹ thời gian làm việc của người lao động trong năm là số ngày trung bình
mà mỗi người lao động có thể dùng vào sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ trong năm Đó là số ngày trong năm còn lại sau khi đã trừ đi số ngày nghỉ do đau ốm, giỗ tết…và những ngày nghỉ khác Đối với lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn có những ngày nghỉ do thai sản, sinh đẻ…ngoài ra những người lao động phải dành một số thời gian vào các công việc khác cần thiết cho cuộc sống cũng như trong sản xuất như đi chợ, sửa chữa nhà, mua sắm vật tư…
Hiện nay, việc lấy quỹ thời gian làm việc bình quân của một lao động nông nghiệp là bao nhiêu ngày chưa có sự thống nhất Theo kết quả điều tra về việc làm
và thu nhập của các hộ ở nông thôn trong các năm 1988, 1990, 1993 của trung tâm dân số và lao động (Bộ LĐTBXH) cho thấy bình quân một lao động có số ngày nghỉ có tính chất bắt buộc nói trên thường chiếm từ 80 đến 90 ngày trong một năm
Do vậy, có thể lấy quỹ thời gian làm việc trong năm của lao động nông nghiệp khoảng 260 ngày là phù hợp
1.5.3 Thu nhập bình quân của một lao động trong năm
Thu nhập của một lao động nông thôn là một thu nhập của nông hộ Do đó, chúng ta phải xác định thu nhập của họ tính theo công thức:
Thu từ Thu từ sản thu từ thu từ các khoản Thu nhập = tiền lương + xuất nông, + sản xuất + thu khác được tính
tiền công lâm, ngư KD nghề DV vào thu nhập Trong đó:
- Thu từ tiền lương, tiền công bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công (không kể BHXH)
+ Phụ cấp làm thêm giờ, ăn trưa, ăn giữa ca, phụ cấp