Xác định tầm quan trọng của phát triển doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế đất nước trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, những năm gần đây Chính phủ đã có nhiều chính sách, giải ph
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo về một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Vũ Duy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế, Khoa sau đại học, Bộ môn kinh tế Nông nghiệp trường Đại học Lâm Nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Văn Hà đã hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình, Cục thống
kê tỉnh Ninh Bình, Sở Tài Nguyên Môi trường, Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Ninh Bình, Trung tâm xúc tiến thương mại Ninh Bình, Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Thanh Hóa và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp đã động viên khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học
Tác giả luận văn
Phạm Vũ Duy
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Tổng quan về cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ công 5
1.1.2 Cung cấp dịch vụ công 9
1.1.3 Các đặc điểm của dịch vụ công 10
1.1.4 Vai trò của cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp và sự quản lý, điều tiết của nhà nước trong cung cấp dịch vụ công 11
1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp 23
1.2.1 Các chủ thể của hoạt động cung cấp dịch vụ công 23
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ công 23
1.3 Nội dung của cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp 24
1.3.1 Về đăng ký kinh doanh 25
1.3.2 Đất đai và mặt bằng sản xuất 25
1.3.3 Tín dụng ngân hàng 26
1.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực 26
1.3.5 Xúc tiến thương mại 27
1.3.6 Xây dựng cơ sở hạ tầng 28
1.3.7 Chính sách ưu trong đãi đầu tư 28
1.4 Thực tiễn về cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp 29
Trang 41.4.1 Các hình thức chuyển giao dịch vụ công trên thế giới 29
1.4.2 Cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp ở Mỹ và kinh nghiệp rút ra với Việt Nam 30
1.4.3 Cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp ở Nhật Bản và kinh nghiệp rút ra với Việt Nam 35
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đặc điểm của tỉnh Ninh Bình 41
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 41
2.1.2 Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Ninh Bình 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 51
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 51
2.2.2 Thu thập tài liệu 51
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 53
2.2.4 Phương pháp phân tích 54
2.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu dùng để phân tích đánh giá chất lượng dịch vụ công 54
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57
3.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 57
3.1.1 Số lượng, loại hình và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp 57
3.1.2 Vốn, lao động của doanh nghiệp 60
3.1.3 Một số kết quả hoạt động của doanh nghiệp 63
3.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 64
3.2.1 Về đăng ký kinh doanh 64
3.2.2 Về đất đai và mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp 69
3.2.3 Tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp 73
3.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực 75
3.2.5 Xúc tiến thương mại 78
Trang 53.2.6 Xây dựng cở sở hạ tầng 83
3.2.7 Chính sách ưu đãi đầu tư 86
3.3 So sánh việc cung cấp dịch vụ công đối với các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 90
3.3.1 Thông tin chung về doanh nghiệp 90
3.3.2 Về đăng ký kinh doanh 91
3.3.3 Về đất đai, mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp 92
3.3.4 Về tín dụng ngân hàng 92
3.3.5 Về nguồn nhân lực 93
3.3.6 Về xúc tiến thương mại 93
3.3.7 Về xây dựng cơ sở hạ tầng 94
3.4 Một số khó khăn, hạn chế của doanh nghiệp, nhu cầu của doanh nghiệp về cung cấp dịch vụ công 94
3.4.1 Một số khó khăn, hạn chế của doanh nghiệp 94
3.4.2 Nhu cầu của doanh nghiệp về cung cấp dịch vụ công 97
3.5 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 98
3.5.1 Các giải pháp trong hoạt động cung cấp dịch vụ công 98
3.5.2 Đối với bản thân các doanh nghiệp 106
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108
1 Kết luận 108
2 Khuyến nghị 109 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 73.4 Quy mô lao động và vốn trung bình qua các năm của doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
61
3.5 Số doanh nghiệp phân theo quy mô lao động và phân theo loại hình
doanh nghiệp năm 2012
62
3.6 Một số kết quả chủ yếu giai đoạn 2008-2012 của doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình
63
3.7 Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đăng ký kinh doanh trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2008 đến năm 2012
68
3.8 Số doanh nghiệp được thuê đất, giao đất từ năm 2008 đến năm 2012
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
71
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Các chủ thể trong hoạt động cung cấp dịch vụ công 23 1.2 Nội dung cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp 25
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến to lớn, sức sản xuất được giải phóng, nhiều tiềm năng được khơi dậy, hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ, số lượng các doanh nghiệp trong cả nước tăng lên nhanh chóng nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vai trò của các doanh nghiệp trong nền kinh tế ngày càng thể hiện rõ nét hơn Doanh nghiệp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo việc làm và làm tăng thu nhập cho một lực lượng lớn người lao động; khai thác và phát huy lợi thế về nguồn lực lao động; ổn định trong vấn đề an sinh xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng Xác định tầm quan trọng của phát triển doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế đất nước trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, những năm gần đây Chính phủ đã có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức cao nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình kinh tế này
Tỉnh Ninh Bình là một trong những điểm nút giao thông quan trọng trong cả nước, là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hóa giữa 2 miền Nam Bắc Ninh Bình nằm trên quốc lộ 1A, thuận tiện cho giao thông đường bộ, và có hệ thống sông thông ra biển Đông, có cảng lớn thuận lợi về giao thông vận tải đường thủy, thuận tiện trong việc giao thương với các tỉnh và quốc tế Ngoải ra tỉnh Ninh Bình có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử Là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội trong đó đặc biệt là các lĩnh vực lưu thông hàng hóa dịch vụ thương mại, công nghiệp và du lịch
Với mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh, lãnh đạo và nhân dân đồng lòng gắng sức quyết tâm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đưa kinh tế
du lịch vào thời kỳ tăng tốc; tập trung trí tuệ, nguồn lực từng bước xây dựng nông thôn mới nhằm giải quyết đồng bộ các vấn đề: nông nghiệp, nông dân và nông thôn;
Trang 10phát triển mạnh mẽ văn hóa, giáo dục, không ngừng chăm lo đào tạo nguồn nhân lực; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường quốc phòng địa phương; củng cố vững chắc hệ thống chính trị; xây dựng Ninh Bình trở thành tỉnh phát triển hàng đầu trong khu vực đồng bằng sông Hồng
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có hơn 3.853 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, với tổng vốn đăng ký 185.308 tỷ đồng, trong đó: 34 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đăng ký 19.968 tỷ đồng và 3.819 doanh nghiệp trong nước, với tổng số vốn đăng ký khoảng 165.340 tỷ đồng Đóng góp trên 60% GDP của tỉnh Sự phát triển của các doanh nghiệp trong những năm qua đã góp phần giữ vững sự tăng trưởng về kinh tế địa bàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân trên 13,2% năm Nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, tập trung chủ yếu ở một số ngành nghề kinh doanh đã đăng ký như xây dựng, thương mại dịch vụ, du lịch Với chính sách chuyển dịch cơ cấu của tỉnh, giữ vững phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển mạnh mẽ công nghiệp và dịch vụ Việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã góp phần giải quyết việc làm khá lớn cho lực lượng lao động dư thừa trên địa bàn tỉnh, bên cạnh đó vấn đề an sinh xã hội và giữ vững phát triển kinh tế luôn được chú trọng quân tâm thích đáng Đây cũng chính là
sự góp công lớn của các doanh nghiệp đối với xã hội, tuy nhiên tình hình sản xuất chưa tập trung, cơ cấu ngành nghề chưa thực sự đồng đều Trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô kinh doanh các doanh nghiệp cũng gặp không ít những khó khăn như: Khó khăn về vốn, vì chưa đủ tài sản thế chấp, chưa tiếp cận được các nguồn vốn xã hội, nguồn vốn hỗ trợ lẫn nhau và nguồn vốn đầu tư nước ngoài Khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh, trên 60% doanh nghiệp phải sử dụng nhà ở của mình, hoặc thuê lại các diện tích nhỏ lẻ để làm trụ
sở, cơ sở kinh doanh Khó khăn trong tiếp cận thị trường nước ngoài, do hạn chế về quy mô nhỏ, chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm chưa cao, thiếu mạng lưới phân phối và tiếp thị, đầu ra của sản phẩm còn hạn chế Trình độ quản lý doanh nghiệp chưa khoa học, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế Những khó khăn
Trang 11trên chỉ có thể được tháo gỡ trên cơ sở có sự phối hợp từ phía nhà nước, từ phía chính quyền tỉnh và sự cố gắng của bản thân các doanh nghiệp nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh, trong đó cần đặc biệt chú ý đến cung cấp dịch vụ công cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp
Với quan điểm sự phát triển của doanh nghiệp đồng nghĩa với sự phát triển của kinh tế xã hội Qua đó ta cần tìm hiểu sự phát triển của các doanh nghiệp bị chi phối ảnh hưởng bởi những nhân tố nào, từ đó đưa ra được những thuận lợi và khó khăn cần tháo gỡ cho các doanh nghiệp, những đề xuất, khuyến nghị và giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cho doanh nghiệp bằng các biện pháp như cung cấp dịch vụ công để thúc đẩy quá trình mở rộng và phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Đây chính là những lý do để tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng về tình hình cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch
vụ công tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp, về tình hình cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Đối tượng khảo sát chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các cơ sở cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tình hình và số liệu trong 05 năm từ năm
2008 đến năm 2012 và định hướng đến năm 2020
Phạm vi về nội dung: Đề tài lấy thông tin chủ yếu ở phạm vi các Sở, Cơ
quan, Ban Ngành, các tổ chức cung cấp dịch vụ công trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và thông tin từ bản thân các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ công
4.2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
4.3 Kết quả nghiên cứu và giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan về cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ công
1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ công
Khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở Châu Âu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này
Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hoá công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò
và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hoá công cộng Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hoá công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc
tư nhân đảm nhiệm
Khái niệm và phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tuỳ thuộc vào bối cảnh của mỗi quốc gia Chẳng hạn, ở Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước Tuy vậy, ở mỗi nước lại nhận thức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công được hiểu rộng, bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ về tinh thần và sức khoẻ của người dân, các hoạt động phục vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường thường được gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công, bao gồm hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch, mà cả hoạt động thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng còn ở Italia dịch vụ công được gới
Trang 14hạn chủ yếu ở hoạt động sự nghiệp, hoạt động y tế công ích và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện
Ở Việt Nam, nên tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của Nhà nước, mà không bao gồm chức năng công quyền, như lập pháp, hiến pháp, tư pháp qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trong việc cung cấp các loại dịch vụ công cho cộng đồng Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chính công quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra, nhằm xoá bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ người dân Điều 22 của Luật Tổ chức Chính phủ (2001) quy định: “Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ thực
Hộp 1.1 Hàng hoá và dịch vụ công cốt lõi và mở rộng
Khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ (chủ yếu là hàng hoá và dịch vụ công thuần tuý- pure public goods and services) mà chính phủ là người duy nhất cung cấp mà mọi công dân bắt buộc phải nhận khi có nhu cầu về chúng Chính phủ cung cấp các loại dịch vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý nhà nước cơ bản Có thể liệt kê một số dịch vụ đó như: pháp luật, an ninh, quốc phòng, các nguồn phúc lợi xã hội, môi trường và phòng dịch, cấp giấy sở hữu (tài sản, nhà đất), giấy tờ tuỳ thân (hộ chiếu, visa, chứng minh thư), giấy chứng nhận (khai sinh, khai tử, hôn thú), đăng ký thành lập (doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức)
Khu vực công mở rộng bao gồm các dịch vụ công (chủ yếu là hàng hoá và dịch vụ công không thuần khiết - impure) mà người tham gia cung cấp có thể là nhà nước và nhiều các tổ chức khác (tư nhân, các tổ chức xã hội, cộng đồng) Sự cung cấp các loại dịch vụ này rất linh hoạt, tuỳ thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng, không mang tính độc quyền và có thể miễn phí hoặc trả phí Đó là các loại dịch vụ như: y tế, giáo dục, giao thông đô thị, thông tin, cơ sở hạ tầng,
Nguồn: World Bank, World Development Report 1997
Trang 15
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm
vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; ” Điều này không có nghĩa là Nhà nước độc quyền cung cấp các dịch vụ công mà trái lại Nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó trao một phần việc cung ứng một phần của một số dịch vụ, như y tế, giáo dục, cấp thoát nước, cho khu vực phi Nhà nước thực hiện
Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau chúng đề có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường
Từ những tính chất trên đây, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của
xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện
1.1.1.2 Phân loại dịch vụ công
Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tính chất của dịch vụ, hoặc theo các hình thức dịch vụ cụ thể,
- Theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành ba loại như sau:
+ Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch
vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của Nhà nước cung cấp: an ninh, giáo dục phổ thông, chăm sóc y tế cộng đồng
+ Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp,
gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện mà uỷ nhiệm cho tổ chức phi Chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự
Trang 16đôn đốc, giám sát của Nhà nước, như các công trình công cộng do Chính phủ gọi thầu hoặc có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng
+ Dịch vụ công do tổ chức Nhà nước, tổ chức phi Chính phủ, tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ
biến ở nhiều nước
- Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch
vụ công thành các loại như sau:
+ Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản
lý Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay do các cơ quan
do Nhà nước thành lập được uỷ quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công Đây là một phần trong chức năng quản lý Nhà nước Để thực hiện chức năng này, Nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch, Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính Nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách Nhà nước
+ Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội
thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thểthao, bảo hiểm, an sinh xã hội, Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là Nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm, nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại
dịch vụ công này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội
+ Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ
bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch chủ yếu do các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một
số vùng nông thôn
Trang 171.1.2 Cung cấp dịch vụ công
Tuỳ theo tính chất và loại hình dịch vụ công có thể do các cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp hoặc có thể được chuyển giao cho khu vực phi nhà nước cung cấp Có thể thấy rõ rằng, theo thời gian, vai trò của nhà nước và các tác nhân khác trong cung cấp dịch vụ công có sự biến đổi đáng kể dẫn đến các dạng thức cung cấp dịch vụ công khác nhau Hiện nay, việc cung cấp dịch vụ công ở hầu hết các nước thông thường được tiến hành theo các hình thức sau:
- Các cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp dịch vụ công Theo hình thức này
nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp cung cấp dịch vụ công đối với các dịch vụ liên quan đến an ninh quốc gia và lợi ích chung của đất nước Các đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập để cung cấp như bệnh viện và trường học công hoạt động tương tự các công ty nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận Ban đầu, nhà nước đầu tư cho các đơn vị đó, sau đó họ sẽ tự trang trải và khi cần thiết có thể nhận được sự hỗ trợ bù đắp của nhà nước
- Nhà nước chuyển một phần hoạt động cung cấp dịch vụ công cho thị trường dưới các hình thức:
+ Uỷ quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cung cấp một số dịch vụ công mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồn từ ngân sách nhà nước như vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải Công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ được uỷ quyền phải tuân thủ những điều kiện do nhà nước quy định và được nhà nước cấp kinh phí (loại dịch vụ nào có thu tiền của người thụ hưởng thì chỉ được nhà nước cấp một phần kinh phí)
+ Liên doanh cung cấp dịch vụ công giữa nhà nước với một số đối tác trên
cơ sở đóng góp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận Hình thức này cho phép nhà nước giảm phần đầu tư từ ngân sách cho dịch vụ công mà vẫn tham gia quản lý trực tiếp và thường xuyên các dịch vụ này nhằm đảm bảo lợi ích chung
+ Chuyển giao trách nhiệm cung cấp dịch vụ công cho các tổ chức khác đối với các dịch vụ mà các tổ chức này có điều kiện thực hiện có hiệu quả như đào tạo,
Trang 18tư vấn, giám định đặc biệt là các tổ chức này tuy là đơn vị tư nhân hoặc phi chính phủ nhưng được khuyến khích hoạt động theo cơ chế không vì lợi nhuận, chỉ thu phí để tự trang trải
+ Tư nhân hoá dịch vụ công, trong đó nhà nước bán phương tiện và quyền chi phối của mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảm bảo lợi ích công bằng pháp luật
1.1.3 Các đặc điểm của dịch vụ công
Các loại dịch vụ công và các hình thức cung ứng dịch vụ công tuy có đặc
điểm, tính chất khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung cơ bản như sau:
+ Dịch vụ công có tính xã hội, với lợi ích chính là phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng của tất cả nhu cầu công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước Từ đó có thể thấy tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công
+ Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hoá” không phải hàng hoá bình thường
mà là hàng hoá đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc uỷ nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng yêu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
+ Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là
đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch
vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí, song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không vì mục tiêu lợi nhuận
Với sự đa dạng của các loại dịch vụ công, của các hình thức cung ứng dịch
vụ công, và những đặc điểm của dịch vụ công, có thể thấy rằng cung ứng loại dịch
vụ này một cách có hiệu quả không phải là một vấn đề đơn giản Nhà nước phải xác định rõ loại dịch vụ nào cần chuyển giao cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội,
Trang 19loại dịch vụ nào mà nhà nước và khu vực tư nhân có thể phối hợp cung ứng và vai trò điều tiết, quản lý của nhà nước về vấn đề này như thế nào Kinh nghiệm của nhiều nước trong những năm qua cho thấy, trong cung ứng dịch vụ công, nhà nước chỉ thực hiện những loại dịch vụ công mà khu vực phi nhà nước không thể làm được và không muốn làm Nếu nhà nước không chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực thích hợp cho khu vực phi nhà nước và cải cách việc cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước thì hiệu quả cung ứng dịch vụ công về tổng thể sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân và sự phát triển
chung của toàn xã hội
1.1.4 Vai trò của cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp và sự quản
lý, điều tiết của nhà nước trong cung cấp dịch vụ công
1.1.4.1 Doanh nghiệp
* Khái niệm doanh nghiệp:
Theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH 11 ngày 29/11/2005:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
* Khái niệm về phát triển doanh nghiệp
Khái niệm phát triển được rất nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Dựa vào mục đích nghiên cứu và dựa vào lĩnh vực nghiên cứu người ta đưa ra những khái niệm về phát triển khác nhau Trong nghiên cứu này, để
có sự thống nhất trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi đưa ra khái
niệm phát triển, phát triển là tăng trưởng về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu
Theo khái niệm trên, phát triển doanh nghiệp bao hàm hai nội dung:
Trang 20Thứ nhất, phát triển doanh nghiệp là sự lớn lên về quy mô như: số lượng doanh nghiệp nhiều hơn, bản thân doanh nghiệp lớn hơn (doanh thu lớn hơn, tài sản nhiều hơn…)
Thứ hai, phát triển doanh nghiệp là sự hoàn thiện về cơ cấu bao gồm: cơ cấu các doanh nghiệp theo ngành nghề, cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô (quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ), cơ cấu doanh nghiệp theo loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân…) và cơ cấu nội bộ doanh nghiệp (số
doanh nghiệp kinh doanh lãi, lỗ)
* Phân loại doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp thường rất đa dạng phong phú Để phân loại các DN, thường dựa vào các tiêu chí sau:
Một là, dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản, các DN được chia thành
DN nhà nước (DNNN), DN tư nhân, DN sở hưũ hỗn hợp
DN tư nhân là những DN do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN
DN sở hữu hỗn hợp là các DN có sự đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một DN Các DN liên doanh, DN cổ phần là những hình thức đặc trưng của loại hình DN này trong nền kinh tế thị trường
Hai là, Dựa vào lĩnh vực (ngành nghề) kinh doanh, các DN có thể chia
thành DN tài chính, DN phi tài chính
DN tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm Những DN này có khả năng cung ứng cho nền kinh tế các dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm chức năng chủ yếu của loại hình kinh doanh này là làm môi giới thu hút và chuyển giao vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế
DN phi tài chính là DN lấy sản xuất, kinh doanh sản phẩm làm hoạt động chính, bao gồm các DN sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề như DN nông nghiệp, DN công nghiệp, DN thương mại dịch vụ chức năng chủ yếu của loại hình
DN này là sản xuất các sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ phi tài chính đáp ứng các
Trang 21nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế Việc phân loại theo tiêu chí này giúp Nhà nước
có thêm căn cứ hoạch động các chính sách quản lý phù hợp với mọi loại hình DN trong lĩnh vực, trong từng ngành nghề
Ba là, dựa vào mục đích kinh doanh, chia thành DN hoạt động kinh doanh
và DN hoạt động công ích
DN hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, vận động kinh doanh theo cơ chế thị trường Mục tiêu số một của các
DN này là tối đa hoá lợi nhuận
DN hoạt động công ích ( thường là DN Nhà nước); Là tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng Những DN này không vì mục đích lợi nhuận mầ vì mục đích hiệu quả đạt kinh tế xã hội là chính, ví dụ: Công ty vệ sinh môi trường, công ty công viên cây xanh
Phân loại theo tiêu chí này, có cơ sở để lựa chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội của DN cho hợp lý và là căn cứ quan trọng để xác định chính sách tài trợ của Nhà nước
Bốn là, dựa vào cấp quản lý, có DN trung ương, DN địa phương Đây là
những DN do nhà nước thành lập và quản lý nhưng được phân cấp quản lý quản lý, những DN do trung ương quản lý và những DN do địa phương quản lý
Năm là, dựa vào quy mô DN, để phân chia thành DN lớn, DN vừa và nhỏ
Việc quy định thế nào là DN lớn, DN vừa và nhỏ tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể phát triển kinh tế - xã hội
* Vai trò của phát triển doanh nghiệp
Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây đã đưa lại những kết quả quan trọng
- Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động
Trang 22Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho người lao động Tại thời điểm 01/01/2000 khu vực doanh nghiệp đã thu hút 3,194 triệu lao động, đến 31/12/2010 đã có 663.800 doanh nghiệp đăng ký hoạt động giải quyết cho khoảng 9,4 triệu lao động Như vậy trong 11 năm từ 2000 – 2010, khu vực doanh nghiệp đã thu hút thêm hơn 6 triệu lao động, bình quân mỗi năm gần 550 nghìn lao động, là con số đáng kể trong yêu cầu tạo ra việc làm mới cho toàn xã hội
Lao động ở khu vực doanh nghiệp có thu nhập cao hơn nhiều so với khu vực
cá thể và hộ gia đình, năm 2002 thu nhập bình quân tháng của một lao động gần 1,25 triệu đồng (tăng 18,5% so với năm 2000) Thu nhập bình quân một người một tháng năm 2002 của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt cao nhất, gần 1,9 triệu đồng, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước gần 1,31 triệu đồng
và thấp nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh 0,92 triệu đồng Tuy có mức thu nhập bình quân thấp nhất, nhưng khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại là khu vực đang thu hút nhiều lao động mới và có tốc độ tăng thu nhập nhanh nhất trong ba khu vực (năm 2002 tăng 24,3% so với năm 2000) Lao động hiện đang làn việc trong khối doanh nghiệp năm 2000 chiếm 11,3 % tổng số lao động toàn xã hội hiện đang tham gia làm việc và tăng lên 13% trong năm 2001, dự kiến khoảng 16% năm 2003 Tuy chiếm tỷ trọng không cao trong tổng lao động toàn xã hội, nhưng lao động của khu vực doanh nghiệp lại là lực lượng chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đóng góp lớn hơn cho tăng trưởng GDP Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động khối doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp
- Doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế những năm qua
Theo báo cáo của của Cục đăng ký kinh doanh, có thể thấy quy mô hoạt động của khu vực doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn 2005-2009 Trừ lợi nhuận trước thuế còn thấp, các chỉ tiêu về tổng số vốn, doanh
Trang 23thu và đầu tư tài sản cố định đều tăng cao, cho thấy đã có sự mở rộng đồng thời cũng có một dòng vốn đầu tư lớn được triển khai trong giai đoạn này Các doanh nghiệp tư nhân không thể so sánh được với các DNNN và ĐTNN về quy mô tài chính trung bình, nhưng họ lại có tốc độ tăng trưởng lớn nhất sau 5 năm Cụ thể sau
5 năm tổng tài sản các doanh nghiệp tư nhân tăng gấp 2,86 lần, trong khi khu vực DNNN chỉ tăng 21%, ĐTNN tăng 69%, về vốn chủ sở hữu khu vực tư nhân tăng 270% trong khi hai khu vực còn lại tăng tương ứng 188% và 142%
Một trong những điểm tích cực trong bức tranh tổng thể của khối doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua là năng suất lao động đã tăng tục trong giai đọan 2001-2010 Tính theo giá so sánh năm 1994, một lao động trong các doanh nghiệp trung bình đã tạo ra 11,3 triệu đồng giá trị gia tăng năm 2010 so với 7,6 triêu đồng của năm 2001 (tăng 49%) Nhìn chung tốc độ gia tăng năng suất lao động còn thấp, trước hết là thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP của vả nền kinh tế Trong giai đoạn 2001-2007, tốc độ tăng năng suất hình thành xu hướng đi lên, năm sau cao hơn năm trước từ 4,13-5,58% Tuy nhiên do ảnh hưởng của lạm phát và suy giảm kinh tế, tốc độ tăng trưởng năng suất đã sụt giảm đáng kể trong giai đoạn 2008-
2009 xuống 2,89-3,21%
Tương ứng với quy mô hoạt động của mình, các DNNN có mức đóng góp lớn nhất cho thuế thu nhập doanh nghiệp Trung bình một DNNN đóng góp 40,3 tỷ đồng/năm, doanh nghiệp ĐTNN là 12,4 tỷ đồng/năm và doanh nghiệp tư nhân chỉ nộp 600 triệu đồng/năm Xét về tổng thể thì doanh nghiệp tư nhân đang vượt lên trở thành khu vực có đóng góp lớn nhất cho Ngân sách nhà nước hơn 167 nghìn tỷ đồng trong năm 2010, tiếp đến là các DNNN 140 nghìn tỷ đồng và doanh nghiệp ĐTNN 90 nghìn tỷ đồng
Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiều dùng trong nước và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển những năm qua
Trang 24- Doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh
tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành
Trước năm 2000, doanh nghiệp phát triển chủ yếu trong ngành công nghiệp với vai trò quyết định là doanh nghiệp nhà nước, các ngành khác hoạt động của cá thể, hộ gia đình là chính, chiếm từ 85 - 95% sản lượng toàn ngành (như nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, thương mai…) Đến năm 2002, hoạt động của loại hình doanh nghiệp có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh; trong đó, doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chiếm trên 90% giá trị sản xuất toàn ngành, thương mại, khách sạn nhà hàng chiếm từ 20-30%, xây dựng, vận tải trên 60%, hoạt động tài chính ngân hàng chiếm 95-98%, Nhưng đến năm 2009 số lượng doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo và xây dựng …
Các loại hình kinh tế trong doanh nghiệp phát triển đa dạng gồm nhiều thành phần, trong đó doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm
tỷ trọng lớn, các loại hình doanh nghiệp tư nhân tuy còn nhỏ nhưng phát triển nhanh
và rộng khắp ở các ngành và các địa phương trong cả nước, loại hình kinh tế tập thể đang được khôi phục và có bước phát triển mới Đến năm 2008, những cơ cấu lớn của các chỉ tiêu cơ bản trong khối doanh nghiệp như sau: (bảng 1.1)
Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá lớn Trung bình mỗi năm có khoảng gần 600 nghìn lao động được tuyển dụng vào khu vực doanh nghiệp, đây chính là giải pháp tích cực nhất để thực hiện chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, xây dựng, chế biến và dịch vụ
Trang 25Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp Việt Nam
Diễn giải Số doanh nghiệp
Lao động (Nghìn Người)
Nguồn vốn (Tỷ đồng)
Tài sản và đầu tư dài hạn (Tỷ đồng)
Doanh thu (Tỷ đồng)
Lợi nhuận (Tỷ đồng)
Nộp ngân sách (Tỷ đồng)
A Chia theo khu
Trang 26- Phát triển doanh nghiệp tác động tốt hơn đến các vấn đề xã hội
Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch
vụ ngày càng cao của toàn xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư
và tăng nhanh lượng hàng hóa xuất khẩu Nhiều hàng hoá trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã được các doanh nghiệp sản xuất thay thế và đươck người tiêu dùng trong nước tín nhiệm như: Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, các mặt hàng đồ điện, điện tử, may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đình, sản phẩm phục vụ xây dựng,…
Doanh nghiệp là khu vực chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nguồn thu này tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng, phát triển các hoạt động xã hội (y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo,…)
- Đóng góp vào quá trình tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới
Với sự linh hoạt của mình, các DN là người đi tiên phong trong việc áp dụng các phát minh mới về công nghệ mới cũng như các sáng kiến mới về kỹ thuật Do
áp lực cạnh tranh nên các DN thường xuyên phải đổi mới công nghệ, tạo sự khác biệt để có thể cạnh tranh thành công
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn là tiền đề để tạo ra một môi trường văn hoá kinh doanh mang tính kinh tế thị trường, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi Đây là điều rất cần thiết đối với Việt nam hiện nay Chúng ta đã ở trong giai đoạn kinh tế
kế hoạch hoá tập trung khá lâu, vì vậy môi trường văn hoá kinh doanh mang tính thị trường gần như không tồn tại hoặc không có cơ hội phát triển, đội ngũ doanh nhân giỏi, có khả năng điều khiển doanh nghiệp trong điều kiện quốc tế hoá và hội nhập kinh tế quốc tế rất hạn chế Vì vậy, việc tạo ra một môi trường văn hoá kinh doanh mang tính thị trường cũng như một đội ngũ kinh doanh giỏi là điều kiện cực kỳ
quan trọng để Việt Nam có thể hội nhập thành công
* Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp
Trang 27- Trình độ phát triển kinh tế- xã hội
Trình độ phát triển kinh tế càng cao thì sự phát triển của doanh nghiệp càng nhiều, tính cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhưng có thuận lợi, mối quan hệ giữa các loại hình doanh nghiệp càng chặt chẽ, sự hỗ trợ của các doanh nghiệp lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ càng nhiều Mối quan hệ tác động qua lại sẽ giúp cho cả doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc với nhau, khắc phục những hạn chế, phát huy tính tích cực của từng loại hình quy mô và sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp ổn định hơn, có phương hướng rõ ràng hơn, vững bền hơn
- Chính sách và cơ chế quản lý
Chính sách và cơ chế quản lý là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp Nếu có một cơ chế chính sách đúng đắn sẽ tạo môi trường pháp lý và những điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp có khả năng phát triển một cách tự do, không bị chèn ép và thiếu công bằng Ngoài ra chính sách và
cơ chế còn tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế của mỗi nước Những chính sách ưu tiên, những
cơ chế hợp lý, kể cả quy định giới hạn xác định từng loại hình doanh nghiệp sẽ là cơ
sở để đánh giá Những ưu tiên về vốn tín dụng, về chế độ thuế, về sử dụng công nghệ hoặc những chính sách về đất đai, lãi suất, đào tạo là những điều kiện cần thiết để hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển
- Nguồn vốn của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp đang trong giai đoạn khởi đầu của sự phát triển, do vậy khả năng tích luỹ vốn còn hạn chế, nên việc các doanh nghiệp thiếu vốn tự có là tất yếu Do nguồn vốn hạn hẹp nên các doanh nghiệp không có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới trang thiết bị, nâng cấp công nghệ sản xuất để mở rộng năng lực sản xuất Để khắc phục một phần sự thiếu hụt lớn về nguồn vốn của các doanh nghiệp, cần có sự trợ giúp rất lớn từ phía ngân hàng đó là tín dụng
- Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp
Trang 28Do phải thường xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường kinh doanh, nên việc giải thể, sáp nhập, xuất hiện doanh nghiệp mới là thường xuyên diễn ra trong mỗi giai đoạn Đó là một sức ép lớn, buộc các chủ DN phải là người
có tính linh hoạt cao trong quản lý điều hành, dám nghĩ, dám làm, chấp nhận rủi ro đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh từ nguồn vốn hạn hẹp, nhỏ bé có ảnh hưởng lớn đến phương hướng, tốc độ phát triển của các doanh nghiệp
Đội ngũ chủ doanh nghiệp với khả năng, trình độ nhận thức về thị trường, khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ có tác động to lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Những người sáng lập và quản lý doanh nghiệp luôn là người đi đầu trong đổi mới, dám tìm kiếm những phương hướng mới, đặt rõ những nhiệm vụ chuyển đổi cho thích ứng với môi trường kinh doanh Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự tham gia của đội ngũ này Việc xây dựng đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi quốc gia
- Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ của khoa học và công nghệ
Sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã
mở ra khả năng rộng lớn hơn cho sự phát triển của các doanh nghiệp Một mặt, nó tạo điều kiện và khả năng cho các doanh nghiệp có thể trang bị những kỹ thuật hiện đại hơn, năng động, linh hoạt hơn trong việc lựa chọn đưa vào ứng dụng và khai thác công nghệ mới ứng dụng trong doanh nghiệp Mặt khác, nó còn tạo khả năng liên kết chặt chẽ với nhau hơn, đặc biệt là khả năng điều hành từ xa, từ một trung tâm với các doanh nghiệp
Sự phát triển của công nghệ nói chung, công nghệ thông tin nói riêng đã ảnh hưởng lớn đến xu hướng phát triển của các doanh nghiệp, đến sự thay đổi về tổ chức sản xuất và phương pháp điều hành trong các doanh nghiệp lớn Ngoài ra trình
độ khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại của doanh nghiệp có ảnh hưởng nhiều đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của nó
- Tình hình thị trường
Tính chất, quy mô và nhu cầu của thị trường làm ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp Thị trường với nhu cầu đa dạng, khối lượng nhu cầu lớn
Trang 29nhiều chủng loại sẽ làm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động thuận lợi Ngược lại, thị trường dung lượng lớn, chủng loại ít, tương đối ổn định sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp lớn tăng cường tính cạnh tranh, làm khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.4.2 Vai trò của cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp
Để các doanh nghiệp hoạt động và phát triển thì điều kiện cần là phải có các doanh nghiệp Để các doanh nghiệp ra đời và đi vào hoạt động thì các doanh nghiệp cần thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Việc đăng ký kinh doanh chỉ có thể thực hiện từ các cơ quan, tổ chức nhà nước cung cấp dịch vụ công
Khi các doanh nghiệp đã ra đời, để các doanh nghiệp phát triển được thì cần phải có các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động, tiền vốn…các yếu tố này chịu sự chi phối không nhỏ từ phía các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công
Khi cung cấp dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch
vụ như: Cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng thực, thị thực Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại
có tác dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Chẳng hạn giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác động
và kết quả đáng kể về mặt kinh tế xã hội Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân
Cung cấp dịch vụ công là một trong những nhân tố quan trọng trong sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi các doanh nghiệp này rất hạn chế khi tiếp cận các dịch vụ như: Đào tạo, năng lực kỹ thuật thấp, tiếp thị kém, thiếu thông tin thị trường
Cung cấp dịch vụ công sẽ thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá của các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Các doanh nghiệp sẽ tập trung vào một
số hoạt động chính trong sản xuất kinh doanh chứ không phải đảm nhận tất cả các khâu, các công việc như trước đây
Trang 30Việc sử dụng dịch vụ công tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào quá trình sản xuất kinh doanh, tránh sự phân tán nguồn lực hiệu quả thấp
Dịch vụ công tạo cầu nối trong quan hệ giữa các doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học thông qua việc tư vấn của các chuyên gia từ những tổ chức này
Tính ưu việt của một xã hội được phản chiếu một cách rõ ràng qua chất lượng cung ứng dịch vụ công, bởi vì dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững và có kỷ cương, trật tự Nếu các dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp không đầy
đủ, chất lượng thấp thì sẽ dẫn đến những rối loạn trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của mỗi người dân, đồng thời tác động tiên cực đến sự phát triển của mỗi quốc gia
1.1.4.3 Sự quản lý và điều tiết của nhà nước đối với cung cấp dịch vụ công
- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ công
Thực hiện vai trò này, nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tư nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội của người dân tham gia cung ứng dịch vụ công Cơ chế, chính sách ấy bao gồm: vạch rõ những lĩnh vực dịch vụ cần khuyến khích sự tham gia của khu vực phi nhà nước, chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, các điều kiện vật chất, các chính sách đào tạo, kiểm tra và kiểm soát, nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý chung cho tất cả các đơn vị cung cấp dịch vụ công, đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà cung cấp dịch vụ công
- Nhà nước quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở ngoài nhà nước cung cấp dịch vụ công
Nhà nước cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng dịch vụ công để đánh giá chất lượng của các đơn vị cung cấp, giám sát và kiểm tra hoạt động của các đơn
vị này Nhà nước cần định hướng phát triển đối với khu vực tư nhân, hướng tư nhân
Trang 31vào các lĩnh vực mà tư nhân hoạt động hiệu quả, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm không ngừng cải tiến việc cung ứng dịch vụ công cho xã hội Điều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc, tính toán và giải quyết thoả đáng mối quan
hệ giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức và cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ công
1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp
1.2.1 Các chủ thể của hoạt động cung cấp dịch vụ công
Chủ thể trong hoạt động cung cấp dịch vụ công bao gồm những người sử dụng các dịch vụ (các doanh nghiệp), các nhà cung cấp dịch vụ (các tổ chức chính phủ, các tổ chức hỗ trợ, các hiệp hội, các hội nghề, các tổ chức quốc tế) Hoạt động
của các chủ thể này được đặt trong khung khổ pháp luật của Việt Nam (hình 1.1)
Hình 1.1 Các chủ thể trong hoạt động cung cấp dịch vụ công
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ công
Từ các chủ thể trong hoạt động cung cấp dịch vụ công, có thể thấy việc cung cấp dịch vụ công chịu ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản sau:
Một là: Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
Các tổ chức hiệp hội
Các nhà cung cấp dịch vụ công
Khách hàng sử dụng dịch vụ công
Các tổ chức hỗ trợ
Các tổ chức quốc
tế
Trang 32Nhóm các yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô là các chủ trương chính sách của Nhà nước tác động vào hoạt động cung cấp dịch vụ công Trong mỗi điều kiện cụ thể của từng nước, từng thời kỳ mà các chủ trương, chính sách của Nhà nước tác động vào việc cung cấp dịch vụ công khác nhau Các chủ trương, chính sách của Nhà nước sẽ tạo hành lang pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ công
Hai là: Nhân tố con người trong hoạt động cung cấp dịch vụ công
Hiệu quả trong hoạt động cung cấp dịch vụ công phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành công Chính con người với năng lực thật của họ mới lựa chọn đúng phương án, các hình thức cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả nhất
Để cho doanh nghiệp biết về một thông tin nào đó, các nhân viên làm công tác cung cấp dịch vụ công phải nắm bắt, phân tích tâm lý và các nhân tố ảnh hưởng đến ứng xử của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định phương án, hình thức cung cấp dịch vụ công phù hợp và hiệu quả
Ba là: Cơ sở vật chất của cơ quan cung cấp dịch vụ công
Về cơ sở vật chất của các cơ quan cung cấp dịch vụ công còn nhiều thiếu thốn, Ngân sách hoạt động còn nhiều hạn hẹp, đây là yếu tố quan trọng đã đã làm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng cung cấp dịch vụ công cho các doanh nghiệp
Bốn là: Môi trường cạnh tranh
Cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức cung cấp dịch vụ công với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, thoả mãn tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng người đó sẽ chiến thắng, sẽ tồn tại và phát triển
Năm là: Thái độ và phản ứng của doanh nghiệp đối với các cơ quan, tổ chức
cung cấp dịch vụ công và với những dịch vụ do các cơ quan này cung cấp
1.3 Nội dung của cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp
Nội dung cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp có thể được thể
hiện như sau (hình 1.2)
Trang 33Hình 1.2 Nội dung cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp
1.3.1 Về đăng ký kinh doanh
Giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác động
và kết quả đáng kể về mặt kinh tế xã hội Nội dung đăng ký kinh donh liên quan đến các vấn đề như: Quy định về đăng ký kinh doanh; thực hiện đăng ký kinh doanh; cơ quan đăng ký kinh doanh; thủ tục và chi phí gia nhập thị trường,
1.3.2 Đất đai và mặt bằng sản xuất
Đất đai, mặt bằng sản xuất là một yếu tố đầu vào rất quan trọng đối với doanh nghiệp Đây cũng là một trong những vấn đề khó khăn nhất đối với doanh nghiệp Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp chính quyền các cấp cần xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch đất đai, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, đồng thời công khai thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để các doanh nghiệp biết và xây dựng
kế hoạch sản xuất, kinh doanh, thuê mặt bằng,…Ngoài ra, các cấp chính quyền cần tháo gỡ những khó khăn trong thủ tục cấp đất, thuê đất, giải phóng mặt bằng…
Nội dung về đất đai và mặt bằng sản xuất liên quan đến các vấn đề như: Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; điều kiện để doanh nghiệp được giao đất, thuê đất;
về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp; giá thuê đất; về ưu
Đăng ký kinh doanh
Xúc tiến thương mại Đất đai, mặt bằng SX
Tín dụng ngân hàng(vốn)
Đào tạo nguồn nhân lực doanh
Phát triển doanh nghiệp
Trang 34đãi về giá thuê đất và miễn giảm tiền thuê đất khi các các nhà đầu tư có vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn
1.3.3 Tín dụng ngân hàng
Các doanh nghiệp Việt nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp này yếu thế về quy mô nên rất khó tiếp cận vốn Để các DN có thể tiếp cận các nguồn vốn cần chý ý một số biện pháp như: Đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà cho các doanh nghiệp để họ có những giấy tờ cần thiết thế chấp vay vốn Sớm thành lập quỹ đầu tư vốn hoặc đầu tư mạo hiểm của địa phương từ nhiều nguồn khác nhau như: Ngân sách nhà nước, các nguồn tài trợ quốc tế, đóng góp của các doanh nghiệp Mục đích chủ yếu là cho vay đối với những dự án theo các ý tưởng mới, có triển vọng, có độ rủi ro cao nhưng cũng có thể thu được lợi nhuận lớn Ngoài ra, để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được với các ngân hàng, cần thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng là trung gian kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp; các cơ quan chức năng có thể cung cấp thông tin cần thiết để các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn nước ngoài
Các ngân hàng quốc doanh cần có ưu đãi đối với các doanh nghiệp như: Ưu đãi lãi suất vay vốn, lãi suất cho thuê tài chính và phí cung cấp các dịch vụ của ngân hàng và các tổ chức tín dụng
1.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa lớn để phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Tự thân các doanh nghiệp khó có thể đáp ứng nhu cầu này
Để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn nhân lực, cần có sự nối kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo, thông qua đó để nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp, xây dựng nội dung chương trình phù hợp Ngoài ra, các doanh nghiệp cần kết hợp chặt chẽ với các trung tâm nghiên cứu khoa học; Nhà nước cần
có cơ chế tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo, có chính sách khuyến khích mở rộng các hình thức đào tạo tại doanh nghiệp Tạo điều kiện và khuyến khích hình thành các trung tâm đào tạo, thu hút người tài từ nhiều nguồn để
bổ sung cho đội ngũ cán bộ đào tạo nghề Ngoài ra cần khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường hợp tác, liên kết đào tạo, thông qua các hội nghề nghiệp để trao
Trang 35đổi kinh nghiệm, có chính sách thu hút kiều bào ở nước ngoài góp vốn, kiến thức về tham gia công tác đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp Cần khuyến khích các công ty tư vấn cung ứng các dịch vụ đào tạo, quản lý, xúc tiến thương mại, tìm kiếm
cơ hội kinh doanh,…và có chính sách ưu đãi về thuế đối với các dịch vụ này
Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho lao động địa phương: Trên cơ sở nhu cầu
sử dụng lao động, các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn tỉnh được cung cấp lực lượng lao động đã qua đào tạo Trường hợp các doanh nghiệp có yêu cầu đào tạo nghề cho người lao động của địa phương, được ngân sách tỉnh hỗ trợ kinh phí
1.3.5 Xúc tiến thương mại
Trong những năm gần đây, trước yêu cầu cấp bách của việc mở rộng thị trường xuất khẩu vầ tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động xúc tiến thương mại đã có những thay đổi và phát triển nhanh cả về chất và lượng Ở hầu hết các tỉnh và thành phố đã quan tâm xây dựng bộ máy và tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động xúc tiến thương mại, thành lập trung tâm xúc tiến thương mại, tổ chức phòng trưng bày và giới thiệu sản phẩm
Các hoạt động xúc tiến thương mại như: Cung cấp thông tin thương mại, tổ chức hội trợ triển lãm, công tác nghiên cứu, khảo sát thị trường…được đẩy mạnh ở các tỉnh đã có sự phối hợp với các cơ quan xúc tiến thương mại trong nước và quốc
tế để tổ chức các cuộc hội thảo, mở các lớp đào tạo, tập huấn nhằm cung cấp kiến thức về pháp luật thương mại quốc tế, tập quán tiêu dùng cũng như nâng cao khả năng xúc tiến thương mại, nghiệp vụ xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến thương mại: Định hướng và chương trình dài hạn về xúc tiến thương mại; việc cung cấp thông tin, công tác dự báo chưa được quan tâm đúng mức; Một số chi phí thương mại khá lớn, nên nhiều doanh nghiệp không có khả năng triển khai; nhận thức của các cơ quan làm công tác xúc tiến thương mại và bản thân DN chưa đầy đủ, chưa thấy hết được vai trò của xúc tiến thương mại trong nền kinh tế thị trường; Về cơ sở vật chất để phục vụ công tác xúc tiến thương mại; đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến thương mại; nội dung
và phương thức triển khai xúc tiến thương mại; một số cơ chế chính sách về xúc
Trang 36tiến thương mại của nhà nước và của tỉnh chưa đồng bộ và rõ ràng, gây khó khăn trong quá trình triển khai
1.3.6 Xây dựng cơ sở hạ tầng
Xây dựng cơ sở hạ tầng là một trong những tiêu chí nhằm cải thiện môi trường đầu tư ở mội địa bàn Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tốt sẽ góp phần thu hút các nhà đầu tư vào địa bàn nhiều hơn, tạo mặt bằng, môi trường sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp được thuận tiện hơn Mặt khác nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác đầu tư trên địa bàn, nhất là việc triển khai thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước và Trái phiếu Chính phủ Thực hiện nghiêm túc công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các Chương trình mục tiêu Quốc gia trên địa bàn, đảm bảo mục tiêu, nhiệm vụ của từng chương trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông; đảm bảo vận tải hàng hoá và hành khách thông thoáng; tăng cường quản lý các hoạt động vận tải, nhất là vận tải hàng hoá; kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đảm bảo trật tự
an toàn giao thông trong vận tải hành khách;
1.3.7 Chính sách ưu trong đãi đầu tư
Chính quyền ở mỗi địa phương luôn thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động
Cụ thể là đẩy mạnh cải cách hành chính đối với các lĩnh vực liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: đăng ký kinh doanh, quản lý thuế, giấy phép xây dựng, cho thuê đất, hải quan… triển khai nhanh mô hình liên thông
“một cửa” các thủ tục cấp phép của các cơ quan hành chính nhà nước
Tạo mọi điều kiện tốt nhất để một số doanh nghiệp trọng điểm tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh trong từng thời điểm bằng các chính sách điều hành
vĩ mô, vi mô phù hợp với từng địa phương
Chính quyền ở mỗi địa phương luôn xây dựng quy hoạch đất đai, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, đồng thời thông tin công khai rộng rãi trên các
Trang 37phương tiện thông tin đại chúng để thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, sản xuất kinh doanh trên địa bàn
1.4 Thực tiễn về cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp
1.4.1 Các hình thức chuyển giao dịch vụ công trên thế giới
Kinh nghiệp từ nhiều nước cho thấy, nếu nhà nước tự thân thực thi toàn
bộ các chức năng của mình mà bỏ qua các nhân tố thị trường và xã hội thì sẽ dẫn tới một nhà nước yếu và một xã hội kém phát triển Cũng vậy, trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, nếu nhà nước chỉ sử dụng bộ máy của mình để cung ứng dịch vụ thì chắc chắn sẽ dẫn tới những bất cập cả về khối lượng và chất lượng cung ứng Do
đó, cùng với việc phải đổi mới hiệu quả cung cấp dịch vụ công ngay trong khu vực nhà nước, điều quan trọng là nước phải chuyển giao các loại dịch vụ công mà xã hội
có thể đảm nhiệm đi đôi với việc kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo chất lượng và
hiệu quả cung ứng dịch vụ công
Hộp 1.2: Các hình thức chuyển giao dịch vụ công trên thế giới
1- Nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc một tập thể;
2- Nhà nước bán một phần cổ phần của doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch
vụ công ra ngoài xã hội;
3- Nhà nước cho thuê doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công đối với tư nhân hoặc tập thể;
4- Khoán kinh doanh cung ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc tập thể;
5- Ký hợp đồng hoặc đơn đặt hàng với các doanh nghiệp hoặc tổ chức trong việc cung ứng dịch vụ công theo yêu cầu của nhà nước;
6- Cho phép các doanh nghiệp hoặc tổ chức tư nhân tham gia vào các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua luật lệ và quy chế
Nguồn: Lê Chi Mai (2003)
Trang 381.4.2 Cung cấp dịch vụ công cho phát triển doanh nghiệp ở Mỹ và kinh nghiệp rút ra với Việt Nam
Ở mỹ sự phát triển của các DN có vai trò hết sức quan trọng, trong đó Mỹ cũng đặc biệt chú ý đến sự đóng góp to lớn trong nền kinh tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Do vậy, chính phủ Mỹ rất quan tâm, chú trọng trong việc cung cấp các dịch vụ quan trọng nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển
* Về tổ chức hành chính
Ở Mỹ, tổ chức lớn có vai trò trực tiếp hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đó là: Cơ quan Quản lý doanh nghiệp nhỏ của Mỹ (SBA) SBA gồm có 90 chi nhánh với nhiều nhiệm vụ khác nhau ở các thành phố trên khắp đất nước SBA cung cấp một loạt các dịch vụ như : hỗ trợ về tài chính; trợ giúp về quản lý; trợ giúp kỹ thuật
Ngoài tổ chức lớn nhất là SBA ra, ở Mỹ còn có nhóm Uỷ viên ban quản trị
có hiệu lực (ACEO) và nhóm Uỷ viên ban quản trị dịch vụ đã nghỉ hưu (SCORE) Đây là 2 tổ chức mà SBA có quan hệ chặt chẽ Các nhóm này cung cấp những dịch
vụ tư vấn không phải trả tiền cho các doanh nghiệp nhỏ Dịch vụ không mất tiền này là hình thức giúp đỡ về mặt tài chính Trợ giúp tài chính có thể được coi là có hiệu lực dưới hình thức vốn vay, hầu hết là phải cộng tác với ngân hàng Những vốn vay này bao gồm nhiều loại khác nhau như: vốn vay đối với cá nhân ở vào thế bất lợi (vốn vay cơ hội kinh tế) và vốn vay đối với những người tàn tật và các doanh nghiệp gặp rủi ro
Một tổ chức nữa là Công ty đầu tư doanh nghiệp nhỏ (SBICs) đã được SBA cấp giấy phép cũng lập ra quỹ có hiệu lực và cung cấp sự hỗ trợ về quản lý cho các doanh nghiệp nhỏ
Ngoài ra, còn có các Công ty đầu tư doanh nghiệp nhỏ giành cho các dân tộc thiểu số (MESBICs) cung cấp những dịch vụ cho các thành viên của nhóm dân tộc thiểu số
* Về tài chính, tín dụng
Trang 39Mặc dù với số vốn ban đầu không cần lớn, nhưng khó khăn về mặt tài chính
là một trở ngại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở ngay giai đoạn hoạt động của nó
và làm cho nó yếu đi Vì vậy, chính phủ Mỹ đã có chính sách hỗ trợ tài chính và tín dụng để hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn vay vừa là chất xúc tác để mở rộng tăng trưởng, vừa là một cái đệm
an toàn phòng khi “sẩy chân” về tài chính Đặc biệt là trong những năm đầu, khi quỹ dự phòng của các doanh nghiệp nói chung còn nhỏ, vốn vay có thể trở thành một công cụ tối cần thiết để xây dựng nền móng vững chắc và tạo khả năng sinh lãi thực sự cho doanh nghiệp
Ở Mỹ, vốn của doanh nghiệp nhỏ chủ yếu có từ 3 nguồn:
- Tiết kiệm của chính người bắt đầu lập doanh nghiệp nhỏ hoặc vay từ bạn bè hay những người thân
- Vay các ngân hàng
- Vay cơ quan quản lý doanh nghiệp nhỏ (SBA)
- Thông thường, nguồn tiền vay ngân hàng rất khó khăn Nhiều ngân hàng giới hạn số tiền vay ban đầu đến 50% số lượng cần thiết và đòi hỏi phải có thế chấp
và tín chấp mới được vay Hơn nữa, nhiều ngân hàng thường đòi doanh nghiệp nhỏ trả lãi tương đối cao- cao hơn 2 đến 3 điểm so với mức họ thường cho các khách hàng lớn vay Vì vậy, chính phủ Mỹ đã lập ra một số ngân hàng gọi là “ngân hàng
xí nghiệp nhỏ” cho các doanh nghiệp nhỏ vay vốn, có nhiệm vụ nuôi dưỡng các doanh nghiệp nhỏ và đưa ra mức lãi suất ưu đãi hoặc các dịch vụ đặc biệt để giúp
đỡ các doanh nghiệp nhỏ Đây là điểm mà Việt nam nên xem xét để học tập Khi các doanh nghiệp nhỏ vay vốn để kinh doanh thì khoản tiền lãi phải trả được giảm thuế Nói cách khác, Nhà nước có chính sách giảm mức thuế lợi tức cho các doanh nghiệp nhỏ Ở Mỹ, những công ty có dưới 35 cổ đông được miễn thuế lợi tức, chỉ sau khi chia lợi tức cho cổ đông lúc đó các cổ đông mới phải đóng thuế Đó là một
ưu đãi rất lớn, cho nên ở Mỹ có nhiều công ty cố tình muốn nhỏ Như vậy, trên thực
tế, chính phủ đã trợ cấp một phần chi phí cho việc vay vốn kinh doanh của các công
ty nhỏ Có 3 mức thuế suất dành cho các doanh nghiệp hay hiệp hội phụ thuộc và
Trang 40lợi nhuận thu được, đó là: 15% khi lợi nhuận đạt tới 50.000 USD; 25% khi lợi nhuận đạt 75.000 USD và 34% khi lợi nhuận đạt cao hơn
Khi số tiền vay của các doanh nghiệp lên đến 150.000 USD thì họ có thể vay
ở Cơ quan quản lý doanh nghiệp nhỏ (SBA) Thông thường vốn vay của SBA được hưởng một phần trợ cấp, thể hiện ở mức lãi suất thấp hơn nhiều so với lãi suất của các ngân hàng thương mại
Ngoài ra, SBA còn bảo lãnh cho nhiều doanh nghiệp nhỏ vay được ở ngân hàng đến 500.000 USD với điều kiện người vay phải hoàn trả lại nếu như kinh doanh thất bại
* Về hỗ trợ xuất khẩu
Một cơ quan trợ giúp xuất khẩu rất lớn và có hiệu quả nữa, đó là Bộ thương mại Các chuyên gia thương mại quốc tế đều nằm ở các văn phòng khu vực của Bộ thương mại đóng trên toàn quốc Công việc của họ là khuyến khích xuất khẩu bằng cách giúp cho các doanh nghiệp nhỏ địa phương phát triển và duy trì được các chương trình xuất khẩu thành công
Một doanh nghiệp nào đó yêu cầu trợ giúp xuất khẩu sẽ tiếp xúc với văn phòng dịch vụ kinh doanh gần nhất của Bộ thương mại Một chuyên gia thương mại
sẽ hoạt động với tư cách là cố vấn xuất khẩu của doanh nghiệp, làm việc chặt chẽ với chủ doanh nghiệp, và đến cả thực địa để xem xét đến khả năng của doanh nghiệp đó Chuyên gia này sẽ duy trì các quan hệ thường xuyên cho đến khi doanh nghiệp đã sẵn sàng có thể xử lý được chương trình xuất khẩu, sau đó chuyên gia thương mại thỉnh thoảng có xem xét đến mức tiến triển của doanh nghiệp và đề xuất
sự giúp đỡ bổ sung nếu thấy cần
Đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động xuất khẩu là các trung tâm hỗ trợ xuất khẩu (Export Assistance Center- EACs) Nhiệm vụ chính của EACs
là tìm kiếm các thị trường mới, xây dựng chiến lược xuất khẩu trên cơ sở các thông tin thu lượm được ở các thị trường nước ngoài Cung cấp các thông hữu ích về các cuộc triển lãm, hội chợ trong nước và quốc tế, giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được các thị trường mới, cũng như tiếp cận được chương trình tài trợ