ở nhiều địa phương chính quyền và các cơ quan chuyên môn chưa có được một giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi thông tin và số liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập công khai chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Các số liệu này chưa được sử dụng cho công trình nghiên cứu khoa học hoặc bảo vệ cho học vị nào
Tác giả
Phạm Văn Huy
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Điều tra-Quy hoạch rừng, Khoa Lâm học, Khoa Sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp, UBND huyện Lạc Dương và các cơ quan, ban, nghành, đoàn thể của huyện cùng gia đình, bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn
Do còn hạn chế về nhiều mặt nên luận văn sẽ có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và thảo luận
Tôi xin chân thành cám ơn !
Hà nội,ngày tháng năm 2012
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nhận thức về QLBVR dựa vào cộng đồng 3
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng 3
1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia QLBVR 3
1.1.3 Chiến lược và chính sách QLBVR 4
1.1.4 Quan điểm về QLBVR 5
1.2 QLBVR dựa vào cộng đồng ở nước ngoài 5
1.3 QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 6
1.3.1 Các tổ chức cộng đồng 6
1.3.2 Hình thức QLBVR dựa vào CĐ 6
1.3.3 Hiệu quả từ QLBVR dựa vào CĐ 8
1.3.4 Những bài học kinh nghiệm 9
Chương 2 11
KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11
2.1 Điều kiện tự nhiên 11
2.1.1 Vị trí địa lý 11
2.1.2 Địa hình, địa mạo 11
2.1.3 Khí hậu 12
2.1.4 Tài nguyên nước 12
2.1.5 Tài nguyên đất 14
Trang 42.1.6 Tài nguyên rừng 15
2.1.7 Tài nguyên khoáng sản 19
2.1.8 Tài nguyên nhân văn 19
2.1.9 Thực trạng môi trường 21
2.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 21
2.2.1 Khái quát thực trạng kinh tế 21
2.2.1.1 Cơ sở hạ tầng 21
2.2.1.2 Nông, lâm nghiệp 22
2.2.1.3 Thương mại, du lịch, dịch vụ 24
2.2.1.4 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 26
2.2.1.5 Giáo dục đào tạo 26
2.2.1.6 Y tế 26
2.2.2 Dân số và lao động 27
2.2.2.1 Dân số 27
2.2.2.2 Lao động và việc làm 27
2.2.2.3 Thu nhập và mức sống 28
Chương 3 29
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 29
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 29
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 29
3.2 Giới hạn và nội dung nghiên cứu 29
3.3 Đối tượng nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp luận 30
3.4.2 Thu thập số liệu thứ cấp 31
3.4.3 Điều tra thực địa 31
3.4.3.1 Phương pháp điều tra 31
3.4.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
Trang 53.5 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 34
Chương 4 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến QLBVR 35
4.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 35
4.1.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên 35
4.1.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội 35
4.1.2 Phong tục, tập quán liên quan đến QLBVR 36
4.1.2.1 Canh tác nương rẫy 38
4.1.2.2 Khai thác gỗ, lâm sản 39
4.1.2.3 Săn, bẫy động vật rừng 39
4.1.2.4 Ý thức bảo vệ “rừng thiêng” 40
4.1.2.5 Ý thức chấp hành pháp luật, các quy ước 40
4.1.2.6 Chăn thả gia súc trong rừng 40
4.2 Các hình thức QLR trên địa bàn 41
4.2.1 Rừng do cộng đồng quản lý 42
4.2.2 Rừng do tổ chức quản lý 42
4.3 Tình hình QLBVR huyện Lạc Dương 43
4.3.1 Cơ cấu tổ chức lực lượng về QLBVR 43
4.3.2 Thực trạng công tác QLBVR 47
4.3.2.1 Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật 47
4.3.2.2 Ngăn chặn hành vi xâm hại TNR 49
4.3.2.3 Công tác phòng cháy chữa cháy rừng 52
4.3.2.4 Xây dựng lực lượng, cơ sở vật chất 52
4.3.3 Những thuận lợi, hạn chế 54
4.3.3.1 Thuận lợi 54
4.3.3.2 Hạn chế 55
4.3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 55
4.3.4 Những nguy cơ và thách thức 56
Trang 64.3.5 Mức độ quan trọng của TNR đối với cộng đồng 57
4.4 Đánh giá tiềm năng QLBVR của cộng đồng 60
4.5 Đề xuất một số giải pháp QLBVR dựa vào cộng đồng 62
4.5.1 Các giải pháp về chính sách 62
4.5.1.1 Xây dựng các chính sách liên quan 62
4.5.1.2 Xây dựng Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng 63
4.5.1.3 Giải quyết nhu cầu đất sản xuất cho cộng đồng 63
4.5.1.4 Chi trả dịch vụ môi trường rừng 64
4.5.2 Các giải pháp về tổ chức 64
4.5.2.1 Thành lập Ban QLR thôn, bản 64
4.5.2.2 Thành lập tổ tuần tra BVR của cộng đồng 66
4.5.3 Giải pháp nâng cao năng lực cho cán bộ thôn, bản 67
4.5.4 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục pháp luật 67
4.5.5 Giải pháp về PCCCR 68
Chương 5 69
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Tồn tại 70
5.3 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 76
MỘT SỐ HÌNH CHỤP MINH HỌA 85
Trang 7NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PCCCR: Phòng cháy chữa cháy rừng
QLBVR: Quản lý bảo vệ rừng
QLRCĐ: Quản lý rừng cộng đồng
WWF: Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu 2.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Lạc Dương 14
Biểu 2.2: Hiện trạng rừng phân theo chức năng 19
Biểu 4.1: Diện tích rừng phân theo chủ quản lý trên địa bàn huyện 41
Biểu 4.2: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền 47
Biểu 4.3: Thống kê vi phạm Luật BV&PTR 50
Biểu 4.4: Hệ thống công cụ BVR trên địa bàn 53
Biểu 4.5: Nguy cơ và thách thức trong QLBVR. 56
Biểu 4.6: Mức độ quan trọng của TNR với cộng đồng 57
Biểu 4.7: Kết quả ảnh hưởng các nguồn thu nhập với hộ GĐ 58
Biểu 4.8: Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức. 61
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng rừng huyện Lạc Dương 18
Hình 4.1: Chăn thả rông trâu trong rừng. 41
Hình 4.2: Tổ QLBVR cộng đồng tuần tra rừng 42
Hình 4.3: Bảng Pa nô tuyên truyền 54
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên quý giá của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của đồng bào dân tộc ít người
Như vậy, rừng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người
Hơn một thập kỷ qua Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong phát triển tài nguyên rừng Tuy nhiên, trên bình diện chung thì tỷ lệ che phủ rừng vẫn còn ở mức
độ thấp (39,5%) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái rừng ở Việt Nam Trong đó việc người dân chưa được trực tiếp tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất ở nhiều địa phương chính quyền và các cơ quan chuyên môn chưa có được một giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Những kinh nghiệm bản địa, luật tục và thể chế truyền thống vẫn chưa được nhận diện, nhìn nhận và sử dụng một cách đúng mức Chúng chưa được vận dụng, phát huy và lồng nghép một cách một cách có hiệu quả với những thể chế và luật pháp của nhà nước trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Vì vậy công tác quản lý bảo vệ rừng đang đặt ra những vấn đề hết sức bức thiết, đòi hỏi phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự tham gia tích cực của cộng đồng, sự đổi mới của lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, nhằm đề ra những giải pháp chiến lược để thực hiện tốt nhiệm vụ QLBVR trước mắt cũng như lâu dài
Lạc Dương là một huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lâm Đồng, có tổng diện tích tự nhiên là 130.963 ha, trong đó diện tích rừng 112.530 ha (chiếm 86%), Lạc Dương nằm trong vùng khí hậu ôn đới Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp (18–22°C) Trên địa bàn có các cộng đồng dân tộc cùng sinh sống đó là: Kinh-K’Ho (gồm bộ tộc người Cil chủ yếu sống ở các xã: Đạ Chais, Đạ Nhim, Đạ Sar, Đưng K’Nớh và bộ tộc người Lạch chủ yếu ở xã Lát) là dân tộc bản địa lớn nhất với 2.424
hộ, chiếm 87,23%, còn lại là 976 hộ dân tộc Kinh chiếm 12,77% Điều kiện kinh
tế-xã hội nói chung còn gặp nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân còn nghèo, kinh tế
Trang 11chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thu nhập của của người dân trên địa bàn huyện và trình độ dân trí còn thấp, sản xuất nông nghiệp có nơi còn lạc hậu, ý thức về công tác bảo vệ rừng chưa cao, một bộ phận nhân dân còn chuyên sống dựa vào rừng, tình hình xâm hại tài nguyên rừng có lúc, có nơi còn nghiêm trọng Hệ thống quản lý bảo vệ rừng ở đây chủ yếu dựa vào các cơ quan nhà nước, mà lực lượng nòng cốt là Hạt Kiểm lâm và các Chủ rừng của nhà nước Việc tham gia QLBVR của cộng đồng còn hạn chế
Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng cộng đồng dân cư
là đối tượng thích hợp nhất để quản lý bảo vệ rừng, nhất là đối với các diện tích rừng phòng hộ, xa dân cư mà hộ gia đình, các tổ chức không thể quản lý bảo vệ được Trong thời gian qua đã có một số diện tích rừng giao cho cộng đồng thôn quản lý, bảo vệ thì chất lượng rừng ngày càng được nâng lên rõ rệt Hiện nay, các công trình nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về quản lý bảo vệ rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Lạc Dương là chưa có, vì vậy việc nghiên cứu và xây dựng mô hình này là cần thiết
Xuất phát từ thực trạng trên mà tôi tiến hành đề tài “Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” Nhằm góp phần bảo vệ tốt diện tích rừng, đất rừng trên địa bàn và từng
bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trên địa bàn
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức về QLBVR dựa vào cộng đồng
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng
Một khái niệm về công động được Phạm Xuân Phương (2001) sử dụng trong báo cáo tại Hội thảo Quốc gia trong khuôn khổ “chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt nam” được tổ chức tại Hà Nội thì “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội, có những điểm tương đồng về mặt văn hóa truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một làng, bản” [23]
Tại điều 3, Luật bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 “cộng đồng dân cư thôn
là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” [17] Địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư cũng được Luật bảo vệ và phát triển rừng công nhận trong hoạt động quản lý, bảo
vệ rừng ở điều 29 và 30
Luật đất đai năm 2003 đã đưa ra quan niệm về cộng đồng và xác định quyền
sử dụng đất của cộng đồng: “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất và công nhận quyền sử dụng đất” [18]
Từ các khái niệm trên, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thuộc làng, bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung
Ở nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng
xã, thôn, bản
1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia QLBVR
Cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng cũng có thể thay thế bằng một cụm
từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)
Trang 13Theo Arnold (1992) đưa ra: LNCĐ là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với trồng rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên
Ở Việt Nam, hiện nay có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận Nhưng có thể tạm hiểu LNCĐ là quá trình nhà nước giao rừng và đất rừng cho cộng đồng để họ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng theo hướng bền vững nhằm góp phần cải thiện sinh kế của cộng đồng ngày một tốt hơn [26] Theo các nhà khoa học thì hiện nay ở Việt Nam
có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau
+ Thứ nhất là, quản lý rừng của cộng đồng: Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng Đó là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyền thống lâu đời Rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng để quản lý bảo vệ
và hưởng lợi
+ Thứ hai là, quản lý rừng của các chủ rừng khác Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu nhập hay các lợi ích
khác của cộng đồng
Tóm lại, có thể hiểu LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát
triển rừng do cộng đồng dân cư thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng
Trang 14+ Tăng cường các giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế-xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề, tập huấn cho cộng đồng để thực hiện tốt nhiệm vụ QLBVR
+ Xây dựng hệ thống tuần tra BVR, PCCCR ở trên từng địa bàn cơ sở vơi sự tham gia tích cực của người dân
1.1.4 Quan điểm về QLBVR
+ Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đống dân cư thôn, bản Công tác bảo vệ rừng cần phải được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế-xã hội và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư thôn, bản trên địa bàn Mấu chốt của vấn đề bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng chính là vừa bảo vệ được tài nguyên rừng vừa giải quyết tốt vấn đề không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sông cho cộng đồng
+ Bảo vệ tài nguyên rừng, nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản thì không thành công Vì vậy, việc đề xuất các giải pháp đề nâng cao trách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư thôn, bản trong công tác bảo vệ
rừng là rất cần thiết
1.2 QLBVR dựa vào cộng đồng ở nước ngoài
* Ở Nê Pal, năm 1989 nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới, đó là
chia rừng và đất rừng làm hai loại: Rừng tư nhân và rừng nhà nước cùng với hai loại
sở hữu rừng tương ứng là sở hữu rừng tư nhân và sở hữu rừng nhà nước Trong quyển sở hữu của nhà nước lại được chia theo cac quyền sử dụng khác nhau: như rừng cộng đồng theo nhóm sử dụng, rừng hợp đồng với các tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho cac nhóm sử dụng rừng Trong những năm qua, Nêpal đã giao khoảng 19.000
ha rừng quốc gia cho các cộng đồng, đến năm 2002 đã có hơn 2.000 nhóm sử dụng rừng được hình thành
* Ở Nhật Bản, hiện có khoảng 25 triệu ha rừng, trong đó: rừng cộng đồng
chiếm 10%, rừng tư nhân chiếm 60%, rừng Quốc gia chiếm 30% Từ đam mê và
Trang 15quan tâm đến văn hóa, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững
và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp bảo vệ rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được công bố rõ ràng, nhằm đẩy mạnh và phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích công đồng ngay từ những năm 1800
Tóm lại, có thể nói quản lý, BVR dựa vào cộng đồng đang được xem như là
một giải pháp hữu hiệu đối với việc bảo vệ tốt vồn rừng hiện có, giải quyết tình trạng diện tích và chất lượng rừng giảm sút Trong những năm gần đây đều có không ít những mô hình BVR thành công ở Nhật Bản, Indonesia, Philipin, Đây là những mô hình, bài học quý báu cho việc xây dựng những giải pháp BVR dựa vào cộng đồng ở nước ta
1.3 QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
1.3.1 Các tổ chức cộng đồng
+ Cộng đồng dân tộc: Ở nước ta hiện có 54 dân tộc, với mỗi cộng đồng dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, phong tục tập quán
+ Cộng đồng làng, bản: Hiện nay ở nước ta có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp trong khoảng 9.085 xã Từ xưa mỗi làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước; Trong khi thôn, bản miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên sẳn có Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác QLBVR
1.3.2 Hình thức QLBVR dựa vào CĐ
Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) ở Việt Nam được hình thành từ lâu đời và đang trở thành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được nhà nước quan tâm, khuyến khích phát triển LNCĐ đang là một thực tiễn sinh động mang lại hiệu quả trong quản lý rừng và phát triển cộng đồng vùng cao
Trang 16+ Bảo vệ, quản lý việc khai thác nguồn tài nguyên rừng và môi trường sinh thái
+ Xác định các quan hệ sỡ hữu đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường + Cũng cố mối quan hệ xã hội trong cộng đồng các dân tộc
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2011, tính đến 31/12/2011, tổng diện tích rừng trên toàn quốc là: 13.515.064 ha (độ che phủ là 39,7%) Trong đó; diện tích rừng do các Ban QLR phòng hộ và rừng đặc dụng quản lý: 4.522.184 ha, các doanh nghiệp nhà nước quản lý: 1.971.477 ha, Tổ chức kinh tế khác quản lý: 143.199 ha, Đơn vị vũ trang quản lý: 264.885 ha, Hộ gia đình quản lý: 3.510.336 ha, Còn diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồng là: 298.984 ha [4] Như vậy diện tích rừng giao cho cộng đồng chỉ chiếm: 2 %, nhưng diện tích cần sự tham gia QLBVR của CĐ lại khá lớn
Trong nhiều năm qua rừng và đất lâm nghiệp đặc biệt là rừng tự nhiên chủ yếu được giao cho các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân và các hộ gia đình quản lý Tuy nhiên, rừng tự nhiên ở nước ta đang tiếp tục suy giảm cả về diện tích và chất lượng, đặc biệt là các diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ Vì vậy, ngành lâm nghiệp cần phải có các giải pháp hữu hiệu hơn để quản lý và bảo vệ các diện tích rừng tự nhiên còn lại, trong đó lâm nghiệp cộng đồng và đồng quản lý rừng có thể là những giải pháp có hiệu quả cần đươc nhân rộng
Ở Lâm Đồng, năm 2008 Chi cục Kiểm lâm đã xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch giao rừng thí điểm cho cộng đồng dân cư thôn (buôn) Theo đó, Lâm Đồng sẽ thí điểm giao rừng cho 7 mô hình cộng đồng dân cư (mỗi nhóm khoảng vài chục hộ dân tộc thiểu số) tại các huyện Bảo Lâm, Đức Trọng, Đam Rông, Di Linh, Lâm Hà, Lạc Dương Tổng diện tích rừng được giao cho các mô hình thí điểm này khoảng trên 2.200 ha Đến năm 2009 kế hoạch đã được phê duyệt theo Quyết định số 1704/QĐ-UBND của UBND tỉnh Năm 2010 huyện Lạc Dương
đã tổ chức giao rừng tự nhiện cho cộng đồng thuộc xã Đạ Sar là 605 ha (TK 118) để bảo vệ và hưởng lợi theo chính sách của nhà nước, của tỉnh Qua giao thí điểm rừng
tự nhiên cho cộng đồng nhận và bảo vệ và hưởng lợi đã tạo công ăn việc làm cho
Trang 17người dân, phát huy được các luật tục tích cực tại địa phương Thông qua thực hiện các quy ước bảo vệ rừng do người dân xây dựng từ đó người dân trong cộng đồng đoàn kết giử gìn trật tự trị an trên địa bàn Tình trạng khai thác, phát rừng làm nương rẫy, bẫy bắt động vật trong rừng cộng đồng và hộ gia đình giảm hẳn, các vụ cháy rừng ít xẩy ra Vì vậy rừng được sinh trưởng, phát triển tốt góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước chống sạt lở xói mòn đất Bảo vệ hệ sinh thái cảnh quan rừng tại địa phương [8] Đặc biệt với các khu rừng do cộng đồng tự quản lý theo luật tục và truyền thống như rừng thiêng của người dân tộc K’Ho, khu rừng phòng hộ cảnh quan của thôn Langbiang đã được bảo vệ nghiêm ngặt, không xảy ra tình trạng chặt phá, mọi người nhắc nhở nhau tự giác bảo vệ, đây là những cơ
sở để cần làm rõ vai trò tác động của cộng đồng trong công tác QLBVR
1.3.3 Hiệu quả từ QLBVR dựa vào CĐ
Cho đến nay chưa có đánh giá hiệu quả QLRCĐ với quy mô toàn quốc, tuy nhiên có thể đưa ra một số nhận định sau:
- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt: những nơi rừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không có xâm hại nên rừng ngày càng tăng trưởng
- Góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xoá đói giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng:
+ Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm được nhà nước hoặc chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết một phần khó khăn cho một bộ phận dân cư
+ Đối với diện tích rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao, cộng đồng có thể tận dụng khi rừng chưa khép tán hoặc đất trống chưa trồng rừng để canh tác kết hợp cây nông nghiệp, được các dự án đầu tư hỗ trợ vốn để sản xuất, được hưởng lợi sản phẩm từ rừng
+ Đối với diện tích rừng cộng đồng quản lý theo truyền thống cho đến nay hầu như cộng đồng có toàn quyền quyết đinh việc sử dụng tài nguyên rừng, trong
đó đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng
Trang 18- Tiết kiệm chi phí cho nhà nước: hiện nay có nhiều cộng đồng đang quản lý rừng hầu như không có sự hỗ trợ của nhà nước về kinh phí, nhưng rừng vẫn được bảo vệ tốt
Tuy đạt được những kết quả như trên, song trong quá trình thực hiện còn một
+ Do kinh phí đầu tư chưa phù hợp và giao thông đi lại khó khăn, nên việc cộng đồng tham gia tuần tra QLBVR đạt kết quả chưa cao
1.3.4 Những bài học kinh nghiệm
Từ những lý luận và thực tiển có thể rút ra những bài học chủ yếu cho quản
lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam như sau:
+ Một là: QLBVR dựa vào cộng đồng là phương thức quản lý cần thiết, hiệu quả cao, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà ý thức pháp luật hoặc khả năng thực thi pháp luật của người dân chưa cao
+ Hai là: QLBVR dựa vào cộng đồng sẽ thành công khi kết hợp hài hoà giữa lợi ích người dân - cộng đồng - nhà nước
+ Ba là: Thái độ, sự tham gia của người dân là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
+ Bốn là: QLBVR dựa vào cộng đồng cần phải được phối hợp với các phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính sách thể chế của nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng nội lực của các thành phần trong cộng đồng
Nhìn chung, QLBVR dựa vào cộng đồng là một vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương
Trang 19Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng
Đề tài tập trung phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, kiến thức, thể chế bản địa và đánh giá thực trạng công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Trên cơ sở phân tích đánh giá để đề xuất các giải pháp QLBVR dựa vào cộng đồng mang tính định tính, định lượng, nhằm góp phần bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng và nâng cao đời sống của người dân trong cộng đồng dân cư thôn, bản, trên địa bàn huyện Lạc Dương
Trang 20Chương 2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 130.963 ha
Địa giới hành chính như sau:
Phía Đông giáp: Tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hòa
Phía Tây giáp: Huyện Lâm Hà và huyện Đam Rông
Phía Nam giáp: Thành phố Đà Lạt
Phía Bắc giáp: Tỉnh Đắk Lắk
Huyện có 88% diện tích là rừng đầu nguồn, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước cho các công trình thủy điện trên địa bàn Có tiềm năng về phát triển du lịch ở khu vực núi Langbiang và hồ Đan Kia - Suối Vàng, khu du lịch văn hóa lễ hội cũng như một số danh lam thắng cảnh khác Tỉnh lộ 722, 723 đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, Lạc Dương đang mở rộng mối giao lưu với vùng duyên hải và cao nguyên Trung bộ với các tuyến du lịch nổi tiếng Đà Lạt – Nha Trang; Đà Lạt - Đắk Lắk Huyện Lạc Dương có 01 thị trấn và 05 xã: thị trấn Lạc Dương (diện tích 3.600 ha), xã Lát (25.195 ha), xã Đạ Sar (24.820 ha), xã Đạ Nhim (23.903 ha), xã Đạ Chais (34.104 ha), xã Đưng K'Nớh (19.341 ha)
Với đặc điểm vị trí địa lý trên Lạc Dương có lợi thế trong việc phát triển các mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội với các vùng trong tỉnh và khu vực
2.1.2 Địa hình, địa mạo
Lạc Dương là huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp, có 3 dạng địa hình chính: núi cao, đồi thấp đến trung bình, thung lũng
Dạng địa hình núi cao: là khu vực có độ dốc lớn (trên 200), có độ cao 1.500 – 2.200m so với mặt nước biển Hầu hết diện tích ở dạng này là rừng đầu nguồn, có vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn nước hệ thống sông Đạ Nhim, nên cần được bảo vệ nghiêm ngặt
Trang 21Dạng địa hình đồi thấp đến trung bình: Là dãy đồi hoặc núi ít dốc (<200), có
độ cao trung bình 1.000 m với đất bazan nâu đỏ, chiếm 10-12% tổng diện tích toàn huyện, phân bố tập trung ở khu vực phía Nam, Tây Bắc Khả năng sử dụng tuỳ thuộc vào độ dốc, tầng dày, khí hậu và điều kiện tưới mà có thể trồng cây lâu năm (Cà phê, chè, cây ăn quả…), ở những khu vực ít dốc có thể trồng hoa màu và cây công nghiệp hàng năm
Dạng địa hình thung lũng: Chiếm khoảng 3% tổng diện tích toàn huyện, phân bố ven các sông, suối lớn Độ cao phổ biến từ 3 – 80 hầu hết diện tích thuộc dạng địa hình này là các loại đất phù sa, nguồn nước mặt khá dồi dào, khá thích hợp với phát triển lúa nước và các loại hoa màu ngắn ngày
2.1.3 Khí hậu
Lạc Dương nằm trong vùng khí hậu ôn đới, độ cao so với mặt nước biển từ 1.500 – 1.600m Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp (18-220C), tháng 01 có nhiệt độ trung bình thấp nhất (16,40C), tháng năm có nhiệt độ trung bình cao nhất (19,70C), nhiệt độ ổn định qua các mùa trong năm Biên độ giao động giữa ngày và đêm lớn (90C) Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1.800 mm
Khí hậu ở đây khá thích hợp với các loại cây công nghiệp lâu năm như chè,
Cà phê và cây ăn quả như hồng, bơ và các loại rau, hoa, đặc biệt là phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Lượng mưa lớn tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9; mùa mưa kéo dài, nhiệt độ thấp nên cường độ bốc hơi trong mùa khô thấp, nhờ lợi thế này mà tại Lạc Dương có thể trồng các cây lâu năm trên đất có tầng canh tác mỏng Nhưng do nắng ít, ẩm độ không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn và tập trung nên dễ gây xói mòn đất, cần phải được đặc biệt chú ý trong
quá trình bố trí sử dụng đất Ẩm độ trong năm trung bình: 85-90%
2.1.4 Tài nguyên nước
Nước mặt: Nguồn nước mặt chủ yếu của huyện gồm 2 hệ thống sông chính
là sông Đạ Nhim và Đa Dâng
Trang 22Hệ thống sông Đạ Nhim là sông chính cung cấp nước cho thuỷ điện Đạ Nhim, bắt nguồn từ các đỉnh núi cao ở phía Đông Bắc như Kill Pla Nhoi (1.950 m), Hòn Giao (2.062 m)… Hướng chảy chính là Đông Bắc-Tây Nam Diện tích lưu vực tính đến ngã ba sông Đa Dâng-Đạ Nhim là 2.010 km2, lượng nước trong mùa khô khá dồi dào do rừng đầu nguồn được bảo vệ khá tốt
Hệ thống sông Đa Dâng: sông Đa Dâng có diện tích lưu vực khoảng từ 800 đến 1.000 km2, nhánh chính đổ vào hồ Đan Kia và Suối Vàng, sau đó đổ vào sông
Đa Dâng (huyện Lâm Hà), lưu lượng có sự phân hóa khá sâu sắc theo mùa, mùa mưa chiếm khoảng 80% lượng nước, mô đun dòng chảy mùa kiệt khá thấp: Từ 0,3 – 3,1 lít/km2, kiệt nhất vào tháng 3
Ngoài ra, nguồn nước mặt của huyện còn có hồ Đan Kia - Suối Vàng: diện tích mặt nước khoảng 293 ha, diện tích lưu vực khoảng 140 km2, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đà Lạt Trong tương lai đây là điểm du lịch sinh thái
lý tưởng của tỉnh Lâm Đồng và cả nước
Do lớp phủ thực vật là rừng kín, rậm thường xanh còn bao phủ các núi cao nên nguồn sinh thủy lớn, mật độ sông suối khá dày (từ 1 – 1,4 km/km2) có thể xây nhiều hồ và đập nhỏ trữ nước cho mùa khô Hạn chế rõ nét trong sử dụng nước tưới
ở đây là đất đai có độ dốc lớn, mức chênh lệch giữa nơi có nguồn nước tưới với địa bàn tưới khá cao, nên hiệu quả sử dụng nước tưới bị hạn chế
Nước ngầm: Hiện nay huyện Lạc Dương chưa có bản đồ hệ thống nước ngầm Khả năng nước trong phạm vi huyện Lạc Dương có thể phân chia như sau:
Vùng có khả năng tưới bằng nước ngầm:
Bao gồm các thung lũng có địa hình tương đối thấp, bằng phẳng, các khu vực
có độ dốc < 250 và độ chênh lệch cao tương đối nhỏ hơn 300m Các khu vực trầm tích cát, bột sét, có độ dốc < 200
Vùng không có khả năng tưới bằng nước ngầm:
Bao gồm các khu vực có địa hình núi cao, độ chênh lệch cao tương đối
>300m và dốc > 250 đối với vùng Bazan Đacit và Andesit, độ chênh lệch cao tương đối > 200m và dốc > 200 đối với vùng đá macma acid và đá phiến
Trang 232.1.5 Tài nguyên đất
Các loại đất ở địa phương: Toàn huyện có 5 nhóm đất chính như sau
- Nhóm đất Feralit: là nhóm đất chính ở huyện Lạc Dương chiếm 73,6% diện tích tự nhiên
- Nhóm đất đỏ vàng: Chiếm 21,4% tổng diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, hoa màu
- Đất mùn acid trên núi cao: Chiếm 1% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung
ở 4 xã phía Nam (xã Lát, Đạ Sar, Đạ Nhim, Đạ Chais) hầu hết có độ dốc lớn nên chỉ thích hợp cho trồng rừng
- Đất dốc tụ: Chiếm 1,2% diện tích tự nhiên, thích hợp cho rau, hoa, lúa…
- Đất phù sa sông suối: Chiếm 2,1% diện tích tự nhiên, thích hợp cho trồng lúa và cây hàng năm
Do đất dốc, địa hình chia cắt nên chỉ trồng cây hàng năm ở các thung lũng địc hình tương đối bằng, trên chân đất dốc tập trung phát triển cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, hạn chế rửa trôi và xói mòn đất là hướng chủ yếu trong chiến lược sử dụng đất nông nghiệp của huyện
Biểu 2.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Lạc Dương
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lạc Dương
Trang 24Biểu đồ 2.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Lạc Dương
Nhìn chung đất đai của huyện Lạc Dương màu mỡ phù hợp với nhiều nhóm cây trồng như: Lúa, Đậu, Ngô, Rau, Hoa, Cà phê song hiện nay một số diện tích đất đã và đang bị mưa sói lở cùng với tập quán canh tác lạc hậu, quảng canh bóc lột đất Do vậy cần áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa các mô hình canh tác hợp lý trên đất dốc, trồng rừng phòng hộ để bảo vệ đất sử dụng hiệu quả, lâu dài
2.1.6 Tài nguyên rừng
Huyện Lạc Dương hiện có 115.442 ha rừng (độ che phủ chiếm 88%), trong
đó diện tích rừng tự nhiên là 111.751 ha, rừng trồng có 3.691 ha Rừng Lạc Dương
có trữ lượng gỗ rất lớn, nhiều chủng loại Đây cũng là nơi có nhiều động, thực vật quý hiếm, nhiều cánh đồng cỏ rộng lớn, thuận lợi cho việc chăn nuôi đại gia súc
Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà là một trong hai mươi tám Vườn quốc gia nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam Khu vực Bidoup – Núi Bà thuộc địa giới hành chính huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng chiếm gần trọn Cao nguyên Langbiang (còn gọi là Cao nguyên Lâm Viên) Nơi đây được các nhà khoa
Trang 25học đánh giá là một trong 221 trung tâm chim đặc hữu của thế giới và là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam (Khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, khu vực rừng mưa ở Bắc Trung Bộ và Cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam) Trong chương trình bảo tồn hệ sinh thái dãy Trường Sơn, khu vực Bidoup - Núi Bà được xác định nằm trong khối núi chính thuộc Nam Trường Sơn và là khu vực ưu tiên số một trong công tác bảo tồn (khu vực SA3) 91% diện tích 71.000 ha của Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà là rừng và đất rừng, trong đó, chủ yếu là rừng nguyên sinh với rất nhiều loài động - thực vật khác nhau Có 1933 loài thực vật có mạch ở Vườn quốc gia Bidoup - Núi
Bà, trong đó: 62 loài quý hiếm phân bố trong 29 họ thực vật khác nhau, nằm trong cấp đánh giá về mức độ quý hiếm của sách đỏ Việt Nam năm 2000, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30.03.2006 của Chính phủ và Hiệp hội Bảo vệ thiên nhiên
Quốc tế (IUCN) như Thông đỏ (Taxus wallichiana), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông 5 lá (Pinus dalatensis), Thông hai
lá dẹt (Pinus krempfii) Riêng về đặc hữu hẹp, đã thống kê được 91 loài phân bố hẹp
ở Lâm Đồng và các vùng phụ cận Có 28 loài được la tinh hoá như mẫu chuẩn gồm:
dalatensis có 9 loài, langbianensis có 14 loài, bidoupensis có 5 loài Động vật có 56
loài (Chiếm 27% tổng số loài trong khu vực) được ghi trong danh mục các loài động vật quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/04/2003 của Chính phủ Có 47 loài (chiếm 22.5 % % tổng số loài trong khu vực) được ghi trong sách Đỏ Việt Nam 2007 Có 30 loài (chiếm 14,4% tổng số loài trong
khu vực) được ghi trong danh mục sách Đỏ IUCN (2010) như Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Voọc chà vá chân đen (Pygathrix nigripes), Vượn đen má hung (Hylobates gabriellae), Gấu chó (Ursus malayanus), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Báo lửa (Catopuma temminckii), Voi (Elephas maximus), Sói lửa (Cuon alpinus),
Bò tót (Bos gaurus), Trâu rừng (Bubalus arnee), Sơn dương (Naemorhedus sumatraensis), Hổ (Panthera tigris) Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà còn được đánh
giá là vương quốc của các loài lan rừng Việt Nam với trên 250 loài
Trang 26Các dự án có liên quan: Hiện nay có một số dự án đang và sẽ triển khai các hoạt động trên địa bàn của Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà như sau:
Dự án Nâng cao năng lực Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà (VCF) từ nguồn vốn của Ngân hàng thế giới (WB)
Dự án Thí điểm Phương pháp quản lý rừng đa mục đích tỉnh Lâm đồng tài trợ từ Quỹ Hỗ trợ ngành lâm nghiệp (TFF)
Dự án Đồng quản lý rừng và động vật hoang dã Vườn quốc gia Bidoup-Núi
Bà từ nguồn vốn của Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF)
Dự án Tăng cường năng lực quản lý dựa vào cô ̣ng đồng cho Vườn quốc gia Bidoup-Nú i Bà
Những năm qua công tác khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới rừng đã được chính quyền và nhân dân chú trọng Nhiều dự án đã được thực hiện như: chương trình 661, dự án sáng kiến hành lang đa dạng sinh học, dự án lâm nghiệp hướng tới người nghèo, dự án nâng cao năng lực PCCCR…đã tăng cường phục hồi rừng bằng phương thức nông lâm kết hợp, đạt được những kết quả to lớn, song các hiện tượng khai thác rừng trái phép vẫn còn xảy ra đang gây ra những tác động không tốt tới tài nguyên rừng
Trang 27Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng rừng huyện Lạc Dương
Trang 28Biểu 2.2: Hiện trạng rừng phân theo chức năng
Nguồn: Chi cục Lâm nghiệp Lâm Đông
2.1.7 Tài nguyên khoáng sản
Lạc Dương còn là vùng đất tiềm ẩn nhiều loại khoáng sản: thiếc, vàng, và đặc biệt có nguồn nước khoáng ở suối nước nóng Đạ Long (hiện nay đang ở giai đoạn thăm giò và khảo sát)
2.1.8 Tài nguyên nhân văn
Huyện Lạc Dương ngày nay, trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng ở Nam Tây Nguyên Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng bào các dân tộc huyện Lạc Dương đã một lòng một dạ theo Đảng, theo Cách mạng Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Lạc Dương đã từng là căn cứ của Khu ủy Khu 6 (1961-1962) và Tỉnh ủy Tuyên Đức (1961-1965)
Quá trình đấu tranh đã có nhiều chiến sĩ, đồng bào đã anh dũng hy sinh Ghi nhận những đóng góp của Lạc Dương trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng và nhà nước ta đã tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý; nhiều Bằng khen, Giấy khen cho chiến sĩ
và đồng bào Tặng thưởng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho nhân dân và cán bộ xã Đạ Chais vùng căn cứ Cách mạng đã có nhiều
thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1975 ta thiết lập hệ thống hành chính mới, huyện Lạc Dương được thành lập Nhưng đến tháng 11/1975 giải
Trang 29thể huyện Các xã Kilplanol Hạ (nay là Đạ Sar, Đạ Chais), Xuân Trường, Xuân Thọ nhập về huyện Đơn Dương; xã Lát, xã Đầm Ròn nhập về huyện Đức Trọng
Quá trình hình thành và phát triển, để phù hợp với địa giới hành chính và địa bàn lãnh thổ; đặc biệt là việc giải quyết vấn đề Fulro; UBND tỉnh Lâm Đồng đã đề nghị Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) chia tách một số huyện trong tỉnh Chấp thuận đề nghị của tỉnh, ngày 14/3/1979, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 116/CP thành lập lại huyện Lạc Dương Đây là sự kiện quan trọng của nhân dân các dân tộc trong huyện, mở đầu giai đoạn huyện Lạc Dương được hình thành về mặt pháp lý và tích cực chuẩn bị các điều kiện để xây dựng huyện
Sau khi thành lập huyện, hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đã được hình thành từ huyện đến cơ sở Qua từng thời kỳ phát triển của huyện, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế xã hội an ninh-quốc phòng từ huyện đến cơ sở đã có nhiều tiến bộ vượt bậc Hội đồng nhân dân và UBND các cấp đã được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng; đặc biệt là qua các kỳ bầu cử HĐND các cấp Chính quyền các cấp đã đặc biệt chú trọng quan tâm củng cố vai trò hoạt động của các thôn buôn, để góp phần tích cực vào công tác quản lý nhà nước tại cơ sở có hiệu quả
Về địa giới hành chính: năm 1999 thành lập thêm xã Đưng K’Nớhh (tách ra
từ xã Đạ Long) Đến năm 2003, được sự cho phép của UBND tỉnh, huyện tiếp tục thực hiện Quyết định 116/CP ngày 14/3/1979 của Hội đồng Chính phủ về việc quy hoạch và phát triển thị trấn Lạc Dương trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của xã Lát Đồng thời, cũng đã tiến hành thành lập thêm xã Đạ Nhim mới trên cơ sở tách ra từ xã Đạ Chais Việc thành lập thêm một số xã mới và phân định lại địa giới hành chính của một số xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển KTXH vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đặc biệt là lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng và đảm bảo
an ninh chính trị
Ngày nay, dưới chân núi Lang Biang, buôn làng của người Cil, người Lạch
đã trở thành điểm đến kỳ thú để khám phá những giá trị văn hóa bản địa
Hàng ngàn lượt du khách đã đến đây thưởng ngoạn không gian văn hóa cồng chiêng, xem những người phụ nữ dệt thổ cẩm, lựa chọn những món quà lưu niệm,
Trang 30thưởng thức rượu cần và thịt nướng… Các cô sơn nữ ngày ngày lên rẫy, nhưng đêm
về hóa thân vào các điệu múa mà từ khi sinh ra lời ca, điệu nhạc đã thấm vào da thịt Nam giới cũng biết đánh đồng la, thổi khèn bầu, tù và và sử dụng các nhạc cụ bằng lồ ô, tre, gỗ…
Do nhu cầu tìm hiểu văn hóa bản địa của du khách, tại đây đã hình thành Câu lạc bộ cồng chiêng gồm 10 đội tổ chức biểu diễn phục vụ du khách vào ban đêm Khi du khách yêu cầu, họ tổ chức đốt lửa trại, diễn tấu cồng chiêng và các nhạc cụ dân tộc; múa, hát các nhạc phẩm riêng của dân tộc mình về phong tục, tập quán cổ xưa của tổ tiên…
2.1.9 Thực trạng môi trường
Nhìn chung Lạc Dương có khí hậu trong lành, mát mẻ chưa bị ô nhiễm bởi các nhà máy công nghiệp; diện tích rừng, cây lâu năm ngày càng được mở rộng, từ việc trồng rừng đến khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên, phát triển các loại cây nông nghiệp như: Lúa, Rau, Hoa, ca phê đây là vốn quý cho phục hồi và bảo vệ môi trường
Tuy nhiên một số vùng, đất xói lở đã xâm phạm đến hệ điều tiết sinh thái Nhưng điều đáng nói thêm ở việc sử dụng phân cá trong sản xuất nông nghiệp là tác nhân tạo ra vi khuẩn sâu bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe người sản xuất và môi trường xung quanh Thêm vào đó, do chưa có điều kiện tiếp cận và am hiểu thành tựu khoa học mới, nông dân quen sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu hóa học có liều lượng mạnh như: DDT, HCH, MYTOX, WOFATOX gây ô nhiễm nguồn nước và triệt tiêu dần độ phì của đất
2.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
2.2.1 Khái quát thực trạng kinh tế
Trang 31hoá-hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Mạng lưới điện, đường, trường, trạm không ngừng hoàn thiện, nhiều công trình quan trọng được đầu tư xây dựng và đã đưa vào
sử dụng đem lại hiệu quả phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống dân sinh
Tổng số vốn đầu tư xây dựng, phát triển toản xã hội thực hiện trên địa bàn năm 2011 đạt 728 tỷ đồng
Đến nay 06/06 xã, thị trấn đã có điện lưới quốc gia (33/33 thôn, khu phố đã
có điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất)
Tỉnh lộ 722 đoạn chạy qua Lạc Dương dài 78 km (dọc xã Lát, xã Đưng K’Nớhh) là một phần của con đường Đông trường Sơn, đây là tuyến đường quan trọng nối Đà Lạt - Lạc Dương - Đắk Lắk
Tỉnh lộ 723: Tổng chiều dài 39,4 km (dọc các xã Đạ Sar, xã Đạ Nhim, xã Đạ Chais) là trục nối giữa 2 điểm du lịch Nha Trang và Đà Lạt (dài khoảng 128km)
Huyện lộ: có 3 tuyến chính xã Lát-Đưng K’Nớh; thị trấn Lạc Dương-Đạ Sar; cầu Phước Thành, Khu du lịch Langbiang với tổng chiều dài đường trải nhựa là 25,5 km Đường giao thông vào trung tâm 06/06 xã, thị trấn
Đường nông thôn: bao gồm đường liên thôn và đường trong các khu dân cư, lòng đường hẹp, nhiều đoạn lầy lội vào mùa mưa
Nhìn chung, mạng lưới giao thông toàn huyện khá phát triền, thuận lợi giao lưu về mọi mặt đến tất cả các trung tâm xã trong 2 mùa mưa nắng Giao thông thông thương ra bên ngoài chủ yếu đến Đà Lạt trước khi đi các tỉnh miền trung Tây nguyên và Miền Đông Nam Bộ
Có một trung tâm y tế với qui mô 50 giường bệnh, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân trong huyện Có trung tâm Văn hoá – Thể dục thể thao đảm bảo nhu cầu văn-thể trên địa bàn
2.2.1.2 Nông, lâm nghiệp
Lạc Dương đã tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá; hình thành các vùng chuyên canh sản xuất các sản phẩm có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao; gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến; chăn nuôi phát triển cả số lượng lẫn chủng loại Cây Cà phê được xác định
Trang 32là một trong những loại cây chủ lực của huyện, được trồng có quy hoạch trên địa bàn, tổng diện tích hơn 2.700 ha Cà phê giống Catimo với năng suất hàng năm đạt khoảng 27tạ/ha Trong số này, có hơn 2.350 ha Cà phê Catimo đã cho thu hoạch từ trước năm 2000
Lạc Dương là một trong những địa phương được đánh giá là phù hợp cho sự phát triển của cây Cà phê catimor (Cà phê chè) Số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Lâm Đồng cho thấy: Catimor có diện tích khá nhỏ so với tổng diện tích Cà phê chung của cả tỉnh, chỉ trên dưới 10% trong tổng số 142.000 ha hiện nay Tuy nhiên, catimor lại là loại Cà phê có những ưu điểm nổi trội đáng quan tâm như chỉ phù hợp với vùng đất cao như Lạc Dương và ven Lạc Dương là Đà Lạt, Đơn Dương và Lâm Hà; chất lượng vượt trội hơn hẳn so với một
số loại Cà phê khác; đang được ưa chuộng trên thị trường thế giới… Bởi vậy, đây rất có thể là một trong những lý do để chính quyền huyện Lạc Dương chọn sản phẩm nông nghiệp đầu tiên này của địa phương mình đưa vào xây dựng thương hiệu
“Cà phê catimor Lạc Dương” Hiện nay trên địa bàn có 3 nhà máy chế biến Cà phê
Trong những năm qua việc phát triển nghề trồng rau hoa nhất là nghề trồng hoa trên địa bàn huyện Lạc Dương đã có nhiều thay đổi khởi sắc Nghề trồng hoa không những tăng mạnh về số lượng chủng loại mà còn tăng về chất lượng sản phẩm giá trị hàng hoá.Tính từ năm 2004 xuất phát ban đầu chỉ với diện tích 05 ha chủ yếu tập trung tại địa bàn thị trấn Lạc Dương, với một vài chủng loại đơn giản như cúc, layơn, hoa lan… cho đến nay sau nhiều năm phát triển hầu hết các chủng loại hoa đều có mặt tại nhà vườn sản xuất hoa của Lạc Dương như: Hồng ghép, Lyly, Loa kèn, Cẩm chướng, các loại Lan, hoa Hồng môn, Salem… diện tích trồng hoa đến hết năm 2010 là trên 400 ha và kế họach năm 2011 lên đến 500 ha diện tích gieo trồng hoa các loại, dự kiến sản lượng hoa cắt cành trên 120 triệu cành
Nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết khí hậu mát mẻ thuận lợi Lạc Dương có điều kiện để phát triển nông, lâm nghiệp
Tài nguyên rừng có diện tích lớn nhất ở tỉnh Lâm Đồng, hiện có 115.442 ha, (Trong đó có: 55.357 ha rừng đặc dụng, 12.879 ha rừng phòng hộ, thuộc Vườn quốc
Trang 33gia Bidoup – Núi Bà và 25.366 ha rừng phòng hộ, thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim ) Rừng Lạc Dương có trữ lượng gỗ rất lớn, nhiều chủng loại Đây cũng là nơi có nhiều động, thực vật quý hiếm, nhiều cánh đồng cỏ rộng lớn, thuận lợi cho việc chăn nuôi đại gia súc Các nhà lâm học ở Viện Nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đã khẳng định rằng khu Bidoup – Núi Bà là một mẫu rừng cổ nguyên sinh chuẩn nhất ở Tây Nguyên còn sót lại nhờ vào địa thế hiểm trở Hệ động, thực vật ở đây rất đa dạng, phong phú
Khu Bidoup - Núi Bà còn là nơi quần tụ của 2/3 loài thông hiện diện ở Việt Nam, trong đó có thông 2 lá dẹt, thông 5 lá, thông tre và đặc biệt là loài thông đỏ chữa được bệnh ung thư, hàng chục loài lan đặc hữu Ở đây cũng phát hiện nhiều cây dược liệu có giá trị hàng hoá như: Cẩu tích, Đẳng sâm, Củ cung, Sa nhân, Tô hạp, Hương nhu xạ, Bạch linh, Sâm Ngọc Linh, Các nhà nghiên cứu động vật đã thống kê được 27 loài động vật quý hiếm, 9 loài chim đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trên toàn cầu Núi cao hùng vĩ, những khu rừng đặc dụng, rừng nguyên sinh,
hồ Đan Kia - Suối Vàng, núi Lang Biang tạo nên những cảnh đẹp kỳ vĩ, nên thơ, hứa hẹn nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn du khách
Đến nay, diện tích trồng cây lương thực của huyện là 3.350 ha Ngoài ra, huyện còn trồng được: 411 ha cây Hồng, 25 ha Chè… Về chăn nuôi, bà con các dân tộc đã chăn thả 9.083 con Trâu bò các loại, khả năng sinh sản của đàn Trâu bò rất lớn Diện tích nuôi cá nước lạnh là 04 ha (02 Doanh nghiệp nuôi cá Hồi), nhiều trang trại sản xuất kinh doanh (rau, hoa) đã mang lại hiệu quả góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế của huyện Phát triển ổn định theo hướng sản xuất hàng hoá Tốc
độ tăng trưởng ngành nông, lâm nghiệp đạt 54,7%, giá trị ước đạt 160 tỷ đồng
2.2.1.3 Thương mại, du lịch, dịch vụ
Có thể nói Lạc Dương là một địa bàn có tiềm năng rất lớn về du lịch, đặc biệt
là du lịch xanh, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Theo đánh giá của ngành Du lịch Lâm Đồng, khoảng 50% du khách đến Đà Lạt đều có nguyện vọng đến Lạc Dương Hiện nay, các tour du lịch ở các thành phố lớn trên cả nước khi thiết kế chương trình đến Đà Lạt đều có điểm dừng ở Lạc Dương (đặc biệt là chinh phục núi
Trang 34Langbiang: văn hóa cồng chiêng và thăm làng dệt thổ cẩm Bnơr C) Hiện nay, xã Lát đã có 3 đội văn hóa cồng chiêng phục vụ du khách vào ban đêm theo yêu cầu của các hãng du lịch trên cả nước Du khách trong và ngoài nước đến với Lạc Dương ngày càng nhiều
Hiện nay, hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng đang được quan tâm đầu tư Tỉnh lộ 723 hoàn thiện, đưa vào sử dụng mở ra nhiều triển vọng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và đặc biệt là ngành du lịch Bên cạnh một số dự án đang được đầu tư cũng như có chủ trương thỏa thuận đầu tư tiến hành triển khai với quy mô đầu tư lớn vẫn còn các điểm tiềm năng cần được đầu tư, khai thác có hiệu quả, nhằm giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, góp phần nâng cao thu nhập cải thiện đời sống của nhân dân
và đóng góp vào nguồn thu ngân sách huyện nhà
Các địa điểm có tiềm năng khai thác phục vụ du lịch trên địa bàn huyện:
+ Khu du lịch văn hoá lễ hội Langbiang
+ Khu du lịch hồ Đan Kia - Suối Vàng
+ Thác Ankroet
+ Nhà máy thủy điện AnKroet
+ Buôn văn hóa cổ K’Ho
+ Làng dệt thổ cẩm B’ner C
+ Khu nông nghiệp công nghệ cao
+ Thác 7 tầng xã Đạ Sar
+ Thác Liêng Tưr xã Đạ Chais
+ Khu du lịch sinh thái Đạ Sar - Thuỷ điện Đa Nhim Thượng
+ Thác 9 tầng xã Đưng K’Nớhh
+ Khu du lịch hồ thủy điện Đạ Dâng - Đạ Chomo
+ Khu du lịch hồ thủy điện Đạ Khai
+ Khu du lich hồ thủy điện Yan Tann Sien
Chú trọng xem thương mại - dịch vụ là một trong những tiền đề thúc đẩy nền kinh tế huyện nhà phát triển toàn diện Từ đầu tư vốn, mở rộng lĩnh vực kinh doanh
Trang 35- dịch vụ, huyện đã huy động nhiều thành phần kinh tế tham gia đạt hiệu quả Hàng hoá đa dạng về chủng loại, giá cả ổn định, mở rộng thị trường đến các xã vùng sâu, vùng xa phục vụ cơ bản nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Lĩnh vực Bưu chính - Viễn thông ngày càng được mở rộng và phát triển Duy trì và hoạt động có hiệu quả tại
01 bưu cục, 05 điểm bưu điện văn hoá xã Tốc độ tăng trưởng ngành thương mại - dịch vụ đạt 31,3%, giá trị ước đạt 89 tỷ đồng
2.2.1.4 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được chú trọng ưu đãi và phát triển Sản xuất của ngành tiếp tục duy trì đạt tốc độ tăng trưởng cao Cơ sở hạ tầng đầu tư phát triển, công nghiệp được quan tâm; hoàn thành Đề án và quy hoạch chi tiết Cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Lạc Dương Lĩnh vực công nghiệp chế biến nông, lâm sản và sản xuất hàng tiêu dùng; đã khai thác được lợi thế về nguồn nguyên liệu tại địa phương để nâng cao giá trị sản phẩm phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 110 tỷ đồng
2.2.1.5 Giáo dục đào tạo
Cơ sở vật chất cho ngành giáo dục tiếp tục được tăng cường, đã thực hiện việc sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới một số hạng mục công trình phục vụ việc giảng dạy, học tập tại các đơn vị trường học Sự nghiệp giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng, công tác hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số được triển khai đồng bộ, công tác phổ cập giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh
2.2.1.6 Y tế
Có một trung tâm y tế với qui mô 30 giường bệnh Đến nay, tất cả các xã đều
có trạm y tế, công tác phòng chống dịch bệnh được triển khai đồng bộ, không để xảy ra dịch bệnh trên địa bàn Các chương trình quốc gia về y tế được triển khai có hiệu quả Trung tâm Y tế huyện đến Trạm Y tế 06 xã, thị trấn và phòng khám khu vực, đã phối hợp chặt chẽ, giải quyết kịp thời, có những giải pháp tích cực, giảm đáng kể các loại bệnh nguy hiểm thường xuất hiện như: Sốt rét, sốt xuất huyết, tả
Trang 362.2.2 Dân số và lao động
2.2.2.1 Dân số
Huyện Lạc Dương có 05 xã và 01 thị trấn (có 8 tổ dân phố - 25 thôn/bản) Quy mô thôn bản phụ thuộc vào phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, vì vậy mật độ dân cư giữa các bản không đồng đều, nơi có dân cư tập trung chủ yếu ở thị trấn, trung tâm cụm xã; vùng sâu, vùng xa dân cư thưa thớt Theo số liệu thống kê năm
2011 dân số toàn huyện là 4.465 hộ với 20.905 khẩu, trong đó khu vực thành thị: 1.206 hộ/ 45.238 khẩu, Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 16 người/ km2, song phân bố không đều chủ yếu tập trung ở thị trấn (mật độ dân số 134 người/km2)
Các dân tộc thiểu số đang sống trên địa bàn huyện: K’Ho (K’Ho-Cil và K’Ho-Lạch) Với tổng số 3.356 hộ/16.358 nhân khẩu (chiếm 78,25%), cư trú trên
33 thôn, tổ dân phố của huyện Đa số các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, sống phân tán rải rác, sản xuất lạc hậu còn mang tính tự cung tự cấp Ngành nghề chủ yếu của các dân tộc trên chủ yếu là sản xuất nông nghiệp: trồng lúa và rau màu, hoa, Cà phê ; ngoài ra còn làm rượu cần, dệt thổ cẩm, dịch vụ văn hóa cồng chiêng…
2.2.2.2 Lao động và việc làm
Theo số liệu thống kê, năm 2011 dân số trong độ tuổi lao động của Lạc Dương có 11.558 lao động, chiếm 56% tổng số dân, trong khu vục thành thị chiếm 27% và khu vực nông thôn 73%, dân số chưa đến độ tuổi lao động 7.790 người chiếm 38% dân số toàn huyện, dân số ngoài độ tuổi lao động 1.230 người chiếm 6% dân số toàn huyện Dân số huyện Lạc Dương là dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào, song chất lượng lao động nhìn chung thấp, số lao động đã qua đào tạo hiện nay mới chiếm khoảng 15% tổng số lao động Về cơ cấu, lao động nông, lâm nghiệp chiếm chủ yếu với 8.321 người (chiếm 72%), lao động phi nông nghiệp với 3.237 người (chiếm 28% tổng số lao động) Do tốc độ tăng dân số còn khá cao (1,58% năm 2010), tình trạng không có hoặc thiếu việc làm nhất là với lực lượng lao động nông, lâm nghiệp vẫn là vấn đề bức xúc cần được tập trung giải quyết
Trang 372.2.2.3 Thu nhập và mức sống
Thu nhập bình quân 12,3 triệu đồng/người/năm Tuy nhiên thu nhập và mức sống hiện nay phân thành hai vùng rõ rệt Vùng dọc tỉnh lộ 722; 723 và huyên lộ: do tài nguyên đất đai, giao thông thuận lợi hơn so với các vùng khác nên kinh tế phát triển mạnh, đời sống dân cư được cải thiện rõ rệt, nhiều hộ có thu nhập từ 25 đến 30 triệu/người/năm trở lên Trong khi đó ở khu vực vùng sâu vùng xa, chưa thoát khỏi tình trạng thiếu đói cục bộ thu nhập dưới 5 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ nghèo theo tiêu chuẩn mới còn khá cao, chiếm 25%
Tóm lại, Lạc Dương có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu khu vực Đất đai
màu mỡ, khí hậu mát mẻ, nguồn nước thích hợp thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế theo hướng nông nghiệp cao như: trồng rau, hoa xuất khẩu, nuôi cá nước lạnh, chăn nuôi đại gia súc… Độ che phủ của rừng đạt 88%, hệ động thực vật phong phú, cùng với hệ thống sông suối, hồ, thác nước… cho phép Lạc Dương khai thác thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng và phát triển thủy điện…
Đồng bào các dân tộc trong huyện có nền văn hóa đa dạng, phong phú, giàu bản sắc, hiền hòa, mến khách; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; hạ tầng kinh tế-kỹ thuật, nhất là về giao thông, bưu chính-viễn thông từng bước được tăng cường; Lạc Dương có vị trí địa lý là vùng phụ cận của thành phố
Đà Lạt… Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho việc đẩy mạnh thu hút đầu tư để thực hiện kế hoạch đột phá, tăng tốc phát triển kinh tế-xã hội của huyện trong những năm tiếp theo Bên cạnh những thuận lợi của điều kiện tự nhiên, Lạc Dương cũng có những hạn chế và thách thức không nhỏ: Cũng như nhiều huyện trong tỉnh, địa hình bị chia cắt, do đó để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đòi hỏi phải có đầu
tư lớn; Ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng của một bộ phận dân cư chưa cao, đời sống của đa số đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chủ yếu dựa vào rừng (lấn chiếm đất rừng
để trồng cây nông nghiệp ) nên có lúc, có nơi rừng vẫn bị xâm hại Điều này đặt ra cho công tác QLBVR phải giải quyết tốt mâu thuẫn giữa bảo tồn-phát triển và môi trường của huyện nhà
Trang 38Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
+ Đánh giá các hình thức quản lý rừng trên địa bán
+ Đánh giá tình hình QLBVR của huyện trong thời gian qua
+ Đánh giá tiềm năng QLBVR của cộng đồng thôn, bản
+ Đề xuất các giải pháp QLBVR có hiệu quả dựa vào cộng đồng ở huyện Lạc Dương
3.2 Giới hạn và nội dung nghiên cứu
+ Phân tích sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa trên địa bàn huyện đến công tác QLBVR
+ Phân tích, đánh giá các hình thức quản lý rừng trên địa bàn
+ Đánh giá tình hình công tác QLBVR của huyện
+ Đánh giá tiềm năng QLBVR của cộng đồng dân cư thôn
+ Đề xuất các giải pháp QLBVR có hiệu quả dựa vào cộng đồng ở huyện Lạc Dương
3.3 Đối tượng nghiên cứu
- Cộng đồng dân cư thôn, bản ở huyện Lạc Dương trong công tác quản lý bảo vệ rừng (gồm cộng đồng là chủ thể quản lý rừng và cộng đồng tham gia QLBVR để được chia sẻ lợi ích)
Trang 39- Điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội và các đối tác liên quan đến quản lý bảo
vệ rừng
- Luật pháp và chính sách của Trung ương, địa phương và phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa có liên quan đến quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp luận
Lý thuyết hệ thống sẽ được sử dụng như một cơ sở quan trọng về phương pháp luận của luận văn.Theo quan điểm này, rừng vừa một bộ phận của hệ thống tự nhiên vừa là bộ phận của hệ thống kinh tế-xã hội
Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, do sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc vào những quy luật tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong hệ thống tự nhiên, như đất đai, khí hậu, địa hình
Rừng là một bộ phận của hệ thống kinh tế-xã hội vì sự tồn tại và phát triển của rừng gắn chặt với các hoạt động kinh tế của con người, như chặt phá rừng, khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng Mặt khác, các hoạt động tác động vào rừng của con người lại phụ thuộc vào đời sống kinh tế, trình độ, nhận thức, phong tục tập quán Bên cạnh đó, rừng có ảnh hưởng rất lớn đến các yếu tố kinh tế thông qua cung cấp tài nguyên và mhững yếu tố khác cho hoạt động của con người
Rừng là một thực thể sinh vật, sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động của con người Hoạt động của con người theo hướng bảo
vệ, phát triển hay tàn phá rừng luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội, như nhận thức về vai trò, tác dụng của rừng, ý thức chấp hành luật pháp của nhà nước về BVR, trách nhiệm của cộng đồng, phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa về BVR
Hiệu quả của các hoạt động QLBVR phụ thuộc vào những vấn đề thể chế và chính sách, như hoạt động của của hệ thống tổ chức Nhà nước trong lĩnh vực QLBVR, chính sách giao đất, giao rừng, chính sách hưởng lợi từ rừng Hiệu quả
Trang 40QLBVR còn phụ thuộc vào sự hiện diện và quan tâm đến tài nguyên rừng của tổ chức đoàn thể trong cộng đồng, của các đối tác và quy định của cộng đồng trong QLBVR Các thành phần này hỗ trợ các cơ quan chức năng liên quan trong việc tuyên truyền vận động người dân, động viên và giám sát lẫn nhau trong việc thức hiện chính sách về QLBVR.Tổ chức và phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa cộng đồng sẻ gắn kết các thành viên đơn lẻ thành lực lượng đủ sức mạnh thực hiện những chương trình, kế hoạch QLBVR vì quyền lợi của các thành viên và cộng đồng Bởi vậy việc phân tích ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến QLBVR là một nội dung quan trọng
Khi cộng đồng dân cư thôn bản tham gia vào các hoạt động quản lý bảo vệ rừng là hoạt động trong hệ thống kinh tế-xã hội tác động tới hệ thống sinh thái tự nhiên
3.4.2 Thu thập số liệu thứ cấp
- Kế thừa có chọn lọc những thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và nhân văn của khu vực nghiên cứu
- Kế thừa các nghiên cứu của các nhà khoa học về QLBVR dựa vào cộng đồng
- Các tài liệu liên quan về QLBVR từ cơ quan chuyên ngành như: Phòng Nông nghiệp và PTNT, Hạt Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kế huyện Lạc Dương, UBND xã trong khu vực nghiên cứu
Các tài liệu kế thừa phải đảm bảo tính mới nhất, tính chính thống, tính đảm bảo độ chính xác cao
3.4.3 Điều tra thực địa
3.4.3.1 Phương pháp điều tra
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Được thực hiện để thu thập những thông tin bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, ảnh hưởng của các nhân tố này đến công tác QLBVR cũng như thuận lợi, khó khăn, nguy cơ, thách thức trong công tác QLBVR