Đứng trước yêu cầu tồn tại và phát triển các doanh nghiệp, các nền kinh tế đều tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, trong các phương cách đó việc đổi mới công nghệ nhằm tăng năn
Trang 1NGUYỄN VÕ UY PHONG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TẠI CÔNG TY TNHH HÒA PHÁT
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT MÁY, THIẾT BỊ VÀ
CÔNG NGHỆ GỖ, GIẤY
MÃ SỐ: 60.52.24
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN VĂN THIẾT
Hà Nội, 2012
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa ngày càng diễn ra đầy đủ, sâu, rộng, nhất là sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều công nghệ mới, sản phẩm mới, cùng với mạng thông tin toàn cầu,
sự hợp tác quốc tế và xu hướng của nền kinh tế tri thức trở thành tất yếu của quy luật phát triển thì sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp và các quốc gia ngày một tăng, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển Sự phát triển không chỉ đem đến những thành tựu to lớn, mà bên cạnh đó còn có các yếu tố tiêu cực, như tác động đến môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa giàu nghèo, dịch bệnh và rất nhiều rủi ro khác có thể gặp phải
Đứng trước yêu cầu tồn tại và phát triển các doanh nghiệp, các nền kinh
tế đều tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, trong các phương cách
đó việc đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh bằng cách sử dụng công nghệ tiêu hao ít vật tư, nguyên, nhiên liệu, năng lượng; tạo ra các sản phẩm mới có giá thành thấp, có chất lượng cao… luôn là lựa chọn số một của các doanh nghiệp, các quốc gia Bởi chỉ có đổi mới công nghệ mới tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Qua kết quả điều tra, đánh giá công nghệ của một số tỉnh, thành cho thấy trình độ công nghệ của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thấp Các giải pháp đưa ra cho vấn đề này đều đề cập và khuyến nghị phải tập trung vào đầu tư đổi mới công nghệ Việc đổi mới công nghệ đang trở thành nhu cầu cấp thiết ở phạm vi, quy mô doanh nghiệp, địa phương, nghành và quốc gia Để việc đổi mới công nghệ diễn ra
Trang 3trước tiên phải đánh giá công nghệ hiện tại của doanh nghiệp, địa phương, ngành và quốc gia
Ở các nước đang phát triển, đánh giá công nghệ gồm các mục đích sau:
- Đánh giá công nghệ để chuyển giao hay áp dụng một công nghệ Để đạt được mục đích này, đánh giá công nghệ phải xác định được tính thích hợp của công nghệ đối với môi trường nơi áp dụng nó
- Đánh giá công nghệ để điều chỉnh và kiểm soát công nghệ Thông qua đánh giá công nghệ để nhận biết các lợi ích của một công nghệ, trên cơ sở đó phát huy, tận dụng các lợi ích này, đồng thời tìm ra các bất lợi tiềm tàng của công nghệ để có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục
- Đánh giá công nghệ cung cấp một trong những đầu vào cho quá trình ra quyết định:
* Xác định chiến lược công nghệ khi có thay đổi lớn trong chính sách kinh tế - xã hội quốc gia
* Khi quyết định chấp nhận các dự án tài trợ công nghệ của nước ngoài
* Quyết định triển khai một công nghệ mới hay mở rộng một công nghệ đang hoạt động
* Xác định thứ tự ưu tiên phát triển công nghệ của quốc gia trong từng giai đoạn
Đối với từng doanh nghiệp để đổi mới công nghệ mang lại hiệu quả thì phải trực tiếp đánh giá công nghệ của từng doanh nghiệp, từ đó có những đổi mới công nghệ bằng cách cải tiến và nâng cấp công nghệ hiện có của các doanh nghiệp này Làm vậy sẽ tăng năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời làm giảm sức ép về nguồn vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp của Việt Nam Trong ngành chế biến gỗ, một dây chuyền công nghệ sử dụng nhiều thiết
bị công nghệ khác nhau và một loại thiết bị có thể sử dụng trong nhiều dây
Trang 4chuyền công nghệ khác nhau Vòng đời công nghệ và vòng đời thiết bị không trùng nhau Với cùng một số lượng máy móc, thiết bị nhưng cách bỗ trí dây chuyền, quy trình công nghệ của các công ty sẽ có sự khác nhau
Xuất phát từ thực tế nêu ở trên, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng công nghệ sản xuất và đề xuất giải pháp hoàn thiện tại công ty TNHH Hòa Phát”
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 LI ̣CH SỬ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngoài nước đã có một số nghiên cứu về năng lực công nghệ như: Ngân hàng thế giới, M Fransman…, các nghiên cứu này đi sâu vào nghiên cứu năng lực công nghệ ở tầm vĩ mô (ngành kinh tế, Quốc gia)
Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương (APCTTT), đề cập một số yếu tố đánh giá năng lực công nghệ của các ngành công nghiệp
Trong nước, một số nhà khoa học như: Vũ Cao Đàm, Đặng Mộng Lân, Đặng Ngọc Dinh, Mai Hà, Trần Ngọc Ca… đã có một số nghiên cứu về công nghệ và năng lực công nghệ
Trần Ngọc Ca (2000), đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu và triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam”, đề tài đi sâu
vào nghiên cứu các chính sách và tác động của chính sách đến hoạt động đổi mới công nghệ, hoạt động nghiên cứu và triển khai tại các cơ sở sản xuất
Nguyễn Hoài Giang, Trần Văn Bình, Phạm Minh Việt (2007), Mô hình
dữ liệu trong quản lý, đánh giá công nghệ cho các doanh nghiệp và các nghành kinh tế quốc dân, các tác giả đi vào nghiên cứu đề xuất, cụ thể hóa
phương pháp luận Atlat công nghệ
Tạ Doãn Trịnh “Xác định các chỉ tiêu thống kê để đánh giá chỉ số chung
về năng lực công nghệ”, trong bài tác giả Tạ Doãn Trịnh đi vào giới thiệu và
đề xuất việc lựa chọn các chỉ tiêu thống kê cá biệt về công nghệ
Sở khoa học và công nghệ Phú Thọ (2008) Báo cáo tổng hợp kết quả đề
tài “Điều tra, đánh giá hiện trạng công nghệ của các ngành công nghiệp và
Trang 6đề xuất các giải pháp để nâng cao trình độ công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm công nghiệp của tỉnh Phú Thọ”
Sở khoa học và công nghệ tỉnh Hải Dương (2008), đề tài “Đánh giá trình
độ và năng lực công nghệ của các lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, đề tài tác giả nghiên cứu một số nội dung như: hiện trạng
công nghệ, hiện trạng năng lực công nghệ, cơ sở hạ tầng công nghệ và hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp tỉnh Hải Dương
Nguyễn Võ Hưng với đề tài “Nghiên cứu cơ chế, chính sách khoa học và công nghệ khuyến khích đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam có vốn nhà nước”
Nguyễn Thanh Duy với đề tài “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và triển khai trong hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Bình Định”, đề tài đi vào nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động
nghiên cứu và triển khai với hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu việc ứng dụng kết quả hoạt động nghiên cứu và triển khai vào đổi mới công nghệ
Nguyễn Hoàng Anh (2009), đề tài “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp”, luận văn Thạc
sĩ Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Một số bài báo khoa học có nói đến vấn đề đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp như thực trạng, nguyên nhân, chính sách hỗ trợ cho hoạt động đổi mới công nghệ
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Công nghệ
1.2.1.1 Khái niệm công nghệ
Theo các cách tiếp cận, nhu cầu sử dụng và quan điểm khác nhau nên có rất nhiều khái niệm về công nghệ
Trang 7Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài
người Từ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp, (teknve – Tenkhne) có nghĩa
là kỹ năng, và (λoyoσ –logos ) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu Như vậy thuật ngữ technology (Tiếng Anh) hay technologie (Tiếng Pháp) có ý nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật thường được gọi là Công nghệ học
Ở Việt Nam, cho đến nay công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc (do đó công nghệ thường là tính từ của cụm thuật ngữ như: qui trình công nghệ, thiết
bị công nghệ, dây chuyền công nghệ) Cách hiểu này có xuất xứ từ định nghĩa trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trước đây: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo
ra sản phẩm hoàn chỉnh” Theo những quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ “công nghệ” để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người
Theo F.R.Root, “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”, định nghĩa
này nói lên bản chất của công nghệ là kiến thức, mục tiêu là để áp dụng vào sản xuất tạo ra sản phẩm mới
Theo R Jone (1970), “Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa”, định nghĩa này nói lên bản chất của công nghệ
là kiến thức (cách thức)
Trang 8Ngân hàng thế giới World Bank (1985) định nghĩa “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: thông tin về phương pháp; phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao” Theo Sharif (1986), “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn nhưng kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm vật chất, xã hội và văn hóa Công nghệ tập hợp cả phần cứng và phần mềm, thể hiện ở 4 dạng cơ bản sau:
* Vật thể (vật liệu, công cụ, sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh)
* Con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm)
* Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu…được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…)
* Dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, truyền bá, cơ cấu quản lý…)
Theo Luật khoa học và công nghệ (2000),“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành các sản phẩm”
Luật chuyển giao công nghệ định nghĩa công nghệ là: “giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Trang 9Có nhiều khái niệm về công nghệ, nhưng có thể thấy khái niệm công nghệ được định nghĩa theo hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất, công nghệ là kiến thức (phần mềm), tức là các quy
trình, giải pháp, bí quyết (tri thức);
Quan điểm thứ hai, công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm,
trong đó các quy trình, giải pháp, bí quyết là phần mềm và thiết bị công nghệ
là phần cứng
Trong các khái niệm này tác giả sử dụng khái niệm theo quan điểm thứ hai (công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm), khái niệm được ghi trong Luật khoa học và công nghệ, năm 2000
Mặc dù định nghĩa theo hai quan điểm khác nhau nhưng có những điểm chung sau đây:
- Công nghệ là kiến thức, mà kiến thức thì không phải ai cũng tạo ra được và ai cũng có thể sử dụng nó có hiệu quả như nhau, là kiến thức nên nó
có kiến thức về nguyên lý chung và kiến thức về lĩnh vực cụ thể (vận dụng nguyên lý chung) Trong thực tế phần nguyên lý chung có nhiều người hiểu, biết, song phần kiến thức của lĩnh vực cụ thể là các bí quyết công nghệ, là công nghệ của hãng, đơn vị, cá nhân (tổ chức, cá nhân) nào đó
- Đều dùng chế biến (biến đổi) nguồn lực thành sản phẩm, có nghĩa là nó được con người sử dụng để sản xuất ra sản phẩm, mà đã là sản phẩm thì mục tiêu là để phục vụ cho nhu cầu của con người
1.2.1.2 Các bộ phận cấu thành công nghệ
a Công nghệ hàm chứa trong các vật thể:
Bao gồm: Các công cụ, thiết bị, máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tầng khác Trong công nghệ sản xuất, các vật thể này thường làm thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi (thường gọi là dây chuyền công nghệ),
Trang 10ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ
Có thể gọi thành phần này là phần kỹ thuật (Technoware – ký hiệu T)
b Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong công nghệ:
Bao gồm: kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động…
Có thể gọi thành phần này là phần con người (Humanware – ký hiệu H)
c Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức:
Những qui định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kể cả những qui trình đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con người
Có thể gọi thành phần này là phần tổ chức (Orgaware – ký hiệu O)
d Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong công nghệ:
Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về phần con người và phần tổ chức Ví dụ, dữ liệu về phần kỹ thuật như: Các thông số về đặc tính của thiết
bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao
và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật
Có thể gọi thành phần này là phần thông tin của công nghệ (Inforware – ký hiệu I) Các thành phần của một công nghệ có quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau, không thể thiếu bất cứ thành phần nào Tuy nhiên, có một giới hạn tối thiểu cho mỗi thành phần để có thể thực hiện quá trình biến đổi, đồng thời có một giới hạn tối đa cho mỗi thành phần để hoạt động biến đổi không mất đi tính tối ưu hoặc tính hiệu quả
Trang 11Nếu không hiểu chức năng và mối tương hổ giữa các thành phần của công nghệ, có thể dẫn đến lãng phí trong đầu tư trang thiết bị do các thành phần khác không tương xứng (hay không đồng bộ) khiến trang thiết bị, máy móc không phát huy hết tính năng của chúng
Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện, con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ Bất kỳ một quá trình biến đổi nào cũng có thể mô tả thông qua bốn đặc tính: mức năng lượng phát ra, mức độ phức tạp, các xử lý và công cụ cần dùng, năng suất và mức độ chính xác có thể đạt được Xét trên bốn đặc tính đó, máy móc đạt được kết quả cao hơn con người như: nhanh hơn, mạnh hơn, phức tạp hơn và chính xác hơn
Để dây chuyền công nghệ có thể hoạt động được, cần có sự liên kiết giữa phần kỹ thuật, phần con người và phần thông tin Con người làm cho máy móc hoạt động, đồng thời con người còn có thể cải tiến, mở rộng các tính năng của nó Do mối tương tác giữa phần kỹ thuật, con người, thông tin, nên khi phần kỹ thuật được nâng cấp, thì phần con người, phần thông tin cũng được nâng cấp tương ứng Con người đóng vai trò chủ động trong bất kỳ công nghệ nào Trong công nghệ sản xuất, con người có hai chức năng: điều hành
và hổ trợ Chức năng điều hành gồm: vận hành máy móc, giám sát máy móc hoạt động Chức năng hổ trợ gồm bảo dưỡng, bảo đảm chất lượng, quản lý sản xuất Sự phức tạp của con người không chỉ phụ thuộc vào kỹ năng làm việc mà còn ở từng thái độ của từng cá nhân đối với công việc Con người quyết định mức độ hiệu quả của phần kỹ thuật Điều này liên quan đến thông tin mà con người được trang bị và hành vi (thái độ) của họ dưới sự điều hành của tổ chức
Phần thông tin biểu hiện các tri thức được tích luỹ trong công nghệ, nó giúp trả lời câu hòi “Làm cái gì – know what” và “Làm như thế nào – know how” Nhờ các tri thức áp dụng trong công nghệ mà các sản phẩm của nó có
Trang 12các đặc trưng mà sản phẩm cùng loại của các công nghệ khác làm ra không thể có được Do đó phần thông tin thường được coi là “sức mạnh” của một công nghệ Tuy nhiên “sức mạnh” của công nghệ lại phụ thuộc con người , bởi vì con người trong quá trình sử dụng sẽ bổ sung, cập nhật các thông tin của công nghệ Mặt khác, việc cập nhật thông tin của công nghệ để đáp ứng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học
Phần tổ chức đóng vai trò điều hòa, phối hợp ba thành phần trên của công nghệ để thực hiện hoạt động biến đổi một cách hiệu quả Nó là công cụ
để quản lý: lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự, động viên thúc đẩy
và kiểm soát mọi hoạt động trong công nghệ Đánh giá vai trò của phần tổ chức, người ta coi nó là “động lực” của công nghệ
Mức độ phức tạp của phần tổ chức trong công nghệ phụ thuộc vào mức
độ phức tạp của ba thành phần còn lại của công nghệ Do đó khi thay đổi trong các thành phần đó, phần tổ chức cũng phải được cải tổ cho phù hợp Các thành phần của công nghệ có những mức độ tinh vi (Degrees of sophistication) khác nhau Chẳng hạn đối với thành phần T và H, mức độ tinh vi tăng dần như sau:
- T (phương tiện): thủ công - động lực - vạn năng - chuyên dùng - tự động - máy tính hoá - tích hợp
- H (năng lực): vận hành - lắp đặt - sửa chữa - mô phỏng - thích nghi - cải tiến - đổi mới
Mức độ tinh vi của các thành phần công nghệ có xu hướng tăng lên (bắt đầu từ thành phần T) Điều này dẫn đến mức độ tinh vi của hoạt động sản xuất cũng tăng, do sự đóng góp của các thành phần công nghệ
Trang 131.2.1.3 Phân loại công nghệ
Hiện nay số lượng loại công nghệ nhiều đến mức không thể xác định chính xác, do đó việc phân loại chính xác, chi tiết các loại công nghệ là điều khó thực hiện Tùy theo mục đích, có thể phân loại công nghệ như sau:
Theo tính chất: Có các loại công nghệ sản xuất; công nghệ dịch vụ;
côngnghệ thông tin; công nghệ giáo dục – đào tạo
Theo ISO 8004.2, Dịch vụ có bốn loại:
- Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn
- Tham quan, du lịch, vận chuyển
- Tư liệu, thông tin
- Huấn luyện, đào tạo
Theo ngành nghề: Có các loại công nghệ công nghệp, nông nghiệp, công
nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ vật liệu
Theo sản phẩm: Tùy thuộc vào loại sản phẩm có các loại công nghệ
tương ứng như công nghệ thép, công nghệ xi măng, công nghệ ôtô…
Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, công nghệ hàng loạt,
công nghệ liên tục
Trong phạm vi quản lý công nghệ, một số loại công nghệ được đề cập như dưới đây:
Theo trình độ công nghệ: (căn cứ mức độ phức tạp, hiện đại của các
thành phần công nghệ), có các công nghệ truyền thống, công nghệ tiên tiến, công nghệ trung gian
Các công nghệ truyền thống thường là thủ công, có tính độc đáo, độ tinh xảo cao, song năng suất không cao và chất lượng không đồng điều Các công nghệ truyền thống có ba đặc trưng cơ bản: tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền
Trang 14Các công nghệ tiên tiến là thành quả khoa học hiện đại, những công nghệ này
có năng suất cao, chất lượng tốt và đồng điều, giá thành sản phẩm của chúng hạ Công nghệ trung gian nằm giữa công nghệ tiên tiến và truyền thống xét
Theo góc độ môi trường: Có công nghệ ô nhiễm và công nghệ sạch
Công nghệ sạch là công nghệ mà quá trình sản xuất tuân theo điều kiện giảm ảnh hưởng ô nhiểm đến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô và năng lượng với chi phí hợp lý và kinh tế (Công nghệ thân thiện với môi trường)
Theo đặc thù của công nghệ: có thể chia công nghệ thành hai loại: công
nghệ cứng và công nghệ phần mềm Cách phân loại này xuất phát từ quan niệm công nghệ gồm bốn thành phần trong đó phần kỹ thuật được coi là phần cứng, ba phần còn lại được coi là phần mềm của công nghệ Một công nghệ
mà phần cứng của nó được đánh giá là đóng vai trò chủ yếu thì công nghệ đó được coi là công nghệ cứng và ngược lại
Cũng có quan niệm coi công nghệ cứng là công nghệ khó thay đổi; còn công nghệ mềm là công nghệ có chu trình sống ngắn, phát triển nhanh
Theo đầu ra của công nghệ: có công nghệ sản phẩm và công nghệ quá
trình: Công nghệ sản phẩm liên quan đến thiết kế sản phẩm (thường bao gồm các
Trang 15phần mềm thiết kế sản phẩm) và việc sử dụng, bảo dưỡng sản phẩm (thường bao gồm các phần mềm sử dụng sản phẩm); trong khi công nghệ quá trình để chế tạo các sản phẩm đã được thiết kế (liên quan đến bốn thành phần công nghệ)
Cuối cùng một loại công nghệ mới xuất hiện làm đảo lộn căn bản cách phân loại công nghệ truyền thống, đó là các công nghệ cao (Hightech-Advanced Technology) Theo quan niệm một số tổ chức quốc tế, ngành công nghệ cao phải có đặc điểm như sau:
- Chứa đựng nỗ lực quan trọng về nghiên cứu triển khai (NC&TK – R&D)
- Có giá trị chiến lược đối với quốc gia
- Sản phẩm được đổi mới nhanh chóng
- Đầu tư lớn cùng rủi ro cao
- Thúc đẩy được sức cạnh tranh và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu – triển khai, sản xuất và tìm kiếm thị trường trên qui mô toàn quốc
Như vậy, công nghệ cao là công nghệ có khả năng mở rộng phạm vi, hiệu quả của các công nghệ hiện có nhờ tích hợp các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến
Tiêu chuẩn quan trọng nhất của một công nghệ cao là hàm lượng nghiên cứu – triển khai cao và tỷ lệ chi phí nghiên cứu – triển khai phải cao hơn mức chi phí trung bình cho nghiên cứu – triển khai trong giá bán sản phẩm (ví dụ hiện nay là 11,4% so với mức trung bình là 4%) Các nước phát triển thuộc tổ chức OECD xác định 6 ngành công nghệ cao như sau:
1 Công nghệ hàng không vũ trụ
2 Tin học và thiết bị văn phòng
3 Điện tử và cấu kiện điện tử
4 Dược phẩm
5 Chế tạo khí cụ đo lường
6 Chế tạo thiết bị điện
Trang 161.2.1.4 Vai trò của công nghệ
a Công nghệ và tăng trưởng kinh tế
J.Schumpeter là một trong những nhà kinh tế đầu tiên của thế kỷ 20 đánh giá vai trò quan trọng của công nghệ trong tăng trưởng kinh tế
Từ thế chiến thứ hai đã có những nỗ lực nhằm xác định sự đóng góp của công nghệ vào tăng trưởng kinh tế Một trong những nghiên cứu đầu tiên do R.Solow thực hiện cho thấy chỉ có 10 – 13% sự tăng năng suất ở Hoa kỳ từ năm 1909 đến năm 1949 là do tích tụ tư bản, phần còn lại chủ yếu do tiến bộ công nghệ Một nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của Anh do Denison thực hiện (1968) cho thấy trong giai đoạn 1950 – 1962 chỉ có 10% sự tăng sản lượng/đầu người là do gia tăng về nhân lực và vật liệu, 45% do gia tăng về kiến thức, 45% do nâng cao trình độ cho lực lượng lao động và do kinh tế theo qui mô (Economies of Scale) Sự đóng góp của công nghệ vào tăng trưởng kinh tế nhờ vào đầu tư nhà máy và thiết bị mới, sử dụng nhân lực có
kỹ năng và kiến thức cao hơn, hoặc do cải tiến và đổi mới công nghệ
Theo R.Solow, sự phát triển công nghệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Báo cáo “Technology in the national interest” (1996) của Hội đồng khoa học và công nghệ quốc gia Hoa kỳ nhấn mạnh công nghệ
là động lực của tăng trưởng kinh tế và thành quả của các công ty – góp phần vào tăng trưởng kinh tế, có liên quan chặt chẽ với việc sử dụng công nghệ Do vậy, chính phủ đã thực hiện các biện pháp nhằm hổ trợ cho phát triển công nghệ:
- Hỗ trợ trực tiếp cho R&D và thương mại hoá công nghệ
- Thực hiện các chính sách tài chánh, đầu tư để khuyến khích các hoạt động R&D
- Chính sách công nghệ phải hỗ trợ cho các mục tiêu giáo dục và đào tạo Một số nhà kinh tế cho rằng co thể xác định được các chu kỳ tăng trưởng kinh tế dài hạn được thúc đẩy bởi sự thay đổi công nghệ Theo họ, trong thời
Trang 17kỳ cách mạng công nghiệp, chính sự phát triển của năng lượng hơi nước đã làm các nền kinh tế ở châu Âu và Hoa kỳ phát triển Điện lực và động cơ đốt trong đã đóng góp phần lớn cho sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong giai đoạn giữa thế kỷ 20 Và đến nay, các công nghệ mới như công nghệ thông tin đang tạo nên một làn sóng tăng trưởng kinh tế mới
Sự phát triển của công nghệ thông tin còn kéo theo một tác động quan trọng khác là phổ biến một mô hình tổ chức sản xuất mới Vai trò quan trọng của việc sử dụng công nghệ thông tin thể hiện ở một tỷ lệ đầu tư của các doanh nghiệp Nghiên cứu cho thấy việc đầu tư vào công nghệ thông tin làm tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp được tổ chức lại lao động, nhưng lại làm giảm năng suất chung của các yếu tố sản xuất của những doanh nghiệp không tổ chức lại lao động Như vậy, nếu đầu tư vào công nghệ thông tin được đi kèm với các biện pháp tổ chức lại lao động thì đó sẽ là một công
cụ tốt để doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực của mình Nếu không, người
ta sẽ nhìn thấy máy vi tính khắp nơi, nhưng chỉ có một số trong đó phát huy được hiệu quả Đây chính là biểu hiện của nghịch lý Solow
b Công nghệ và cạnh tranh
Một nội dung quan trọng của Quản trị công nghệ (Management of technology – MOT) là xác định vai trò của công nghệ trong cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế và đưa ra những quyết định về công nghệ hoặc chính sách công nghệ nhằm tạo lợi thế cạnh tranh Do vậy, nhà quản trị cần phân tích và hiểu rõ mối quan hệ giữa công nghệ và chiến lược cạnh tranh hoặc lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp M.Porter, khi phân tích chiến lược cạnh tranh đã tóm tắt tầm quan trọng của công nghệ đối với cạnh tranh: “Sự thay đổi công nghệ là một trong những yếu tố chính thúc đẩy cạnh tranh Nó giữ vai trò quan trọng trong sự thay đổi cơ cấu công nghiệp và trong việc tạo
ra những ngành công nghiệp mới
Trang 18Xét về mặt công nghệ, doanh nghiệp có thể tạo được lợi thế cạnh tranh khi sử dụng AMT (Advanced Manufacturing Technologies) Sau đây là đặc điểm của một số công nghệ thuộc AMT:
- Tự động hoá văn phòng (OA): Có thể được xem là tự động hoá các quá trình của văn phòng bằng các công nghệ thích hợp Tự động hoá văn phòng cho phép:
* Tạo ra nhiều thông tin thương mại
* Quay vòng nhanh các tư liệu thương mại
* Giảm sai sót trong quản lý
* Phục vụ khách hàng tốt hơn
* Nâng cao khả năng ra quyết định…
- Thiết kế có sự trợ giúp của máy tính (Computer Aided Design – CAD): Mục tiêu của CAD là tự động hoá từng bước, tiến tới tự động hoá cao trong thiết kế sản phẩm Lợi ích của CAD:
* Nâng cao năng suất vẽ và thiết kế
* Rút ngắn thời gian kể từ khi nhận đơn đặt hàng đến khi giao sản phẩm
* Cho phép phân tích, thiết kế một cách cụ thể và hiệu quả hơn
* Giảm sai sót trong thiết kế
* Các tính toán trong thiết kế đạt độ chính xác cao hơn
* Dễ dàng tiêu chuẩn hoá trong thiết kế…
- Chế tạo có sự trợ giúp của máy tính (Computer Aided Manufacturing – CAM):
Mô phỏng quá trình chế tạo, lập trình chế tạo sản phẩm trên các máy công cụ tự động (Computer Numerical Control – CNC) Ưu điểm của CAM:
* Tăng năng suất lao động
* Nâng cao chất lượng sản phẩm
* Giảm diện tích sản xuất
* Đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng
Trang 19* Cải thiện điều kiện làm việc của công nhân…
* CAD và CAM tích hợp lại thành hệ thống CAD/CAM Hệ thống này được sử dụng ngày càng hiệu quả trong công nghiệp: ngành da giày, ngành dệt, sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm, chế tạo máy động lực, máy điện, thiết bị điện tử, phương tiện giao thông…
- Công nghệ nhóm (GT): Là một khái niệm sản xuất khi các chi tiết được gia công theo nhóm dựa vào đặc tính kết cấu hoặc qui trình công nghệ GT cho phép:
* Hoàn thiện khâu thiết kế và tăng tính tiêu chuẩn hoá của thiết kế
* Giảm khối lượng công việc trong khâu xử lý vật liệu
* Giảm thời gian chuẩn bị sản xuất, thời gian sản xuất
* Đơn giản hoá việc lập qui trình sản xuất và rút ngắn chu ký sản xuất…
- Hệ thống chế tạo linh hoạt (Flexible Manufacturing System – FMS): Là hệ thống có trình độ tự động hoá cao, được sử dụng để chế tạo nhiều loại chi tiết FMS bao gồm các máy CNC, robot, hệ thống cung cấp chương trình để điều khiển toàn bộ công việc… các ưu điểm:
* Tăng tính linh hoạt
* Xử lý nhiều loại vật liệu
* Giảm giá thành, giảm chi phí cho dụng cụ cắt
* Tăng hệ số sử dụng máy
* Giảm phế liệu
* Giảm mặt bằng sản xuất
* Tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm…
1.2.2 Khái niệm đánh giá công nghệ
1.2.2.1 Đánh giá
Đánh giá là một hoạt động được sử dụng ở rất nhiều lĩnh vực như kinh
tế, xã hội, văn hóa, khoa học và công nghệ, an ninh, quốc phòng… đánh giá được thực hiện trong các hoạt động kiểm tra, xác định, nhận xét… Mục tiêu của đánh giá, tùy thuộc vào tính chất, đối tượng mà xác định các mục tiêu khác nhau, như: đánh giá sự tác động, đánh giá kết quả, đánh giá hiệu quả của
Trang 20chương trình, dự án hoặc chính sách nào đó; đánh giá hiện trạng, đánh giá năng lực… việc đánh giá các đối tượng khác nhau được xác định theo những tiêu chí, phương pháp, không gian, thời gian khác nhau
Đánh giá là công cụ của quản lý được các Quốc gia, chính quyền, tổ chức và cả nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách sử dụng trong hoạt động của mình, đánh giá là việc xem xét một cách có hệ thống và khách quan về hiện trạng một vấn đề, hay một chương trình, dự án nào đó
Mục đích của đánh giá là nhằm xác định tính hợp lý và tính hiện thực của các mục tiêu, tính hiệu quả và khả năng phát triển bền vững của chương trình hoặc dự án Qua đánh giá sẽ cung cấp các thông tin tin cậy, hữu ích và cho phép sử dụng kết quả đánh giá vào việc ra quyết định của các nhà quản
lý (đầu vào của một quá trình ra quyết định), nhà hoạch định chính sách
“Đánh giá không chỉ cung cấp các bằng chứng về hiện trạng về một vấn đề nào đó, mà còn về các mục tiêu của chương trình, dự án có đạt được hay không và tại sao? Đánh giá đi sâu vào giải quyết theo logic nhân – quả”
1.2.2.2 Đánh giá công nghệ
Đánh giá công nghệ khởi nguồn từ một thực tế là không phải mọi đổi mới công nghệ đều mang lại lợi ích cho xã hội Ngày nay, nhiều quốc gia coi việc đánh giá công nghệ như là bước đầu tiên để hoạch định công nghệ nói riêng và hoạch định chính sách kinh tế - xã hội nói chung Tuy vậy, đánh giá công nghệ lại là một công việc còn mới mẻ đối với Việt Nam Vậy, đánh giá công nghệ là gì?
Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về đánh giá công nghệ Dưới đây là một số định nghĩa về đánh giá công nghệ
- Đánh giá công nghệ là một dạng nghiên cứu chính sách nhằm cung cấp
sự hiểu biết toàn diện về một công nghệ hay một hệ thống công nghệ cho đầu vào của quá trình ra quyết định
Trang 21- Đánh giá công nghệ là quá trình tổng hợp xem xét tác động giữa công nghệ với môi trường xung quanh nhằm đưa ra các kết luận về khả năng thực
tế và tiềm năng của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ
- Đánh giá công nghệ là việc phân tích định lượng hay định tính các tác động của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ đối với các yếu tố của môi trường xung quanh
Trang 22
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
- Đề xuất giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công nghệ sản xuất
tại công ty TNHH Hòa Phát
2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công nghệ sản xuất đồ gỗ tại công ty TNHH Hòa Phát tỉnh Bình Dương
- Giải pháp hoàn thiện công nghệ sản xuất đồ gỗ tại công ty TNHH Hòa Phát tỉnh Bình Dương
2.2.2.2 Phạm vi đề xuất giải pháp hoàn thiện công nghệ
- Tập trung giải pháp về kỹ thuật sản xuất sản phẩm bàn ghế, công nghệ sản xuất bàn ghế
Trang 232.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Tìm hiểu loại hình công nghệ sản xuất đồ gỗ
2.3.2 Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá công nghệ
2.3.3 Đánh giá hiện trạng công nghệ sản xuất đồ gỗ tại nhà máy
- Khảo sát phần cứng công nghệ: chủng loại máy móc, vận hành, bố trí dây chuyền
- Khảo sát phần mềm công nghệ: quy trình công nghệ, hướng dẫn, định mức
- Đánh giá hiện trạng công nghệ: tìm hiểu tiêu chí đánh giá hiện trạng công nghệ, xác định bộ tiêu chí đánh giá, đánh giá chủ yếu tập trung phần mềm công nghệ
2.3.4 Đề xuất giải pháp hoàn thiện công nghệ sản xuất đồ gỗ tại công ty TNHH Hòa Phát
- Giải pháp hoàn thiện phần cứng công nghệ
- Giải pháp hoàn thiện phần mềm công nghệ
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp lý thuyết: sử dụng các lý thuyết về đánh giá công nghệ
đã được công nhận
2.4.2 Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực
công nghệ sản xuất đồ gỗ, nhà quản lý tiêu chuẩn, chuyên gia trong ngành chế biến gỗ
2.4.3 Phương pháp đo đạc: đo kiểm tra thu thập số liệu trên máy tại hiện
trường để đánh giá được hiện trạng công nghệ và hoàn thiện chúng tại công ty TNHH Hòa Phát
Trang 24CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 TÌM HIỂU VỀ CÔNG TY TNHH HÒA PHÁT
3.1.1 Khái quát về công ty
- Tên giao dịch: HÒA PHÁT CO.,LTD
- Loại hình doanh nghiệp: công ty TNHH
- Nhà máy sản xuất: Trụ sở chính đặt tại 44C xa lộ Hà Nội, ấp Bình Thắng, xã Bình Thắng, huyê ̣n Dĩ An, tỉnh Bình Dương và một cơ sở đặt ta ̣i Suố i Lồ Ồ, huyê ̣n Dĩ An, tỉnh Bình Dương
- Công ty TNHH Hòa Phát tiền thân là công ty Thương mại - dịch
vụ - sản xuất MEKONG Đồng Nai được thành lập theo giấy phép kinh doanh số 460200974 cấp ngày 01/3/2004 do sở kế hoạch đầu tư tỉnh Bình Dương cấp Công ty TNHH Hòa Phát là thương hiệu đồ gỗ tự nhiên hàng đầu Việt Nam Chuyên sản xuất- kinh doanh- xuất khẩu các loại đồ gỗ nội thất trong nhà, ngoài trời, nội thất văn phòng được làm chủ yếu từ các loại gỗ rừng trồng như: cao su, bạch đàn, thông, tràm Gia công trực tiếp, gián tiếp theo yêu cầu của khách hàng trong
và ngoài nước Mỗi sản phẩm đồ gỗ của công ty được hoàn thiện tỉ mỉ với từng chi tiết, đảm bảo vừa lòng khách hàng Với đội ngũ thợ lành nghề, khéo léo có kinh nghiệm, công ty cam kết mang lại sự hài lòng cho khách hàng
Trang 25- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
- Nguyên tắc tổ chức của công ty:
* Bố trí bộ máy quản lý thống nhất, đảm bảo kế hoạch mục tiêu đã đề ra
* Thống nhất lãnh đạo và quản lý về các mặt kinh tế, kỹ thuật, lao động
* Tổ chức bố trí cán bộ tinh gọn có hiệu quả Mỗi người phải thấy được nhiệm vụ và vị trí của mình
* Quyền lợi và quyền hạn phải đi đôi với nhau Lãnh đạo phải đi đôi với kiểm tra Phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra phải rõ ràng
* Hợp tác nhằm thực hiện nhiệm vụ chung
3.1.2 Thuận lợi và khó khăn
3.1.2.1 Thuận lợi
- Nguyên liệu nhập trực tiếp từ các đối tác trong nước nên chủ động được nguồn hàng, đa dạng về chủng loại, mẫu mã và đơn đặt hàng Chất lượng
được nâng cao, giá cả hợp lý đáp ứng được yêu cầu khách hàng
- Công ty có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất đồ gỗ gia dụng nên có được sự tin cậy của khách hàng trong và ngoài nước Mẫu mã sản phẩm đa dạng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng
Trang 26- Công ty nằm trên trục giao thông Bắc - Nam nên thuận lợi cho việc vận chuyển tiêu thụ hàng hóa thành phẩm
- Tình hình kinh doanh có những chuyển biến tích cực Công ty xuất khẩu nhiều sản phẩm ra nước ngoài, đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, nâng cao
vị trí thương hiệu của công ty
3.1.2.2 Khó khăn
- Nguyên vật liệu đầu vào ngày càng khan hiếm
- Chưa chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới
- Công ty chủ yếu giới thiệu sản phẩm bằng catalogue ở các hội chợ triển lãm trong nước Công ty chưa có showroom trưng bày và giới thiệu sản phẩm mẫu cho các đối tác và khách hàng xem trước khi kí kết hợp đồng Do vậy, số lượng hợp đồng không nhiều
- Hầu hết các mối quan hệ đều có sẵn từ trước hoặc thông qua trung gian
- Chi phí đầu vào cao nhưng giá thành sản phẩm thấp làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty Thị trường xuất khẩu còn hạn chế
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên có tay nghề cao còn ít
- Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu chưa được thành lập
- Thời gian giao hàng cho các đối tác đôi khi còn bị ảnh hưởng bởi phương tiện vận chuyển Chi phí vận chuyển không ổn định do ảnh hưởng của giá nhiên liệu đầu vào thế giới
- Đồng tiền thanh toán chưa linh hoạt chủ yếu phụ thuộc vào USD
- Thiếu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất ở một số khâu Do vậy, để đáp ứng yêu cầu khách hàng phải thuê gia công làm tốn kém chi phí và không chủ động trong sản xuất
Trang 273.1.3 Phương hướng phát triển tương lai
- Tiếp tục phát triển thương hiệu công ty trên thị trường trong và ngoài nước, phát triển sản xuất các mặt hàng chủ lực của công ty
- Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2010- 2015 là chuyển đổi các mặt bằng hiện hữu để thực hiện dự án xây dựng mới cho công ty với diện tích lớn hơn, khang trang hơn góp phần phục vụ tốt hơn cho hoạt dộng sản xuất kinh doanh
3.1.3.2 Mục tiêu ngắn hạn
- Khắc phục những tổn thất do khủng hoảng kinh tế năm 2009 gây ra
- Duy trì hợp tác lâu dài với các đối tác
- Đảm bảo nguồn hàng ổn định cho lực lượng sản xuất
- Khai thác hết tiềm năng của công ty
3.2 THỰC TRẠNG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH HÒA PHÁT 3.2.1 Phần cứng công nghệ
3.2.1.1 Danh mục máy móc, vận hành
a Máy bào hai mặt
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh độ ăn dao
- Điều chỉnh tốc độ băng tải đẩy
- Điều chỉnh khoảng cách giữa mặt bàn với băng tải phù hợp với chiều dày của phôi
Trang 28* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ lưỡi dao trên
- Bật công tắc động cơ lưỡi dao dưới
- Bật công tắc băng tải đẩy
- Đưa phôi vào bàn làm việc theo chiều dày
- Lấy phôi ở đầu kia của bàn làm việc
* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Khi máy dừng hẳn thì lau chùi bàn làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
b Máy cưa rong cạnh (ripsaw)
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh độ nhô lưỡi cưa phù hợp với chiều dày của phôi
- Điều chỉnh tốc độ băng tải đẩy
- Điều chỉnh khoảng cách giữa mặt bàn với băng tải phù hợp với chiều dày của phôi
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ lưỡi cưa
- Bật công tắc băng tải đẩy
- Đưa phôi vào bàn làm việc theo chiều dày
- Lấy phôi ở đầu kia của bàn làm việc
* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Khi máy dừng hẳn thì lau chùi bàn làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
Trang 29c Máy phay mộng ngón (Finger)
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh độ ăn dao của lưỡi phay
- Điều chỉnh độ ăn dao của lưỡi cưa cắt đầu
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ lưỡi phay
- Bật công tắc động cơ lưỡi cưa cắt đầu
- Đưa phôi vào bàn làm việc, bật công tắc xi lanh khí nén của bộ phận kẹp phôi
- Đẩy bàn làm việc để tiến hành phay mộng
- Công việc được tiến hành đến hết ca làm việc
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy (hệ thống khí nén, hệ thống thủy lực,
động cơ máy cắt một đầu)
Trang 30- Bật công tắc tấm đè trên xuống
- Bật công tắc xi lanh thủy lực để ép phôi
- Sau khi ép xong thì lấy phôi ra xếp lên giá chờ keo đóng rắn (tắt các công tắc của: xi lanh thủy lực, tấm đè, tấm đẩy, tấm chặn rồi lấy phôi ra)
- Công việc được tiến hành đến hết ca làm việc
* Sau ca làm việc:
- Tắt nguồn
- Lau chùi bàn làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
e Máy ghép ngang (cảo quay): vận hành bằng tay do hệ động tự động đã bị hỏng
- Đưa các phôi vào theo chiều ghép ngang sau khi đã được tráng keo
- Dùng máy vặn vít xiết chặt các ốc của vam, sau đó dùng xi lanh khí nén nén từ trên xuống để các thanh gỗ tạo thành mặt phẳng và sít vào nhau
- Sau khi ép xong thì ấn nút điều chỉnh tấm đỡ ra, ấn nút cảo quay từ dưới lên để tiếp tục ghép tấm ván mới từ khuôn ép tiếp theo
- Công việc cứ tiếp tục như vậy với các khuôn ép khác
- Tháo tấm ván đã được ghép xong theo quy trình ngược lại
- Công việc được tiến hành đến hết ca làm việc
Trang 31* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Lau chùi bộ phận làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
f Máy cưa vòng lượn (máy lọng)
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Kiểm tra lưỡi cưa
- Khi máy dừng hẳn thì lau chùi bàn làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
g Máy cắt hai đầu
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Kiểm tra hệ thống khí nén
- Căn chỉnh khoảng cách và góc nghiêng hai lưỡi cưa theo yêu cầu của chi tiết cần gia công
Trang 32* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ lưỡi cưa một bên
- Bật công tắc động cơ lưỡi cưa bên còn lại
- Gá phôi vào bộ gá của bàn máy
- Gạt công tắc khí nén giữ phôi
- Đẩy bàn gá phôi vào cắt, xong thì kéo lại, tắt công tắc khí nén và lấy phôi ra xếp lên palet
* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Khi máy dừng hẳn thì lau chùi bàn làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
h Máy cưa đu
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh độ ăn dao của lưỡi cưa
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ
- Đưa phôi lên bàn làm việc (vào bộ gá)
- Tay trái giữ phôi, tay phải nắm tay cầm của cưa, kéo cưa cắt phôi Xong thì đẩy cưa trở lại ví trí ban đầu, lấy phôi ra xếp lên palet
- Công việc được tiến hành đến hết ca làm việc
* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Khi máy dừng hẳn thì lau chùi bàn làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
Trang 33i Máy cưa cắt ngang bàn đẩy
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh độ ăn dao của lưỡi cưa phù hợp với chiều dày của phôi
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ
- Đưa phôi lên bàn làm việc (vào bộ gá) và một tay giữ phôi
- Đẩy bàn làm việc vào để tiến hành gia công, xong thì kéo bàn trở lại vị trí ban đầu, lấy phôi ra xếp lên palet
- Công việc được tiến hành đến hết ca làm việc
* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Khi máy dừng hẳn thì lau chùi bàn làm việc và vệ sinh khu vực thao tác
j Máy bào cuốn
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh độ ăn dao
- Điều chỉnh khoảng cách giữa mặt bàn với băng tải phù hợp với chiều dày của phôi
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ
- Bật công tắc băng tải đẩy
- Đưa phôi vào bàn làm việc theo chiều dày
- Lấy phôi ở đầu kia của bàn làm việc
Trang 34- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh độ ăn dao
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ
- Đưa mặt ghế vào bộ gá của máy
- Ấn công tắc bào từ sau ra trước
- Ấn công tắc bào từ trước ra sau (do hệ thống bào tự động đã hỏng)
- Lấy phôi ra xếp lên palet
* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Vệ sinh bàn làm việc và khu vực thao tác
l Máy tupi hai trục
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ 1
- Bật công tắc động cơ 2
- Đưa phôi vào máy tiến hành gia công
- Tiếp tục với phôi khác
Trang 35* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Vệ sinh bàn làm việc và khu vực thao tác
m Máy phay chép hình hai trục (công ty dùng để phay chân ghế các loại)
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra toàn bộ cơ cấu của máy
- Kiểm tra hệ thống hút bụi
- Điều chỉnh tốc độ cắt
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ lưỡi phay 1
- Bật công tắc động cơ lưỡi phay 2
- Cho phôi vào Khuôn, đẩy phôi vào phay
- Lấy phôi ra bên kia máy và xếp lên palet
* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Vệ sinh bàn làm việc và khu vực thao tác
n Máy khoan trục đứng một mũi
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra cơ cấu của máy
- Điều chỉnh độ sâu của mộng
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ
- Cho phôi vào bộ gá, dùng tay kéo tay kéo của máy để gia công
- Lấy phôi ra cho lên chồng và cho phôi khác vào gia công
Trang 36* Sau ca làm việc:
- Tắt máy
- Vệ sinh máy và khu vực thao tác
o Máy khoan trục đứng hai mũi
* Trước khi vận hành:
- Kiểm tra cơ cấu của máy
- Điều chỉnh độ ăn sâu của mũi khoan
- Điều chỉnh khoảng cách hai mũi khoan theo yêu cầu khoảng cách của hai mộng
* Trong khi vận hành:
- Bật công tắc nguồn
- Bật công tắc động cơ
- Cho phôi vào bộ gá, dùng tay kéo tay kéo của máy để gia công
- Lấy phôi ra cho lên chồng và cho phôi khác vào gia công