1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch

77 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng xuống cấp và nguyên nhân xuống cấp của cây xanh trong khu di tích lịch sử Côn Sơn .... Giá trị nhân văn của cảnh quan khu di tích Côn Sơn Khi cái ăn, cái mặc không còn là vấn

Trang 1

Bộ Giáo Dục và đào tạo Bộ Nông nghiệp và PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

====== ======

NGUYỄN THỊ NHƯ HOA

CẢNH QUAN KHU DI TÍCH CễN SƠN VÀ BIỆN PHÁP DUY TRè TÍNH ỔN ĐỊNH CẢNH QUAN ĐỂ

PHỤC VỤ LỄ HỘI, DU LỊCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực

sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư.Tiến sĩ Ngô Quang Đê

Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các giải pháp kĩ thuật lâm sinh, cảnh quan, quản lí, tổ chức đưa ra xuất phát từ thực tiễn, dựa trên kiến thức học được từ trường lớp và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và công nhận bởi “ Hội Đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Lâm học ”

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Trang 3

Luận văn này được hoàn thành tại trường Đại học lâm nghiệp theo chương trình đào tạo cao học Lâm nghiệp hệ chính quy, khóa học 2009 - 2011

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn thạc sỹ này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và các thầy,

cô giáo Trường Đại học lâm nghiệp, các bạn bè và địa phương nơi tôi thực hiện nghiên cứu Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ có hiệu quả đó

Trước tiên, tôi xin đặc biệt cảm ơn GS.TS Ngô Quang Đê là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn Khoa Sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sỹ

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Tác giả luận văn

Trang 4

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Nghiên cứu về rừng nhiệt đới và cảnh quan rừng Việt Nam 2

1.2 Giá trị nhân văn của cảnh quan khu di tích Côn Sơn 3

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 Mu ̣c tiêu nghiên cứu 8

2.2 Đối tươ ̣ng nghiên cứu 8

2.3 Pha ̣m vi nghiên cứu 8

2.4 Nô ̣i dung nghiên cứu 8

2.5 Phương pháp nghiên cứu 8

2.5.1 Quan điểm phương pha ́ p luận 8

2.5.2 Ngoa ̣i nghiê ̣p 10

2.5.3 Nội nghiê ̣p 12

2.6 Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững khu hê ̣ thực vâ ̣t và ca ̉ nh quan di tích li ̣ch sử côn sơn 12

2.6.1 Giải pha ́ p về kĩ thuật 12

Trang 5

2.6.3 Gia ̉i pháp vể tổ chức, quản lý 12

2.6.4 Giải pháp về tăng cường đầu tư tài chính và khoa học kĩ thuật 12

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI - VĂN HÓA CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 13

3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên 13

3.1.1.Vi ̣ trí đi ̣a lí 13

3.1.2 Đi ̣a hình 13

3.1.3 Khi ́ hậu 14

3.1.4 Thủy văn 14

3.1.5 Điê ̀u kiê ̣n đất đai 14

3.2 Điều kiê ̣n xã hô ̣i 16

3.2.1 Cơ cấu tổ chức 16

3.2.2 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội 16

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

4.1 Thực vật trong khu vực nghiên cứu 18

4.1.1 Chùa Côn Sơn (Chùa Hun) 18

4.1.2 Giếng Ngọc 20

4.1.3 Am Bạch Vân (Bàn cờ tiên) 21

4.1.4 Thạch Bàn (Suối Côn Sơn) 23

4.1.5 Đền thờ Nguyễn Trãi 25

4.1.6 Đền Thanh Hư 26

4.1.7 Hồ Côn Sơn 27

4.2 Hiện trạng môi trường sinh thái 28

4.2.1 Môi trường đất 28

4.2.2 Nguồn nước 29

4.2.3 Môi trường không khí 29

4.2.4 Hệ sinh thái 29

Trang 6

4.4 Như ̃ng tác đô ̣ng ảnh hưởng đến cảnh quan khu di tích 30

4.5 Kết quả điều tra thực vật trong OTC 30

4.5.1.Tổ thành tầng cây cao 30

4.5.2 Sinh trưởng tầng cây cao 34

4.5.3 Kết quả điều tra tái sinh 35

4.6 Danh mục các cây cổ thụ và cây di tích 38

4.6.1 Danh lục cây cổ thụ 39

4.6.2 Danh lục cây di tích 41

4.7 Cảnh quan khu vực nghiên cứu 41

4.7.1 Sơ đồ hiện trạng cảnh quan khu di tích côn sơn 41

4.7.2 Đánh giá tính đa dạng sinh học trong khu di tích 43

4.7.3 Đánh giá tính hợp lý của cảnh quan trong khu di tích Côn Sơn 45

4.7.4 Tình trạng xuống cấp và nguyên nhân xuống cấp của cây xanh trong khu di tích lịch sử Côn Sơn 47

4.7.5 Đề xuất cải thiện cảnh quan và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan phục vụ lễ hội du lịch một cách bền vững 52

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Kí hiệu Viết đầy đủ

Trang 8

TT Tên bảng Trang 4.1 Tổ thành tầng cây cao theo vị trí địa hình nghiên cứu 31

4.2 Tổ thành cây cao theo hướng địa hình nghiên cứu 32

4.3 Tổng hợp tổ thành tầng cây cao ở khu vực nghiên cứu 33

4.4 Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng tầng cây cao 34

4.5 Tổ thành cây tái sinh khu vực nghiên cứu 36

4.6 Mật độ và chất lượng cây tái sinh 37

4.7 Phân cấp chiều cao và cây tái sinh có triển vọng 38

4.8 Danh mục các cây cổ thụ 40

4.9 Danh mục các cây di tích 41

Trang 9

TT Tên hình Trang 4.1 Chùa Côn Sơn 18

4.2 Sân chùa Hun 18

4.3 Cây Đại cổ thụ hơn 600 tuổi tại chùa Error!

Bookmark not defined 4.4 Giếng Ngọc 21

4.5 Bàn cờ tiên (Am Bạch Vân) 23

Bookmark not defined

Trang 11

MỞ ĐẦU

Côn Sơn – Kiếp Ba ̣c là hai di tích li ̣ch sử nổi tiếng của huyê ̣n Chí Linh tỉnh

Hải dương Khu di tích danh thắng Côn Sơn thuô ̣c xã Cô ̣ng Hòa huyê ̣n Chí Linh

tỉnh Hải Dương, nằm giữa hai dãy núi Phượng Hoàng - Kỳ Lân, cách Hà Nô ̣i khoảng 70km về phía Đông – Bắc

Khu di tích danh thắng này gồm có núi non, chùa tháp, rừng thông, khe suối

và các di tích nổi tiếng gắn liền với cuô ̣c đời của nhiều danh nhân trong li ̣ch sử như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang và đặc biê ̣t là anh hùng dân tô ̣c, danh nhân văn

hóa thế giới Nguyễn Trãi

Toàn bô ̣ khu di tích li ̣ch sử Côn Sơn có diê ̣n tích 1653.8 ha, được chia làm hai

vù ng: vùng bảo tồn đă ̣c biê ̣t và vùng khai thác đă ̣c biê ̣t Ngoài ra còn có vùng đê ̣m

vớ i diê ̣n tích là 4772 ha, bao quanh cả hai khu vực Côn Sơn và Kiếp Ba ̣c

Tuy nhiên, hiê ̣n nay cảnh quan hê ̣ sinh thái đang bi ̣ tác đô ̣ng ma ̣nh mẽ do sự phát triển của kinh tế, xã hô ̣i, văn hóa, tín ngưỡng Diê ̣n tích rừng bi ̣ thu hẹp la ̣i do

bị chă ̣t phá bừa bãi nhằm phu ̣c vu ̣ nhu cầu lợi ích của con người, cảnh quan xung quanh khu di tích bi ̣ xuống cấp và không được quy hoa ̣ch đồng bô ̣, hợp lí Khu cảnh quan di tích Côn Sơn là mô ̣t di sản văn hóa sống, quá trình sử du ̣ng chú ng cùng với tính tất yếu sẽ là quá trình đào thải tự nhiên đã làm cho nó thay đổi

và xuống cấp theo thời gian Xuất phát từ thực tế trên và những yêu cầu cấp bách

bảo vê ̣ và tôn ta ̣o cảnh quan khu di tích Côn Sơn, tôi tiến hành nghiên cứu cảnh quan khu di tích Côn Sơn và các mối quan hê ̣ xung quanh khu di tích nhằm đảm

bảo tính phù hợp về mă ̣t kiến trúc xây dựng cũng như cảnh quan sinh thái cho khu

di tích, từ đó có những biê ̣n pháp bảo vê ̣, duy trì tính ổn đi ̣nh bền vững cho khu vực

́ i đề tài: “Cảnh quan khu di tích Côn Sơn và biê ̣n pháp duy trì tính ổn đi ̣nh

ca ̉ nh quan để phục vụ lễ hội, du li ̣ch.” sẽ giải quyết các yêu cầu trên

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu về rừng nhiệt đới và cảnh quan rừng Việt Nam

Rừng Việt Nam mang đầy đủ đặc điểm cơ bản của rừng nhiệt đới Những nghiên cứu về các hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã được một số tác giả trong và ngoài nước tiến hành từ cuối thế kỷ XIX cho đến nay nhưng còn rất tản mạn, bởi nhiều nguyên nhân, trong đó chiến tranh là nguyên nhân chính

Người đầu tiên nghiên cứu về hệ sinh thái rừng Bắc Bộ là A.Chevalier (1918) Vào năm 1943 P.Maurand đã nghiên cứu “các kiểu quần thể” trong ba vùng Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian Năm 1956, Dương Hàm Hi có công bố

về “Tài nguyên rừng rú Việt Nam” Ngoài ra còn một số công trình khác như: Loeschau (1960), Trần Ngũ Phương (1970.2000)… đã nghiên cứu về rừng Bắc Việt Nam

Rừng là bộ phận quan trọng nhất của sinh quyển trên hành tinh chúng ta Tài nguyên rừng không chỉ mang lại giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn về văn hóa,

xã hội và bản sắc riêng của từng dân tộc, vùng miền Ngoài công năng cung cấp hàng hóa lâm sản, phòng hộ, bảo vệ nguồn nước, cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu thì rừng còn mang lại giá trị về văn hóa cảnh quan cho khu vực đó A.Tsêkhốp nhà văn Nga đã từng nói rằng: “ Rừng và cảnh quan của rừng có thể làm tăng sức khỏe con người, làm mạnh thêm quan niệm về đạo đức” Chính vì vậy, khi cuộc sống con người được nâng cao thì kéo theo mong muốn được hưởng thụ các giá trị về cuộc sống ngày càng lớn, cho nên những vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên được mở ra, các khu di tích lịch sử gắn với rừng được quan tâm, tôn tạo, bảo vệ Những khu danh lam thắng cảnh xây dựng ngày càng nhiều, các khu du lịch sinh thái có mặt khắp mọi nơi như một yếu tố để đáp ứng các nhu cầu của con người

Cảnh quan khu di tích lịch sử là vấn đề hiện nay đang được xã hội rất quan tâm Làm sao có thể duy trì, cải tạo cảnh quan khu di tích mà vẫn đảm bảo yếu tố tự nhiên, không làm phá vỡ cấu trúc lịch sử vốn có của nó Cảnh quan phải phù hợp

Trang 13

với không gian kiến trúc và có chứa đựng đầy đủ ý nghĩa lịch sử, văn hóa của khu

di tích đó

1.2 Giá trị nhân văn của cảnh quan khu di tích Côn Sơn

Khi cái ăn, cái mặc không còn là vấn đề quá lớn với mỗi người dân, khi cuộc sống của chúng ta đang từng ngày, từng giờ được cải thiện, nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần, thì ý thức cần phải bảo vệ, giữ gìn các giá trị di sản văn hóa dân tộc càng được nêu cao và đặt lên hàng đầu

Nằm cách Hà Nội chừng 70km, khu di tích lịch sử Côn Sơn - Kiếp Bạc (huyện Chí Linh, Hải Dương) gắn liền với tên tuổi các anh hùng, danh nhân văn hóa đất Việt như Trần Nguyên Đán, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi

Cái hấp dẫn du khách thập phương trước hết vì Côn Sơn là một vùng danh lam cổ kính nổi tiếng Khoảng 600 năm trước, Nguyễn Phi Khanh (thân phụ Nguyễn Trãi) đã mô tả: Khói đầu non, ráng ngoài đảo, gấm vóc phô bày, hoa dọc suối, cỏ ven rừng, biếc hồng phấp phới Bóng mát để nghỉ, chỗ vắng để ngồi, mùi thơm để ngửi, sắc đẹp để xem

Ngày nay, di tích Côn Sơn được tu tạo và bổ sung thêm nhiều nét mới, khiến phong cảnh càng thêm thơ mộng và huyền diệu Du khách đến Côn Sơn vào bất cứ mùa nào cũng thấy không khí mát lành, bởi nơi đây có tấm thảm thực vật lý tưởng Vào những ngày đầu xuân mưa lất phất, cây cối đua nhau nảy lộc, trời đất Côn Sơn hòa quyện với nhau Đi dưới mặt đất mà tay như với được những áng mây bồng bềnh Leo lên sườn núi, bước chân du khách lẫn trong mây

Đã đến Côn Sơn, du khách không thể không leo lên sườn núi Kỳ Lân thơ mộng Tương truyền, vào một sớm mùa thu, có một số thi nhân rẽ cỏ, vén hoa tìm đường lên núi Trên đường đi, họ nghe như có tiếng nói, cười lao xao từ đỉnh núi vọng xuống Nhưng đến nơi tịnh không một bóng người, chỉ thấy một bàn cờ đang đánh dở Đứng ở đỉnh núi cao giữa bao la đất trời, mọi người cho rằng các tiên đã xuống đây chơi cờ, múa hát, khi thấy người vội bỏ đi không kịp mang theo bàn cờ

Vì thế, đỉnh núi được gọi là Bàn Cờ Tiên

Trang 14

Còn sườn bên phải núi Kỳ Lân, nơi Nguyễn Trãi dựng nhà dạy học, nay vẫn còn dấu tích nền nhà xưa cùng với phiến đá lớn mà nhân dân địa phương thường gọi

là Thạch Bàn, hay còn gọi là hòn đá năm gian (rộng bằng 5 gian nhà), nơi Nguyễn Trãi từng ngồi ngâm ngơ, đọc sách

Quần thể di tích lịch sử – văn hoá – danh thắng Côn Sơn, cụm di tích thờ Phật (chùa Hun) và cụm di tích về danh nhân (đền thờ Nguyễn Trãi), đều có vị trí

và tầm quan trọng đặc biệt; du khách tới đây dâng hương niệm Phật, tưởng nhớ Ức Trai và ngoạn cảnh, tiêu dao, nên có nhiều người là trí giả, văn nhân và đông đảo thầy giáo, học trò Xưa nay, người đời tìm đến Côn Sơn là cuộc tìm về với căn nhà

vũ trụ, nơi hoà hợp tột cùng của âm dương, sơn thuỷ và trời đất Để ở đó, con người được hưởng thụ khí trời trong mát, với hương rừng, gió núi và tiếng ca muôn thuở của suối chảy, thông reo; được đắm mình trong hồn thiêng sông núi, trong cổ tích ngàn năm còn rung động trái tim của muôn triệu con người Côn Sơn là mảnh đất lịch sử lâu đời Hơn một ngàn năm trước, Định quốc công Nguyễn Bặc, thượng thuỷ

tổ của dòng họ Nguyễn Trãi đã lập căn cứ ở đây để đánh sứ quân Phạm Phòng Át, giúp Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước vào năm 968 Trong các cuộc chiến tranh giành và giữ nền độc lập của Tổ quốc, quân dân trong vùng thường lấy rừng núi Côn Sơn làm căn cứ đánh giặc Cùng với Yên Tử, Quỳnh Lâm và Thanh Mai, Côn Sơn là chốn tổ của Thiền phái Trúc Lâm, một Thiền phái mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam Đệ nhất tổ – Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, đệ nhị tổ – Pháp Loa tôn giả và đệ tam tổ – Huyền Quang tôn giả đều đã về đây hoằng dương thuyết pháp, phát triển giáo giới, xây dựng chùa Hun thành chốn tổ đình, một Thiền viện lớn từ thời đại nhà Trần Côn Sơn là mảnh đất có bề dầy văn hoá hiếm có Ở đây, văn hoá Phật giáo, văn hoá Nho giáo và văn hoá Lão giáo cùng tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ, nhưng tất cả đều thấm đẫm bản sắc văn hoá Việt, đều để lại dấu ấn qua mỗi công trình xây dựng, qua từng chi tiết kiến trúc, chạm khắc, qua các bia đá, tượng thờ, hoành phi, câu đối… Văn hoá Lý – Trần, văn hoá Lê – Nguyễn hiển hiện trước mắt mọi người và ở các tầng văn hoá dưới lòng đất khi khai quật khảo cổ học Di sản văn hoá phi vật thể quý giá ở Côn Sơn chứa đựng trong sách

Trang 15

vở, trong các truyền thuyết còn lưu, trong các nghi thức cúng tế, trong các hoạt động lễ hội vô cùng phong phú Cũng hiếm ở đâu như ở Côn Sơn lại có nhiều trí thức, văn nhân, những nhà văn hoá đến thăm, cảm hứng và sáng tạo đến như ở Côn Sơn Đây thực sự đã là nơi vân du, ẩn dật và tu tâm dưỡng tính của các bậc danh nhân, tiêu biểu cho tâm hồn, khí phách, tinh hoa văn hoá Việt Nam ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, cũng như của bao tao nhân mặc khách Trần Nguyên Đán – quan Đại tư đồ phụ chính, nhà thơ, nhà lịch pháp lớn thời Hậu Trần đã về Côn Sơn dựng Thanh Hư Động để lui nghỉ những năm tháng cuối đời Thời Lê sơ, Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi đã nhiều lần, nhiều năm sống, gắn

bó chan hòa cùng thiên nhiên, tạo vật ở Côn Sơn, tìm thấy nơi đây bạn tri âm tri kỷ

và nguồn thi hứng dạt dào Lê Thánh Tông, vị minh quân và là Tao Đàn nguyên súy (thời Lê sơ), Thánh thơ Cao Bá Quát (thời Nguyễn) v.v đều đã đến đây tìm lại dấu vết Ức Trai, vãng cảnh, làm thơ, để lại những thi phẩm giá trị Tháng 2-1965, Hồ Chủ tịch về thăm Côn Sơn Người đã lên thăm Thạch Bàn, Thanh Hư động và đọc văn bia trước cửa chùa Hun, bằng sự trân trọng thiêng liêng và niềm giao cảm đặc biệt đối với cổ nhân Người xưa từng đúc kết: “Núi chẳng cần cao có tiên ắt nổi tiếng Nước chẳng cần sâu có rồng ắt thiêng” Mỗi sự vật, di tích ở Côn Sơn đều lấp lánh ánh sáng của Nguyễn Trãi – Sao Khuê; mỗi địa danh ở Côn Sơn đều in đậm dấu ấn thiêng liêng, áng thi văn, cổ thoại, truyền thuyết ly kỳ và những sự tích bất

hủ của những danh nhân kim cổ Những di tích và tên tuổi các danh nhân, của Trúc Lâm Tam Tổ, đặc biệt là của Nguyễn Trãi, đã nâng tầm vóc Côn Sơn trở thành quốc

tự, thành di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, thành “một cõi đi về” trong đời sống tâm hồn của muôn triệu người dân Việt, kể cả những người sống xa Tổ quốc Cảnh sắc thiên nhiên và con người tạo dựng đã làm cho Côn Sơn thành một “Đại thắng tích” Ở đây, có núi Kỳ Lân và Ngũ Nhạc, với rừng Thông bát ngát, suối chảy

rì rầm, nước hồ trong mát; có Bàn Cờ Tiên, Thạch Bàn, Giếng Ngọc; có chùa Hun, đền Nguyễn Trãi, động Thanh Hư, cầu Thấu Ngọc, có Ngũ Nhạc linh từ… Cũng vì Côn Sơn cảnh vật tốt tươi, “sắc ngàn ráng đỏ, rừng gấm cuốn, cỏ lụa giăng”, chùa chiền cổ bích, am pháp thâm nghiêm, u tịch và tao nhã, nước biếc, non xanh, hữu

Trang 16

tình và hoà hợp, thành miền thắng cảnh làm say đắm hồn người, là nơi con người có thể gửi gắm ước nguyện tâm linh, thoả chí hướng và rung động tâm hồn Cho nên,

từ bao đời nay, mùa trẩy hội, “trai thanh gái lịch đi lại đông như mắc cửi”; bao thi nhân, trí giả tìm về rồi ở đó, nghiền ngẫm và xúc cảm viết nên những trước tác có giá trị sâu sắc, những áng thơ văn tuyệt đẹp Ở đây, Huyền Quang viết kinh, thuyết pháp, làm thơ; Trần Nguyên Đán nghiên cứu nông lịch và viết “Băng Hồ ngọc hác tập”, Nguyễn Phi Khanh viết “Thanh Hư Động ký” và Nguyễn Trãi viết “Côn Sơn ca” cùng nhiều bài thơ xứng là kiệt tác Những năm gần đây, nhân dân Hải Dương, được sự đồng lòng của đồng bảo cả nước, đã tu bổ hàng loạt di tích, đồng thời xây dựng mới nhiều công trình văn hóa lớn như đền thờ Nguyễn Trãi, đền thờ Trần Nguyên Đán, đường lên Ngũ Nhạc v.v làm cho Côn Sơn càng giàu thêm giá trị văn hóa, cảnh sắc càng thêm tráng lệ, tôn nghiêm và ngoạn mục, hấp dẫn nhiều du khách bốn phương

Những công trình như chùa Côn Sơn, đền thờ Nguyễn Trãi, đền thờ quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, Ngũ Nhạc linh từ… trong quần thể Côn Sơn mãi mãi là những chốn thờ tự thiêng liêng, nơi đặt niềm tin nhân thế Vẻ đẹp hùng vỹ mà nên thơ, tráng lệ mà trầm mặc thanh u của cảnh vật do thiên nhiên và con người tạo dựng tại Côn Sơn đang tiếp tục được chăm sóc, tu bổ cho ngày càng tốt tươi, hoành tráng, giàu tiềm năng, ngày càng hấp dẫn du khách thập phương về đây niệm Phật, tưởng nhớ các danh nhân, “nghỉ ngơi chơi ngắm”, nâng cao tri thức và bồi bổ tâm hồn…

Trong những năm gần đây, nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc bảo tồn, tôn tạo, trùng tu, gìn giữ kiến trúc cảnh quan của những khu di tích, lịch sử văn hóa, khu vườn, công viên, cây xanh ở các khu đô thị lớn Quá trình đô thị hóa mở ra các khu công nghiệp đã gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống, vì vậy vấn đề Lâm nghiệp đô thị cần phải được quan tâm đúng mức Cụ thể là trong quá trình tôn tạo, bảo tồn các khu di tích lịch sử, hạng mục cây xanh không thể thiếu cần được chú ý

và quan tâm không kém Khu di tích lịch sử Côn Sơn cũng là một nét văn hóa mà nhà nước và nhân dân đang hết sức quan tâm để bảo vệ, gìn giữ

Trang 17

Khu di tích lịch sử Côn Sơn được quản lí bởi Ban quản lí di tích Côn Sơn và Ban quản lí rừng tỉnh Hải Dương Nơi đây gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân đất Việt như: Trần Nguyên Đán, Huyền Quang, anh hùng dân tộc danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi Ngày nay, Côn Sơn còn lưu giữ được những dấu tích văn hóa thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp Phần cây xanh bao gồm cây gỗ, cây bụi, cây cảnh nhỏ, cây đường viền, thảm cỏ Tuy nhiên do yêu cầu của việc trang trí trong những dịp lễ hội nên nhiều cây đã bị tác động của con người, thêm vào đó là việc bổ sung, thay thế cây xanh không theo quy trình và quy hoạch cụ thể nên dẫn đến tình trạng cấu trúc cảnh quan bị phá vỡ Diện tích khu

di tích Côn Sơn tương đối rộng nhưng số lượng cũng như thành phần loài cây rất nghèo nàn, đơn điệu Loài cây chủ yếu là cây Thông cổ thụ, nhưng cũng đã bị chặt phá nhiều vì mục đích xây dựng và bảo vệ các công trình kiến trúc Ngoài ra tại khu vực còn trồng một số cây như vải, nhãn, si, đa nhưng số lượng không nhiều, cũng như không có quy hoạch cụ thể dẫn đến cảnh quan xung quanh khu di tích thiếu sự liên kết, trông rất đơn điệu, rời rạc Nhiều vị trí gần như không có tầng cây cao mà chỉ toàn bụi rậm và cây dại Các cây di tích, cây cổ thụ đang có dấu hiệu xuống cấp

do cằn cỗi, bị sâu bệnh…Nói chung cảnh quan cây xanh tại khu di tích lịch sử Côn Sơn chưa được quan tâm đúng mức, chưa có quy hoạch đồng bộ nên vấn đề này cần phải nghiên cứu và có biện pháp bảo tồn, tôn tạo lại cho phù hợp với cảnh quan cũng như mục đích sử dụng của con người

Với giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng của người dân Hải Dương nói riêng và nhân dân cả nước nói chung, bên cạnh đó là giá trị tự nhiên gắn liền với các danh lam thắng cảnh cùng với yêu cầu cấp bách bảo vệ hệ sinh thái rừng tự nhiên, đảm bảo nguyên vẹn giá trị văn hóa, lịch sử cho khu di tích Côn Sơn, ngày 18/6/2010 thủ tướng phê duyệt quyết định 920/QĐ-TTg “Quy hoạch tổng thể bảo tồn khu di tích lịch sử văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc”

Trang 18

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 2.1 Mu ̣c tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cảnh quan và tính đa da ̣ng sinh ho ̣c của hê ̣ thực vâ ̣t khu di tích li ̣ch

sử Côn Sơn

Đánh giá tính hợp lí của cảnh quan khu di tích và đề xuất các biê ̣n pháp tác

đô ̣ng nhằm giữ gìn, tôn ta ̣o và phát triển cảnh quan khu di tích li ̣ch sử Côn Sơn

2.2 Đối tươ ̣ng nghiên cứu

Cảnh quan khu di tích li ̣ch sử Côn Sơn, đă ̣c biê ̣t là các cây cổ thu ̣, cây di tích, cây lâm nghiê ̣p chính, cây cảnh ta ̣o nên cảnh quan nhằm phu ̣c vu ̣ cho du li ̣ch, lễ hô ̣i khu di tích Côn Sơn

2.3 Phạm vi nghiên cư ́ u

Đề tài chỉ tâ ̣p trung nghiên cứu cảnh quan khu di tích li ̣ch sử Côn Sơn, còn go ̣i

là vùng bảo tồn đă ̣c biê ̣t với diê ̣n tích là 413.2 ha Đề tài tiến hành nghiên cứu tính phù hợp và giá tri ̣ cảnh quan của khu di tích ảnh hưởng đến sinh thái, văn hóa để có những biê ̣n pháp tác đô ̣ng tích cực nhằm bảo vê ̣, duy trì và cải ta ̣o những nét đe ̣p truyền thống, đâ ̣m đà bản sắc dân tô ̣c

2.4 Nô ̣i dung nghiên cứu

2.4.1 Điều tra quần thể thực vâ ̣t ta ̣i khu di tích li ̣ch sử Côn Sơn

2.4.2 Tìm hiểu tình hình sinh trưởng, phát triển của hê ̣ thực vâ ̣t ta ̣i khu di

tích li ̣ch sử Côn Sơn Tác du ̣ng của hê ̣ thực vâ ̣t với cảnh quan nơi đây

2.4.3 Đánh giá sơ bô ̣ hiê ̣n tra ̣ng cảnh quan ta ̣i khu di tích li ̣ch sử Côn Sơn 2.4.4 Nghiên cứ u và đề xuất những biê ̣n pháp quản lí, chăm sóc, tôn ta ̣o và

bảo vê ̣ cây xanh, cây cổ thu ̣, cây di tích ta ̣i khu vực cũng như phương án quy hoạch cảnh quan cho khu di tích lịch sử Côn Sơn

2.5 Phương pha ́ p nghiên cứu

2.5.1 Quan điểm phương pha ́ p luận

Trang 19

Khu di tích li ̣ch sử Côn Sơn là khu hê ̣ thực vâ ̣t bán nhân ta ̣o Do đó đề tài vâ ̣n

dụng nguyên lý cảnh quan sinh thái ho ̣c để nhìn nhâ ̣n mô ̣t cách tổng quan trong viê ̣c điều tra, đánh giá đă ̣c điểm khu thực vâ ̣t di tích li ̣ch sử này

Cảnh quan sinh thái học (hay sinh thái học cảnh quan) do nhà thực vật học nổi tiếng người Đức đề xuất năm 1939 Cảnh quan sinh thái học là sự kết hợp giữa tư tưởng địa lí học và sinh thái học

Cảnh quan là từ Hán Việt (tiếng anh là Landscape), là từ đa nghĩa Theo Từ Hóa Thành (1999) có ba cách lí giải như sau:

- Trên khái niệm thị giác mĩ học, cảnh quan đồng nghĩa với từ phong cảnh, cảnh sắc

- Trên phương diện địa lí, cảnh quan là tổng hợp của các thành phần sinh vật, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu

- Trên phương diện cảnh quan sinh thái học (Landscape ecology), cảnh quan là

sự tụ họp của các hệ sinh thái khác nhau trong một không gian

Cảnh quan sinh thái ho ̣c là khoa ho ̣c nghiên cứu kết cấu, công năng biến hóa

củ a cảnh quan và quản lý, quy hoa ̣ch cảnh quan Cảnh quan sinh thái ho ̣c là môn

học tổng hợp, cơ sở lý luâ ̣n của nó là chỉnh thể luâ ̣n

Để duy trì cảnh quan ổn đi ̣nh cần:

-Tăng cườ ng tính di ̣ chất cảnh quan

- Tăng cườ ng tính đa da ̣ng sinh ho ̣c

- Quy hoạch cảnh quan phù hợp với điều kiê ̣n kinh tế, văn hóa, xã hô ̣i và mục đich sử du ̣ng của con người

Trong tự nhiên, thực vật phong phú về loài, đa dạng về hình thái Chúng tồn tại và phát triển trong các kiểu rừng khác nhau, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong thời gian dài Vì vậy, đặc tính của cây chỉ được phát hiện chính xác và đầy đủ khi tìm hiểu chúng trên quan điểm động với các mối quan hệ nhiều bên

Đối với đề tài này, đối tượng nghiên cứu là các cá thể thực vật mà môi trường sống là khu di tích lịch sử Côn Sơn Các cá thể này có vòng đời khác nhau, kích thước khác nhau, mọc và được trồng hỗn giao với nhiều loài cây trong quần thể bán

Trang 20

nhân tạo Do vậy các cá thể thực vật được nghiên cứu từ tổng thể đến chi tiết, từ quần thể đến các cá thể và được nghiên cứu trên toàn bộ diện tích

Những cây gỗ có tuổi thọ cao, kích thước lớn, những cây đặc biệt như cây di tích được nghiên cứu, xem xét từ hình thái đến sinh trưởng, phát triển của cây, đồng thời kết hợp với những tài liệu liên quan

Tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện thế hệ cây con của những loại cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy tái sinh rừng theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tái sinh bao gồm có tái sinh nhân tạo và tái sinh tự nhiên, đối với khu vực nghiên cứu thì tồn tại cả hai loại tái sinh trên, vì vậy cần phải lựa chọn phương pháp trên những khu điển hình, đặc trưng có cây tái sinh tồn tại

2.5.2 Ngoa ̣i nghiê ̣p

Kế thừa các tài liệu của ban quản lí di tích, ban quản lí rừng tại địa phương cũng như các tài liệu tham khảo về các vấn đề nghiên cứu của các tác giả

Trên cơ sở tài liê ̣u đã thu thâ ̣p được, tiến hành đi khảo sát điều tra ta ̣i một số khu vực Thống kê các loài thực vâ ̣t gă ̣p trong khu hê ̣ đó, đồng thời đánh dấu những cây cổ thu ̣, cây di tích

* Xác đi ̣nh hiê ̣n tra ̣ng cây

- Sử du ̣ng phương pháp điều tra tổng thể, quan sát khi phát hiê ̣n những hiê ̣n tượng đă ̣c biê ̣t của cây trong khu vực như: bi ̣ sâu bê ̣nh ha ̣i, mối nấm, tầm gửi… tiến

hành lấy mẫu riêng, ghi chép, đánh dấu cây trên bản đồ

- Đo đườ ng kính ngang ngực thân cây (D1.3(cm)) bằng thước ke ̣p kính với đô ̣ chính xác tới mm

Trang 21

- Đo chiều cao vút ngo ̣n (Hvn(m)) bằng thước Blumeleiss với đô ̣ chính xác đến dm Chiều cao vút ngo ̣n của cây được xác đi ̣nh từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng

- Đườ ng kính tán lá (Dt(m)) được đo bằng thước dây có đô ̣ chính xác đến dm

- Xác đi ̣nh đô ̣ tàn che: đô ̣ tàn che được xác đi ̣nh theo ô tiêu chuẩn (ÔTC) Tại mỗi điểm trong ÔTC xác đi ̣nh đô ̣ tàn che nếu thấy tán lá tầng cây cao che kín thì điểm đó ghi số 1, nếu không có gi che lấp thì ghi số 0, nếu những điểm còn nghi ngờ thì ghi ½ Ngoài ra đô ̣ tàn che còn được xác đi ̣nh thông qua phẫu đồ rừng (1 ha cần đo 200 điểm, ô tiêu chuẩn là 1000m2 thì phải tiến hành đo 20 điểm cách đều nhau.)

- Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra cây cao theo mẫu dưới đây:

Mẫu điều tra cây tầng cao

STT ÔTC Tên cây D1.3(cm) Hvn(m) Dt(m) Ghi chú

Đ-T N-B

* Điều tra cây tái sinh

Cây tái sinh là những cây gỗ còn non, sống dưới tán từ cây ma ̣ cho đến khi chú ng bắt đầu tham gia vào tầng tán rừng Các cây tái sinh được thống kê theo bảng dưới đây:

Mẫu biểu điều tra cây ta ́ i sinh

STT ÔTC Tên cây Hvn(m) Phân cấp chất lượng Ghi

chú

Tốt TB Xấu

Trong đó:

+ Cây tốt là những cây thân thẳng, không cu ̣t ngo ̣n, sinh trưởng và phát triển

tốt, không bi ̣ sâu bê ̣nh ha ̣i

+ Cây xấu là những cây cong queo, cu ̣t ngo ̣n, sinh trưởng và phát triển kém, bi ̣ sâu bê ̣nh

+ Cây trung bình là những cây còn la ̣i

Trang 22

Phân cấp cây tái sinh theo chiều cao: cao dưới 1m, cao từ 1-2m, cao trên 2m

Xác đi ̣nh nguồn gốc cây tái sinh: tái sinh tự nhiên, tái sinh nhân ta ̣o, tái sinh hạt, tái sinh chối

* Điều tra cây cổ thu ̣, cây di tích

Điều tra, đo điếm ngoài thực đi ̣a, kết hợp phỏng vấn người dân đi ̣a phương

2.5.3 Nô ̣i nghiê ̣p

Trên cơ sở tài liê ̣u có sẵn, sau khi điều tra, so sánh, đối chiếu nếu thấy cần thiết bổ sung thì tiến hành thu thâ ̣p mẫu

Tiến hành so sánh các mẫu thu thâ ̣p được và phân loa ̣i danh mục theo vần ABC

Trong quá trình đánh dấu, thống kê những cây cổ thu ̣, cây di tích, tiến hành xem xét, thu thâ ̣p những mẫu bi ̣ sâu bê ̣nh ha ̣i hay những hiê ̣n tượng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây

- Cấu trúc tổ thành

- Mật đô ̣

- Cấu trúc tầng

- Kết cấu tàn che của rừng

2.5.3.4 Phân tích các nhân tố hình thành cảnh quan ở khu vực nghiên cứu và vai trò của từng nhân tố đó

2.5.3.5 Những ảnh hưởng của con người: sản xuất, sinh hoạt, lễ hội ảnh hưởng đến các nhân tố đó và phương hướng cải thiện

2.6 Đề xuất ca ́ c giải pháp nhằm phát triển bền vững khu hê ̣ thực vâ ̣t và cảnh quan di ti ́ch li ̣ch sử Côn Sơn:

2.6.4 Giải pháp về tăng cường đầu tư tài chính và khoa học kĩ thuật

Trang 23

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI - VĂN HÓA

CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên

3.1.1.Vi ̣ trí đi ̣a lí

Khu di tích Côn Sơn thuộc xã Cộng Hòa huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, cách Hà Nội khoảng 70 km

Khu di tích này nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hải Dương, cách trung tâm tỉnh

khoảng 40km Phía Đông giáp huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Phía Tây giáp

tỉnh Bắc Ninh Phía Nam giáp huyện Nam Sách Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang Phía Bắc và Đông Bắc của Chí Linh là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều, ba mặt còn lại được bao bọc bởi sông Kinh Thày, sông Thái Bình và sông Đông Mai

Côn Sơn - Chí Linh nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Khu vực này có đường giao thông thuận lợi Đường bộ có Quốc lộ 18 chạy dọc theo hướng Đông - Tây qua trung tâm huyện nối liền Hà Nội - Quảng Ninh, đường Quốc lộ 183 nối Quốc lộ 5 và đường 18, đường 37 là đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm huyện đi tỉnh Bắc Giang Đường thuỷ có chiều dài

40 km, đường sông bao bọc phía Đông, Tây, Nam của huyện thông thương với Hải

Phòng, Bắc Giang, Đáp Cầu (Bắc Ninh)

3.1.2 Đi ̣a hình

Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía Bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và

18 xã thuộc huyện Kinh Môn; Côn Sơn có địa hình đồi núi, đây là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày

Địa chất của khu vực bao gồm các kết cấu đá cát, bột kết và các trầm tích đệ

tứ, phân bố rộng ở vùng đồi, đồng bằng thung lũng ven sông suối của huyện

Trang 24

3.1.3 Khi ́ hậu

Côn Sơn Chí Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm 23 °C; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10-12 °C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7 (khoảng 37-38 °C) Lượng mưa trung bình hàng năm 1.463 mm, độ ẩm tương đối trung bình là 81,6%

Do đặc điểm của địa hình, địa mạo nên khí hậu Chí Linh được chia làm 2 vùng:

- Khí hậu vùng đồng bằng phía Nam mang đặc điểm khí hậu như các vùng đồng bằng trong tỉnh

- Khí hậu vùng bán sơn địa chiếm diện tích phần lớn trong vùng, do vị trí địa lí

và địa hình phân hoá nên mùa đông ở đây lạnh hơn vùng khí hậu đồng bằng (Di tích Côn Sơn nằm trong vùng khí hậu này) Đây là vùng mưa ít so với bình quân chung của tỉnh Hạn hán xảy ra thường xuyên và sương muối thường xuất hiện vào

tháng 12 làm ảnh hưởng đến hoa màu và cây ăn quả

3.1.4 Thủy văn

Chí Linh có nguồn nước phong phú bởi có sông Kinh Thày, Thái Bình, Đông Mai bao bọc, có kênh mương trung thuỷ nông từ Phao Tân đến An Bài dài 15,5 km chạy qua những cánh đồng canh tác chính của huyện, có nguồn nước của nhà máy điện Phả Lại cung cấp quanh năm Ngoài ra còn có 33 hồ đập với tổng diện tích tự thuỷ 409 ha, đặc biệt có nguồn nước ngầm sạch trữ lượng lớn

Hệ thống sông suối, hồ tưới tiêu của huyện Chí Linh khá phong phú và chịu ảnh hưởng của hệ thống thuỷ văn sông Phả Lại, lưu lượng nước bình quân trong năm của sông là 286 m3/s, mùa kiệt nhất vào tháng 4 với lưu lượng 181 m³/s, mùa

lũ mực nước cao nhất là 7,2 m cao hơn mức báo động cấp 3 Lũ lụt luôn là nguy cơ tiềm ẩn làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện

3.1.5 Điều kiê ̣n đất đai

Tổng diện tích tự nhiên của Chí Linh là 29.618 ha, chia ra:

- Đất nông nghiệp 9.784 ha, chiểm tỉ lệ 33,03%

Trang 25

- Đất lâm nghiệp 14.470 ha, chiếm tỉ lệ 48,86%

- Đất chuyên dùng 2.467 ha, chiếm tỉ lệ 8,33%

- Đất ở 1.110 ha, chiếm tỉ lệ 3,75%

- Đất khác 1.787 ha, chiếm tỉ lệ 6,03%

Địa hình Chí Linh đa dạng phong phú, có diện tích đồi núi, đồng bằng xen kẽ, địa hình dốc bậc thang từ phía Bắc xuống phía Nam, nhìn chung địa hình chia làm 3 tiểu vùng chính:

- Khu đồi núi bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, càng về phía Bắc đồi núi càng cao, đỉnh cao nhất là Dây Diều cao 616 m, đèo Trê cao 536 m

- Khu đồi bát úp gó lượn sóng xen kẽ bãi bằng, đồi ở đây không cao lắm, trung bình từ 5 - 60 m, có độ dốc từ 10°-15°, xen kẽ là những bãi bằng có độ cao bình quân + 2,5 m

- Khu bãi bằng phù sa mới, phân bố ở phía Nam đường 18, địa hình tương đối bằng phẳng, càng về phái Nam càng trũng, có nơi cốt đất chỉ +0,8m

Đất Chí Linh được hình thành từ 2 nhóm chính, nhóm đất đồi núi được hình thành tại chỗ, phát triển trên các đá sa thạch; nhóm đất đồng bằng do phù sa sông Kinh Thày và Thái Bình bồi tụ Theo tài liệu của Viện nông hoá thổ nhưỡng Việt Nam, đất nông nghiệp được phân loại như sau:

- Địa hình: cao 21%; trung bình 47,2%; thấp 27,5%; trũng 4,3%

- Thành phần cơ giới: đất thịt nhẹ 42,2%; thịt trung bình 28,1%; thịt nặng 29,7%

- Độ chua: cấp I: 74,5%; cấp II: 15%; cấp III: 8%; cấp IV: 2,5%

Đất đai vùng huyện Chí Linh chủ yếu là đất đỏ vàng và đất phù sa Đất phù sa thuận lợi cho việc phát triển trồng lúa nước và hoa màu Tuy nhiên, nhiều nơi trũng hay bị ngập úng, hạn hán nên cần có biện pháp tưới và tiêu úng tốt Chí Linh có một

số sinh vật đặc hữu Thực vật và động vật hoang dã không nhiều và phân bố chủ yếu ở một số xã miền núi nên thuận lợi cho công tác bảo vệ

Trang 26

3.2 Điều kiê ̣n xã hô ̣i:

3.2.1 Cơ cấu tổ chức

Ban quản lý di tích Côn Sơn quản lý trực tiếp khu di tích Côn Sơn bao gồm mảng cây xanh, cây cảnh, cây cổ thụ, cây di tích và các công trình kiến trúc lịch sử thuộc khu di tích Ban quản lý gồm có giám đốc nhiệm vụ quản lý chung khu di tích với các phòng ban cùng với nhiệm vụ chức năng cụ thể như: phòng hành chính, phòng tuyên truyền, phòng bảo quản di tích, phòng sưu tầm thống kê số liệu và đội bảo vệ Hàng năm ban quản lý khu di tích thuê thêm công nhân lao động ngắn hạn

và dài hạn để quét dọn vệ sinh, phục vụ du lịch và mùa lễ hội

Ngoài ra, khu di tích Côn Sơn còn chịu sự quản lý của Ban quản lý rừng Chí Linh, tuy nhiên chỉ Ban quản lý này có nhiệm vụ phòng cháy chữa cháy, bảo vệ rừng, ngăn chặn việc chặt phá rừng, kiểm soát số lượng, chủng loại và trồng bổ sung cây rừng

Như vậy, khu di tích Côn Sơn chịu sự quản lý của Ban quản lý khu di tích Côn Sơn và Ban quản lý rừng Chí Linh Sở dĩ di tích Côn Sơn có hai đơn vị quản lí

vì trong khu di tích có 2 mảng, một là toàn bộ công trình kiến trúc mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng thì sẽ do Ban quản lý di tích Côn Sơn quản lý, còn về mảng cây rừng, cây lâm nghiệp lại do Ban quản lý rừng Chí Linh quản lý Chính vì vậy, trong quá trình quản lý có sự chồng chéo nhau, khâu tổ chức cũng như thực hiện của hai đơn vị thiếu sự thống nhất với làm ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lí, bảo vệ và nâng cao chất lượng khu di tích Côn Sơn

3.2.2 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội

Là khu vực được sự quan tâm của Tỉnh và nhầ nước, thu nhập của cán bộ chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, ngoài ra từ các nguồn khác như từ dịch vụ du lịch cho khách thăm quan

Năm 1995, dân số Chí Linh là 149.169 người, mật độ phân bố không đều giữa các xã và thị trấn trong huyện; 3 thị trấn và các xã Cộng Hoà, Văn Đức, Đồng Lạc, Chí Minh, Tân Dân có mật độ dân số cao

Trang 27

Cơ cấu kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, chiếm 43% tổng giá trị thu nhập; diện tích cây lương thực là 11.060 ha, diện tích trồng cây thực phẩm bình quân đạt 1.048 ha/năm, tổng đàn lợn là 39.386 con/năm, tổng đàn trâu bò bình quân năm đạt 10.268 con/năm Trong 5 năm 1991-1995 sản xuất lương thực của huyện tăng với tốc độ chậm Chăn nuôi chưa tương xứng với trồng trọt Các mặt hàng nông sản còn gặp khó khăn trong tiêu thụ, trình độ thâm canh không cao Một bộ phận nông dân còn thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, năng suất và chất lượng nông sản thấp Huyện có điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trên địa bàn huyện có 41 nhà máy xí nghiệp, cơ sở sản xuất của Trung ương và của tỉnh như Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Công ty lắp máy, Mỏ đất chịu lửa Trúc Thôn Công nghiệp địa phương phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của huyện và chưa thu hút được các nhà đầu tư

Huyện Chí Linh là huyện có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời với khu di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng cảnh nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc, Đền Cao v.v Các công trình kiến trúc đền, chùa, danh thắng là tiềm năng phát triển ngành

du lịch

Đời sống, văn hóa, y tế, giáo dục của huyện đang từng bước được phát triển

Trang 28

Hình 4.1:Chùa Côn Sơn [22]

Hình 4.2: Sân Chùa Hun

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực vật trong khu vực nghiên cứu

4.1.1 Chùa Côn Sơn (Chùa Hun)

Núi Côn Sơn còn gọi là núi Kỳ Lân nằm về phía Đông Bắc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Chân núi Côn Sơn có một ngôi chù cổ tên chữ Hán là Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự, tục gọi là chùa Hun Chùa quay về hướng Đông Nam được xây dựng theo lối cung đình với hồ Bán Nguyệt, Sân Đá, Tam quan, gác chuông, Phật điện, Tổ đường, hòn non bộ Chùa được xây dựng vào trước đời Trần, đến đời Lê được trùng tu và mở rộng rất nguy nga đồ sộ Trải qua biến thiên về lịch sử và thời gian, chùa Côn Sơn nay chỉ còn là một ngôi chùa nhỏ ẩn mình dưới tán lá xanh của các cây cổ thụ

Trang 29

Hình 4.3: Cây Đại cổ thụ hơn 600 tuổi tại chùa

Hun

dạo rộng 3m, xung quanh trồng cây Vải theo hàng với khoảng cách đều nhau.Số lượng cây Thông còn ít, với chiều cao trung bình 12 - 14m, đường kính gốc 60-80cm Sau khi quy hoạch lại chùa, cây Vải đã được trồng bổ sung để thay thế cho những cây Thông đã bị chặt bỏ hoặc bị chết do sâu bệnh, số lượng 11 cây, được trồng theo hàng, khoảng cách khá đều nhau Cây Vải có cùng độ tuổi, chiều cao trung bình 6 - 7m, đường kính gốc 40 - 50cm, số lượng 28 cây

Các cây ở đây đều được phát tỉa tán và khống chế chiều cao đảm bảo cho cây không bị đổ gẫy vào mùa mưa bão, tránh nguy hiểm cho khách du lịch và người dân địa phương, bảo vệ các công trình kiến trúc có giá trị lịch sử

Sân chùa rộng, diện tích cây xanh và tạo bóng lớn Cảnh quan đơn giản, tạo hai tầng thứ rõ rệt: tầng cao (cây Thông), tầng trung (cây Vải) mang lại không khí xanh mát quanh năm

Ngoài ra, trong sân còn trồng 2 cây Đại hoa trắng H = 4m; Dg = 20cm, 1 cây vạn tuế và 1 cây Bồ đề H = 4m; Dg = 8.4cm Cây Bồ đề được trồng bên trái cổng thứ hai của chùa, do đồng chí Nguyễn Tấn Dũng trồng ngày 14/9/2008, đây là cây

Bồ đề được chiết từ cây Bồ đề phật thích ca Đắc đạo tại chùa MaHabodhi Mahavihara do chính phủ Ấn Độ tặng

Tiếp tục đi vào

sân trong có 6 cây Đại

Trang 30

thân chính đã bị gãy đổ, chỉ còn các thân nhánh mọc lên từ gốc đổ, trải qua nhiều giông bão và thời gian khắc nghiệt để thành cây cổ thụ hôm nay Trong số những cây Đại trên

có 2 cây trên 600 tuổi Cây già cỗi, phát triển kém, thế cây nghiêng, thân và gốc xù xì, có biểu hiện của sâu bệnh và mục thân Ban quản lý khu di tích có đưa ra một số biện pháp khắc phục như làm trụ đỡ cây để cây không bị gãy và bật gốc, hạn chế sự tác động bất lợi của khách thăm quan cho cây bằng việc treo biển cảnh báo khách thăm quan Sân trong có 7 cây Thông cổ thụ, H = 10 - 14m; Dg = 60 - 80cm, cây được cắt tỉa cành và khống chế chiều cao, xung quanh sân trồng 12 cây vải, những cây này cũng được trồng theo hàng lối và khoảng cách đều nhau

Sau chùa trồng chủ yếu là cây Vải, số lượng 7 cây, ngoài ra còn có 2 cây Mít Tuy nhiên, các cây này đều phát triển kém, già cỗi, bị sâu bệnh và bị nhiều cây

kí sinh trên thân và cành, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây cũng như ảnh hưởng đến cảnh quan chung của chùa Cũng tại khu vực sân sau của chùa trồng một số cây cảnh như 4 cây Vạn tuế, 1 cây Đa Các cây cảnh này được trồng trong chậu nhưng không được chăm sóc, quan tâm cũng như không được bày trí hợp lý Cây phát triển còi cọc, tán xấu, bị sâu bệnh xâm nhập gây mất mỹ quan chung cho khuôn viên

Nhìn chung, cảnh quan chùa Côn Sơn chủ yếu là công trình xây dựng và đường dạo, cây rừng đã được quy hoạch lại nên số lượng cây đặc biệt là cây thông

đã giảm đi đáng kể, cây trồng thay thế chủ yếu là cây vải Đa số đều là cây cổ thụ được trồng từ rất lâu nên diện tích cây xanh và cho bóng mát là khá lớn Cây cảnh, cây trang trí trong khuôn viên chùa Côn Sơn chưa nhiều, các cây khá đơn giản nên

về tổng thể ngoài ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng thì giá trị cảnh quan không thể hiên được nhiều

4.1.2 Giếng Ngọc

Từ chùa Côn Sơn đi lên các bậc đá khoảng 100m là tới Giếng Ngọc, xung quanh giếng chỉ còn lác đác vài cây Thông nhỡ, H=7-8m; Dg=15-20cm, ngoài ra chủ yếu là cây dại tầng thấp dưới 1m Phía trước sân giếng có trồng 2 cây Đại hoa trắng H=3.5m; Dg=18cm, sau giếng có 1 loại cây gỗ nhỡ, có hoa màu trắng, nhỏ li

Trang 31

ti, mọc thành chùm ở kẽ lá Người dân bản địa gọi đó là cây ba chạc, có tác dụng chữa ngứa rất tốt Loại cây này tự mọc, ngoài giá trị làm thuốc còn có giá trị về cảnh quan như cho hoa, mùi thơm, tán dày tạo nhiều bóng mát cho Giếng Ngọc

Cách đây 10 năm, cây cối quanh Giếng Ngọc đều bị phát quang, giới hạn chiều cao dưới 1m, 10 năm trở lại đây, Ban quản lý di tích mới chỉ đạo giữ nguyên hiện trạng của khu vực, không làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển cũng như tái sinh của hệ thực vật rừng Vì vậy, cây rừng đã bắt đầu có sự phân tầng , diện tích cây xanh đang dần phủ kín khu vực Tuy nhiên, cây rừng vẫn chủ yếu là cây nhỏ và là cây dại không có giá trị về mặt cảnh quan và giá trị về mặt lâm sinh, chủng loại cây nghèo nàn, ngoài di tích Giếng Ngọc ra thì không có đặc điểm gì ấn

Trang 32

thấp, số lượng cây Thông không nhiều, tuy đã được trồng bổ sung một số cây Xà

cừ, Keo, Long não nhưng cây vẫn còn nhỏ, chưa tạo được tầng tán nhiều Xét về sự

đa dạng của hệ thực vật thì đây vẫn là rừng nghèo về loài, về số lượng, cây sinh trưởng, phát triển kém, mật độ che phủ rừng thấp Nguyên nhân là bị nhiều cây dại lấn áp, cạnh tranh về dinh dưỡng và không gian sống Lên cao hơn thì cây Keo, cây

Xà cừ, Long não đã phát triển trưởng thành, khá đồng đều về kích thước, ít bị tác động bởi con người, Htb= 6-8m; Dgtb=25-30cm Dọc đường đi lên Bàn cờ tiên, các bậc đá được cải tạo từ hiện trạng ban đầu vì vậy cây cối và khuôn viên xung quanh không bị can thiệp nhiều, vẫn đảm bảo yếu tố tự nhiên

Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tục gọi là Bàn cờ tiên Ở đây phát lộ nền một kiến trúc cổ, hình chữ Công, đó là dấu tích của Am Bạch Vân Hiện nay, trên Am Bạch Vân có dựng một nhà bia theo kiểu vọng lâu, hai tầng tám mái cổ kính Tại đây du khách có thể nhìn về bốn phía bao quát trong tầm mắt cảnh núi sông hùng vĩ Từ chùa Côn Sơn lên Bàn Cờ Tiên có hàng trăm bậc đá từ nhiều thế

kỉ trước, nay đã được khôi phục gồm trên 600 bậc

Khuôn viên quanh Bàn cờ tiên chủ yếu là công trình xây dựng, chưa có cảnh quan, cây xanh Trước tháp thờ Bàn cờ tiên trồng cây Sanh si và cây Đa, cây còn bé chưa tạo cảnh quan, cây bị sâu bệnh và bị cây khác kí sinh nên cây phát triển kém, tán xấu Tại đây, phần lớn cây Thông đã bị chặt hạ và khai thác nhằm phục vụ cho việc xây dựng công trình Đến nay, số lượng và chủng loại cây vẫn chưa được phục hồi khiến cho khuôn viên mất đi vẻ tự nhiên vốn có cũng như yếu tố cảnh quan không phù hợp với công trình kiến trúc nơi đây Từ Am bạch vân nhìn ra tứ phía chủ yếu là cây keo được trồng bổ sung trong 10 năm trở lại đây, số lượng ít, chất lượng thấp và độ che phủ chưa cao

Nhìn tổng thể Bàn cờ tiên thì ngoài ý nghĩa tâm linh yếu tố cảnh quan không

hề có giá trị lớn, du khách không có cơ hội thăm ngắm cảnh đẹp tự nhiên cũng như những tiểu cảnh nhân tạo do con người tạo nên

Trang 33

Hình 4.5: Bàn Cờ Tiên (Am Bạch Vân) [24]

4.1.4 Thạch bàn ( còn gọi là suối Côn Sơn)

Từ đỉnh núi của Bàn Cờ Tiên đi xuống Thạch Bàn, các bậc đã được xây dựng mới nên đỡ dốc và dễ đi hơn Ở khu vực này, cây chủ yếu là cây Thông, ngoài ra có trồng bổ sung cây Keo, Xà cừ, Long não Cây Thông được trồng từ lâu hiện vẫn giữ được, tạo thành tầng cao nhất, thân cây to, tán rộng Các cây còn lại mới trồng cách đây khoảng 10 năm nên hầu hết đều đã khép tán và tạo thành tầng trung Tầng thấp chủ yếu

là cây dại, phát triển um tùm tạo nên hệ sinh thái đặc trưng cho rừng

Đi dần xuống dưới, số lượng Thông giảm dần, do quá trình vận chuyển vật liệu xây dựng lối đi nên một số lượng lớn Thông đã bị chặt bỏ, sau này đã được trồng bổ sung và có nhiều biện pháp bảo vệ gìn giữ cây rừng nên môi trường sinh thái đã được tái sinh và phát triển rất thuận lợi

Tuy nhiên, có một số cây Thông do quá già cỗi, dẫn đến bị mục thân, gốc dẫn đến cây bị chết và đổ, một số cây khác bị sâu bệnh hoặc bị cháy, đó là những nguyên nhân khiến cho số lượng cây Thông cổ thụ giảm dần Tuy đã được trồng bổ xung khá nhiều cây nhưng ít nhiều cũng làm mất đi nét đặc trưng riêng của núi Côn Sơn (theo truyền thuyết ông trồng Thông, bà trồng Rễ)

Suối Côn Sơn bắt nguồn từ hai dãy núi Côn Sơn và Ngũ Nhạc, dài khoảng 3km, uốn lượn tạo nhiều ghềnh thác kế tiếp nhau rồi đổ ra hồ Côn Sơn Dòng suối hẹp, cây cối um tùm mang dáng vẻ hoang sơ, thơ mộng, Suối Côn Sơn chảy rì rào quanh năm suốt tháng, bên suối có hai tảng đá lớn tương đối bằng phẳng gọi là

Trang 34

Thạch bàn Thạch bàn nhỏ rộng khoảng 70m², mặt thạch bàn có màu son nâu rất đẹp Thạch bàn lớn rộng khoảng 200m² về phía thượng nguồn được gọi là “Hòn đá năm gian”

Tuy nhiên, những năm gần đây, việc khai thác cây rừng bừa bãi, quá trình xây dựng, cải tạo các công trình kiến trúc làm xói mòn đất, kết cấu đất bị thay đổi, ảnh hưởng đến dòng chảy, mạch nước ngầm khiến cho suối Côn Sơn không còn tự nhiên và chảy liên tục nữa Cũng chính sự thay đổi đó cũng khiến cho những thực vật ưa ẩm, ưa bóng cũng không thể tồn tại và phát triển được Thêm vào đó, vì đây

là điểm di tích nên được rất nhiều du khách đến thăm, chính điều này đã khiến cho

hệ thực vật xung quang suối bị tác động khá lớn

Thạch Bàn là dấu tích lịch sử với những truyền thuyết của người xưa truyền miệng lại cho thế hệ sau Cảnh nơi đây chỉ gây sự chú ý và hấp dẫn cho du khách khi có tiếng nước suối chảy róc rách, tuy nhiên hiện tượng này đang mất dần vì khí hậu thay đổi, địa hình đã bị tác động nhiều, thêm vào đó cây rừng cũng không mang lại giá trị cảnh quan cho tiểu cảnh này

Hình 4.6: Thạch Bàn [25]

Trang 35

4.1.5 Đền thờ Nguyễn Trãi

Đi về phía hạ nguồn, theo ven suối Côn Sơn du khách sẽ thấy được đền thờ nền nhà cũ của Nguyễn Trãi Tại đây, cây cối um tùm, xanh tốt quanh năm, tạo nhiều tầng thứ, chủ yếu vẫn là cây dại tầng trung và tầng thấp, tầng cao chính vẫn là Thông, Keo Tiếp tục đi xuống là đền thờ Nguyễn Trãi với một quần thể kiến trúc khá đẹp gồm cầu

đá, cổng đá, tam quan, điện thờ,… Đây là đền thờ Nguyễn Trãi, tọa lạc trên vị trí đắc địa dưới chân núi Ngũ Nhạc, hướng chính là Nam ghé Đông 29°10’ Minh đường của đền nhìn thẳng ra hồ Côn Sơn, nơi có núi Phượng Hoàng và núi Hồ Phóng chầu vào Ngôi đền xây dựng trên diện tích 10.000m² với 15 hạng mục công trình

Xung quanh Đền thờ Nguyễn Trãi được che phủ bởi cây rừng, trong khuôn viên đền được trồng một số cây cảnh, cây trang trí nhằm tạo cảnh quan cũng như tăng tính hài hòa về không gian cho khu đền Các cây đô thị này được trồng và bố trí nhằm tạo sự liên kết giữa công trình kiến trúc với khu rừng nhằm tạo vẻ đẹp tự nhiên cho khu đền nói riêng và toàn cảnh quan nói chung.Dọc theo các bậc đá đi xuống đền thờ Nguyễn Trãi, hai bên lối đi trồng hàng rào Trúc mây xanh tốt quanh năm, lác đác một vài cây Thông cổ thụ được giữ lại sau khi quy hoạch đền thờ Nguyễn Trãi

Ở Côn Sơn, mỗi năm đều diễn ra hai lễ hội lớn: Hội Xuân và Hội Thu Hội Xuân là hội chùa Côn Sơn là để kỷ niệm ngày mất của Thiền sư Huyền Quang diễn

ra vào ngày 16 cho đến ngày 22 tháng giêng Còn Hội Thu sẽ được tổ chức từ ngày

16 đến ngày 20 tháng tám âm lịch để tưởng niệm vị anh hùng Nguyễn Trãi Du khách tham gia lễ hội sẽ được chơi những trò vui dân gian rất đặc sắc

Đền thờ Nguyễn Trãi là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, các lễ hội hàng năm vì vậy khuôn viên của đền thờ được quy hoạch khá quy mô Ngoài việc gìn giữ, trồng bổ sung cây rừng nhằm tạo cảnh quan tự nhiên của rừng núi Côn Sơn thì khuôn viên đền thờ được trồng và sắp xếp rất ấn tượng, đẹp mắt Nhiều cây cảnh, cây hoa, cây trang trí cũng như cây bóng mát có dáng đẹp, màu sắc nổi bật đã được đưa vào khuôn viên đền thờ, tạo không gian mới lạ, đẹp mắt gây ấn tượng cho khách thăm quan du lịch

Trang 36

Hình 4.7: Cảnh quan khu đền thờ Nguyễn Trãi

4.1.6 Đền Thanh Hư

Hình 4.8: Đền thờ Trần Nguyên Đán [26]

Đây là đền thờ Chương túc Quốc thượng hầu – Đại Tư đồ phụ chính Trần Nguyên Đán Năm 2005, nhà nước xây dựng đền Thanh Hư trên nền nhà cũ của ông

Trang 37

giữa rừng tùng bách Côn Sơn đại ngàn Đền Thanh Hư kiến trúc chữ Đinh, đền tựa núi Côn Sơn, Minh Đường nhìn xuống hồ Côn Sơn

Đền Thanh Hư được xây dựng, cải tạo lại nên diện tích khu vực này bị mất hầu hết diện tích cây xanh che phủ Ngoài cây thông trước đền thì xung quang khuôn viên không hề có cây xanh Cây thông trước đền trong tình trạng phát triển kém, do chịu nhiều tác động từ bên ngoài, đặc biệt là ảnh hưởng từ việc xây dựng quy hoạch lại công trình kiến trúc đền Thanh Hư

4.1.7 Hồ Côn Sơn

Trước núi Côn Sơn có 1 hồ nước trong xanh rộng mênh mông, đó chính là hồ Côn Sơn Hồ được tôn tạo năm 1998, có diện tích 43ha, với sức chứa hàng trăm m³ nước Bao quanh hồ là hệ thống đường dạo, cây cảnh

Hồ Côn Sơn là minh đường của Ức trai linh từ, hồ góp phần tô điểm cho vẻ đẹp hư ảo của chốn lâm tuyền Đặc biệt vào những ngày lễ hội, hồ Côn Sơn là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa như: rước nước, đua thuyền, câu cá… thu hút khách thập phương

Hình 4.9: Hồ Côn Sơn [24]

Trang 38

Miếu Ngũ Nhạc gồm có năm miếu đều quay về hướng Nam – nơi có hồ Côn Sơn quanh năm nước biếc, với hệ thống đường bộ hành lên núi đã được tổ chức xây dựng lại Địa hình của miếu chủ yếu là núi dốc, hiểm trở nhưng cảnh quan xung quanh miếu Ngũ Nhạc khá hài hòa và nghiêm trạng, giữ được dáng vẻ và không gian tự nhiên trang trọng Đây là nơi có cảnh quan thiên nhiên kì thú, ngoạn mục, rừng thông xanh bạt ngàn, suối trong róc rách quanh năm suốt tháng, khí hậu trong lành đã thu hút rất nhiều du khách đến thăm quan không chỉ về mặt cảnh quan thiên nhiên mà còn về ý nghĩ tâm linh, tín ngưỡng

Hình 4.10: Miếu Ngũ Nhạc [26]

4.2 Hiện trạng môi trường sinh thái

4.2.1 Môi trường đất

Hiện nay, đất đỏ vàng vùng đồi núi đang bị suy thoái do lớp phủ không còn,

tầng đất màu bị rửa trôi, nghèo dinh dưỡng

Ngày đăng: 01/09/2017, 09:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1:Chùa Côn Sơn [22] - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.1 Chùa Côn Sơn [22] (Trang 28)
Hình 4.3: Cây Đại cổ thụ hơn 600 tuổi tại chùa - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.3 Cây Đại cổ thụ hơn 600 tuổi tại chùa (Trang 29)
Hình 4.4: Giếng Ngọc [23] - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.4 Giếng Ngọc [23] (Trang 31)
Hình 4.5: Bàn Cờ Tiên (Am Bạch Vân) [24] - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.5 Bàn Cờ Tiên (Am Bạch Vân) [24] (Trang 33)
Hình 4.6: Thạch Bàn [25] - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.6 Thạch Bàn [25] (Trang 34)
Hình 4.7: Cảnh quan khu đền thờ Nguyễn Trãi - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.7 Cảnh quan khu đền thờ Nguyễn Trãi (Trang 36)
Hình 4.8: Đền thờ Trần Nguyên Đán [26] - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.8 Đền thờ Trần Nguyên Đán [26] (Trang 36)
Hình 4.9: Hồ Côn Sơn [24] - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.9 Hồ Côn Sơn [24] (Trang 37)
Hình 4.10: Miếu Ngũ Nhạc [26] - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.10 Miếu Ngũ Nhạc [26] (Trang 38)
Bảng 4.2  Tổ thành cây cao theo hướng địa hình nghiên cứu - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Bảng 4.2 Tổ thành cây cao theo hướng địa hình nghiên cứu (Trang 42)
Bảng  4.7 Phân cấp chiều cao và cây tái sinh có triển vọng - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
ng 4.7 Phân cấp chiều cao và cây tái sinh có triển vọng (Trang 48)
Hình 4.11: Cây Đại cổ thụ                                  Hình 4.12: Cây Thông cổ thụ - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.11 Cây Đại cổ thụ Hình 4.12: Cây Thông cổ thụ (Trang 49)
Hình 4.13: Sơ đồ khu di tích Côn Sơn - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.13 Sơ đồ khu di tích Côn Sơn (Trang 52)
Hình 4.14 Thân cây Đại bị mối ăn                    Hình 4.15 Cây Đại bị rêu và địa y kí sinh - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.14 Thân cây Đại bị mối ăn Hình 4.15 Cây Đại bị rêu và địa y kí sinh (Trang 58)
Hình 4.16 Cây Thông cổ thụ bị mục gốc - Cảnh quan khu di tích côn sơn và biện pháp duy trì tính ổn định cảnh quan đểphục vụ lễ hội, du lịch
Hình 4.16 Cây Thông cổ thụ bị mục gốc (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w