DƯƠNG VĂN MINH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI XÃ SƠN KIM 1 HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60.62
Trang 1DƯƠNG VĂN MINH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI XÃ SƠN KIM 1
HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2012
Trang 2DƯƠNG VĂN MINH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI XÃ SƠN KIM 1
HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN HỮU VIÊN
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi truờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội an ninh, quốc phòng Không giống tư liệu sản xuất khác, nếu được sử dụng hợp lý thì trong quá trình sản xuất, đất đai không những không bị bào mòn mà ngày càng tốt lên Sử dụng hợp lý đất đai là yêu cầu cần thiết cho sự PTBV Chỉ có QHSDĐ phù hợp với từng địa bàn cụ thể, đất đai mới đáp ứng được yêu cầu trên
QHSDĐ là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức SDĐ đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất, tổ chức SDĐ như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất và nâng cao hiệu quả SDĐ, hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường
Để đảm bảo cho sản xuất nông, lâm nghiệp tăng trưởng liên tục, lâu dài và bền vững cho NTMN, đòi hỏi công tác QHSDĐ nông lâm nghiệp phải được chú trọng
và quan tâm hàng đầu Công tác QHSDĐ phải là bước đi đầu tiên có tính chất hoạch định cho PTSX nông lâm nghiệp Do đó cần phải có sự phối kết hợp, xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng nhằm phát huy tối đa những mặt thuận lợi của ĐKTN, KTXH, phù hợp với nguồn lực, với tâm tư nguyện vọng, phong tục tập quán của người dân địa phương Để QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp có hiệu quả, cần thực hiện từ những đơn vị hành chính nhỏ nhất như cấp xã bởi cấp xã có vị trí quan trọng trong việc ổn định xã hội và phát triển kinh tế trên địa bàn nông thôn Việt Nam nói chung và miền núi nói riêng Trên một đơn vị xã thường tồn tại song song nhiều dân tộc anh
em khác nhau cùng sinh sống và làm ăn Mỗi dân tộc đều có tâm lý, phong tục tập quán, trình độ phát triển, văn hoá, kinh nghiệm sản xuất khác nhau Vì vậy việc tổ chức, quản lý sao cho phù hợp với từng địa bàn cụ thể, đảm bảo SDĐ đai, tài nguyên hợp lý, có hiệu qủa, bền vững và an toàn sinh thái chính là nhiệm vụ của QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 4Trong phát triển KTXH của NTMN nước ta, QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp cấp xã có sự tham gia của người dân giữ một vị trí hết sức quan trọng nhằm giúp người dân có thể tự QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp của mình một cách hợp lý,
có hiệu quả, trên nguyên tắc bền vững, bảo đảm hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và MTST Tuy nhiên, có thể thấy QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp cấp
xã hiện nay vẫn còn một số tồn tại về phương pháp tiếp cận, công tác điều tra cơ bản và cơ sở thực tiễn của đất đai
Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta gần đây như: Nghị quyết 26/TƯ về nông nghiệp ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Khoá X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Thông báo 238-TB/TƯ ngày 7/4/2009 của Ban bí thư về chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa; Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Thông tư số 07/2010/TT-BNN ngày 8/2/2010 của Bộ Nông nghiệp & PTNT V/v: Hướng dẫn quy hoạch PTSX nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, đã tác động một cách đáng kể đến hoạt động QHSDĐ, PTSX nông, lâm, nghiệp trong phạm vi cả nước
Sơn Kim I là một xã trung du miền núi của huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, có diện tích tự nhiên 22.261,97 ha, Việc SDĐ đai của đại bộ phận nhân dân trong xã là nông, lâm, ngư nghiệp theo phong tục tập quán canh tác thuần nông lâu đời, thực tiễn SDĐ nông, lâm, ngư nghiệp tại Sơn Kim còn manh mún và chưa đồng bộ Bên cạnh
đó, việc người dân chưa nhận thức đầy đủ về luật đất đai, luật bảo vệ và phát triển rừng, SDĐ theo phong tục, sở thích, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn nhiều lúng túng, người dân thiếu vốn sản xuất và canh tác không đúng kỹ thuật đã ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả SDĐ và môi trường Vì vậy, việc quy hoạch phân bổ lại quỹ đất trên địa bàn xã sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, PTSX nông lâm nghiệp đáp ứng được yêu cầu phát triển KTXH, nâng cao đời sống nhân dân và cân đối được nhu cầư SDĐ đai là hết sức cần thiết Cho nên việc xác định lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi, các hệ thống biện pháp canh tác chưa hợp lý dẫn đến năng
Trang 5suất, chất lượng chưa cao, đồng thời việc bảo vệ môi trường sinh thái chưa thực sự
ổn định, bền vững
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu
đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã Sơn Kim I, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh”
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học của QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp trên thế giới
Mô hình SDĐ đầu tiên trên thế giới là du canh, chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian bỏ hoá (Conklin, (1957) Du canh được xem là PTCT cổ xưa nhất nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng cuộc cánh mạng về kỹ thuật và trồng trọt Mãi đến gần đây du canh vẫn còn được vận dụng trên các rừng Vân Sam ở Bắc Âu (Cox và Atkinss (1979); Russell (1968); Ruddle và Manshard (1981) Mặc dù hạn chế nhiều mặt về MTST, song phương thức này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới Về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi vì du canh được coi như là sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân chính gây ra xói mòn và thoái hoá đất
Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới Taungya được xem như một dấu hiệu báo trước cho các phương thức SDĐ sau này (Nair, 1978) Theo Blanford thì nguồn gốc của phương thức này được xuất phát từ một địa phương, để chỉ phương thức du canh Sau đó được miêu tả về phương pháp phục hồi rừng ở Miến Điện vào những năm 1850 - 1858, do nhà tư bản Anh Quốc Dictaich Brandis vận dụng trong nghiên cứu tái sinh rừng Tếch (Blanford, 1958)
Từ khi Dictaich Brandis cho những người dân sở tại (làm thuê) được tiến hành trồng cây nông nghiệp ngắn ngày, kết hợp dưới rừng Tếch, ông đã rút ra kết luận là
có thể trồng rừng Tếch với giá rất thấp Sau đó 2 thập kỷ, HTCT Taungya được cải tiến sửa đổi và dần dần được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như
là một hệ thống SDĐ có hiệu quả kinh tế lẫn MTST Theo thông báo của FAO năm
1990, đến nay đã có tới 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này
- Hệ thống Taungya được mọi người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở một số nước các tên gọi được biểu thị cho sự đặc biệt của phương thức du canh, ở
Trang 7Inđônêxia người ta gọi là Tumbansang, ở Philippin là Kaigining; ở Malayxia là La dang; ở Srilanka là China Theo Von Hesmen (1966; 1970) và King (1979), hầu hết các rừng trồng ở vùng nhiệt đới đều được hình thành từ những phương thức này, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Phi
Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ra đạo luật SDĐ đai vào năm 1929, tiếp theo là xây dựng KHSDĐ đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin Kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí
Năm 1966 Hội đất học và Hội nông dân học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng QHSDĐ Tại Đức tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “Khái niệm về SDĐ”, đây được coi là
lý thuyết sinh thái về QHSDĐ dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính
đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh Từ năm 1967 Hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về PTNT và QHSDĐ Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nhỏ cũng như quy hoạch CSHT, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại Rome (Italia) và Geneve (Thuỵ sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập đến các phương pháp cùng tham gia trong quy hoạch cấp vi mô
Năm 1997, Gilmour đã phân biệt 2 loại tiếp cận, đó là tiếp cận kinh điển (classical approach) và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm (people’s centered approach) Những nghiên cứu của Ông về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal chứng tỏ những ưu thế về tiếp cận mới trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cộng đồng
Những kết quả phân tích HTCT tại Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ đã xác nhận rằng phân tích HTCT là một công cụ quy hoạch, lập KHSDĐ lâm nghiệp cấp địa phương Năm 1990, Luning đã nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ Năm 1994, FAO đã công bố quy trình kết hợp đánh giá đất đai
Trang 8với phân tích HTCT cho QHSDĐ (LEFA) Theo Erwin năm 1999, phân tích HTCT là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại HGĐ để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu SDĐ hiện tại và phương pháp SDĐ mới, đánh giá phương án SDĐ khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án một cách tốt nhất Việc tìm tòi các giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục tình trạng thiếu hụt về lượng ngũ cốc đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu giải pháp SDĐ bền vững Một trong những nghiên cứu thành công là tìm ra hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng ổn định bền vững trên đất dốc đã được Trung tâm đời sống nông thôn ở Bapstit Mindanao Philippin tổng kết hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay là mô hình SALT1, SALT2, SALT3, SALT4 đã và đang được áp dụng
Vào năm 1990, khi nghiên cứu HTCT, FAO đã xuất bản cuốn "Phát triển HTCT" (Farming system development) Công trình đã chỉ rõ phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, đã không phát huy được tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn Thông qua nghiên cứu
và thực tiễn, ấn phẩm đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới đó là phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân, nhằm phát triển hệ thống trang trại trong cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững
Về phương pháp luận đã sử dụng đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân vào việc nghiên cứu các HTCT Theo Robert Chambers, các cách tiếp cận chủ yếu là:
- Tiếp cận Son deo của Peter Hildebrand (Hildebrand, 1981)
- Tiếp cận "nông thôn - trở lại - về nông thôn" của Robert Rhoades (Rhoades, 1982)
- Cách sử dụng cụm kiến nghị của L.W.Harrington (1984)
- Cách tiếp cận tài liệu của Robert Chambers: "Nghiên cứu nông nghiệp cho nông dân nghèo"
- Cách tiếp cận "chẩn đoán và thiết kế của ICRAF", (Raintree)
- Chương trình nông nghiệp quốc tế - bản phân tích theo vùng các hệ canh tác của trường Đại học Cornel (Garrett và cộng sự, 1987)
Trang 9Nhìn chung, các cách tiếp cận đó đều xem xét đánh giá nhanh như một quá trình học tập liên tục và đang tiếp diễn, qua đó các kết quả của mỗi giai đoạn đều được sử dụng để đánh giá lại các vấn đề và các biện pháp đã được dự kiến Nhiều biện pháp điều tra và phỏng vấn được xây dựng đến các cách tiếp cận đó
Về mặt phương pháp, bản hướng dẫn quan tâm tới các vấn đề sau:
- Cung cấp các chỉ dẫn để xây dựng một khung cảnh đáng tin cậy nhằm tiến hành phỏng vấn
- Tiếp thu thông tin qua các phạm vi quen thuộc, đặc biệt là các mặt cân, đo và ước tính thời gian
- Tạo nên việc liên hệ tốt đối với người phải trả lời trước khi đi vào các vấn đề
tế nhị
- Khuyến khích người được hỏi tham gia thảo luận về các lĩnh vực quan trọng đối với họ
- Thảo luận các kết quả trong suốt quá trình phỏng vấn cùng với tổ
- Kiểm tra thông tin, quan sát và sử dụng các kỹ thuật lấy mẫu
Thực ra "sự tham gia" đã xuất hiện và đưa vào từ vựng của RRA từ giữa thập kỷ 70
- Năm 1985 tại hội nghị RRA ở đại học Khon Kean (Thái Lan) từ "sự tham gia/ người tham gia" được sử dụng với sự tiếp tục của RRA
- Đến thời điểm 1987 - 1988 người ta chia phương pháp RRA ra làm 4 loại sau: + RRA cùng tham gia (Participatory RRA)
+ RRA thăm dò (Exploratory RRA)
+ RRA chủ đề (Topiacal RRA)
+ RRA giám sát (Monitoring RRA)
Trong đó cùng tham gia là giai đoạn chuyển đổi đầu tiên sang PRA Cũng trong thời điểm 1988, tại hai địa điểm trên thế giới cũng thực hiện hai chương trình phát triển nông thôn, trong đó PRA cũng được tham gia sử dụng tương tự như RRA (1) Ở Kenya, Văn phòng môi trường quốc gia hợp tác với Đại học Clack thực hiện PRA ở Mbuasayi, một cộng đồng ở huyện Machakos Một kế hoạch quản lý tài
Trang 10nguyên cấp thôn, bản được xây dựng tháng 9/1988 Sau đó người ta mô tả RRA này như một PRA và đưa ra phương pháp trong hai cuốn sổ tay hướng dẫn
(2) Chương trình hỗ trợ phát triển nông thôn Agkhan (Ấn Độ), bắt đầu sử dụng PRA, có sự tham gia của người dân
Như vậy PRA được hình thành vào cùng một thời điểm tại Kenya và Ấn Độ
Từ năm 1990 - 1991, cuộc bùng nổ sử dụng PRA tại Ấn Độ vào các chương trình dự án phát triển nông thôn, LNXH và các nước khác ở Châu Á, Châu Phi, các
dự án phát triển nông thôn như: Thái Lan, Trung Quốc, Nepal, Philippin
Đến năm 1994 đã có hai cuộc hội thảo quốc tế về PRA tại Ấn Độ, đến nay đã
có hơn 30 nước đã và đang áp dụng PRA vào phát triển các lĩnh vực như:
+ Quản lý tài nguên thiên nhiên
Từ năm 1955 - 1975, công tác điều tra phân loại đã được tổng hợp một cách
có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc Nhưng đến sau năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất Xung quanh chủ đề phân loại đất
đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994 ) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết
Trang 11cho việc SDĐ, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác SDĐ Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và SDĐ đai một cách có hiệu quả trong cả nước Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu ứng dụng Cấp vi mô thực chất đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau
Tác giả Nguyễn Xuân Quát trong công trình “SDĐ tổng hợp và bền vững” (1996) đã phân tích tình hình SDĐ đai cũng như mô hình SDĐ tổng hợp bền vững,
mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam Đồng thời đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình SDĐ tổng hợp bền vững
Năm 1996, công trình QHSDĐ nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta của tác giả Bùi Quang Toản đã đề xuất SDĐ nông nghiệp vùng đồi núi
và trung du Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ LNXH của trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống SDĐ và
đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật SDĐ bễn vững trong điều kiện Việt Nam Trong đó, các tác giả đã đi sâu phân tích về:
1985 và 1995 Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành lâm nghiệp đã phân chia đất đai toàn quốc thành 9 vùng sinh thái lâm nghiệp (vùng Tây Bắc, vùng Trung tâm Bắc
bộ, vùng Đông Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ, vùng Nam Trung bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ, vùng Tây Nam bộ)
Công tác QHSDĐ trên quy mô cả nước giai đoạn 1995 - 2000 đã được Tổng cục Địa chính xây dựng vào năm 1994 Trong đó việc lập kế hoạch giao đất nông
Trang 12nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới Báo cáo đánh giá tổng quát hiện trạng SDĐ và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các địa phương, các ngành thống nhất triển khai công tác quy hoạch
và lập KHSDĐ
Phương pháp tiếp cận nông thôn có người dân tham gia được đề cập trong chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của trường Đại học Lâm nghiệp Các tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình (1997) đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn tài liệu với những vấn đề chính như sau:
- Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình tham gia
- Các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
- Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn
- Hội thảo quốc tế tại Việt Nam vào năm 1998 về vấn đề QHSDĐ cấp làng, bản đã được FAO đề cập một cách khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất cấp làng, bản
- Tại cuộc hội thảo giữa Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Tổng hợp kỹ thuật Dresden, vấn đề QHSDĐ có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ và toàn diện Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ
về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn
đề phát triển nông thôn, QHSDĐ, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương (2005) đã xây dựng hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam, nghiên cứu và áp dụng đánh giá đất lâm nghiệp
Trang 13Việt Nam với việc đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp của vùng đồi núi, vùng ven biển, vùng ngập mặn và vùng chua phèn của Đồng bằng sông Cửu Long, tổng hợp đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp; đánh giá và phân chia lập địa trong lâm nghiệp cho các cấp vĩ mô, trung gian, vi mô Cũng trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã phục vụ cho công tác trồng rừng
PGS TS Trần Hữu Viên (2005) đã tổng kết những nội dung cơ bản: Cơ sở lý luận của QHSDĐ gồm các khái niệm về đất đai và vai trò của nó đối với sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người; nghiên cứu các khái niệm về QHSDĐ, bản chất
và quy luật phát triển của QHSDĐ, QHSDĐ cấp vĩ mô, chi tiết những nội dung và trình tự xây dựng QHSDĐ cấp vĩ mô; QHSDĐ cấp vi mô gồm nội dung QHSDĐ cấp xã, phương pháp thực hiện các nội dung công việc trong QHSDĐ, QHSDĐ cấp
vi mô theo phương pháp PRA
TS Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng cơ sở khoa học của công tác QHSDĐ bao gồm những vấn đề chung về QHSDĐ, trình bày công tác điều tra cơ bản phục
vụ QHSDĐ, vấn đề QHSDĐ cấp xã và đã đưa ra 3 bài tập về tổng hợp kết quả điều tra cơ bản, xây dựng bản đồ hiện trạng SDĐ và bản đồ QHSDĐ, dự báo nhu cầu SDĐ phục vụ QHSDĐ cấp xã
TS Nguyễn Đình Hợi (2006) đã khái quát hoá vai trò của đất đai đối với sự phát triển KTXH, trình bày và phân tích chế độ quản lý nhà nước về đất đai ở nước
ta, trình bày nội dung quản lý một số loại đất, nêu cơ sở lý luận chung về quy hoạch đất đai và nêu nội dung của QHSDĐ
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cũng chính là cơ sở lý luận được chúng tôi kế thừa có chọn lọc và áp dụng trong đề tài này
1.2.2 Một số nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp vào thực tiễn ở Việt Nam
Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDĐ, giao đất lâm nghiệp cấp xã được thực hiện từ năm 1993 tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực
Trang 14hiện Sau đó, dự án đã tổng hợp những bài học kinh nghiệm và rút ra được công tác QHSDĐ được coi là một nội dung chính cần được thực hiện trước khi giao đất trên
cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản và chính quyền xã [23] Cần phải có kế hoạch sử dụng chi tiết, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch
Chương trình phát triển NTMN Việt Nam - Thụy Điển giai đoạn 1996 - 2001 trên phạm vi của 5 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển NLN cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp thôn bản và HGĐ Theo Bùi Đình Toái và Nguyễn Hải Nam năm
1998 [16;10], tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến hành QHSDĐ; tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập KHSDĐ 3 cấp: xã, thôn và HGĐ Đến năm 1998 trên toàn vùng dự án có 78 thôn bản được QHSDĐ đai theo phương pháp có người dân tham gia Phương pháp QHSDĐ trong giai đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người SDĐ với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn Tuy nhiên, chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa chủ trương của Nhà nước với nhu cầu nguyện vọng của nhân dân Vấn đề đặt
ra ở đây là phải tìm ra một phương pháp quy hoạch tại địa phương với sự kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của chính phủ và nhu cầu của cộng đồng
Năm 1996, tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phương pháp QHSDĐ có người dân tham gia tại Quảng Ninh đã đề xuất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong QHSDĐ trong đó cấp xã đóng vai trò phát triển trong phương pháp quy hoạch Sáu nguyên tắc đó là:
- Kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của Chính phủ và nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân địa phương;
- Tiến hành trong khuôn khổ luật định hiện hành và các nguồn lực hiện có tại địa phương;
- Đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ;
Trang 15- Đảm bảo PTBV;
- Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia;
- Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng
Khi thử nghiệm phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế và Gia Lai,
Vũ Văn Mễ và Desloges cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng SDĐ hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu nghĩa
vụ của nhân dân Xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử dụng tài nguyên cho thấy cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này phù hợp và xu thế chung của thế giới hiện nay về áp dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp Trong 2 năm 1996
và 1997, trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh Tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy hoạch lâm - nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp PRA được sử dụng
để quy hoạch lâm - nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã, thôn cho 5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả cho quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thuỷ lợi lập kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ của dự án xã Sau 3 năm thực hiện cho thấy bản quy hoạch phù hợp với tình hình hiện tại là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp hàng năm Tuy nhiên những hạn chế do thiếu nghiên cứu về đất, phân tích HTCT đến việc lựa chọn cây trồng chưa hợp lý
Năm 1996, trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm nhiều nơi Cục kiểm lâm cho ra tài liệu hướng dẫn “Nội dung, biện pháp và trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn xã” Đây là tài liệu sửa đổi lần thứ 2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm
1994, nó đáp ứng phần nào về những hướng dẫn cơ bản về nội dung và nguyên tắc Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong hướng dẫn này còn mang nhiều phương pháp điều tra truyền thống, phù hợp với điều tra rừng trước đây Bản hướng dẫn này cần hoàn thiện theo hướng dừng lại ở những nguyên tắc và phương pháp cơ bản, không nên có bản hướng dẫn chi tiết dẫn đến ngộ nhận rằng quy hoạch Nông Lâm nghiệp cấp địa phương theo một chu trình cứng
Trang 16- Năm (1997), Chương trình hợp tác Việt - Đức về phát triển LNXH Sông Đà
đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp tại 2 xã của 2 huyện Yên Châu thuộc tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa thuộc tỉnh Lai Châu trên cơ sở hướng dẫn của Chi cục kiểm lâm với cách làm 6 bước, đã lấy cấp thôn bản làm đơn vị quy hoạch và giao đất lâm nghiệp và áp dụng cách tiếp cận LNXH đối với cộng đồng dân tộc vùng cao có thể là kinh nghiệm tốt Sự khác biệt với chương trình khác là lấy cấp thôn bản làm đơn vị quy hoạch phù hợp với đặc thù vùng cao, phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng của Donovan và nhiều người khác, năm 1997 ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Từ những kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngãi cùng với nhóm tư vấn của
dự án khu vực Lâm nghiệp Việt Nam - ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch và xây dựng tiểu dự án cấp xã Mục tiêu là đưa ra một phương pháp quy hoạch lâm - nông nghiệp cấp xã có sự tham gia của người dân để xây dựng tiền
dự án lâm - nông nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh: Thanh Hoá; Gia lai; Phú Yên và Quảng Trị Kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng phương pháp này là:
- Việc tiến hành quy hoạch phải dựa trên kết quả đánh giá và điều tra nguồn lực một cách chi tiết và đầy đủ
- Tiến hành QHSDĐ là cơ sở quan trọng cho QHSDĐ nông lâm nghiêp
- Tiến hành phân tích HTCT làm cơ sở cho việc lựa chọn cây trồng và phương thức SDĐ
- Quy hoạch nông lâm nghiệp cấp xã phải được tiến hành từ lập kế hoạch cấp thôn bản bằng phương pháp có sự tham gia trực tiếp của người dân
- Tổng hợp và cân đối kế hoạch cho phạm vi cấp xã trên cơ sở: Định hướng phát triển chiến lược của cấp huyện, cấp tỉnh Khả năng hỗ trợ từ bên ngoài; đối thoại và thống nhất trực tiếp giữa đại diện các cộng đồng với nhau và giữa cộng đồng với cán bộ của tỉnh, huyện và dự án
- Có sự nhất trí chung của toàn xã thông qua các cuộc họp cộng đồng cấp thôn
Trang 171.2.3 Đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam và địa phương
Đánh giá, phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về QHSDĐ, PTSX NLN ở Việt Nam trong thời gian qua có thể rút ra một số kết luận sau :
- Hiện tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ về QHSDĐ, PTSX NLN cấp địa phương, đặc biệt là cấp xã Phương pháp quy hoạch hiện tại còn chưa thống nhất và được vận dụng rất khác nhau Mặt khác công tác quy hoạch nhiều khi còn dựa trên ý kiến chủ quan của các nhà quy hoạch, thiếu sự đóng góp và tham gia của người dân
- Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến tiềm năng đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng
- Các công trình nghiên cứu và thử nghiệm đã thu được những kết quả nhất định trong việc tiến hành QHSDĐ, PTSX NLN cấp địa phương Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa được tổng kết, đánh giá và phát triển thành phương pháp luận
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp cấp
xã mặc dù đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phát triển, tuy nhiên chưa tiến hành trên diện rộng mà mới chỉ được tiến hành ở một số xã nhất định Đặc biệt sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” và Bộ Nông nghiệp & PTNT ban hành “Thông tư hướng dẫn quy hoạch PTSX nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” thì vấn đề nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn cho việc QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp cấp xã vẫn cần được tiếp tục tiến hành nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững KTXH NTMN
Trang 18Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp
xã Sơn Kim I, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất được phương án quy hoạch PTSX nông, lâm nghiệp tổng hợp và bền vững cho xã Sơn Kim 1 giai đoạn 2013- 2020
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp xã Sơn Kim 1
- Điều kiện cơ bản của xã Sơn Kim 1
+ Điều kiện tự nhiên, điều kiện KTXH
+ Hiện trạng quản lý, SDĐ của xã Sơn Kim 1
+ Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thị trường nông, lâm trên địa bàn nghiên cứu
- Các chính sách, pháp luật liên quan đến QHSDĐ hiện hành
Trang 19về mặt kinh tế, xã hội còn hiệu quả về MTST chủ yếu là mô tả Về hiệu quả kinh tế,
đề tài đưa ra dự đoán triển vọng giới hạn trong phạm vi 01 ha đất và chỉ tính toán cho một/một số loại cây trồng chính trên diện tích đất đó
- Địa điểm tiến hành nghiên cứu thu thập số liệu: Trên cơ sở phân tích các tài liệu thứ cấp có liên quan đến các đặc điểm tự nhiên, dân sinh, KTXH và kết quả điều tra khảo sát theo phương pháp PRA trên toàn diện tích xã Sơn Kim 1, 3 thôn điển hình được chọn để tiến hành nghiên cứu Từ các số liệu thu thập được tổng hợp
và xử lý làm căn cứ đề xuất phương án PTSX nông, lâm, ngư nghiệp chung cho cả
xã
2.3 Nội dung nghiên cứu
(1) Cơ sở lý luận của QHSDĐ, PTSX nông, lâm, ngư nghiệp trên địa bàn xã Sơn Kim 1
- Các chính sách, pháp luật liên quan đến QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp trên địa bàn xã Sơn Kim 1
- Nguyên tắc và yêu cầu của QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp trên địa bàn xã Sơn Kim 1
(2) Điều kiện cơ bản của xã Sơn Kim 1
- Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội
- Hiện trạng quản lý, SDĐ, thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp và thị trường nông, lâm xã Sơn Kim 1
- Phân tích, đánh giá tiềm năng đất đai, mô hình SDĐ điển hình, nhu cầu SDĐ đến năm 2020 của xã Sơn Kim 1
Trang 20(3) QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp xã Sơn Kim 1 giai đoạn 2013 -2020
- Phương hướng QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp
- Phương án QHSDĐ, PTSX nông, lâm nghiệp
- Quy hoạch phát triển CSHT phục vụ sản xuất
- Đề xuất các giải pháp thực hiện
- Dự kiến đầu tư và hiệu quả của phương án quy hoạch
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.1 Phương pháp kế thừa thứ có chọn lọc các tài liệu cấp
- Các thông tin về chính sách được thu thập từ các văn bản pháp quy do Nhà nước ban hành, bao gồm: Hiến pháp, Pháp luật, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn thực hiện, Nghị quyết, Quyết định của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương
- Về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết được thu thập từ trạm khí tượng thuỷ văn của địa phương
- Các số liệu thống kê về đất đai, CSHT, kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp thị trường giá cả được thu thập tại phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện và Văn phòng UBND xã
- Các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm, nghiệp, thuỷ sản của xã
- Bản đồ hiện trạng, bản đồ thổ nhưỡng được kế thừa từ Trung tâm quy hoạch
và thiết kế nông lâm nghiệp tỉnh Hà Tĩnh
- Thông tin thị trường tiêu thụ sản phẩm trong địa bàn xã và khu vực giáp ranh từ năm 2005 đến nay
- Các tài liệu có liên quan: Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, QHSDĐ, quy hoạch tổng thể của tỉnh, huyện; Kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Hà Tĩnh
Trang 212.4.1.2 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA)
Bằng các công cụ phỏng vấn và tiếp xúc lãnh đạo các ban ngành liên quan tại huyện, xã, thôn và hộ nông dân Sử dụng công cụ này để thu thập những thông tin
cơ bản, xác định sơ bộ các vấn đề để xây dựng đề cương nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.3 Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân là phương pháp có khả năng khuyến khích, hỗ trợ mọi khả năng hiện có của cộng đồng để họ xác định chính xác yêu
cầu của họ, đề ra các mục tiêu rồi kiểm tra và đánh giá chúng
Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA): PRA là phương pháp tiếp cận và cũng là phương pháp học hỏi cùng với người dân, từ người dân và bằng người dân về đời sống và điều kiện nông thôn
Khái niệm trên được Robert Chamchers (1994) phát triển như sau:
''Một loạt các phương pháp tiếp cận cho phép người dân nông thôn cùng chia
sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và hành động''
- Sử dụng công cụ phân tích xu hướng cho các cây trồng chính trong thôn
- Sử dụng công cụ vẽ sơ đồ hiện trạng thôn, bản có sự tham gia của người dân
và thảo luận trên sơ đồ
- Đi lát cắt (công cụ điều tra tuyến) để đánh giá hiện trạng SDĐ và phân tích HTCT
- Sử dụng phương pháp SWOT (Strongth, Weakness, Oppotunity, Threat) – phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để đánh giá hiện trạng SDĐ
- Thảo luận nhóm với cán bộ xã, thôn, hộ nông dân về các vấn đề ranh giới các loại hình SDĐ, nhu cầu SDĐ và xu hướng PTSX nông, lâm, ngư nghiệp trong thời gian tới tại địa phương; Phân loại, xếp hạng, cho điểm cây trồng, vật nuôi; Phân loại, xếp hạng cho điểm để đánh giá hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các phương án quy hoạch Trên cơ sở đó lựa chọn được phương án phù hợp nhất
Trang 222.4.1.4 Phương pháp điều tra chuyên đề
Được thực hiện để điều tra bổ sung các thông tin không có trong tài liệu PRA
cụ thể:
- Lĩnh vực nông nghiệp điều tra theo các chỉ tiêu: Tình hình giao đất nông nghiệp, các HTCT, tập đoàn cây trồng, vật nuôi, năng suất và sản lượng cây trồng của xã, tình hình sâu bệnh hại tổn thất cây trồng, tình hình dịch bệnh và cải tạo giống vật nuôi của xã, bãi chăn thả, thông tin về khuyến nông, khuyến lâm thôn bản, tình hình sử dụng và thị trường nông, lâm, thuỷ sản
- Lĩnh vực lâm nghiệp điều tra các chỉ tiêu: Tình hình SDĐ lâm nghiệp, tình hình giao đất lâm nghiệp, tình hình quản lý rừng, tình hình đầu tư và phát triển rừng, tình hình lợi dụng rừng, tình hình bảo vệ rừng…
- Lĩnh vực thuỷ sản điều tra các chỉ tiêu: Tình hình quản lý, sử dụng mặt nước
hồ trong nuôi trồng thuỷ sản, tình hình sản xuất thuỷ sản tại các ao nuôi trong thôn bản, giống thuỷ sản, năng suất, dịch bệnh…
2.4.1.5 Chọn điểm và HGĐ điều tra
Căn cứ để chọn điểm nghiên cứu dựa trên phân tích các tài liệu thứ cấp có liên quan đến các đặc điểm tự nhiên, dân sinh, KTXH và kết quả điều tra khảo sát
sơ bộ Tiêu chí chọn điểm nghiên cứu được xây dựng như sau:
- Chọn xã nghiên cứu: Xã có đầy đủ các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp,
+ SDĐ: có đầy đủ các kiểu SDĐ NLN, thuỷ sản đại diện cho toàn xã, có mô hình điển hình về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 23- Mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 15 hộ gia đình trong đó có 5 hộ có thu nhập thấp,
5 hộ có thu nhập trung bình, 5 hộ có thu nhập khá giả Danh sách các nhóm hộ nghèo, trung bình, khá giàu do trưởng thôn cung cấp
2.4.2 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu và đánh giá hiệu quả SDĐ
2.4.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Các thông tin về điều kiện tự nhiên, KTXH được tổng hợp và phân tích theo các nhóm sau:
+ Các thông tin liên quan đến các điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, địa hình địa vật, khí hậu thuỷ văn, thổ nhưỡng, thực vật tự nhiên được thu thập chắt lọc từ tài liệu gốc của xã, huyện và tỉnh
+ Các thông tin về điều kiện KTXH như: Dân cư (dân số, thành phần dân tộc);
Cơ cấu xã hội: (xã, thôn, nhóm hộ, HGĐ); Nghề nghiệp, việc làm các dịch vụ xã hội
và CSHT (y tế, giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc, thị trường giá cả ) được tổng hợp theo mục đích của đề tài
+ Hệ thống thông tin liên quan đến tổ chức và thể chế được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp SWOT Phương pháp phân tích tập trung vào các chỉ tiêu:
Tổ chức cộng đồng, dịch vụ khuyến lâm, khuyến nông, quản lý và bảo vệ rừng, dịch
vụ thú y, hoạt động tín dụng cộng đồng…
- Phân tích, tổng hợp thông tin điều tra chuyên đề:
+ Thông tin thu thập được để phục vụ quy hoạch PTSX nông, lâm, ngư nghiệp được tổng hợp theo phương pháp tối ưu hoá mục tiêu và phân tích đa tiêu chuẩn áp dụng cho xây dựng kế hoạch Bài toán phân tích kinh tế được sử dụng cho việc lựa chọn các phương án
+ Trong quá trình xử lý tài liệu, tiến hành chỉnh lý và sắp xếp các thông tin theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng của vấn đề, phân tích các ý kiến, quan điểm
để lựa chọn tìm ra giải pháp
+ Thực trạng của công tác quy hoạch sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đã và đang thực hiện được đánh giá theo phương pháp SWOT
Trang 24- Tập hợp kết quả khảo sát theo tuyến lát cắt để lập sơ đồ lát cắt, các biểu mẫu
thống kê, phân loại cây trồng, vật nuôi
- Sử dụng phần mềm MapInfo 10,5 để xây dựng bản đồ hiện trạng, bản đồ
QHSDĐ và bản đồ quy hoạch phát triển CSHT phục vụ sản xuất
2.4.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) được vận dụng phân tích hiệu
quả kinh tế của các mô hình sản xuất, trên cơ sở đó để lựa chọn các mô hình SDĐ
có hiệu quả kinh tế nhất để tiến hành quy hoạch sản xuất
- Phương pháp tĩnh: Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập và không chịu
tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị đồng tiền
Phương pháp này dùng phân tích hiệu quả của các PTCT nông nghiệp do thời gian
đầu tư ngắn, thường là 01 vụ hoặc 01 năm
+ Hiệu quả vốn đầu tư:
đtV
Cp: Tổng chi phí kinh doanh trong một năm
Vđt : Vốn đầu tư trong năm
- Phương pháp động: Xem xét chi phí và thu nhập trong mối quan hệ động với
mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền, các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và
tính toán theo các hàm số: NPV, BCR, IRR… Phương pháp này dùng để tính hiệu
quả kinh tế của các PTCT có chu kỳ dài như: Rừng trồng, vườn cây ăn quả,
NLKH…
Trang 25+ Tính giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV): NPV là hiệu số giữa giá trị
thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất sau khi đã tính chiết khấu để
quy về thời điểm hiện tại
Ct Bt NPV
0 ( 1 ) (2.4)
Trong đó:
NPV là giá trị hiện tại của thu nhập ròng (đồng)
Bt là giá trị thu nhập ở năm t (đồng)
Ct là giá trị chi phí ở năm t (đồng) (Bt – Ct) là lợi nhuận đạt được ở kỳ thứ t
i là tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất (%)
t là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
NPV là tổng giá trị hiện tại của thu nhập từ năm thứ 0 đến năm thứ n
NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất NPV > 0:
có lãi; NPV = 0: hoà vốn; NPV < 0: lỗ vốn Hoạt động nào có NPV càng lớn thì
hiệu quả càng cao
+ Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (BCR): BCR là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của
thu nhập so với giá trị hiện tại của chi phí trong cả chu kỳ kinh doanh của chương
trình đầu tư BCR phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên 1 đơn
vị chi phí sản xuất Nó được thể hiện theo công thức (2-5)
(2.5)
Trong đó:
BCR là tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng)
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
Các ký hiệu khác được giải thích ở công thức (2.4) Nếu hoạt động sản xuất nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn thì
hiệu quả kinh tế càng cao Ngược lại BCR < 1 thì việc sản xuất không có hiệu quả
CPV BPV i
Ct i Bt
) 1 (
Trang 26+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR): Chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn IRR
là một hệ số mà nếu vay vốn bằng đúng tỷ lệ lãi xuất đó chương trình đầu tư sẽ hoà
vốn Tức là nếu i = IRR thì NPV = 0 Hay:
)1
Trong đó:
IRR là tỷ lệ thu hồi vốn
Các ký hiệu khác được giải thích giống công thức (2.4)
Khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0 thì khi đó tỷ lệ chiết khấu i được xác định là
tỉ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR IRR được tính theo tỷ lệ %
IRR dùng để để đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn của các
hoạt động sản xuất Nếu IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao, khả năng thu hồi vốn
càng sớm
- Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp: Hiệu quả tổng hợp của các PTCT
được hiểu là một PTCT phải có hiệu quả kinh tế cao nhất, mức độ chấp nhận của xã
hội cao nhất và góp phần giữ gìn, bảo vệ môi trường (hiệu quả sinh thái)
Để tính được chỉ số hiệu quả tổng hợp của các PTCT (Ect), W.Rola (1994) đã
đưa ra công thức tính sau:
n hoac
f hoac
f Ect
f
f f
m ax 1
Ect là chỉ số hiệu quả tổng hợp
F: là các đại lượng tham gia vào tính toán (NPV, BCR, IRR…)
+ fmax : là giá trị cực đại của đại lượng tham gia tính toán và được sử dụng
tính toán trong hiệu quả tổng hợp khi đại lượng có giá trị càng cao càng tốt
+ fmin : là giá trị cực tiểu của đại lượng tham gia tính toán và được sử dụng
tính toán trong hiệu quả tổng hợp khi đại lượng có giá trị càng thấp càng tốt
N: là số đại lượng tham gia vào tính toán
Trang 27Nếu Ect = 1 thì PTCT có hiệu quả tổng hợp cao nhất, PTCT nào có Ect càng gần 1 thì hiệu quả tổng hợp càng cao
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng công thức tính dân số tương lai như sau:
nV P No
Nt 1 100 (2.8) Trong đó:
Nt là dân số năm quy hoạch; No là dân số năm hiện tại
P là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên; V là tỷ lệ tăng dân số cơ học
n là số năm dự tính (kể từ năm hiện tại đến năm quy hoạch)
Ho No
Nt
Ht (2.9) Trong đó:
Ht là số hộ năm quy hoạch; Ho là số hộ năm hiện tại
Số hộ phát sinh (Hp):
Hp = Ht – Ho (2.10)
2.4.2.3 Phương pháp phân tích hiệu quả xã hội và môi trường
Hiệu quả xã hội và môi trường được phân tích dựa trên phương pháp cho điểm đánh giá theo các tiêu chí cụ thể và theo phương pháp PRA
- Hiệu quả xã hội của các PTCT được đánh giá dựa trên các tiêu chí sau:
+ Hiệu quả giải quyết việc làm: Dựa trên số công lao động như làm đất, trồng, chăm sóc, thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm
+ Khả năng giao lưu, mua bán sản phẩm
+ Đa dạng nguồn thu
+ Nâng cao nhận thức về kỹ thuật sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: kỹ thuật sản xuất phù hợp với kiến thức bản địa và nhận thức của người dân địa phương, được người dân địa phương chấp nhận và có khả năng lan rộng
+ Khả năng tăng sản xuất hàng hoá của các phương thức sản xuất
- Hiệu quả môi trường của các PTCT được thể hiện ở một số tiêu chí sau:
Trang 28+ Đa dạng về cây trồng: Việc đa dạng cây trồng có tác dụng tăng độ tàn che
và che phủ mặt đất cũng như nâng cao hiệu quả SDĐ
+ Tăng độ che phủ: Độ che phủ cao làm tăng độ phì đất, chống xói
+ Tăng lượng vật rơi rụng: Vật rơi rụng càng nhiều thì độ phì của đất tăng càng nhanh
+ Sử dụng nhiều phần hữu cơ
+ Ít sử dụng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ, PTSX Nông Lâm nghiệp xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Quy hoạch sử dụng đất cấp xã là vấn đề then chốt của công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp Để đảm bảo được tính hiệu quả, hiệu suất và tính bền vững, quy hoạch sử dụng đất cấp xã cần được hình thành trên cơ sở lý luận và thực tiễn Dưới đây là một số vấn đề được nghiên cứu
Đối tượng và nội dung của quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô
Cấp vĩ mô là cấp có tầm lớn bao quát có tính chất liên ngành Trong quy hoạch sử dụng đất nó là cấp định hướng thống nhất cho các cấp quy hoạch sử dụng đất cấp thấp hơn (cấp vi mô) Về đối tượng quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô bao gồm: Cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện
Cấp quốc gia:
Gồm quy hoạch sử dụng đất cả nước, theo ngành (chủ yếu là ngành nông nghiệp và lâm nghiệp), và theo vùng lãnh thổ (gồm nhiều tỉnh) Nhìn chung quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia đề cập tới những nội dung chủ yếu sau
- Nghiên cứu chiến lược ổn định và phát triển KTXH làm cơ sở xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển nông lâm nghiệp
- Quy hoạch sử dụng đất cho các ngành trên phạm vi toàn quốc
Trang 30- Điều chỉnh việc quy hoạch đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển KTXH của cả nước
Cấp tỉnh:
- Nghiên cứu phương hướng, nhiệm vụ phát triển của tỉnh và căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất toàn quốc xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển nông lâm nghiệp và các ngành trong phạm vi tỉnh
- Quy hoạch sử dụng đất cho các ngành trong phạm vi tỉnh
- Điều chỉnh việc khoanh định ranh giới các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội Quy hoạch phân bổ sử dụng đất cho các tổ chức, đơn vị, các chủ quản lý sử dụng đất trên địa bàn tỉnh
Cấp huyện:
- Nghiên cứu phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế của huyện và căn
cứ vào quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh để xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển nông lâm nghiệp và các ngành trong phạm vi huyện
- Quy hoạch 5 loại đất cho các ngành trong huyện
- Điều chỉnh việc quy hoạch nói trên cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của huyện Quy hoạch phân bổ sử dụng đất cho các tổ chức, đơn
vị, các chủ quản lý sử dụng đất trên địa bàn huyện
Cấp xã:
Căn cứ vào dự án phát triển KTXH của xã, vào quy hoạch sử dụng đất của huyện và điều kiện cơ bản liên quan đến phát triển nông lâm nghiệp xã, xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển nông lâm nghiệp xã, và tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai trong xã, Quy hoạch phân bổ sử dụng đất cho các chủ quản lý sử dụng đất trên địa bàn xã, đồng thời xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai
Cấp thôn bản:
Căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất cấp xã và điều kiện cụ thể về tự nhiên, KTXH của thôn/ bản tiến hành quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cho thôn/ bản theo phương pháp cùng nhau tham gia
Trang 31Tóm lại, nội dung của quy hoạch sử dụng đất các cấp được đề cập là tương
tự, nhưng ở mức độ giải quyết theo chiều sâu, chiều rộng có khác nhau các nội dung trong quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô có tính chất định hướng, nguyên tắc và luôn gắn với ý đồ phát triển kinh tế của các cấp quản lý lãnh thổ Cấp xã, thôn, bản là các cấp thấp bên dưới Trong đó xã được coi là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp của thành phần kinh tế tập thể và tư nhân, cấp xã là cấp quản lý hành chính thấp nhất Tuy vậy quy hoạch sử dụng đất cấp thôn bản đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định xã hội và phát triển kinh tế trên địa bàn nông thôn miền núi với tổ chức cộng đồng cao Nên quy hoạch sử dụng đất cấp xã
và thôn, bản yêu cầu giải quyết các nội dung, biện pháp kỹ thuật, kinh tế xã hội và cần ước tính được cả về đầu tư, nguồn vốn, hiệu quả, thời gian thu hồi vốn một cách
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân là phương pháp có khả năng khuyến khích, hỗ trợ mọi khả năng hiện có của cộng đồng để họ xác định chính xác yêu cầu của họ, đề ra các mục tiêu rồi kiểm tra và đánh giá chúng
Các phương pháp đánh giá nông thôn đã và đang được áp dụng ở Việt nam, chủ yếu là phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA) và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chỉ xin trích giới thiệu về phương pháp PRA
- Phương pháp PRA:
Trang 32PRA là phương pháp tiếp cận và cũng là phương pháp học hỏi cùng với người dân, từ người dân và bằng người dân về đời sống và điều kiện nông thôn
Khái niệm trên được Robert Chamchers (1994) phát triển như sau:
''Một loạt các phương pháp tiếp cận cho phép người dân nông thôn cùng chia
sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và hành động''
Quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân
- Quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân xuất hiện ở nước ta cùng với việc chuyển hướng tổ chức sản xuất trong ngành lâm nghiệp từ một nền lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội, phát triển sản xuất theo hướng thị trường, đa dạng hoá ngành nghề, đa thành phần kinh tế
Trong lâm nghiệp xã hội, người dân giữ vai trò trung tâm, họ vừa là đối tượng vừa là mục tiêu, vừa là nhân tố hành động
Quy hoạch sử dụng đất trong chương trình phát triển sản lâm nghiệp xã hội phải do chính người dân trực tiếp tham gia thì mới có tính khả thi cao và mang lại hiệu quả thiết thực, cán bộ (người hướng dẫn) chỉ đóng vai trò hỗ trợ và thúc đẩy Như vậy, trong quy hoạch sử dụng đất có người dân tham gia, mục tiêu được người dân địa phương xác định, có thể linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo điều kiện tình hình của địa phương, người dân được khuyến khích và coi việc quy hoạch sử dụng đất như là nhiệm vụ của chính họ Họ sẵn sàng tự giác và chủ động trong việc tham gia thực hiện
- Quá trình quy hoạch sử dụng đất cấp xã theo phương pháp cùng tham gia được tiến hành qua các bước sau:
+ Thành lập tổ công tác ở xã
+ Chuẩn bị kế hoạch chi tiết
+ Xác định rõ quyền sử dụng đất đai hiện tại
+ Điều tra các nguồn tài nguyên, xây dựng bản đồ tài nguyên tỷ lệ 1/10 000
+ Xác định hiện trạng sử dụng đất
Trang 33+ Đánh giá tiềm năng đất đai
+ Thu thập các thông tin về dân sinh kinh tế xã hội
+ Dự thảo quy hoạch sử dụng đất
+ Tổ chức hội nghị thông qua phương án quy hoạch sử dụng đất
3.1.1.3 Quan điểm hệ thống trong quy hoạch sản xuất Nông Lâm nghiệp cấp xã
Lý thuyết hệ thống được L Von bertallanfy khởi xướng vào năm 1923 đã giúp cho việc hiểu biết và giải thích các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ qua lại, có thể coi là cơ sở để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp
Hệ thống được định nghĩa như là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Như vậy hệ thống có thể được xác định như là một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính, được liên kết bằng nhiều mối tương tác Một cách khác, hệ thống được hiểu như là một cơ cấu hoàn chỉnh gồm nhiều bộ phận chức năng tạo nên một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại
và hoạt động theo những quy luật thống nhất, tạo nên một chất lượng mới không giống tính chất của từng yếu tố hợp thành, và cũng không phải con số cộng của những bộ phận đó
Từ những quan niệm đó có thể thấy rõ 2 đặc trưng cơ bản của hệ thống là:
- Gồm nhiều thành phần hợp thành, có mối quan hệ tương tác hữu cơ và rất phức tạp
- Cấu thành một chỉnh thể có tính độc lập ở mức độ nhất định và có thể phân biệt với môi trường hoặc hệ thống khác
Tất cả những thành phần ở bên ngoài hệ thống được coi là môi trường của hệ thống và giữa chúng có mối quan hệ tương tác
Quan điểm hệ thống là sự khám phá đặc điểm của hệ thống đối tượng bằng nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tác động qua lại giữa các yếu tố Do
đó tiếp cận hệ thống là con đường nghiên cứu và xử lý đối với các phức hệ có tổ chức theo quan điểm sau đây
- Không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử mà trong mối quan hệ với các phần tử khác cần chú ý tới thuộc tính mới xuất hiện
Trang 34- Nghiên cứu hệ thống trong mối tương tác với môi trường của nó
- Xác định rõ cấu trúc (thứ bậc) của hệ thống đang nghiên cứu
- Các hệ thống thường là hệ thống hữu ích, hoạt động của nó có thể điều khiển được để đạt tới mục tiêu đã định, do đó cần kết hợp nhiều mục tiêu
- Kết hợp cấu trúc và hành vi của hệ thống vì hành vi phụ thuộc một cách tái định hoặc ngẫu nhiên vào cấu trúc
- Nghiên cứu hệ thống trên nhiều góc độ do tính đa cấu trúc phức tạp của hệ thống
Quan điểm hệ thống được nhiều nhà khoa học tiếp cận trong nghiên cứu tự nhiên, KTXH nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Trong nghiên cứu
về lĩnh vực nông lâm nghiệp, đề xuất khái niệm hệ thống nông trại, hay hệ thống canh tác, trên cơ sở coi đầu vào và đầu ra của nông trại là một tổng thể nghiên cứu
độ màu mỡ của đất Grigg (1977) đã sử dụng khái niệm hệ thống nông nghiệp để phân kiểu nông nghiệp và nghiên cứu sự tiến hoá của chúng
3 1 1 4 Quan điểm bền vững trong quy hoạch sản xuất Nông Lâm nghiệp
Trong những năm gần đây khi đã triển khai chính sách giao đất giao rừng cùng với việc quy hoạch sử dụng đất, nhiều nơi đã sử dụng phương pháp mới như: Nông lâm kết hợp, VAC, SALT Trên cơ sở chính sách giao đất giao rừng để phát triển kinh tế hộ gia đình hoặc kinh tế hộ ở các vùng nông thôn, nhất là vùng Trung
du miền núi Kết quả ban đầu đã mở ra những triển vọng to lớn trong việc áp dụng các hệ thống kỹ thuật sử dụng đất trong tương lai Những hệ thống này đã góp phần đảm bảo tính bền vững và có hiệu quả thiết thực đối với người dân Trung du miền núi Việc phát triển phải bảo đảm lợi ích lâu dài cho người dân, tài nguyên và môi trường cần phải được giữ gìn cho các thế hệ mai sau, thể hiện trên các mặt
- Thích hợp về mặt môi trường
- Có lợi về mặt xã hội
- Có thể đạt được về mặt kinh tế Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững
là quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng một cách tổng hợp nhằm khai thác triệt để tiềm năngài nguyên khí hậu, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật
Trang 35một cách tối đa hợp lý, đồng thời duy trì tiềm năng của các nguồn tài nguyên đó một cách ổn định, lâu dài và phát huy những lợi ích trước mắt, làm cơ sở vững chắc tạo ra những lợi ích lớn hơn trong tương lai
Quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững là quá trình hoạt động phức tạp trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp có liên quan đến chính sách và đất đai, tài nguyên rừng, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và môi trường Quản lý rừng bền vững chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi chúng ta kết hợp hài hoà giữa các yếu tố về chính sách, kinh tế, xã hội và môi trường, nghĩa là đạt được những mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường trước mắt, đồng thời cũng đảm bảo phát triển bền vững cho tương lai
Quản lý rừng bền vững là một vấn đề phức tạp, đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau và chịu ảnh huởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều yếu tố Vì vậy, những giải pháp quản lý sử dụng rừng bền vững phải được xây dựng dựa trên các quan điểm tổng hợp, toàn diện và hệ thống
- Một là, quản lý sử dụng tài nguyên rừng phải dựa trên quan điểm tổng hợp,
kết hợp giữa cung cấp lâm sản gỗ và các loại lâm sản ngoài gỗ với các mục đích khác về xã hội và môi trường Các mô hình sử dụng đất đều phải kết hợp hài hoà giữa lâm nghiệp với các ngành kinh tế khác theo phương thức tổng hợp bền vững như nông lâm kết hợp, Nông Lâm công nghiệp, nông lâm thuỷ sản
- Hai là, kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường
sinh thái
- Ba là, đáp ứng được nhu cầu trước mắt song đồng thời phải duy trì được giá
trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, đảm bảo lợi ích lâu dài, không gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường sinh thái
- Bốn là, kết hợp hài hoà giữa các ưu tiên quốc gia và toàn xã hội với nhu
cầu, nguyện vọng của người dân với cộng đồng
3 1 1 5 Quy hoạch sản xuất Nông Lâm nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Khái niệm về thị trường được diễn đạt bằng nghĩa rộng và hẹp theo nhiều cách khác nhau Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì “ thị trường là một hình thức biểu
Trang 36hiện sự phân công lao động xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận, ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội thì ở đó và khi ấy có thị trường” Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì “Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, chuyển nhượng, mua bán hàng hoá và dịch vụ”
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khi tất cả quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như vốn, tài sản, sức lao động, chất xám, các sản phẩm và dịch vụ làm
ra đều có giá mà giá cả hình thành bởi tác động của quy luật cung cầu trên thị trường
Trong kinh tế thị trường, mỗi chủ thể kinh tế trong hoạt động kinh doanh theo đuổi lợi ích của mình và lợi nhuận Do đó nói đến kinh tế thị trường cần phải bảo đảm những điều kiện cơ bản sau
- Tính tự chủ cao của các chủ thể kinh tế thể hiện ở tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh của mình trong việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, cho ai Người bán và người mua tự do giao dịch
- Mua bán theo giá cả thị trường
- Đảm bảo có đủ thông tin về thị trường
Hiện nay, quá trình kinh doanh Nông Lâm nghiệp nói chung đang vận động theo cơ chế thị trường, mà đặc trưng của nó là sản xuất hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường Do đó, việc xác định phương hướng, quy mô kinh doanh và mục tiêu kinh doanh hợp lý có ý nghĩa quan trọng và là điều kiện kiên quyết trong kinh doanh
Xác định phương hướng gắn liền với xác định quy mô sản xuất hàng hoá và dịch vụ là những vấn đề lớn và có quan hệ chặt chẽ với nhau
Dựa vào sự phân tích khoa học về cung - cầu ở thị trường và của mỗi vùng
để xác định phương hướng và quy mô sản xuất hàng hoá, dịch vụ Nông Lâm nghiệp của các chủ thể Trong đó phải trả lời được 4 vấn đề cơ bản
- Sản xuất và dịch vụ cái gì ?
- Sản xuất bao nhiêu?
Trang 37- Sản xuất và dịch vụ như thế nào, cho ai ?
- Lợi nhuận thu được bao nhiêu?
Trên cơ sở xác định được phương hướng quy mô sản xuất hàng hoá và dịch
vụ mà mục đích cuối cùng của các chủ thể sản xuất là xác định mục tiêu kinh doanh Sau khi xác định được phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thì QHSD đất là căn cứ để quy hoạch tổ chức các biện pháp kinh doanh, quản
lý sử dụng đất đai, phát triển sản xuất Nông Lâm nghiệp để đạt được những mục tiêu đã đề ra Vì vậy, QHSD đất cần bám sát các mục tiêu kinh doanh đã xác định, căn cứ vào những điều kiện cơ bản của khu vực có liên quan đến sản xuất Nông Lâm nghiệp, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và điều kiện khác có liên quan để quy hoạch mặt bằng sử dụng đất và cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với mục đích kinh doanh (tức là phù hợp với nhu cầu của thị trường) và điều kiện địa phương trên
cơ sở phát triển bền vững, bảo đảm hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường sinh thái Thực tế chứng minh rằng thị trường và sự biến động của thị trường trong và ngoài nước có tính chất quyết định đến sự thay đối mục tiêu kinh doanh và những nội dung của nó Các trang trại sản xuất cà phê, tôm, quế, lúa, rừng ở nước ta đã từng được mở rộng quy mô kinh doanh và đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào kinh doanh là do yêu cầu biến động thị trường xuất khẩu Trong từng trường hợp ngược lại chẳng những quy mô sản xuất không được mở rộng mà còn bị thu hẹp, thậm chí QHSD đất cũng phải thay đổi theo
3.1.1.6 Tác động của một số yếu tố chính sách và pháp luật đến quy hoạch
sử dụng đất cấp xã
Trong công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề đổi mới công tác quản lý đất đai được đặt ra và đã có được những cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai công tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất Cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những chính sách gần đây của chínhphủ đều đề cao vai trò của hộ gia đình trong lĩnh vực quản lý nguồn tài nguyên đất đai, giảm bớt sự kiểm soát của Nhà nước, thay đổi vai trò của các cơ quan chính phủ
Trang 38và các doanh nghiẹp Nhà nước một cách thích ứng Động lực đằng sau những lỗ lực
đó là sự cần thiết phải nâng cao sức sản xuất của đất và đảm bảo công tác quản lý đất đai ngày càng tốt hơn
Các chính sách hiện hành về đất đai tác động đến hoạt động Nông Lâm nghiệp tại xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh:
- Bộ luâ ̣t Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hô ̣i nước CHXHCN Việt Nam khóa XI
- Luật Xây dựng ngày 26/11/2003 của Quốc hội nướ c CHXHCN Viê ̣t Nam khóa XI
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/1/2005 của Thủ tướng chính phủ về quy hoạch xây dựng
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
- Thông tư 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng nông thôn
- Thông tư 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
- Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và đô thị
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ TN &MT về việc hướng dẫn Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư 21/2009/TT-BXD ngày 30/06/2009 của Bộ Xây dựng quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn
Trang 39- Quyết định số 03/2008/QĐ-BXD ngày 31 tháng 3 năm 2008 của Bộ Xây dựng về việc ban hành quy định nội dung thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng
- Quyết định số 315/QĐ-BGVT ngày 23/2/2011 của Bộ Giao thông vật tải về việc hướng dẫn lựa chọn quy mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn phục vụ chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
- Đơn giá xây dựng công trình của tỉnh Hà Tĩnh, phần khảo sát xây dựng, công bố kèm theo công văn số 676/UBND-XD ngày 26/03/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND, ngày 29/03/2010 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc quy định một số nội dung về quản lý đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
Công văn số 702/UBND-NL1 ngày 11/03/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
về khung định mức kinh phí lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã
- Quyết định số 370/QĐ-SNN ngày 11/02/2011 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh về việc ban hành đề cương nhiệm vụ Quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã
- Quyết định số 4136/QĐ-UBND ngày 29 tháng 6 năm 2011 của UBND huyện Hương Sơn về việc phê duyệt Đề cương nhiệm vụ và dự toán lập đồ án quy hoạch nông thôn mới xã Sơn Kim I – huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đế năm 2020"
Có thể nói, hệ thống Chính sách và quy định có liên quan của Nhà nước đối với công tác quản lý đất đai là những cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai công tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất ở các cấp Đó là căn cứ quan trọng cho định hướng chiến lược trong việc sử dụng đất đai, bố trí mặt bằng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất và đề xuất các giải pháp kinh tế, kỹ thuật phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa phương theo khuôn khổ quy định của luật pháp và chủ trương chính sách của Nhà nước về đất đai
Trang 40Nông dân là người trực tiếp sử dụng đất đai nên việc gắn liền quyền lợi và trách nhiệm của họ vào mảnh đất được giao có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc quản lý sử dụng đất Chính vì vậy, chủ trương chính sách, các quy định của pháp luật được trình bày ở phần trên đã kích thích sản xuất nông lâm nghiệp đạt hiệu quả cao nhất nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững Phân tích về vai trò của các chính sách cho thấy một số chính sách không những được người dân chấp nhận mà còn là tiền đề quan trọngcho việc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường ngày một tốt hơn Kết quả phân tích cũng cho thấy, chỉ khi nào người dân nhận thấy vai trò làm chủ của mình trên mảnh đất được giao thì họ mới tập trung vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Khi nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của hộ gia đình được đáp ứng thì nhu cầu xã hội mới được thỏa mãn Vì vậy, hộ gia đình sẽ tập trung toàn bộ nhân lực, vật lực vào mảnh đất được giao để sản xuất hàng hoá đáp ứng nhiều sản phẩm của thị trường, tận dụng tối đa sức sản xuất của đất theo hướng có lợi nhất cho cả hiện tại và tương lai Để phát triển kinh tế bền vững, hộ gia đình sẽ phải tự biết điều chỉnh lợi ích kinh tế trước mắt cũng như lâu dài một cách hợp lý thông qua lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp, đồng thời áp dụng đúng các biện pháp khoa học kỹ thuật thì năng suất chất lượng mới được nâng cao
3.1.2 Cơ sở thực tiễn
3.1.2.1 Cơ sở kinh tế của công tác quy hoạch phát triển Nông Lâm nghiệp
xã
* Hệ thống sản xuất nông nghiệp và xu hướng phát triển
Nông lâm nghiệp là ngành sản xuất chính của xã trong đó đất sản xuất nông nghiệp không phải giữ vai trò chủ đạo Diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm
2010 là: 420,92 ha chiếm 1,891 % tổng diện tích tự nhiên Trong đó diện tích đất trồng lúa là 116,9 ha chiếm 0,525 % tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng cây hàng năm là 148,18 ha chiếm 0,666 % tổng diện tích đất tự nhiên và đất trồng cây lâu năm là 155,84 ha chiếm 0,7 % tổng diện tích đất tự nhiên
- Vai trò và xu hướng của canh tác lúa nước: