1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ

79 410 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của của Nhà trường và Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Các mô hình thí nghiệm trồng rừng được kế thừa từ đề tài nghiên cứu khoa

học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây Vù hương

(Cinnamomum balansae H.Lec) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, tác giả là cộng tác

viên của đề tài và đã được sự đồng ý, cho phép sử dụng dữ liệu của chủ nhiệm, cơ

quan chủ trì đề tài

Nội dung nghiên cứu của tôi không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016

Người cam đoan

Đào Hùng Mạnh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học lâm nghiệp K22A (2014 - 2016) tại Trường Đại học Lâm nghiệp Được sự nhất trí của của Nhà trường và Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm

Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh

học và kỹ thuật gây trồng cây Vù hương (Cinnamomum balansae H.lec) tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” được đề xuất thực hiện

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới

TS Nguyễn Minh Thanh và TS Nguyễn Anh Dũng là những người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, cung cấp nhiều thông tin bổ ích, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn ThS Nguyễn Viễn - Chủ nhiệm đề tài cấp tỉnh đã cho phép tôi được tham gia đề tài và sử dụng các số liệu nghiên cứu thí nghiệm trong luận văn

Xin chân thành cảm ơn tới: Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Lâm học - Trường Đại học Lâm nghiệp, Thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp; Ban Giám đốc

và cán bộ viên chức Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ, cùng thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng do kiến thức, kinh nghiệm của bản thân, điều kiện về thời gian cũng như tài liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được những ý kiến quý báu góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

để luận văn hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học 3

1.1.2 Các nghiên cứu về nhân giống cây trồng 4

1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng 6

1.2 Ở Việt Nam 7

1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học 7

1.2.2 Các nghiên cứu về nhân giống bằng giâm hom 10

1.2.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng 12

1.2.4 Một số nghiên cứu về cây Vù hương 13

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Mục tiêu 16

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 16

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 16

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16

2.4 Nội dung nghiên cứu 16

2.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cây Vù hương 16

2.4.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Vù hương bằng phương pháp giâm hom 16

2.4.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Vù hương 16

Trang 4

2.4.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Vù hương tại huyện

Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ 16

2.5 Phương pháp nghiên cứu 16

2.5.1 Quan điểm và cách tiếp cận 16

2.5.2 Kế thừa tài liệu, số liệu liên quan 18

2.5.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học 18

2.5.4 Phương pháp nghiên cứu nhân giống 19

2.5.5 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật gây trồng 20

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 24

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24

3.1 Điều kiện tự nhiên 24

3.1.1 Vị trí địa lý 24

3.1.2 Địa hình, địa thế 24

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 25

3.1.4 Khí hậu, thủy văn 25

3.1.5 Hệ thực vật rừng 26

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27

3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động 27

3.2.2 Thực trạng kinh tế và tình hình sản xuất kinh doanh 27

3.2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng 30

3.3 Đánh giá về những thuận lợi và khó khăn 31

3.3.1 Thuận lợi 31

3.3.2 Khó khăn 32

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Đặc điểm sinh học cây Vù hương 33

4.1.1 Đặc điểm hình thái 33

4.1.2 Đặc điểm phân bố và sinh thái 40

4.1.3 Đặc điểm tái sinh tự nhiên 41

4.1.4 Giá trị sử dụng của cây Vù hương 42

4.2 Kỹ thuật nhân giống cây Vù hương bằng phương pháp giâm hom 44

Trang 5

v

4.2.1 Ảnh hưởng của loại thuốc và nồng độ đến tỷ lệ ra rễ hom cây Vù hương

44

4.2.2 Ảnh hưởng của loại thuốc và nồng độ đến chất lượng rễ 46

4.3 Kỹ thuật gây trồng cây Vù hương 49

4.3.1 Hiện trạng khu vực thí nghiệm trồng rừng 49

4.3.2 Sinh trưởng của cây Vù hương 1 tuổi 52

4.3.3 Kỹ thuật trồng Vù hương theo băng 53

4.3.4 Kỹ thuật trồng Vù hương trên đất trống 57

4.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Vù hương 62 4.4.1 Kỹ thuật nhân giống bằng giâm hom 62

4.4.2 Kỹ thuật gây trồng 63

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Tồn tại 66

3 Kiến nghị 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2 IAA Indol axetic acid

3 IBA Indol butirtic acid

5 NAA Naphtalen axetic acid

7 PTNT Phát triển Nông thôn

9 PRA Participatory Rapid Assessment

10 RRA Rapid Rural Appraisal

11 SPSS Statistical Products for Social Services

11 SH% Hệ số biến động về chiều cao vút ngọn

12 SL% Hệ số biến động về chiều dài

13 SR% Hệ số biến động về chiều rộng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả điều tra hình thái thân cây Vù hương 33 Bảng 4.2 Đặc điểm về kích thước lá cây Vù hương 35 Bảng 4.3 Đặc điểm phiến lá và gân lá cây Vù hương 37

Bảng 4.5 Kết quả điều tra tái sinh tự nhiên của cây Vù hương 42 Bảng 4.6 Giá trị sử dụng của cây Vù hương 43 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của loại thuốc và nồng độ đến tỷ lệ ra rễ 44 Bảng 4.8 Chất lượng rễ của các công thức giâm hom 47 Bảng 4.9: Mô tả hiện trạng khu vực nghiên cứu thí nghiệm 50 Bảng 4.10 Một số tính chất của đất trước khi xây dựng mô hình 51 Bảng 4.11 Sinh trưởng của cây Vù hương 1 tuổi 52 Bảng 4.12 Tỷ lệ sống của cây Vù hương 3 tuổi 53 Bảng 4.13 Sinh trưởng về đường kính, chiều cao của cây Vù hương 3 tuổi 54 Bảng 4.14 Tỷ lệ sống của cây Vù hương 3 tuổi 58 Bảng 4.15 Sinh trưởng về đường kính, chiều cao của cây Vù hương 3 tuổi 58

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.3 Biểu đồ so sánh kích thước lá cây Vù hương 36

Hình 4.9 Tỷ lệ ra rễ trung bình của Vù hương ở các công thức giâm hom 46 Hình 4.10 Giâm hom vù hương 49

Hình 4.14 Vù hương 3 tuổi xuất xứ Tuyên Quang trồng theo băng 56 Hình 4.15 Vù hương 3 tuổi xuất xứ Ninh Bình trồng theo băng 56 Hình 4.16: Chất lượng của cây Vù hương 3 tuổi tại thí nghiệm theo băng 57 Hình 4.17: Chất lượng của cây Vù hương tại thí nghiệm trên đất trống 60 Hình 4.18 Vù hương 3 T xuất xứ Tuyên Quang 61 Hình 4.19 Hình 4.19 Vù hương 3 T xuất xứ Phú Thọ 61

Trang 9

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là đất nước trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình lãnh thổ chiếm 2/3 là đồi núi, nằm trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu Việt Nam lại phân bố thành 3 vùng khí hậu riêng biệt, cho nên tạo ra sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật ở mỗi vùng Hiện nay, rừng tự nhiên ở nước ta đang bị suy giảm nghiêm trọng và hầu hết là rừng thứ sinh ở mức độ thoái hóa khác nhau Nguyên nhân của sự suy giảm này do nhu cầu sử dụng gỗ của con người ngày càng tăng, ngành công nghiệp phát triển mạnh, công tác quản lý và ý thức của người dân còn kém Theo Thái Văn Trừng (1978), thảm thực vật rừng của nước ta rất phong phú, trong đó có 50% thành phần thực vật đặc hữu thuộc khu hệ thực vật đệ tam Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa, đồng thời thảm thực vật Việt Nam cũng hội tụ các luồng di cư thực vật từ nhiều hướng Sự hội tụ của 3 dòng thực vật

di cư từ Nam Trung Hoa, Ấn Độ - Himalaya và In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia cho nên rất phong phú và đa dạng, có khoảng 11.000 loài thuộc trên 2.500 chi [25] Trong đó, có nhiều loài đang bị khai thác quá mức dẫn tới nguy cơ tuyệt chủng

Phú Thọ là tỉnh miền núi nằm trong vùng Trung tâm Bắc Bộ, là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi phía Bắc do đó địa hình tương đối phức tạp, chủ yếu là đồi núi trung du Huyện Đoan Hùng nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh Phú Thọ với hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có điều kiện tự nhiên, đất đai rất phù hợp với sinh trưởng và

phát triển của cây Vù hương Cây Vù hương (Cinnamomum balansae H.lec) còn

được gọi là Gù hương, là loài cây lá rộng bản địa, đặc hữu của Việt Nam, phân bố ở nhiều tỉnh thành trong cả nước như: Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang Trong tự nhiên, Vù hương thường mọc rải rác trong rừng cùng

một số loài cây khác như: Re gừng (Cinnamomum burmanii), Bứa (Garcicia sp),

các loài Dẻ [11]

Vù hương là loài cây gỗ lớn thường xanh, cao 20 - 30 m, đường kính 50 - 75

cm, có thể đạt trên 1 m Trong thân và lá Vù hương có tinh dầu với thành phần chính là long não và được sử dụng để trưng cất tinh dầu (còn được gọi là dầu xá xị);

Trang 10

2

gỗ cây Vù hương rất tốt, không bị mối mọt và có mùi long não nên được ưa chuộng

để đóng các đồ đạc trong nhà có giá trị kinh tế cao như tủ, bàn ghế và các vật dụng tâm linh khác Vù hương được xếp vào loại hiếm (R) (sách đỏ Việt Nam, 1996) [2] Hiện tại, số lượng cây Vù hương phân bố trong rừng tự nhiên khá ít, chủ yếu phân

bố rải rác một vài cá thể trong tự nhiên và hộ gia đình Hiện nay, các tài liệu mô tả

về đặc điểm sinh học của cây Vù hương còn rất hạn chế Với tình hình suy giảm

nghiêm trọng trong tự nhiên của cây Vù hương nên rất cần được gây trồng nhằm phát triển và bảo tồn một loài cây gỗ quý hiếm có giá trị đa dạng sinh học và kinh tế cao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Đoan Hùng nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ

thuật gây trồng cây Vù hương (Cinnamomum balansae H.lec) tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” được đặt ra là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và

thực tiễn

Trang 11

3

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Vù hương có tên khoa học là Cinnamomum balansae H.lec thuộc họ Long não (Lauraceae) Ở Việt Nam, Vù hương là một loài cây gỗ lớn, thường xanh, có

phân bố rộng ở nhiều tỉnh trong cả nước và đa tác dụng Trong thân và lá có tinh dầu, gỗ cây tốt có mùi long não nên được ưu chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà

có giá trị kinh tế cao như tủ, bàn ghế Sau đây là một số thông tin, kết quả nghiên cứu có liên quan về loài này

1.1 Trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học

Odum E.P (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó, chu kỳ sống và tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý Ngoài ra, mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trưởng có thể định lượng bằng các phương pháp toán học thường được gọi là mô phỏng, phản ảnh các đặc điểm, quy luật tương quan phức tạp trong tự nhiên (trích dẫn theo Nguyễn Hải Tuất, 1982) [27]

Odum E.P (1971), đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái của Tansley A.P, năm 1935 Các sinh vật và hoàn cảnh bên ngoài của chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ở trạng thái thường xuyên có tác động Từ đó, khái niệm về hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học [8]

Baur G.N (1964), đã nghiên cứu về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, tác giả đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Các phương thức xử lý mà tác giả đưa ra đều có 2 mục tiêu rõ rệt: (i) nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và cây phi mục đích để tạo không gian dinh dưỡng và ánh sáng hợp lý cho các cây có giá trị

Trang 12

4

sinh trưởng, phát triển (ii) Tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo sau khi khai thác, chăm sóc nuôi dưỡng rừng Từ đó, tác giả đã đưa ra nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng đều tuổi, rừng không đều tuổi

và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa [1]

Tái sinh rừng là một giải pháp quan trọng và hiệu quan để phục hồi tài nguyên rừng Trong lâm nghiệp, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất biện pháp tác động hợp lý và xây dựng thành các hệ thống

kỹ thuật lâm sinh Một số công trình tiêu biểu như: Rừng mưa nhiệt đới Baur (1974) Trên cơ sở nghiên cứu sinh thái rừng mưa, Geoge N Baur đã tổng kết các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng và phân loại các biện pháp theo mục đích nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi, không đều tuổi, các phương pháp xử lý cải thiện [1]

Van Steenis (1956) khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét: đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái sinh phân tán liên tục Ông đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy cả ở rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến

ở nhiều nước nhiệt đới [36]

Phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới cũng được quan tâm như: Xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần phải bổ sung bằng cách trồng rừng ở Châu Phi (Taylor, 1965; Bennard, 1955), các biện pháp lâm sinh đề ra là cần thiết

để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dưới tán rừng nhiệt đới Châu Á (Budowski, 1956; Bara 1954; Catinot, 1965; Lamprecht, 1989),…[33]

1.1.2 Các nghiên cứu về nhân giống cây trồng

Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Mục đích của cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác từ rừng Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu về vấn đề này điển hình là các nước: Công Gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe… Ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân

Trang 13

5

tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt tới 35

m3/ha/năm ở giai đoạn 7 năm tuổi Tại Brazin, bằng con đường chọn lọc nhân tạo

đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis có năng suất đạt tới 55 m3/ha/năm sau 7 năm trồng (Welker, 1986) Tại Swaziland cũng đã chọn được giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng suất 19 m3/ha/năm (Pandey, 1983) [34] Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt từ 35

m3 - 40 m3/ha/năm, giống Bạch đàn E.urophylla đạt trung bình tới 55 m3/ha/năm, có nơi lên tới 70 m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988) [30]

Alan Longman đã bỏ ra 20 năm để nghiên cứu về công việc trồng rừng trong

đó có việc chọn và cải thiện giống cây rừng nhiệt đới ở châu Phi Ông đã nghiên cứu về các rủi ro ngẫu nhiên, những khó khăn về tổ chức xã hội và những vấn đề về sinh vật cản trở đến công việc trồng rừng Theo ông các rủi ro bất ngờ gồm: cháy rừng, gió bão, lũ lụt, hạn hán… Những khó khăn về tổ chức xã hội gồm: sự yếu kém về trình độ chuyên môn và sự thiếu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên Sự đầu

tư tài chính của nhà đầu tư (Nhà nước hoặc tư nhân) Điều kiện công nghệ và sự thiếu thông tin Các vấn đề về sinh vật theo ông gồm: sự thiếu hạt giống tốt và sự nảy mầm của hạt, sự khó khăn trong ra rễ của hom, sự sinh trưởng không vừa ý và

sự không phù hợp với điều kiện lập địa của cây rừng Về chọn và cải thiện giống ông tập trung chủ yếu vào các nghiên cứu về sản xuất giống và gây trồng bằng phương pháp hom và nuôi cấy mô Theo ông, 80% cây rừng nhiệt đới có thể tạo giống từ hom và sử dụng phương pháp này là thích hợp nhất đối với các nước nghèo có điều kiện khoa học công nghệ chưa phát triển ứng dụng, các kết quả nghiên cứu của ông tại Wanariset Station tỉnh Kalimatan Indonesia người ta đã thiết lập một hệ thống các biện pháp kỹ thuật từ khâu chọn giống, sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom, tạo nấm cộng sinh cho cây con trong vườm ươm và các biện pháp kỹ thuật gây trồng (trồng rừng, cải tạo rừng, làm giàu rừng) cho hàng chục loài cây họ Dầu và một số loài cây quý khác tại địa phương [29]

Theo Eldridge K (1993) các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước từ nửa đầu của thế kỷ trước Ở Brazil năm 1952; ở Mỹ năm 1966; ở Úc năm

Trang 14

6

1970 và 1973 đã công bố một số công trình nghiên cứu về chọn cây trội và xây

dựng vườn giống cho các loài E.maculata; E.robusta; E.regnans; E.grandis Tương

tự 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E.diversicolor ở Úc và loài

E.deglupta ở Papua New Guinea Những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo

giống gây trồng mới đã mang lại hiệu quả mang tính đột phá tới việc tăng năng xuất rừng trồng, cao gấp 2 - 3 lần trước đây Ở Brazil có những khu rừng có năng xuất từ

70 - 80 m3/ha/năm Tại Công Gô, Pháp, Ý cũng có các lâm phần đạt 40 - 50

m3/ha/năm Kết quả nhiều nông dân đã chuyển đổi hàng ngàn ha đất canh tác nông nghiệp để trồng rừng Tại Thái Lan nhờ công tác chọn giống mà rừng Tếch cũng đạt sản lượng khá cao 15 - 20 m3/ha/năm [31]

1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng

Ở vùng nhiệt đới, kỹ thuật lâm sinh được nghiên cứu một cách có hệ thống ra đời muộn hơn nhiều so với các nước ôn đối Vào nửa đầu thế kỷ XX, một loạt các công trình nghiên cứu về rừng nhiệt đới được công bố Những công trình có tính kinh điển cho nghiên cứu rừng nhiệt đới phải kể đến A.Chevalier (1918, 1919,

1924, 1931, 1953), J.Van Steenis (1935, 1950, 1956, 1958), H.G Champion (1936,1939), A.Aubreville (1949, 1951, 1957, 1959), P.W.Richards (1952), G.Baur (1964) Trong số các công trình đó, liên quan tới kỹ thuật lâm sinh đáng chú ý hơn

cả là tác phẩm “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” của G.Baur (1964)

Tại công trình này G.Baur đã hệ thống lại toàn bộ lịch sử các tác động xử lý lâm sinh đã và đang áp dụng trong các nược nhiệt đới trên thế giới, từ những xử lý lâm sinh buổi ban đầu mới hình thành cho tới những xử lý có tính toán và được quản lý một cách bài bản hơn [3]

Ở khu vực Đông Nam Á, đến năm 1990 trên 14 quốc gia đã trồng 25 triệu ha rừng với 63 loài cây bản địa được lựa chọn Tại Malaysia, năm 1999 đã giới thiệu cách xây dựng mô hình rừng trồng bền vững trên ba đối tượng rừng: rừng tự nhiên,

rừng Acacia mangium 2 - 3 tuổi, và 10 - 15 tuổi, đã sử dụng tới 23 loài cây có giá trị

kinh tế Tại Wanariset Station tỉnh Kalimantan Indonesia đã tiến hành làm giàu rừng trên nền rừng thứ sinh nghèo và cải tạo rừng không còn khả năng phục hồi

Trang 15

7

bằng cách trồng Albegia faltacaria làm cây che phủ và cải tạo đất sau đó trồng một

số loài cây họ Dầu Các mô hình nghiên cứu này đã khẳng định việc sử dụng cây bản địa trong phục hồi rừng là một hướng đi đúng và chắc chắn thành công [35]

Trong khuôn khổ dự án AKECOP thực hiện ở các nước Đông Nam Á: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippine, Lào, Việt Nam… đã tập trung nghiên cứu phục hồi các hệ sinh thái rừng thoái hoá bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh và hệ thống nông lâm kết hợp Tại Philippine, người ta đã trồng rừng thành công bằng cây Dái ngựa trên nền đất rừng Dừa, đất trồng Dứa và đất trồng Hồ tiêu Các thí nghiệm đều cho kết quả tốt Cây Dái ngựa sinh trưởng tốt còn các cây trồng như Dứa, Dừa,

Hồ tiêu đều cho năng suất cao hơn [32]

Theo Julian Evans (1992) phần lớn rừng nhiệt đới được trồng độc canh, thuần loài với diện tích rất lớn, lý do chủ yếu là kỹ thuật đơn giản Có ba chi chủ

yếu (Eucalytpus, Pinus, Tectona) chiếm 85% tổng số rừng trồng nhiệt đới vào năm

1980 Khi nghiên cứu về năng suất tác giả kết luận: có 4 nhân tố dẫn đến thay đổi

về năng suất giữa các luân kỳ (thay đổi khí hậu; khác nhau về gen; thay đổi lập địa

do thực hiện rừng trồng; khác nhau về kỹ thuật lâm sinh và sinh học) [36]

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học

Phùng Văn Phê (2012) có đề cập đến đặc điểm sinh học của cây Xá xị

(Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) cho thấy: Xá xị là một trong số 44 loài thuộc chi Re (Cinnamomum), họ Long não - Lauraceae ở Việt Nam Xá xị là cây gỗ

lớn, thường xanh, cao đến 30 m, đường kính thân 70 - 100 cm, cành nhẵn, màu hơi đen khi khô Lá đơn mọc cách, hình trứng trái xoan hoặc trái xoan, dài 5 - 15 cm, rộng 2,5 - 8 cm, gân bên 4 - 7 đôi, nách gân chính và gân bên thường có tuyến mờ, cuống lá dài 1 - 3,5 cm, nhẵn Cụm hoa chuỳ ở nách lá gần đầu cành, dài 6 - 12 cm, phủ lông màu nâu; cuống hoa dài 1 - 3 mm, phủ lông; bao hoa 6 thùy, dài 1,5 - 2

mm, thuôn Quả hình cầu, đường kính 8 - 11 mm, đính trên ống bao hoa hình chén Mùa hoa tháng 3 - 7, quả chín tháng 10 - 11 Xá xị là cây đa tác dụng và có phân bố rộng ở một số tỉnh phía Bắc và Trung bộ Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc

Trang 16

8

Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng Ngoài giá trị cho gỗ dùng trong xây dựng, làm tà vẹt và đóng đồ, các bộ phận của cây còn được chưng cất tinh dầu dùng làm thuốc xoa bóp, chữa thấp khớp, đau nhức và được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hoá mỹ phẩm, thực phẩm, dược phẩm Tinh dầu chứa trong hầu hết các bộ phận của cây Song người ta thường khai thác gỗ thân và rễ làm nguyên liệu chưng cất tinh dầu Tình trạng khai thác bừa bãi gỗ và rễ Xá xị để cất tinh dầu ở khắp các địa phương trong cả nước làm loài cây này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng [10]

Đoàn Đình Tam (2008) khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của cây Chò chỉ tại vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ cho thấy: tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Chò chỉ phân bố trên đất Feralit đỏ và đỏ nâu phát triển trên đá vôi, tầng đất dày, hơi chua,

độ bão hòa bazơ thấp Phân bố theo cụm hoặc đám, chủ yếu ở các vùng ẩm ướt trên các sườn đồi và đỉnh đồi đất hoặc các thung đá lẫn đất, chúng thường mọc cùng các loài gỗ khác như Trâm, Dẻ, Sấu, Kháo, tạo nên kiểu rừng có nhiều tầng thứ Chò chỉ có mức độ tái sinh tự nhiên thấp, tái sinh có dạng phân bố cụm, đám, số cây tái sinh thấp và chất lượng cây tái sinh trung bình [18]

Nguyễn Bá Văn (2007) khi nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Sâng tại Vườn quốc gia Cúc Phương - Ninh Bình cho thấy: Sâng là loài cây gỗ lớn sống lâu năm trong rừng tự nhiên, cao từ 10 - 35 m, đường kính có thể đạt từ 10 -

100 cm, gỗ có màu hồng nhạt, vỏ màu nâu, cành non phủ lông màu nâu vàng; lá kép lông chim 1 lần, mọc cách, lá chét mọc gần đối từ 5 - 10 đôi, chiều dài phiến lá từ

20 - 40 cm, chiều rộng từ 4,5 - 5,5 cm; hoa tự hình viên chùy, quả hình khối bầu dục hơi dẹt, chiều rộng quả từ 2,2 - 2,4 cm, chiều dài từ 3,2 - 3,6 cm khi quả non màu xanh nhạt còn khi chín màu nâu thẫm Một số loài thường mọc cùng Sâng như: Nhò vàng, Vàng anh, Cà lồ, Quếch, Sấu Tái sinh tự nhiên dưới tán cây mẹ, ngoài tán số lượng cây tái sinh giảm dần [28]

Lê Quốc Huy, Hà Thị Mừng (2009) khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái cây Dẻ đỏ, Kháo vàng, Giáng hương đã cho thấy: Kháo vàng, Dẻ đỏ phân

Trang 17

9

bố nhiều ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và phía Nam, mọc ở những nơi có độ cao tuyệt đối 200 - 500 m, độ dốc 10 - 25o, lượng mưa 1292 - 2749 mm/năm, nhiệt độ trung bình năm 21,2 - 23,4oC Giáng hương phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên

và Nam Bộ, nơi có nhiệt độ bình quân năm 21,9 - 26,9oC [5]

Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm

1960 Các kết quả nghiên cứu về tái sinh mới chỉ đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học hoặc công bố trên các tạp chí

Lâm nghiệp Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963, 1978) về “Thảm thực

vật rừng Việt Nam” Ông đã nhấn mạnh: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và

điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và thứ sinh [25]

Vũ Đình Huề (1975) kết luận: tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam có đặc điểm của rừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm, kém giá trị Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Từ kết quả đó, tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta [4]

Trần Xuân Thiệp (1995) khi nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi rừng

tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc cho thấy: Ở vùng Tây Bắc, dù vùng thấp hay vùng cao thì tái sinh tự nhiên vẫn khá tốt về số lượng cây từ 500 - 8.000 cây/ha Rừng Tây Bắc thể hiện rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh nghèo về trữ lượng, diễn thế ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ là chủ yếu, nhóm loài cây rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ Vùng Trung tâm, tác giả cho biết sự nghèo kiệt nhanh chóng của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên thấp Vùng Đông Bắc, số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 - 12.000 cây/ha và so với các vùng khác thì vùng này có khả năng tái sinh tự nhiên tốt nhất [20]

Hoàng Văn Tuấn (2007) khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và động thái tái sinh của hệ sinh thái rừng rộng lá thường xanh vùng Tây Bắc đã chỉ ra rằng: Có một

sự tích lũy số loài ở các lớp cây có kích thước lớn hơn so với các lớp cây dưới đó

Trang 18

Thực tế này phản ánh kết quả của sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng của các loài cây tái sinh và tùy vào kích thước của lỗ trống được tạo ra trong tán rừng làm tiền

đề cho quá trình tái sinh [26]

1.2.2 Các nghiên cứu về nhân giống bằng giâm hom

Nhân giống vô tính đã và đang được đưa vào sử dụng rộng rãi và đóng một vai trò quan trọng trong công tác cải thiện giống cây rừng ở nước ta (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [12] Phương pháp nhân giống này trong thời gian gần đây rất phát triển, đã góp phần nhân nhanh các giống đã được chọn lọc, bảo đảm khả năng duy trì các đặc tính ưu việt của cây mẹ cho các thế hệ sau (Hartmann et al , 2002) [32].Trong đó, nhân giống bằng phương pháp giâm hom chiếm ưu thế cao Tuy nhiên, khó khăn trong việc nhân giống giâm hom đối với cây thân gỗ là do sự thay đổi sinh

lý kết hợp với sự trưởng thành của cây sẽ làm giảm khả năng ra rễ của hom giâm

Phùng Văn Phê (2012) khi nghiên cứu nhân giống giâm hom cây Xá xị

(Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh

Phúc Kết quả nghiên cứu đã khẳng định chất điều hòa sinh trưởng, giá thể và thời gian xử lý hóa chất cho hom có ảnh hưởng rõ rệt tới tỉ lệ ra rễ và chất lượng rễ của cây hom Xá xị Thuốc IBA nồng độ 250 ppm là phù hợp nhất khi giâm hom Xá xị, trên giá thể thích hợp nhất là hỗn hợp 60% cát vàng và 40% mùn cưa, cho tỉ lệ ra rễ cao nhất và chất lượng rễ tốt nhất Thời gian xử lý hom tốt nhất bằng IBA nồng độ

250 ppm là 30 phút [10]

Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ (2005) khi nghiên cứu giâm hom Bách vàng phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng cho thấy: hom giâm Bách vàng có khả năng ra rễ tương đối cao khi không có thuốc kích thích, đạt tỷ lệ 83,3%; khi sử dụng 4 loại thuốc kích thích (RA, IBA, IAA, ABT1) thì đều cho tỷ lệ ra rễ 90% trở lên, trong đó có 2 loại thuốc đạt tỷ lệ ra rễ rất cao lần lượt là ABT1 nồng độ 0,5% đạt 96,7%, IBA 0,5% đạt tỷ lệ ra rễ 100% Chất lượng bộ rễ không có sự khác biệt

rõ ràng về chiều dài trung bình rễ và rễ dài nhất ở các công thức nhưng số lượng rễ trung bình và số rễ nhiều nhất trên 1 hom đều tốt hơn so với đối chứng [14]

Trang 19

Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) khi nghiên cứu giâm hom Hồng quang và Thông lông gà phục vụ bảo tồn nguồn gen cho thấy: hom cành cây Hồng quang lớn tuổi (đường kính trên 30 cm) vẫn cho tỷ lệ ra rễ đạt khoảng 50%, công thức đối chứng cũng đạt tỷ lệ ra rễ 45% Số lượng rễ trên hom và chiều dài rễ cho thấy chất lượng bộ rễ tốt, đảm bảo cho trồng rừng bằng cây hom sau này Hom chồi gốc tỷ lệ

ra rễ 85 - 90%, cao hơn hom chồi ngọn (65 - 75%), trong đó NAA là loại thuốc cho

tỷ lệ ra rễ cao nhất Khi giâm hom Thông lông gà thì tỷ lệ ra rễ của hom cành chỉ đạt cao nhất 45%, khi xử lý với thuốc IBA 1%, trong khi đối chứng cho tỷ lệ ra rễ 35% Ngược lại hom đầu cành lấy từ cây non 2 - 3 năm tuổi cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, đạt 80 - 90% cho cả 3 loại thuốc xử lý [15]

Nguyễn Huy Sơn (2006) khi nghiên cứu nhân giống Quế bằng phương pháp giâm hom đã sử dụng thuốc kích thích ra rễ gồm IAA, IBA, ABT (nồng độ 0,5%, 0,75%, 1,0%, 1,5%) cho thấy: tuổi cây lấy hom càng trẻ thì tỷ lệ ra rễ càng cao, hom lấy từ cây 1 năm tuổi ra rễ đến 98,6%, nhưng hom lấy từ cây 13 năm tuổi cũng chỉ ra rễ 15,5% cho dù đã dùng thuốc kích thích và thời vụ tốt nhất; khi giâm hom bằng cát tinh cho tỷ lệ ra rễ cao hơn giá thể bầu đất, mặc dù tỷ lệ ra rễ của những hom lấy từ 1 năm tuổi cao nhất nhưng không có ý nghĩa trong công tác cải thiện giống, vì những cây này chưa thể xác định được chúng có phải là cây trội khi thành thục sinh học hay không Trong một thí nghiệm khác với hom giâm lấy từ cây mẹ 7 tuổi cũng được bố trí các loại thuốc và nồng độ tương tự thì cho thấy giâm hom vào mùa hè với loại thuốc IBA nồng độ 1,0% cho tỷ lệ ra rễ cao nhất đạt 77% [17]

Như vậy, ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân giống cây trồng bằng phương pháp giâm hom Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy: khi

sử dụng thuốc kích thích ra rễ để giâm hom thì tỷ lệ ra rễ luôn cao hơn khi không sử dụng thuốc kích thích Mỗi loài cây sẽ có một loại thuốc kích thích, nồng độ phù hợp nhất để có được tỷ lệ ra rễ và chất lượng rễ cao nhất Chính vì vậy, cần phải có những công trình kế tiếp để xác định xem loại thuốc kích thích nào tốt nhất, điều này có ý nghĩa thực tiễn trong công tác chọn và nhân giống cây trồng ở nước ta

Trang 20

1.2.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng

Kỹ thuật lâm sinh là kỹ thuật tạo rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và khai thác rừng: là việc ứng dụng sinh thái rừng trong tái sinh phục hồi rừng, đề xuất các biện pháp tác động vào rừng nhằm duy trì và phát triển một cách bền vững những lợi ích của rừng, đáp ứng được các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường Kỹ thuật lâm sinh có liên quan tới quá trình hình thành rừng và chất lượng của thảm thực vật rừng Điều này chỉ có thể đạt được ở nơi còn có rừng che phủ hoặc ít nhất còn có những điều kiện để tạo được rừng mới [3]

Kết quả đánh giá sinh trưởng của Giổi xanh và Re gừng trên các mô hình rừng trồng (Nguyễn Đức Kiên, Ngô Văn Chính, 2008) cho thấy Giổi xanh và Re gừng là loài cây sinh trưởng tương đối nhanh và chưa có sự sai khác về sinh trưởng giữa các phương thức trồng thuần loài và hỗn loài Khi so sánh sinh trưởng của Giổi xanh và Re gừng ở băng chặt/băng chừa theo tỷ lệ 20m/20m tốt hơn ở băng 10m/10m [7]

Phạm Đình Tam (1996 - 2000) nghiên cứu kỹ thuật gây trồng Trám trắng làm nguyên liệu gỗ dán Đề tài đã thiết lập các mô hình trồng thuần loài, trồng hỗn giao với cây Lim xẹt, trồng dưới tán rừng thứ sinh phục hồi Sau 10 năm theo dõi cây sinh trưởng kém, cây trồng dưới tán rừng hầu như không tồn tại Trong chương trình 327, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai đã sử dụng Trám trắng, Re gừng, Dẻ đỏ, Sồi phảng, Lim xanh, Lát hoa, Đinh vàng để xây dựng các

mô hình thực nghiệm và thu được các kết quả khả quan Ngoại trừ các loài Lát hoa, Đinh vàng sinh trưởng kém do không thích hợp với thổ nhưỡng còn lại các loài khác đều sinh trưởng tốt, có thể bổ sung vào cơ cấu cây trồng rừng ở các vùng các địa phương có điều kiện lập địa tương tự [19]

Phan Minh Sáng (2015) nghiên cứu kỹ thuật trồng cây gỗ lớn nhập nội Giổi bắc và Lát Mexico cho thấy: Giổi Bắc và Lát Mexico là hai loài cây gỗ lớn sinh trưởng tốt ở nước ta, có thể trồng thuần loài hoặc hỗn giao với các loài cây có tốc

độ sinh trưởng ngang bằng với hai loài cây này Mặc dù vậy cả hai loài đều đòi hỏi lập địa còn tốt, đất còn tính chất đất rừng Ngoài ra Lát Mexico sinh trưởng không

Trang 21

tốt trên đất chua Đến hết năm 2010, các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Lát Mexico

và Giổi bắc đã thử nghiệm như mật độ, bón phân, công thức hỗn giao vẫn chưa có ảnh hưởng rõ ràng đến cây trồng thí nghiệm giữa các công thức khác nhau Các xuất

xứ Giổi Bắc và Lát Mexico đã thử nghiệm bởi đề tài đều sinh trưởng và phát triển tốt ở các khu vực thử nghiệm Lát Mexico ở rừng trồng thường bị sâu hại mạnh, vì vậy để đảm bảo thành công cho rừng trồng loài cây này, cần thiết phải nghiên cứu sâu hại bài bản hơn và xây dựng qui trình quản lý sâu hại chuẩn cho loài [16]

1.2.4 Một số nghiên cứu về cây Vù hương

* Về đặc điểm sinh học:

Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999) khi nghiên cứu một số loài bị đe dọa ở Việt Nam, trong đó có loài Vù hương và đã mô tả đặc điểm sinh học cây Vù hương: Vù hương là loài cây gỗ lớn thường xanh, cao tới 30 m, đường kính thân có khi vượt quá 100 cm, ra hoa vào tháng 1 - 5 và quả chín vào tháng 7 - 8 và tái sinh bằng hạt

Vù hương có phân bố hẹp ở một vài vùng ở phía Bắc và hiện chỉ còn gặp ở Ba Vì (Hà Tây) và Cúc Phương (Ninh Bình), cây mọc trong rừng nhiệt đới thường xanh, trên núi đất hoặc trên núi đá vôi, ở độ cao giữa 100 - 600 m, thường mọc trên đất

thoát nước, nhiều mùn cùng với một số loài cây khác như Re hương (Cinnamomum

parthenoxylon), Bứa (Garcinia sp.), Sấu (Dracontomelum duperreanum) [11]

Lê Thị Thanh Hương (2013) khi nghiên cứu giá trị làm thuốc của loài Vù hương tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cho thấy: thành phần chính trong tinh dầu Vù hương gồm safrol hàm lượng rất cao (75 - 80%), ngoài ra còn có B-pinen, eugenol, aldehyt cinamic Vù hương có trong bài thuốc chữa ho gà, kiết lỵ, cầm máu, giảm đau, chữa phong thấp, đau dạ dày, mẩn ngứa ngoài da [6]

* Về nhân giống:

Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Văn Thọ (2005) khi nghiên cứu nhân giống giâm hom Vù hương phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng đã cho thấy: Cây Vù hương nhân giống bằng hom khá tốt (ngay cả với cây lớn tuổi - 15 tuổi) và có khả năng ra rễ ngay cả khi không có thuốc kích thích, mặc dù tỷ lệ ra rễ chỉ đạt 40% Thuốc kích thích ra rễ sau khi xử lý đã làm tăng đáng kể tỷ lệ ra rễ của hom Vù

Trang 22

hương lên đến 1,5 - 2,0 lần; trong đó thuốc IAA nồng độ 0,5 - 1,5% cho tỷ lệ ra rễ đạt từ 70 - 80%, ABT1 có nồng độ 1 - 2% đạt 60 - 80% (gấp 2 lần so với đối chứng) Chất kích thích đều cho ra bộ rễ tốt hơn so với đối chứng về số lượng rễ trên hom giâm [13]

Hà Văn Tiệp (2015) khi nghiên cứu nhân giống hom cây Vù hương cho thấy: Giâm hom Vù hương vào mùa khô từ tháng 9 - 12 cho tỷ lệ ra rễ cao hơn giâm hom mùa mưa từ tháng 5 - 8 hàng năm Tỷ lệ ra rễ cao nhất vào mùa khô, đối với thuốc IAA nồng độ 1,5% là 63,3%, thuốc ABT1 nồng độ 1,5% là 78,9% Đối với mùa mưa tỷ lệ ra rễ cao nhất là 54% đối với thuốc IAA nồng độ 1% và 69% đối với thuốc ABT1 nồng độ 1,5% [23]

Hiện tại, tình hình nghiên cứu nhân giống giâm hom cây Vù hương trong nước còn rất ít, thời gian nghiên cứu thí nghiệm đã lâu Kết quả nghiên cứu cho thấy: khi giâm hom cây Vù hương không sử dụng thuốc kích thích thì hom vẫn có khả năng ra rễ nhưng tỷ lệ thấp, còn khi sử dụng thuốc kích thích tỷ lệ ra rễ cao hơn

và chất lượng bộ rễ tốt hơn so với không sử dụng thuốc kích thích

* Về kỹ thuật gây trồng:

Hà Văn Tiệp (2009) khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng loài Vù hương nhằm phục hồi các trạng thái rừng nghèo kiệt tại Tây Bắc đã chỉ ra: Trạng thái rừng trồng đã ảnh hưởng đến sinh trưởng đường kính và chiều cao của cây Vù hương Trạng thái rừng phục hồi sau khai thác có ảnh hưởng trội hơn đến sinh trưởng của cây so với trạng thái rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy cây đạt chiều cao trung bình Hvn = 64,27 cm, Do = 0,83 cm Vù hương có tác dụng phục hồi rừng nghèo kiệt, đặc biệt là các trạng thái rừng Ib, Ic và IIa Đề tài cũng xây dựng được

10 ha mô hình phục hồi rừng nghèo kiệt bằng Vù hương tại Sơn La và Hòa Bình [22]

* Về bảo tồn:

Phùng Văn Phê (Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, Hòa Bình, 2013) đã đề cập đến hiện trạng và đề xuất biện pháp bảo tồn có tính cấp thiết đối với loài Vù hương tại Hòa Bình [9]

Trang 23

Lê Phương Triều (2012) khi nghiên cứu bảo tồn một số loài cây quý hiếm tại Vườn quốc gia Cúc Phương đã xây dựng mô hình bảo tồn 10 loài cây gỗ quý hiếm trong đó có mô hình bảo tồn thuần loài cây Vù hương với diện tích 1 ha [24]

Đỗ Đình Tiến (2012) khi nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen loài Vù hương tại Vườn quốc gia Tam đảo đã điều tra được 17 cây Vù hương và đã xây dựng mô hình bảo tồn nguyên vị 15 cây Vù hương [21]

Nhận xét chung:

Trên thế giới tác giả chưa tìm thấy các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và

kỹ thuật gây trồng loài Vù hương

Thông qua phần tổng quan trên cho thấy: về đặc điểm sinh học của cây Vù hương có 1 công trình điển hình của Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999) khi nghiên cứu một số loài cây bị đe dọa ở Việt Nam, thời gian nghiên cứu đã lâu Về nhân giống bằng giâm hom có nhiều công tình nghiên cứu, đa số công trình khi sử dụng thuốc kích thích thì tỷ lệ ra rễ cao hơn đối chứng Về kỹ thuật gây trồng cây Vù hương

còn rất hạn chế

Nói tóm lại, Vù hương là một loài cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao, là loài đặc hữu của nước ta đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Các nghiên cứu

về đặc điểm sinh học, kỹ thuật gây trồng cây Vù hương ở trong nước không nhiều,

do đó nội dung nghiên cứu của đề tài là rất cần thiết nhằm bổ sung thêm các đặc điểm sinh học, biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng để tạo sơ sở khoa học góp phần vào việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây quí hiếm này

Trang 24

Chương 2

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu

- Xác định được một số đặc điểm sinh học của cây Vù hương

- Xác định được một số kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Vù hương

- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Vù hương tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Loài cây Vù hương (Cinnamomum balansae H.lec)

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, biện pháp kỹ thuật nhân giống (giâm hom) và gây trồng cây Vù hương

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2015 đến tháng 3/2016 tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

2.4 Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cây Vù hương

2.4.1.1 Đặc điểm hình thái

2.4.1.2 Đặc điểm phân bố, sinh thái và tái sinh tự nhiên

2.4.1.3 Giá trị sử dụng của cây Vù hương

2.4.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Vù hương bằng phương pháp giâm hom

2.4.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Vù hương

2.4.3.1 Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Vù hương theo băng

2.4.3.2 Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Vù hương trên đất trống

2.4.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Vù hương tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Quan điểm và cách tiếp cận

Để giải quyết vấn đề đặt ra, các phương pháp nghiên cứu được trình bày

theo từng nội dung nghiên cứu và quá trình thực hiện theo sơ đồ hình 2.1

Trang 25

BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

XỬ LÝ THÔNG TIN VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY VÙ HƯƠNG

KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY VÙ HƯƠNG

KỸ THUẬT

Trang 26

2.5.2 Kế thừa tài liệu, số liệu liên quan

Kế thừa một số tài liệu, thông tin có liên quan về loài Vù hương, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu

Kế thừa các mô hình đã được xây dựng năm 2013 của đề tài “Nghiên cứu

bảo tồn và phát triển cây Vù hương (Cinnamomum balansae H.Lec) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”

2.5.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học

- Điều tra toàn bộ các xã thuộc huyện Đoan Hùng bằng phương pháp PRA, RRA được hiểu là phỏng vấn các cán bộ quản lý và người dân về địa điểm có cây

Vù hương Thống kê toàn bộ cây Vù hương tại mỗi xã và đánh số hiệu cho từng cây (PT01, PT02 )

* Đặc điểm hình thái thân cây:

- Đo đếm các chỉ tiêu, ghi chép vào biểu mẫu

+ Đường kính (D1.3) tại vị trí 1,3 m bằng thước kẹp kính có độ chính xác tới 0,1 cm

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước Bumeleiss

+ Đánh giá bằng mắt thường các chỉ tiêu về: hình dáng, màu sắc thân, cành,

vỏ và gốc cây

* Đặc điểm hình thái lá, hoa, quả:

- Đề tài chọn 50 lá cây Vù hương trưởng thành ở Phú Thọ, chọn lá cây ở mô hình thí nghiệm trồng rừng Vù hương 3 tuổi, tại mỗi xuất xứ Vù hương là Tuyên Quang, Phú Thọ, Ninh Bình lấy lá ở 5 cây/xuất xứ (lấy 10 lá/cây), tổng 50 lá/xuất

xứ và không chọn lá bị sâu bệnh, lá rách và non Mô tả bằng mắt thường các chỉ tiêu hình dạng, số gân, đặc điểm phiến lá, cuống lá, màu sắc Đo toàn bộ chiều dài, chiều rộng của từng lá bằng thước kẻ có độ chính xác 1 mm

- Mô tả hình thái quả: mô tả bằng mắt thường hình dạng, màu sắc, kích thước của quả Vù hương

* Đặc điểm phân bố: điều tra thảm thực vật có cây Vù hương, vị trí mọc (chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi)

Trang 27

* Đặc điểm tái sinh tự nhiên: lập OTC hình tròn có bán kính gấp 2 lần chiều cao của cây mẹ để xác định cây tái sinh Đo đếm toàn bộ các cây Vù hương tái sinh trong OTC

* Giá trị sử dụng: đề tài phỏng vấn 120 người tại huyện Đoan Hùng về thông tin giá trị sử dụng loài Vù hương

2.5.4 Phương pháp nghiên cứu nhân giống

2.5.4.1 Bố trí thí nghiệm giâm hom

Thí nghiệm giâm hom được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 13 công thức với 3 lần lặp, mỗi lần lặp 30 hom, trong đó 12 công thức sử dụng thuốc kích thích ra

rễ là IAA, IBA, NAA với 4 loại nồng độ 0,5%; 1,0%; 1,5%; 2,0% và 1 công thức đối chứng không sử dụng thuốc kích thích Cụ thể như sau:

CT1 CT2 CT3 CT4

Ghi chú

CT1: thuốc IAA nồng độ 0,5% CT4 CT1 CT2 CT3 CT2: thuốc IAA nồng độ 1,0% CT2 CT4 CT3 CT1 CT3: thuốc IAA nồng độ 1,5%

CT5 CT6 CT7 CT8 CT5: thuốc IAA nồng độ 0,5% CT6 CT5 CT8 CT7 CT6: thuốc IAA nồng độ 1,0% CT7 CT8 CT5 CT6 CT7: thuốc IAA nồng độ 1,5%

CT13 CT8: thuốc IAA nồng độ 2,0%

CT9 CT10 CT11 CT12 CT9: thuốc IAA nồng độ 0,5% CT12 CT9 CT10 CT11 CT10: thuốc IAA nồng độ 1,0% CT10 CT12 CT9 CT11 CT11: thuốc IAA nồng độ 1,5%

CT13: đối chứng Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom

- Giá thể giâm hom là cát sông được xử lý bằng Viben-C 0,3%, được phơi khô nhiều nắng để khử trùng, sau đó được sàng bỏ tạp chất và cho vào luống giâm

Trang 28

Hom đã cắt được ngâm vào dung dung dịch thuốc Benlate nồng độ 0,3% trong thời gian 15 phút, sau đó vớt hom ra khay cho ráo nước Khi giâm hom, chấm gốc hom vào dung dịch thuốc kích thích sao cho thuốc phủ kín bề mặt lát cắt của hom và cấy ngay vào luống Sau khi giâm, phun nước tưới hom cho mặt lá đủ ướt, làm vòm ni lông, làm giàn che bằng lưới đen (cường độ ánh sáng còn 40 - 50%) Hom được tưới bằng bình phun cầm tay 4 lần/ngày, 2 - 3 ngày tưới ẩm cho nền cát

1 lần

- Quan sát, theo dõi hom giâm, sau 40 ngày tiến hành đo đếm từng công thức

về tỉ lệ ra mô sẹo, ra rễ, số lượng và chiều dài rễ

2.5.5 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật gây trồng

2.5.5.1 Bố trí thí nghiệm

Kế thừa các mô hình đã được xây dựng năm 2013 của đề tài “Nghiên cứu

bảo tồn và phát triển cây Vù hương (Cinnamomum balansae H.Lec) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”

Thí nghiệm trồng rừng với 3 xuất xứ: Tuyên Quang, Phú Thọ, Ninh Bình Gồm 2 công thức thí nghiệm:

+ Thí nghiệm trồng theo băng

+ Thí nghiệm trồng trên đất trống

Phương pháp tiến hành như sau:

Xử lý thực bì: Thực bì được phát theo băng rộng 2 m, chừa 3 m hoặc phát toàn diện (đối với thí nghiệm trồng trên đất trống), xác thực bì được gom lại xếp theo đường đồng mức phía dưới băng phát

Trang 29

Làm đất: cuốc hố trồng có kích thước 50 cm x 50 cm x 40 cm, trước khi trồng 15 - 20 ngày Khi cuốc hố, để riêng lớp đất mặt sang một bên đến khi lấp hố lấy lớp đất mặt đó và xới lớp đất mặt xung quanh lấp đầy hố

Bón lót và lấp hố: bón lót 0,3 kg phân vô cơ (NPK) (5:10:3) + 3 kg phân vi sinh/hố Dùng cuốc trộn đều phân với đất trong hố, sau đó phủ một lớp đất lên đến ngang miệng hố Bón trước khi trồng cây từ 15 - 20 ngày

Mật độ trồng: trồng theo băng mật độ 800 cây/ha, với cây cách cây 2,5 m, hàng cách hàng 5 m hoặc trồng trên đất trống mật độ 1.100 cây/ha với cây cách cây

3 m hàng cách hàng 3 m

Kỹ thuật trồng: Dùng cuốc tạo một lỗ chính giữa hố, bóc bỏ vỏ bầu, đặt cây ngay ngắn vào hố, lấp đất kín bầu khoảng 2 - 3 cm, tránh không được làm tổn thương đến cây con

Chăm sóc: Năm đầu tiên chăm sóc 2 lần; lần đầu sau khi trồng 1 - 2 tháng, phát cây bụi, cắt dây leo chăm sóc cây trồng, xới vun gốc rộng 0,8 - 1,0 m Lần 2 vào tháng 10 - 11, phát thực bì toàn diện và cắt dây leo, xới vun gốc rộng 0,8 - 1,0 m Năm thứ 2 và năm 3 chăm sóc 2 lần: lần 1 vào tháng 3 - 4, phát dọn thực bì toàn diện, cắt dây leo, xới vun gốc rộng 0,8 - 1,0 m, bón chăm sóc 0,3 kg NPK/hố Lần 2 vào tháng 9 - 10, phát dọn thực bì toàn diện, cắt dây leo, xới vun gốc rộng 0,8 - 1,0 m

2.5.5.2 Thu thập số liệu

- Phương pháp lập OTC (diện tích 500 m2), mỗi ô đại diện cho 1 xuất xứ Vù hương, đo đếm toàn bộ về đường kính Do, chiều cao Hvn và chất lượng cây trong OTC

+ Điều tra tỷ lệ sống bằng phương pháp đếm số cây sống trong OTC

+ Đo đường kính gốc Do bằng thước kẹp palme với độ chính xác đến mm + Đo chiều cao vút ngọn Hvn bằng thước sào có khắc vạch đến cm

+ Điều tra chất lượng cây: Đánh giá cây tốt, trung bình, xấu bằng phương pháp mục trắc theo các chỉ tiêu đánh giá như sau

Cây tốt (T): là cây thân thẳng, không cong queo, sinh trưởng tốt, tán lá màu xanh đậm, có triển vọng sinh trưởng trong các năm về sau

Trang 30

+ Phương pháp quan sát, mô tả tại hiện trường: lấy mẫu, chụp ảnh Kết quả

điều tra được ghi vào biểu điều tra

Xi: Đường kính hoặc chiều cao bình quân của cây trong bụi thứ i

- Tính sai tiêu chuẩn(S):

Trang 32

Chương 3

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Đoan Hùng cách thành phố Việt Trì 50 km về phía Tây Bắc, theo số liệu thống kê tính đến ngày 01/01/2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường, Đoan Hùng có tổng diện tích tự nhiên 30.261,34 ha; gồm 27 xã và một thị trấn

Phía Bắc giáp huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái

Phía Nam giáp huyện Phù Ninh

Phía Đông giáp huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Phía Tây giáp huyện Thanh Ba và Hạ Hòa

3.1.2 Địa hình, địa thế

Đoan Hùng có địa hình đa dạng, ít phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi những khe sâu và hệ thống suối đan dày Cụ thể phân chia địa hình trong huyện thành hai kiểu chính như sau:

- Kiểu địa hình núi thấp: Phân bố tập trung ở trung tâm vùng, khu vực này địa hình thấp và ít dốc, độ cao trung bình 350 m, độ dốc bình quân 20º Địa hình thoải dần theo hướng Đông - Tây, kiểu địa hình này thuận lợi cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp

- Kiểu địa hình đồi: Phân bố chủ yếu trong huyện, độ dốc bình quân 15º, gồm những đồi riêng biệt hoặc liền dải Kiểu địa hình này thuận lợi cho trồng cây lâm nghiệp, ăn quả và cây công nghiệp dài ngày Ngoài ra, xen giữa các ngọn đồi là thung lũng nhỏ hẹp có thể trồng lúa hoặc cây ngắn ngày

Nhìn chung, cả hai kiểu địa hình đều thích hợp cho trồng rừng và phát triển cây công nghiệp dài ngày

Trang 33

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng

Nền địa chất của khu vực nghiên cứu tương đối đơn giản, chủ yếu là các loại

đá trầm tích và đá biến chất tạo ra đất feralit vàng đỏ hay đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch Mica, phiến thạch sét và Gnai Tầng phong hóa khá dày (trên 2m) Ngoài ra, ở khu vực còn có các dạng đất trung gian, đất dốc tụ

Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, độ xốp lớp đất mặt cao, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, độ pH từ 3,9 - 5,4, hàm lượng chất hữu cơ tương đối cao

3.1.4 Khí hậu, thủy văn

 Khí hậu

Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Phú Thọ cho thấy, Đoan Hùng mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa đông khô hanh kéo dài, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều

- Nhiệt độ:

+ Nhiệt độ trung bình năm 23,1ºC

+ Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tháng lạnh nhất là tháng 12 + Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, tháng nóng nhất vào tháng 7, nhiệt độ trung bình 28ºC, nhiệt độ cao nhất 41ºC

+ Gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9, gió thổi mạnh

và mang theo nhiều hơi nước nên mưa nhiều

Trang 34

Nhìn chung, khí hậu thời tiết khu vực nghiên cứu thuận lợi với phát triển lâm nghiệp song do đặc điểm địa hình và chế độ mưa hàng năm Trong khu vực thường xuất hiện lốc, gió xoáy kèm theo mưa đá, ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi

và đời sống sinh hoạt của nhân dân

3.1.5 Hệ thực vật rừng

Là vùng Trung tâm lâm nghiệp của Bắc Bộ, nằm giữa hai vùng sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc và Đông Bắc khu vực này đã từng là nơi có mặt 780 loài thực vật của 477 chi thuộc 120 họ Trong thành phần thực vật có nhiều loài cây gỗ có giá trị kinh tế như: Lim xanh, Chò nâu, Gội, Ràng ràng, Giổi, các loài thuộc họ Sồi giẻ, các loài thuộc họ Tre nứa Dược liệu có: Ba kích, Thiên niên kiện Các loài trong

họ Cau dừa có: Cọ, Mây

Do quá trình khai thác cạn kiệt, tập quán canh tác nương rẫy, hiện nay phần lớn còn lại là rừng thứ sinh nghèo kiệt, rừng phục hồi sau nương rẫy, nhiều loài cây bản địa quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và các cơ quan nghiên cứu, trong những năm qua huyện đã khôi phục lại được một diện tích đáng kể rừng bằng các biện pháp khoanh nuôi, cải tạo và trồng rừng mới Hiện tại đã có rất nhiều các lâm phần đang ở trong trạng thái rừng IIIa1, IIIa2, IIa, IIb đang được khoanh nuôi bảo vệ

Theo đánh giá của các cơ quan chuyên ngành, khả năng phục hồi tự nhiên ở đây có triển vọng nếu tiếp tục đi theo con đường xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp cùng với tái sinh nhân tạo với các kỹ thuật lâm sinh phù hợp

Trang 35

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động

độ dân số tương đối thấp

Đoan Hùng chủ yếu là người Kinh, ngoài ra còn có dân tộc Cao Lan, Sán chí, Mường, Tày, Thái chiếm tỷ lệ nhỏ

- Lao động

Tổng số lao động đang làm việc có 58.100 người, chiếm 51,2% tổng dân số Trong đó lao động đang làm việc đã qua đào tạo ở mức trung bình của tỉnh Phú Thọ, chiếm 17,7%

3.2.2 Thực trạng kinh tế và tình hình sản xuất kinh doanh

3.2.2.1 Đặc điểm chung nền kinh tế

- Tăng trưởng kinh tế: những năm gần đây nền kinh tế của huyện đã có sự chuyển biến tích cực, xuất hiện những mô hình tốt tạo đà tiếp tục đổi mới và phát triển đồng loạt các ngành nghề trong huyện

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: trong những năm qua, Đoan Hùng đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng kinh tế nông lâm nghiệp, tăng nhanh kinh tế công nghiệp và dịch vụ Nhìn chung, sự chuyển biến còn chậm, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2012 - 2022 đạt trung bình 8% năm trở lên

3.2.2.2 Hiện trạng phát triển các ngành kinh tế

 Ngành nông nghiệp:

- Trồng trọt:

Huyện Đoan Hùng có 11.726,5 ha đất sản xuất nông nghiệp chiếm 38,8% tổng diện tích tự nhiên, trong đó:

Trang 36

+ Đất trồng cây hàng năm: 5.145,3 ha

+ Đất trồng cây lâu năm: 6.388,6 ha

Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp trong vùng có nhiều tiến bộ,

đã tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như giống, phân bón, thủy lợi, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng cường đưa những giống có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt vào sản xuất

- Chăn nuôi:

Huyện Đoan Hùng có 1.049,204 con gia súc; tổng số đàn gia cầm có 974.700 con Công tác ứng dụng khoa học vào chăn nuôi có nhiều cố gắng, đưa giống ngoại nhập vào sản xuất nhằm phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cho xã hội

Nhìn chung các hộ chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn và gia cầm các loại Đây là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình và cung cấp phân bón cho sản xuất nông nghiệp

- Lâm nghiệp:

Số liệu đến ngày 01/1/2014 huyện Đoan Hùng có 12.990,1 ha diện tích đất lâm nghiệp chiếm 42,9% diện tích đất tự nhiên của huyện Trong đó, diện tích đất rừng sản xuất là 12.196 ha chiếm 93,9% diện tích đất lâm nghiệp của huyện, đất rừng phòng hộ là 193,5 ha chiếm 1,5% và diện tích đất rừng đặc dụng là 600,6 ha chiếm 4,6% diện tích đất lâm nghiệp của huyện

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực trên tất

cả mọi lĩnh vực: trồng rừng, bảo vệ rừng, giao đất giao rừng, khai thác, chế biến lâm sản đã đem lại hiệu quả phát triển kinh tế trên địa bàn Thông qua các dự án 327, 661 đã đưa diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, góp phần nâng độ che phủ của rừng trên địa bàn huyện đạt 42,9% Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của huyện vẫn còn bộc lộ một số tồn tại đó là: quy mô sản xuất vẫn còn manh mún, lạc hậu, chưa áp dụng công nghệ cao vào trong công tác chế biến và khai thác lâm sản gây lãng phí nguyên liệu và chất lượng sản phẩm không cao

Trang 37

Đoan Hùng có nhiều thuận lợi trong việc phát triển ngành công nghiệp giấy, hơn nữa lại nằm trong vùng thuận lợi trong việc giao thương kinh tế giữa các vùng nhờ có các đường giao thông quan trọng đi qua: Quốc lộ 2, đường sông

Ngành chế biến lâm sản trên địa bàn những năm gần đây có những bước phát triển mạnh mẽ nhưng chủ yếu về mặt số lượng còn chất lượng và công nghệ phần nào vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện nay của xã hội Trên địa bàn huyện Đoan Hùng có hơn 143 cơ sở chế biến, trong đó xưởng mộc gia dụng là

25, đóng đồ gia đụng là 02 xưởng, sản xuất đũa là 03 xưởng và 113 xưởng xẻ Nhìn chung các xưởng chế biến đầu có công suất nhỏ, máy móc công nghệ lạc hậu, sản phẩm làm ra còn kém cạnh tranh trên thị trường, hoạt động chế biến không ổn định

 Ngành công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp:

Ngành công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện còn phát triển chậm Công nghiệp khai khoáng mới chỉ dừng lại ở mức khai thác nguyên liệu thô,

sơ chế chưa chế biến Ngoài ra, còn một số ngành nghề như sản xuất vật liệu xây dựng, đồ mộc, sửa chữa cơ khí nhỏ, chế biến nông sản đã được phát triển và mở rộng đến các xã Sản xuất cơ khí bước đầu được hình thành trong lĩnh vực chế biến chè, gỗ, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu lao động trong các khu dân cư Giá trị sản xuất công nghệ - tiểu thủ công nghiệp chiếm 34% giá trị nền kinh tế

 Ngành thương mại - Du lịch:

Từ khi có chính sách mở cửa, nền kinh tế hàng hóa trên địa bàn huyện khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên, với vị trí là nơi chuyển giao giữa đồng bằng và miền núi thì tiềm năng phát triển thương mại của vùng còn chưa tương xứng Trong tương lai các loại hình này cần được phát triển nhằm giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn

Hiện nay, trên địa bàn huyện chưa có tiềm năng du lịch nào được khai thác đưa vào sử dụng Trong thời gian tới nên kết hợp giữa du lịch cảnh quan trong vùng với du lịch sinh thái nhằm đóng góp đáng kể cho nền kinh tế

Trang 38

có 12 xã có đường quốc lộ đi qua và 16 xã có đường rải cấp phối Đến nay có 28/28

xã, thị trấn trong vùng có đường giao thông đến tận trung tâm xã, tạo thành mạng lưới nối liền với trung tâm huyện lỵ, các trung tâm kinh tế Hệ thống đường sông có

2 dòng sông Lô và sông Chảy

Nhìn chung, mạng lưới giao thông phân bố tương đối đều nhưng các tuyến đường còn ở cấp thấp, cần chú trọng cải tạo nâng cấp để người dân đi lại được thuận tiện, tăng cường thu hút đầu tư và giao lưu kinh tế Trong những năm tới cần

mở rộng nâng cấp các tuyến đường này để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cũng như nâng cao đời sống sinh hoạt của người dân

3.2.3.2 Thủy lợi

Toàn huyện có 70 km kênh mương, 14 trạm bơm với công suất tưới 1.400 ha

và tiêu 450 ha Hệ thống mương máng dẫn nước cũng liên tục được đầu tư cải tạo

và xây dựng mới Tổng diện tích đất được tưới có 3.200 ha, diện tích còn lại chông chờ vào nước mưa, do không ổn định nên thường xuyên bị khô hạn

Nhìn chung, do địa hình của địa bàn tương đối phức tạp, các cánh đồng nhỏ

lẻ, phân tán, các thung lũng hẹp không bằng phẳng Vì vậy vấn đề thủy lợi của huyện chủ yếu là đắp đập làm mương, phải giữ nước phục vụ việc tưới cho sản xuất nông nghiệp theo phương thức tự chảy Tuy nhiên hiệu quả sử dụng của các hồ đập còn ở mức thấp, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp và khai thác có hiệu quả hơn nữa các công trình này

3.2.3.3 Giáo dục

Toàn huyện có 4 trường THPT với 112 lớp học, 56 trường THCS và tiểu học với 549 lớp học, có 29 nhà mẫu giáo với 144 lớp học Tổng số giáo viên các cấp học là 1.238 người, trong đó THPT là 116 người, THCS là 144 người, tiểu học là

548 người và 278 giáo viên nhà trẻ mẫu giáo

Trang 39

Đến nay huyện đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học - xóa

mù chữ Cuộc vận động xã hội hóa giáo dục bước đầu đã có kết quả, phong trào toàn dân chăm lo phát triển giáo dục đào tạo, bảo vệ và chăm sóc trẻ em được chú

ý Tuy nhiên, công tác giáo dục của huyện còn gặp nhiều khó khăn, số phòng học còn thiếu, trong thời gian tới cần đầu tư nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu toàn diện cho nền giáo dục trong tương lai

kế hoạch hóa gia đình ngày càng được quan tâm và đạt được những thành tựu khả quan

Nhìn chung các cơ sở y tế trên địa bàn huyện cơ sở vật chất đã xây dựng từ lâu, trang thiết bị y tế còn đơn sơ và thiếu, phần nào hạn chế khả năng khám chữa bệnh cho nhân dân, trong những năm tới cần đầu tư nâng cấp

3.2.3.5 Văn hóa, thông tin

Hiện nay trên địa bàn huyện có đài phát thanh, truyền hình, 100% các xã đã được phủ sóng truyền hình Hệ thống thông tin liên lạc được thông suốt, 100% xã, thị trấn trong vùng đã có điểm bưu điện văn hóa Hàng năm, vào những ngày lễ lớn của đất nước phòng văn hóa đã tổ chức tốt hoạt động thông tin tuyên truyền

Phong trào văn nghệ quần chúng không ngừng phát triển với nhiều loại hình phong phú, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân

3.3 Đánh giá về những thuận lợi và khó khăn

Ngày đăng: 01/09/2017, 09:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu đề tài - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu đề tài (Trang 25)
Bảng 4.1. Kết quả điều tra hình thái thân cây Vù hương - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.1. Kết quả điều tra hình thái thân cây Vù hương (Trang 41)
Hình 4.6. Lá Vù hương Ninh Bình         Hình 4.7. Lá Vù hương Tuyên Quang - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.6. Lá Vù hương Ninh Bình Hình 4.7. Lá Vù hương Tuyên Quang (Trang 46)
Hình 4.4. Mặt sau lá trưởng thành         Hình 4.5. Mặt trước lá trưởng thành - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.4. Mặt sau lá trưởng thành Hình 4.5. Mặt trước lá trưởng thành (Trang 46)
Hình 4.8. Quả và đấu quả Vù hương  Kết quả điều tra về hình thái quả cây Vù hương tại huyện Đoan Hùng được  thống kê vào bảng 4.4 cho thấy: Vù hương là loại quả thịt, hình trái xoan, khi chín  sinh lý có màu xanh vàng còn khi chín hình thái có màu nâu đen - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.8. Quả và đấu quả Vù hương Kết quả điều tra về hình thái quả cây Vù hương tại huyện Đoan Hùng được thống kê vào bảng 4.4 cho thấy: Vù hương là loại quả thịt, hình trái xoan, khi chín sinh lý có màu xanh vàng còn khi chín hình thái có màu nâu đen (Trang 47)
Bảng 4.4. Đặc điểm hình thái quả Vù hương - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.4. Đặc điểm hình thái quả Vù hương (Trang 48)
Bảng 4.6. Giá trị sử dụng của cây Vù hương - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.6. Giá trị sử dụng của cây Vù hương (Trang 51)
Hình 4.9. Tỷ lệ ra rễ trung bình của Vù hương - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.9. Tỷ lệ ra rễ trung bình của Vù hương (Trang 54)
Hình 4.12. Rễ hom ở công thức 7             Hình 4.13. Rễ hom ở công thức 13  4.3. Kỹ thuật gây trồng cây Vù hương - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.12. Rễ hom ở công thức 7 Hình 4.13. Rễ hom ở công thức 13 4.3. Kỹ thuật gây trồng cây Vù hương (Trang 57)
Hình 4.10. Giâm hom vù hương                     Hình 4.11. Hom ra mô sẹo - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.10. Giâm hom vù hương Hình 4.11. Hom ra mô sẹo (Trang 57)
Hình 4.14. Vù hương 3 tuổi xuất xứ  Hình 4.15. Vù hương 3 tuổi xuất xứ  Tuyên Quang trồng theo băng  Ninh Bình trồng theo băng - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.14. Vù hương 3 tuổi xuất xứ Hình 4.15. Vù hương 3 tuổi xuất xứ Tuyên Quang trồng theo băng Ninh Bình trồng theo băng (Trang 64)
Hình 4.16: Chất lượng của cây Vù hương 3 tuổi tại thí nghiệm theo băng  Như vậy qua kết quả bảng 4.13 và hình 4.16 có thể thấy rằng bước đầu đánh  giá  sinh  trưởng  của  cả  3  xuất  xứ  Vù  hương  khác  nhau  cho  chất  lượng  cây  không   giống  nhau - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.16 Chất lượng của cây Vù hương 3 tuổi tại thí nghiệm theo băng Như vậy qua kết quả bảng 4.13 và hình 4.16 có thể thấy rằng bước đầu đánh giá sinh trưởng của cả 3 xuất xứ Vù hương khác nhau cho chất lượng cây không giống nhau (Trang 65)
Bảng 4.14. Tỷ lệ sống của cây Vù hương 3 tuổi  Xuất xứ - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Bảng 4.14. Tỷ lệ sống của cây Vù hương 3 tuổi Xuất xứ (Trang 66)
Hình 4.17: Chất lượng của cây Vù hương tại thí nghiệm trên đất trống  Qua  kết  quả  đánh  giá  chất  lượng  sinh  trưởng  của  cây  Vù  hương  tại  thí  nghiệm trồng rừng Vù hương trên đất trống (bảng 4.15) cho thấy: chất lượng cây tốt - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.17 Chất lượng của cây Vù hương tại thí nghiệm trên đất trống Qua kết quả đánh giá chất lượng sinh trưởng của cây Vù hương tại thí nghiệm trồng rừng Vù hương trên đất trống (bảng 4.15) cho thấy: chất lượng cây tốt (Trang 68)
Hình 4.18. Vù hương 3 T xuất xứ Tuyên Quang         Hình 4.19. Vù hương 3 T xuất xứ Phú Thọ - Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng cây vù hương (cinnamomun balansae h lec) tại đoan hùng, tỉnh phú thọ
Hình 4.18. Vù hương 3 T xuất xứ Tuyên Quang Hình 4.19. Vù hương 3 T xuất xứ Phú Thọ (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w