1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm một số hệ thống canh tác tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la

79 254 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra nghiên cứu hệ thống canh tác có tác dụng lớn trong thống kê và lập kế hoạch nông lâm nghiệp, dự báo kinh tế, cải tiến cơ cấu sản xuất, nhằm tăng hiệu suất sử dụng tài nguyên thi

Trang 1

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Xuân Hoàn - người thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quí báu cho tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như thực hiện luận văn

Xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà Trường, Khoa Đào tạo Sau đại học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả học tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các cán bộ, người dân xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả suốt quá trình thực tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân đã có nhiều tâm huyết, cố gắng và lỗ lực, song do trình độ hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi kính mong nhận được lời chỉ giáo, phê bình của các nhà khoa học, các thầy giáo cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan, đây là công trình của cá nhân tôi, các số liệu, kết quả trong bản luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 10 năm 20012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các ký hiệu và từ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Lý thuyết về hệ thống canh tác 3

1.1.1 Khái niệm về hệ thống canh tác (HTCT) 3

1.1.2 Đặc điểm và thuộc tính của HTCT 4

1.2 Kết quả nghiên cứu về HTCT 5

1.2.1 Trên thế giới 5

1.2.2 Ở Việt Nam 8

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 13

2.1.1.Mục tiêu tổng quát 13

2.1.2.Mục tiêu cụ thể 13

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

2.3 Nội dung nghiên cứu 13

2.4 Phương pháp nghiên cứu 14

2.4.1 Phương pháp luận 14

2.4.2 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 16

2.4.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 18

Trang 3

2.4.4 Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu và các số liệu đã có về

các vấn đề liên quan 22

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 23

3.1.1 Vị trí địa lý 23

3.1.2 Địa hình, địa mạo 23

3.1.3 Khí hậu 24

3.1.4 Thuỷ văn 24

3.2 Các nguồn tài nguyên 25

3.2.1 Tài nguyên đất 25

3.2.2 Tài nguyên nước 25

3.2.3 Tài nguyên rừng, thảm thực vật 26

3.2.4 Tài nguyên khoáng sản 27

3.2.5 Tài nguyên nhân văn 27

3.3 Thực trạng môi trường 28

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Phân loại và lựa chọn các HTCT tại địa bàn nghiên cứu 29

4.2 Phân tích cơ cấu cây trồng vật nuôi trong các HTCT 29

4.2.1 Kết quả phân tích lịch mùa vụ các loài cây trồng 29

4.2.2 Kết quả điều tra hiện trạng và đặc điểm các HTCT tại địa phương 31

4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của HTCT 34

4.3.1 Tác động của yếu tố tự nhiên 36

4.3.2 Tác động của các yếu tố kinh tế 37

4.3.3 Tác động của các yếu tố chính sách, xã hội 39

4.4 Mối quan hệ giữa các HTCT và đặc điểm kinh tế-xã hội của hộ gia đình (HGĐ) 41

Trang 4

4.4.1 Nguồn lực của hộ gia đình 42

4.4.2 Thu nhập và chi phí của nông hộ 44

4.5 Đánh giá và so sánh hiệu quả của các HTCT 48

4.5.1 Hiệu quả kinh tế 48

4.5.2 Hiệu quả xã hội 51

4.5.4 Hiệu quả tổng hợp 55

4.6 Đề xuất giải pháp phát triển các HTCT hiệu quả và bền vững 58

4.6.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 58

4.6.2 Một số đề xuất giải pháp phát triển các HTCT 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

BCR Benefit to Cost Ratio

Ect Effective Indicator Farming system

IRR Internal Rate of Return

FAO Food and Agriculture Organization

NLN Nông lâm nghiệp

NPV Net Present Value

PTCT Phương thức canh tác

R Hệ số tương quan

Sig.F Xác suất kiểm tra tiêu chuẩn F

Sig T Xác suất kiểm tra tiêu chuẩn T

SALT1 Sloping Agricultural Land Technology

SALT2 Simple Agro – Livestock Technology

SALT3 Agro-Forest Land Technology

SALT4 Samll Agro-Fruit Livelihood Technology

SPSS Stalistical Package for Social Science

và cs và cộng sự

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Các HTCT và PTCT chính tại xã Chiềng Mung 29 4.2 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các HTCT 36

4.4 Cơ cấu thu nhập của các nhóm HGĐ tại xã Chiềng Mung 46 4.5 Cơ cấu chi phí của các nhóm HGĐ tại xã Chiềng Mung 48 4.6 Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của nhóm cây cây trồng dài ngày 49 4.7 Hiệu quả kinh tế của các PTCT cây ngắn ngày cho 1 ha/năm 50 4.8 Tổng hợp và đánh giá hiệu quả xã hội của các PTCT 53 4.9 Tổng hợp và đánh giá hiệu quả môi trường của các PTCT 55 4.10 Hiệu quả tổng hợp của các PTCT cây trồng dài ngày 57 4.11 Hiệu quả tổng hợp của các PTCT cây trồng ngắn ngày 58

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Lịch mùa vụ xã Chiềng mung năm 2011 (âm lịch) 31

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển kinh tế đang là vấn đề được đặt ra hàng đầu của cả nước nói chung và của mỗi tỉnh nói riêng Điều tra nghiên cứu hệ thống canh tác có tác dụng lớn trong thống kê và lập kế hoạch nông lâm nghiệp, dự báo kinh tế, cải tiến cơ cấu sản xuất, nhằm tăng hiệu suất sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông lâm nghiệp thâm canh và ổn định lâu dài của mỗi địa phương.Vì mục tiêu của việc nghiên cứu HTCT là tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, đầu tư tài nguyên kinh tế nhất định, để tăng sản lượng nông lâm nghiệp và đem lại lợi nhuận cao nhất cho người sản xuất

Hệ thống canh tác là hệ thống hoạt động của con người, cụ thể ở đây là người nông dân, họ sử dụng tài nguyên như điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trong một phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm nông nghiệp để thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người

Xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là một xã miền núi Người dân địa phương chủ yếu là dân tộc Thái và Kinh họ thường sống tập trung thành các bản Nơi đây, có nhiều tiềm năng cho sự phát triển như: Diện tích đất tự nhiên bình quân trên đầu người lớn, khí hậu mưa ẩm lại có đường quốc lộ 6 chạy qua nên rất thuận lợi cho giao thông và phát triển kinh tế Tuy nhiên, đồng bào dân tộc với HTCT cũ làm xói mòn đất, đất đai bị suy thoái một cách nhanh chóng, cuộc sống người dân vẫn còn trong tình trạng đói nghèo và lạc hậu, làm cho họ trở thành những người tác động nhiều nhất vào tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng là những người có cuộc sống khó khăn nhất, được hưởng lợi ít nhất từ những nguồn tài nguyên này

Diện tích đất đai được đồng bào sử dụng làm nương rẫy cho năng suất thấp, nên mặc dù diện tích canh tác tương đối lớn người dân vẫn không đủ lương thực cho

cuộc sống hàng ngày Các HTCT mang đặc trưng điều kiện khí hậu đất đai địa hình

được hình thành chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến diện mạo sử dụng đất của địa phương Nhưng để duy trì sự sống bền vững

Trang 9

thì việc cải tiến HTCT có tính ổn định và hiệu quả kinh tế cao hơn cũng được thừa nhận như một đòi hỏi tất yếu, phù hợp với xu hướng phát triển và tiến bộ xã hội Vậy, làm thế nào để gắn công cuộc xoá đói giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trong xã Chiềng Mung với sự nghiệp bảo vệ và phát triển bền vững đất nông – lâm nghiệp? Để giải quyết vấn đề này cần có cách nhìn và quan điểm tổng hợp, việc ổn định cuộc sống người dân cần được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất, canh tác và sử dụng đất hợp lý, không thể áp dụng một phương thức canh tác đồng nhất mà cần tính toán đến sự đa dạng

và thích nghi với điều kiện khu vực, lựa chọn những HTCT điển hình để học tập và nhân rộng.Với mục đích phát triển kinh tế bền vững về 3 mặt kinh tế, môi trường và

xã hội cho các HGĐ trong xã nói riêng và cho huyện Mai Sơn nói chung Do đó, cần nghiên cứu hệ thống canh tác thích hợp cho từng vùng và tiểu vùng sinh thái là cách tối ưu hóa việc sử dụng các tài nguyên đất, nước và lao động để mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường được bền vững

Xuất phát từ lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm một số hệ thống canh tác tại xã Chiềng Mung, Huyện Mai Sơn, Tỉnh Sơn La ” là vấn đề cấp bách và cần thiết

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

b, Các yếu tố trong HTCT

Con người là yếu tố trung tâm, trực tiếp tạo ra sản phẩm, tác động lớn đến các yếu tố sinh học, tự nhiên, kinh tế, xã hội nhằm tạo ra hiệu quả của HTCT

- Yếu tố sinh học: bao gồm các cây trồng, vật nuôi được nuôi trồng để thoả

mãn mục tiêu của con người Yếu tố sinh học gồm các hệ thống phụ của HTCT: + Hệ phụ trồng trọt: là một phần chủ yếu của HTCT, trong đó hệ thống cây trồng lại là bộ phận quan trọng, là trung tâm của hệ phụ trồng trọt Để có một hệ thống cây trồng hợp lý, phải tiến hành nghiên cứu mô hình cây trồng thích nghi với điều kiện tự nhiên đồng thời xem xét đến sự tương tác giữa các loài cây trồng với nhau, giữa cây trồng với chăn nuôi trong hệ thống Điều quan trọng nữa cần phải tính đến là khả năng của nông hộ và tình hình kinh tế, xã hội của địa phương nơi bố trí hệ thống cây trồng

+ Hệ phụ chăn nuôi: bao gồm tổng hợp các khâu kỹ thuật từ chọn giống vật nuôi đến thức ăn, thú y, chế biến sản phẩm Hệ phụ này có quan hệ chặt chẽ đến trồng trọt, chúng tác động qua lại với nhau nhằm thoả mãn mục tiêu và nhu cầu của nông hộ sao cho sự đem lại hiệu quả về mọi mặt là cao nhất

- Yếu tố tự nhiên: gồm các yếu tố quan trọng là khí hậu, đất và nước, các yếu

tố này có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành vùng sinh thái nông nghiệp, từ đó

là cơ sở bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp

Trang 11

- Yếu tố kinh tế, xã hội: gồm những yếu tố như tín dụng, thị trường, các phong

tục tập quán trong đời sống cũng như trong canh tác, các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các HTCT

Tất cả các yếu tố của HTCT mang những thuộc tính nhất định và có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, thay đổi của yếu tố này sẽ tác động đến yếu tố khác và dẫn đến sự thay đổi của toàn hệ thống

1.1.2 Đặc điểm và thuộc tính của HTCT

- Khả năng sản xuất: khả năng sản xuất hoặc thu nhập trên một đơn vị tài

nguyên (đất, lao động, năng lượng, vốn, )

- Tính ổn định: mức độ khả năng sản xuất được duy trì theo thời gian để đáp

ứng với các biến động ở qui mô nhỏ về môi trường như điều kiện kinh tế thị trường, thời tiết

- Tính bền vững: khả năng sản xuất của hệ thống được duy trì theo thời gian

khi có những đảo lộn xảy ra, những xáo trộn có thể dự đoán được ở qui mô nhỏ

- Tính công bằng: sự phân bố sản phẩm hay lợi nhuận của hệ thống đến những

người tham gia quá trình sản xuất hoặc những người hưởng thụ trong cộng đồng

- Tính tự chủ: khả năng tự vận hành sao cho hiệu quả và ít bị lệ thuộc vào các

yếu tố môi trường, tự nhiên cũng như kinh tế, xã hội

- Lợi nhuận: khả năng mang lại hiệu quả cho người sản xuất và xã hội

Từ lý thuyết trên cho thấy, nghiên cứu HTCT là phương pháp nghiên cứu nông lâm nghiệp nhìn toàn bộ nông trại như một hệ thống, tập trung vào những mối liên

Trang 12

hệ tương hỗ phụ thuộc giữa môi trường tự nhiên và con người, giữa thành phần cấu tạo của hệ thống trong tầm kiểm soát của nông hộ và cách thức mà những thành phần này chịu tác động bởi các điều kiện vật lý, sinh học, kinh tế xã hội ngoài tầm kiểm soát của nông hộ nhằm hướng tới mục tiêu: bố trí canh tác hợp lý, biện pháp

kỹ thuật thích hợp, hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững

1.2 Kết quả nghiên cứu về HTCT

1.2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, việc phát triển nông nghiệp hầu hết dựa vào các cơ sở sản xuất

tư nhân, chủ yếu là các trang trại, cung cấp sản phẩm nông lâm nghiệp phục vụ cho cuộc sống người dân Nhà nước, các tổ chức rất quan tâm đến sự tồn tại và phát triển của các trang trại nên đã dành ngân sách không nhỏ để đầu tư cho kỹ thuật, vốn với lãi suất ưu đãi Việc nghiên cứu về HTCT đã được nhiều tác giả tiến hành

và theo nhiều hướng khác nhau

Theo John Dixon và Aidan Gulliver (2001) [34], để các HGĐ nông dân nghèo cải thiện cuộc sống, Chính phủ, Tổ chức phi chính phủ và các cơ quan quốc tế cần phải tìm hiểu rõ hơn vấn đề nông sinh thái, thể chất, kinh tế, môi trường văn hóa mà nông hộ sinh sống – hay chính là cần tìm hiểu hệ thông canh tác của họ Chỉ bằng cách này thì các chính sách, đầu tư, chương trình hỗ trợ mới có thể phát triển, triển khai khả thi Thông qua nhiều thử nghiệm cho thấy cách tiếp cận hệ thống canh tác

có thể được sử dụng để xác định các ưu tiên chính của địa phương, khu vực và quốc

tế để giảm đói nghèo

Cũng theo các tác giả trên, thách thức cho các nước đang phát triển là xác định nhu cầu cụ thể phát triển nông nghiệp nông thôn và các cơ hội để tập trung đầu tư vào các khu vực mà tác động lớn nhất về an ninh lương thực và giảm nghèo sẽ đạt được Điều này có thể giải quyết bằng cách phân tích hệ thống canh tác để phát triển

sự hiểu biết về các yếu tố địa phương và các mối liên kết Quá trình phân tích này cũng rất hữu ích để có thể đến các điểm tổng hợp với những hạn chế sự phát triển tương tự và cơ hội đầu tư thông qua việc áp dụng một khuôn khổ hệ thống canh tác

Trang 13

John Dixon và Aidan Gulliver (2001) [34], đã phân loại các HTCT được dựa vào các tiêu chí chính: (i) có sẵn nguồn tài nguyên cơ bản (đất, nước, rừng, khí hậu, cảnh quan, kích thước…), (ii) chi phối hoạt động của mô hình trang trại và sinh kế HGĐ Với tiêu chí đó, trên thế giới có thể phân thành 7 loại HTCT chính:

- Hệ thống tưới tiêu nông nghiệp, bao gồm một loạt thực phẩm và sản xuất cây trồng bằng tiền mặt

- Hệ thống canh tác trên đất ngập nước (trồng lúa)

- Hệ thống canh tác trên các khu vực ẩm ướt

- Hệ thống canh tác trên các khu vực dốc và cao nguyên

- Hệ thống canh tác trên vùng khô hoặc lạnh

- Hệ thống canh tác hỗn hợp đánh bắt cá thủ công ven biển

- Hệ thống canh tác nông nghiệp đô thị

Đối với HTCT nương rẫy, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, HTCT nương rẫy gây xói mòn mạnh, ước tính mất khoảng 0,5-1 cm đất /năm nhưng để hình thành đất

phải mất 300 năm mới tạo được lớp đất 2,5 cm.Công trình nghiên cứu “ các phương thức

sử dụng đất dốc bền vững ở Đông Nam Á” của Dennis Garrity - (1993) đã chỉ ra các

nguyên nhân và tính không bền vững của các phương thức sử dụng đất vùng cao

Ở Philippin, nghiên cứu HTCT Ifugao ở dải núi cao do Clofsam (1984) mô tả là

hệ thống canh tác của người dân tộc Ifugao, họ biết canh tác lúa nước ở ruộng có hệ thống nước tưới kết hợp trồng cây lấy gỗ, lấy củi, cây ăn quả và cây thuốc HTCT hỗn hợp đã giúp giữ được nước chống xói mòn và trượt đất (dẫn theo Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 1996) [30]

Ở Myanma, HTCT Taungya được bắt đầu vào năm 1856 Nhà nước đã cho trồng cây gỗ Tếch kết hợp trồng cây lúa cạn, ngô trong 2 năm đầu khi rừng chưa khép tán Mục tiêu chính của hệ thống này là khôi phục lại rừng bị tàn phá, sản xuất lương thực là thu nhập phụ Đây là dạng mô hình chuyển tiếp từ canh tác nương rẫy sang canh tác nông lâm kết hợp (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 1996) [9]

Ở Thái Lan, Hoey M (1990) đưa ra mô hình sử dụng đất dốc nhấn mạnh việc canh tác trên đường đồng mức, trồng cỏ thành băng, hạn chế làm đất đến mức tối

Trang 14

thiểu góp phần phát triển nông lâm nghiệp ổn định trên đất dốc dưới 200 Những kết quả nghiên cứu ở Kanđihult Bắc Thái Lan trồng cây ăn quả, cây cà phê theo băng kết hợp với bón phân đã cho hiệu quả kinh tế cao và có tác dụng cải tạo nâng cao độ phì của đất (dẫn theoThái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1999) [17]

Khi phân tích các HTCT theo mô hình nông lâm kết hợp, chăn thả… Agbool

A, 1990 đã cho rằng hệ thống đa dạng hoá cây trồng là tốt nhất Việc sử dụng đất dốc để trồng các loài cây nào còn tuỳ thuộc vào các yếu tố khác như mưa gây xói mòn, tính chất của đất và nhất là phụ thuộc vào các biện pháp canh tác được sử dụng để chống xói mòn vào điều kiện cụ thể của từng địa phương Trên các vùng đất dốc thường người ta không gieo trồng độc canh một loại cây liên tục mà trồng gối, trồng xen, luân canh (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 1996) [9]

Nghiên cứu về trồng xen theo băng: Kỹ thuật canh tác NLKH này được nghiên cứu tại viện nông nghiệp nhiệt đới quốc tế Ibanda ( Wilson và Kang, 1980 trong đó cây họ đậu cố định đạm mọc nhanh được trồng thành hàng theo đường đồng mức, giữa hai hàng cây này là cây nông nghiệp nhằm cung cấp gỗ, củi, thức

ăn gia súc và phân xanh để nâng cao độ phì và năng suất cây trồng

Một trong những nghiên cứu thành công là: đã tìm ra hệ thống canh tác kỹ thuật trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững đã được Trung tâm đời sống nông thôn ở Baptis Mindanao (Philippines) tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ những năm 1970 đến nay Cho đến năm 1992, đã có bốn mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ chức quốc tế ghi nhận đó là:

- Mô hình SALT1 (Slopping Agriculture Land Technology) đây là mô hình tổng hợp trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực Kỹ thuật này với cơ cấu cây trồng gồm: 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên + 50% cây nông nghiệp hàng năm

- Mô hình SALT2 (Simple Agro- Livestock Technology ) đây là mô hình kinh

tế nông súc kết hợp đơn giản với cơ cấu sử dụng đất là 40% dành cho sản xuất nông nghiệp + 40% dành cho chăn nuôi + 20% làm nhà và chuồng trại

Trang 15

- Mô hình SALT3 ( Sustainable Agro – forest Land Technology ) đây là mô hình NLKH bền vững với cơ cấu sử dụng đất gồm 40% đất dành cho nông nghiệp + 60% dành cho lâm nghiệp Mô hình canh tác này đòi hỏi phải có sự đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn đàu tư cũng như kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm

- Mô hình SALT4 ( Small Agro – fruit Livehood Technology ) đây là mô hình

kỹ thuật sản xuất nông nghiệp kết hợp với cây ăn quả trên quy mô nhỏ Trong mô hình này, ngoài đất dành cho trồng cây lương thực, trồng cây lâm nghiệp, hàng rào xanh,n còn dành ra một phần đất để trồng cây ăn quả với cơ cấu sử dụng đất gồm: 60% đất dành cho lâm nghiệp + 15% đất dành cho nông nghiệp + 25% đất dành cho cây ăn quả

Von Uc Kill Bosshart (1998) sau khi nghiên cứu về sự phát triển nông nghiệp

ở vùng nhiệt đới đã rút ra kết luận: cây lâu năm là những cây trồng có khả năng sản xuất lâu bền và thích hợp với điều kiện khắc nghiệt Những thí nghiệm ở Pêru chỉ rõ cần tính toán đến các nhân tố: khí hậu, đất đai và gắn với môi trường của HTCT Bởi canh tác đồi núi khó hơn canh tác ở đồng bằng rất nhiều do địa hình có độ dốc lớn nên khi canh tác việc chọn được các loài cây phối hợp với nhau cần xem xét thật kỹ lưỡng, nên trồng xen canh, luân canh để hiệu quả phối hợp đạt cao nhất

Phạm Chí Thành, Đoàn Văn Điểm, Phạm Tiến Dũng, Trần Đức Viên (1996) [27], khi nghiên cứu về phương pháp luận trong nghiên cứu xây dựng hệ thống canh

Trang 16

tác ở miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra việc xây dựng hệ thống canh tác phải được tiến hành ở từng biến sinh thái và cân đối trong phạm vi các nhóm biến sinh thái, nếu làm đúng và có phương pháp chuyển giao tốt sẽ trở thành lượng vật chất thực sự góp phần tăng năng suất cây trồng

Nghiên cứu về chuyển đổi HTCT trên đồi sinh thái vùng núi dốc tỉnh Sơn La của Nguyễn Tiến Mạnh -Lê Thế Hoàng đã nhấn mạnh cần đưa HTCT tiến bộ và sử dụng hợp lý đầy đủ đất đồi núi dốc dưới góc độ bảo vệ, bồi dưỡng đất và môi trường sinh thái gắn liền với hệ thống nông nghiệp bền vững đồng thời phải xem xét dưới góc độ xã hội

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đậu và các cộng sự về HTCT nông lâm nghiệp ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam cho thấy hiệu quả của các mô hình canh tác trên đất dốc như sau: Mô hình canh tác cây lương thực sắn xen đậu

đỗ, lạc với các cây phân xanh chống xói mòn trên các loại đất phát triển trên sa thạch, phiến thạch sét và phù sa cổ là biện pháp giải quyết phân bón tại chỗ có hiệu quả cao để thâm canh tăng năng suất sắn trên đất dốc

Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999) [17], đối với vùng cao, dân cư thưa, trình độ dân trí thấp, sản xuất còn ở mức thô sơ, cơ sở hạ tầng thấp, an toàn lương thực là vấn đề cấp bách vì vậy các mô hình canh tác có triển vọng là trồng cây đặc sản, cây ăn quả, cây dược liệu phối hợp với bảo vệ rừng đầu nguồn, cây trồng dưới tán rừng lâu năm, hạn chế du canh, chuyển đổi du canh thành nương định canh với các loài cây họ đậu cải tạo đất Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên [18] trên nhiều vùng đồi đất ở miền Bắc Nhìn chung các nghiên cứu trên đã khẳng định xói mòn rửa trôi là nguy cơ căn bản làm cho đất dốc ở Việt Nam nói chung và đất canh tác nương rẫy bị thoái hoá Vì vậy trong sử dụng đất bền vững phải có biện pháp chống xói mòn, rửa trôi

Nguyễn Văn Chương (1982), cơ cấu cây trồng được chọn vào mô hình nông lâm kết hợp bao gồm cây phòng hộ (muồng đen, keo dậu, so đũa, phi lao, keo lá tràm,…), cây dài ngày (chè, cà phê, trám, hồ tiêu, cây ăn quả,…) cây ngắn ngày (lúa nước, ngô, lúa nương, cây có củ, đậu đỗ,…) và sắp xếp như sau:

Trang 17

+ Đất dốc trên 250 - 300 tốt nhất là để rừng che phủ, rừng cây rậm kín, hỗn giao nhiều tầng tán, nhiều cỏ cây trong đó phải có những cây gỗ lớn với số lượng đông đủ sẽ là chủ thể trong hệ sinh thái rừng và đất dốc

+ Đất dốc từ 150 - 250 có thể tạo ra quần xã thực vật theo kiểu vườn rừng với tỷ lệ cây to khoảng 30% - 40 % còn lại là cây phòng hộ và mương máng giữ đất, giữ nước + Đất dốc dưới 150 nếu sườn đồi ngắn nên san bằng thành ruộng bậc thang ở phía dưới, có rừng ở phía trên càng tốt Có thể sử dụng 60% - 70% đất nông nghiệp, cây công nghiệp từ 20% - 30% cho cây lớn và 10% - 15% đất đai dành cho bờ cây

và mương máng

Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) [11] đã đưa ra hệ thống sử dụng đất

và đề xuất một số hệ thống kỹ thuật sử dụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam Trong đó tác giả đã đi sâu phân tích về các vấn đề: Quan điểm về tính bền vững, khái niệm bền vững và phát triển bền vững, hệ thống sử dụng đất bền vững,

kỹ thuật sử dụng đất bền vững, các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất

Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Đông, Phạm Chí Thành, Phạm Tiến Dũng (1996) [27] khảo sát một số mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên hệ thống canh tác ruộng chờ mưa tại Tràng Định - Lạng Sơn đã chỉ ra: các loại hình sử dụng đất ruộng chờ mưa phổ biến (gồm ruộng bậc thang canh tác 1 vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn, đất thung lũng và đất phiến bãi); các hạn chế khi canh tác trên hệ thống canh tác này

là hệ số quay vòng sử dụng đất và tỷ trọng của hệ canh tác cải tiến thấp, các tác giả cũng đưa ra một số mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Nhóm tác giả YNguyên Mlô, Phạm Văn Hiền, Nguyễn Văn Quý (1996) đã lựa chọn mô hình phù hợp với 3 cấp độ dốc khác nhau: cấp 1 (00 – 50): lúa rẫy xen cây phân xanh, cấp 2 (60 – 150): lúa rẫy xen đậu đỏ và cấp 3 (> 150): canh tác nông lâm kết hợp; đồng thời cũng phân tích được ảnh hưởng của các mô hình canh tác môi trường và kinh tế hộ, trong nghiên cứu về HTCT trên đất dốc bạc màu góp phần định canh cho đồng bào dân tộc ở Đăklak

Trang 18

Nhóm tác giả: Ngô Đình Quế, Đinh Văn Quang, Đinh Thanh Giang ( 2005) đã nghiên cứu xây dựng mô hình luân canh nương rẫy nhằm rút ngắn thời gian bỏ hoá

ở Tây Bắc Các mô hình thí nghiệm được xây dựng trên HTCT nương rẫy của một

số dân tộc vùng Tây Bắc chủ yếu của người Dao và người H, Mông, tiến hành từ năm 1997 – 1999 Các tác giả đã nghiên cứu đưa ra một số giải pháp trồng xen cây

họ đậu trên đất nương rẫy ở Hoà Bình và Sơn La Kết quả nghiên cứu cho thấy các loài cây họ đậu trồng xen như: Đậu triều Ấn Độ, Cốt khí, Keo dậu, đều phát huy được tác dụng bảo vệ và cải tạo đất, độ phì của đất tăng lên, năng suất các loại cây trồng như Lúa, Ngô cao hơn rất nhiều so với nơi không trồng xen Những nơi trồng cây họ đậu phủ kín sau 3 năm năng cao độ phì đất, hạn chế xói mòn, thời gian bỏ hoá rút ngắn 2 – 3 năm so với bỏ hoá tự nhiên

Vương Văn Quỳnh (2002) [22], khi nghiên cứu luận cứ phát triển kinh tế - xã hội vùng xung yếu hồ thủy điện Hòa Bình đã chỉ ra được các chính sách kinh tế xã hội đã được triển khai tại khu vực và tác động của các chính sách đó đến đời sống người dân và sự phát triển của khu vực Nghiên cứu tác động của từng hệ canh tác đến các yếu tố chính của môi trường vật lý và kinh tế - xã hội cho thấy mô hình canh tác ruộng nước, nông lâm kết hợp, rừng trồng là có hiệu quả tác động dương đến môi trường vật lý Mô hình nương rẫy có biểu hiện tiêu cực đến môi trường nhưng ở mức độ thấp Những phương thức canh tác vườn, canh tác màu, canh tác rừng trồng có hiệu quả tổng hợp chưa cao nên cần được cải tạo phát triển theo hướng chuyển dần thành canh tác nông lâm kết hợp

Đặng Thịnh Triều và cộng sự (2004) nghiên cứu một số HTCT ở miền núi và vùng cao tại Việt Nam cho thấy hiện nay ở nước ta đang tồn tại các HTCT sau: nương rẫy du canh du cư, lúa nước, hoa màu định canh định cư, cây lâu năm tập trung, chăn nuôi đại gia súc, nông lâm kết hợp

Các tác giả Hà Đình Tuấn, Ngô Đình Quế, Đỗ Đình Sâm, Đinh Thanh Giang, ( dẫn theo Trần Đức Viên, 2001[28]), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc để nâng cao năng suất cây trồng

Trang 19

Kết quả nghiên cứu nhiều năm của Bùi Quang Toản(1990), theo Trần Đức Viên, 2001[28] trên HTCT nương rẫy Tây Bắc cho thấy mỗi năm tầng đất canh tác

bị bào mòn từ 1,5-3 cm, mỗi ha mất khoảng 200-300 tấn Nghiên cứu xói mòn ở Tây Nguyên trên đất Bazan Bùi Quang Mỹ (1980) ( Trần Đức Viên, 2001[28]) cho thấy lượng xói mòn xảy ra trên đất trồng lúa nương ở độ dốc 8-15 độ là khá lớn :130 tấn /ha

Viện khoa học lâm nghiệp, 2001[29] đã xây dựng chuyên đề về HTCT nương rẫy Chuyên đề đã giới thiệu các công trình nghiên cứu về đánh giá hiện trạng HTCT nương rẫy ở Tây Nguyên ( 1998 – 1999 ( Đỗ Đình Sâm và cộng sự), CTNR của một số dân tộc thiểu số ở Tây nguyên ( Võ Đại Hải , Trần Văn Con, Nguyễn Xuân Quát và cộng sự), Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình CTNR theo hướng

sử dụng đất bền vững ở Tây Bắc ( Ngô Đình Quế và cộng sự) Các tác giả đã phân tích khá sâu sắc về tập quán CTNR ở Tây Nguyên và các chính sách, giải pháp sử dụng hợp lý đất rừng Giới thiệu kết quả bước đầu khảo nghiệm 4 mô hình sử dụng cây họ đậu để làm tăng độ che phủ, phục hồi nhanh độ phì đất bỏ hoávà làm tăng năng suất cây trồng nông nghiệp

Điểm lại các công trình nghiên cứu về HTCT trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua đã đề cập đến nhiều khía cạnh, kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân Tuy nhiên, những kết quả này phần lớn là tổng kết và đánh giá các mô hình hiện có

ở một vùng nông thôn không có biến động nhiều trong đời sống, chưa phân tích được đặc điểm các HTCT và ảnh hưởng của nó đến kinh tế HGĐ Tại xã Chiềng Mung là một xã miền núi kinh tế còn gặp nhiều khó khăn với địa hình hiểm trở, đất canh tác độ dốc lớn bức tranh sinh thái, kinh tế xã hội đặc trưng cho không gian nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi rất phức tạp, càng làm tăng thêm tính đa dạng của các HTCT Trong bối cảnh đó không thể áp dụng mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn đồng nhất mà cần tìm hiểu đặc điểm các HTCT để đưa ra đề xuất phù hợp Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu đặt ra là thực sự cần thiết

Trang 20

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hệ thống canh tác tại xã Chiềng Mung- Huyện Mai Sơn- Tỉnh Sơn La

2.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

- Phân loại và lựa chọn các HTCT tại địa bàn nghiên cứu

- Phân tích cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong hệ thống canh tác

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các HTCT

- Phân tích mối quan hệ giữa các HTCT với đặc điểm kinh tế - xã hội HGĐ

- Đánh giá và so sánh hiệu quả của các HTCT

- Đề xuất giải pháp phát triển các HTCT hiệu quả và bền vững

Trang 21

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về tiếp cận hệ thống, quan điểm sinh thái - nhân văn, quan điểm tiếp cận có sự tham gia

2.4.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống

Hệ thống là một cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần hay còn gọi là hệ thống phụ Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi

hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn Tính tổng thể của hệ thống được duy trì thông qua các quan hệ tương tác do đó tiếp cận hệ thống không phải mô tả cấu trúc

mà là phân tích các mối quan hệ tương tác

- Sự tác động của người dân địa phương đến HTCT là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi hình thức và mức độ tác động gắn liền với các hoạt động kinh tế như: sử dụng đất canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc… Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt, hiệu quả kinh tế và thường quyết định tới việc lựa chọn HTCT Ngược lại, các HTCT cũng tác động mạnh mẽ tới tổng thu nhập, đời sống kinh tế của các HGĐ Liên hệ chặt chẽ đó là cơ sở để đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế của nông hộ với các HTCT, tác động của các nguyên nhân kinh tế đến các HTCT và nghiên cứu giải pháp kinh tế nhằm phát triển các HTCT theo hướng bền vững

- Sự tác động của người dân địa phương đến HTCT là hoạt động xã hội vì các hoạt động này là của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu, mục đích của con người

và chịu chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như: nhận thức của người dân về tầm quan trọng của HTCT, trình độ học vấn, giới tính, trách nhiệm của cộng đồng, thể chế chính sách, Ngược lại, sự hình thành và phát triển các HTCT có tác động trở lại đến đời sống, tập quán, văn hóa, của cộng đồng Dựa trên mối quan hệ đó, đề tài tiến

Trang 22

hành nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi phối sự tác động đến HTCT và nghiên cứu đề xuất giải pháp xã hội nhằm phát triển các HTCT theo hướng bền vững

Tóm lại, tiếp cận theo quan điểm hệ thống là xem xét HTCT như một hệ thống

tự nhiên mở, tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật tự nhiên, các thành phần có mối quan hệ tương tác chặt chẽ Bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài tới HTCT cũng dẫn đến sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ thống Vì vậy, để phát triển các HTCT theo hướng bền vững thì những tác động của con người phải phù hợp với quy luật tự nhiên, xã hội

2.4.1.2 Quan điểm sinh thái – nhân văn

Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường (Rambo, 1983) Định nghĩa này hoàn toàn phù hợp với khái niệm sinh thái xã hội của Parker (1983) cho rằng: “Sinh thái xã hội nghiên cứu quan

hệ giữa các cộng đồng người và môi trường tương ứng, nhất là môi trường vật chất” Sinh thái nhân văn đã sử dụng quan điểm hệ thống cho cả xã hội loài người

và tự nhiên Trong hệ thống đó, tác động con người tới hệ sinh thái tự nhiên chịu sự chi phối của các yếu tố: tự nhiên, kinh tế, xã hội…

Tiếp cận quan điểm sinh thái nhân văn trong nghiên cứu HTCT cho thấy, phương thức canh tác, sử dụng đất,… ở mỗi cộng đồng, mỗi hộ gia đình rất đa dạng

và phong phú, nó không những phản ánh những đặc điểm sinh thái, mối quan hệ kinh tế xã hội và chính sách hiện hành mà còn phản ánh các giá trị văn hoá Điều đó khẳng định đầu ra của các của các hoạt động sản xuất trong cộng đồng bị chi phối bởi nhiều nhân tố và không có yếu tố nào giữ vai trò chủ đạo trong cộng đồng vào

tất cả thời điểm

Tóm lại, tiếp cận theo quan điểm sinh thái nhân văn là xem xét HTCT là hệ thống sinh thái gắn với yếu tố văn hóa, xã hội của con người (cộng đồng - chủ thể của HTCT đó)

2.4.1.3 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu

Sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định Điều quan

Trang 23

trọng là người dân có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về vấn đề của địa phương với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này

có thể hiểu và đáp ứng các triển vọng được nêu ra

Hosley, 1996 đưa ra 7 mức độ của sự tham gia từ thấp đến đến cao, đó là: tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, tự huy động và tổ chức

Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng Trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức

tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA

Rapid Rural Appraisal) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA Participatory Rural Appraisal) được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu

-Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin từ chính người dân địa phương, là cơ sở để phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội của nông hộ và ảnh hưởng của các yếu tố này đến các HTCT

Tóm lại, vận dụng lý thuyết hệ thống, quan điểm sinh thái nhân văn và quan điểm tiếp cận có sự tham gia để nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu và phát triển nông thôn nhìn toàn bộ HTCT là một tổng thể hệ thống, trong đó người nông dân là trung tâm; tập trung vào những mối liên hệ tương hỗ, phụ thuộc giữa môi trường tự nhiên và con người, giữa thành phần cấu tạo hệ thống trong tầm kiểm soát của nông hộ và cách thức các thành phần này tác động qua lại với các yếu tố vật lý, sinh học, kinh tế và xã hội ngoài tầm kiểm soát của nông hộ

2.4.2 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.4.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

Chọn điểm nghiên cứu là công việc được thực hiện trước khi điều tra thu thập

số liệu Nguyên tắc của chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu Vì vậy, các tài liệu thứ cấp liên quan đến khu vực được nghiên cứu nhằm tìm hiểu chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực và một đợt

Trang 24

khảo sát nhanh được tiến hành tại các địa điểm thuộc khu vực nghiên cứu nhằm tìm hiểu những đặc trưng về địa hình và điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa điểm

2.4.1.2 Thu thập thông tin và số liệu điều tra hiện trường

Sử dụng các công cụ PRA sau đây để thu thập các thông tin và số liệu:

- Phỏng vấn bán định hướng: nhằm thu thập thông tin điều tra từ các cá nhân,

HGĐ trong sản xuất nông lâm nghiệp ở điểm nghiên cứu

+ Phỏng vấn cán bộ xã/ thôn: phỏng vấn cán bộ của 1 xã, 2 thôn nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế – xã hội của thôn, bản như: dân số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình thức sử dụng tài nguyên rừng

+ Phỏng vấn các HGĐ: bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn bị trước

nhằm thu được các thông tin về tình hình của từng HGĐ Phỏng vấn 90 HGĐ dân tộc Thái và Kinh với đầy đủ các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo Nội dung phỏng vấn là các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, các nguồn thu nhập, sinh kế của cộng đồng địa phương, các hình thức và nguyên nhân tác động của cộng đồng vào HTCT, đồng thời cũng tìm hiểu các giải pháp giải quyết các hạn chế trong kinh tế hộ do chính cộng đồng đưa ra Đây là những thông tin quan trọng

để phân tích kinh tế HGĐ, đặc biệt là việc phân tích tiềm năng của các nông hộ trong việc đầu tư vào sản xuất

- Đi lát cắt: nhằm đánh giá chi tiết về đất đai, cây trồng, vật nuôi và tiềm năng

để phát triển sản xuất tại điểm nghiên cứu Nội dung mô tả:

+ Đặc điểm tự nhiên: đất đai, nguồn nước, lược sử sử dụng đất đai

+ Các loài cây trồng, vật nuôi chính và kỹ thuật, năng suất…

+ Tình hình tổ chức quản lý

+ Những khó khăn, mong muốn của cộng đồng

+ Những giải pháp

- Lược sử thôn bản: nhằm tìm ra những mốc thời gian quan trọng gắn liền với

sự thay đổi trong quá trình lao động sản xuất, sử dụng đất, hình thành và phát triển các hệ thống canh tác của cộng đồng

Trang 25

- Phân tích lịch mùa vụ: sử dụng cho việc đánh giá tiềm năng và kinh nghiệm

canh tác của thôn Công cụ này sẽ cho phép tìm hiểu kế hoạch gieo trồng theo từng nơi

và có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên đặc biệt là điều kiện khí hậu ở nơi đó

- Phân loại hộ gia đình: nhằm phân ra các nhóm hộ có điều kiện khác nhau,

điều này có ý nghĩa quan trọng để lựa chọn hộ trong quá trình phỏng vấn, thu thập số liệu, so sánh giữa các nhóm hộ Các tiêu chí phân loại được người dân đưa ra và giải thích tại sao lại đưa ra các tiêu chí như vậy, danh sách các hộ trong thôn được ghi lên các phiếu và để cho người dân tự đánh giá và xếp loại theo các tiêu chí đã đặt ra

- Thảo luận nhóm về các chủ đề: lược sử tình hình sử dụng đất, hình thành và

phát triển các HTCT; các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến các HTCT; giải pháp phát triển các HTCT theo hướng bền vững Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn Nhóm thảo luận gồm 5 - 7 người nhằm bổ sung

và thống nhất về các vấn đề liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp của gia đình và địa phương, cụ thể là các HTCT

- Phương pháp phân tích SWOT: nhằm xác định bối cảnh hiện tại và triển

vọng trong tương lai về mặt kinh tế xã hội và sản xuất nông lâm nghiệp của điểm nghiên cứu

- Phương pháp “5 tại sao”: áp dụng phương pháp này để tìm ra hệ thống các

nguyên nhân của vấn đề để giải quyết vấn đề cụ thể đặt ra Đây là phương pháp đi

từ 5 nguyên nhân chính sau đó phát hiện các nguyên nhân thứ cấp Từ các nguyên nhân này sẽ làm cơ sở cho việc xem xét đề xuất các giải pháp khả thi cho việc phát triển các hệ thống canh tác theo hướng bền vững

2.4.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

2.4.3.1 Phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế

* Phương pháp động (đối với PTCT trồng cây lâu năm)

Phương pháp này coi các yếu tố chi phí, kết quả là có mối quan hệ động với mục tiêu đầu tư và chịu tác động mạnh của nhân tố thời gian Sở dĩ đề tài sử dụng phương pháp này để đánh giá hiệu quả kinh tế vì chu kỳ của cây lâu năm phụ thuộc vào các nhân tố thời gian, điều kiện sản xuất

Trang 26

Hiệu quả kinh tế của các PTCT trồng cây lâm nghiệp được đánh giá qua phương pháp phân tích lợi ích, chi phí CBA (Cost - Benefit Analysis) Phương pháp CBA là một phương pháp cho một hệ thống quyết định và thiết lập những mục tiêu đạt được trong tương lai Đối tượng là chi phí và thu nhập Theo hướng dẫn của FAO nhiều nước trên thế giới và trong khu vực châu Á đều áp dụng 3 chỉ tiêu NPV, BCR, IRR để đánh giá hiệu quả kinh tế của cây dài ngày Trong đề tài này các số liệu kinh tế được tập hợp và tính bằng các hàm kinh tế: NPV, CPV, BPV, IRR, BCR trong chương trình Excel

- Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (NPV - Net Present Value): Là chỉ tiêu

xác định lợi nhuận ròng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, có tính đến ảnh hưởng của nhân tố thời gian thông qua tính chiết khấu

i

C B NPV

0 (1 ) (1)

Trong đó: NPV: Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng)

Bt : Giá trị thu nhập của năm thứ t (đồng)

Ct : Giá trị chi phí của năm thứ t (đồng)

r : Tỉ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)

t : Thời gian thực hiện các sản xuất (năm)

∑: Tổng giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ năm 0 đến năm n

n : Số năm của chu kỳ sản xuất

Chỉ tiêu NPV dùng để đánh giá các hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất, hoạt động sản xuất nào có NPV càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao., NPV

> 0: sản xuất có lãi, NPV < 0: sản xuất bị lỗ, NPV = 0: sản xuất hòa vốn

- Tỷ suất thu nhập và chi phí (BCR - Benefit to Cost Ratio): BCR là hệ số sinh

lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

BPV i

C i B

i

t t

n t

t t

Trang 27

Trong đó: BCR: tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng/đồng)

BPV: giá trị hiện tại của thu nhập (đồng) CPV: giá trị hiên tại của chi phí (đồng)

Các ký hiệu khác được giải thích ở công thức (1) Nếu PTCT có BCR > 1 và càng lớn: hiệu quả kinh tế càng cao, ngược lại BCR

≤ 1: không hiệu quả

- Tỉ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR - Internal Rate of Return): thể hiện tỉ lệ sinh lời

của vốn đầu tư cho PTCT có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR được tính theo tỉ lệ %, là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư hay nó phản ánh mức độ quay vòng của vốn Vì vậy, IRR cho phép xác định thời điểm hoàn trả vốn đầu tư

IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao, khả năng thu hồi vốn càng sớm (IRR > r: có lãi; IRR < r: bị lỗ; IRR = r: hòa vốn, khi đó NPV = 0)

Kết quả tính toán các chỉ tiêu kinh tế của từng PTCT trồng cây dài ngày trong các năm được ghi vào mẫu biểu sau:

Mẫu biểu: Chỉ tiêu kinh tế của PTCT

Năm Ct Bt Bt - Ct (1 + i)t CPV BPV NPV IRR BCR

1

2

* Phương pháp tĩnh (đối với PTCT trồng cây ngắn ngày)

Để đánh giá hiệu quả kinh tế của các HTCT trên đất dốc tại điểm nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp cân đối thu nhập và chi phí của từng HTCT, được thể hiện qua công thức sau:

Trang 28

- Lợi nhuận của PTCT i: LNi = 

Khi lợi nhuận > 0 thì PTCT đó có hiệu quả kinh tế và ngược lại

Sau khi tính lợi nhuận của các PTCT được tổng hợp theo mẫu biểu :

Mẫu biểu: Hiệu quả kinh tế của HTCT

HTCT PTCT Thu nhập Chi phí Lợi nhuận Xếp hạng

1

2

2.4.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội

Căn cứ vào thực tế hiện tại của địa điểm nghiên cứu, trên cơ sở góp ý của chính quyền địa phương cùng với sự tham gia của người dân bằng phương pháp cho điểm để đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội như: khả năng chấp nhận của người dân; thu hút được nhiều lao động…

Mẫu biểu: Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội của các HTCT

HTCT PTCT Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội Tổng

điểm

Xếp hạng

1

2

2.4.2.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường được đánh giá với sự tham gia của người dân bằng phương pháp cho điểm và sử dụng các chỉ tiêu do người dân đưa ra Kết quả thu được tổng hợp theo bảng sau:

Mẫu biểu: Kết quả đánh giá hiệu quả môi trường của các HTCT

HTCT PTCT Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường Tổng

điểm

Xếp hạng

1

2

Trang 29

2.4.2.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả tổng hợp Ect

Phương pháp tính Ect (Effective Indicator Farming system) của Walfredo Ravel Rola (1994) là phương có thể áp dụng để tính hiệu quả tổng hợp của các PTCT Có thể đưa tất cả các tiêu chí, chỉ báo định lượng vào tính toán, cũng có thể thảo luận cùng người dân lựa chọn một số tiêu chí, chỉ báo của hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường để tính Ect Công thức tính:

Ect =         N

Fn

F or F

Fn F

F or F

F

:minmax

1

minmax

Trong đó: Ect: là hiệu quả tổng hợp

F: là các tiêu chí tham gia vào tính toán

N: là số lượng các tiêu chí

Ect = 1 hoặc gần bằng 1, PTCT có hiệu quả tổng hợp cao nhất (phương thức

có ý nghĩa về kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất)

2.4.4 Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu và các số liệu đã có về các vấn đề liên quan

Thu thập tài liệu thứ cấp về vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, thuỷ văn, dân sinh

kinh tế, xã hội các tài liệu có liên quan về vấn đề nghiên cứu

Kế thừa các kết quả các công trình nghiên cứu đã và đang thực hiện có liên

quan đến nội dung đề tài

Trang 30

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Chiềng Mung là một xã nằm trong vùng kinh tế phát triển đô thị của huyện Mai sơn, tỉnh Sơn La cách trung tâm tỉnh khoảng hơn 10 km về phía Nam theo trục Quốc lộ 6

- Phía Bắc giáp thị xã Sơn La

- Phía Nam giáp xã Chiềng Mai và xã Hát Lót

- Phía Đông giáp xã Mường Bằng và Mường Bon

- Phía Tây giáp xã Chiềng Ban và Chiềng Mai

Tổng diện tích tự nhiên 3.602,00 ha, với 27 bản, mật độ dân số khoảng 229 người/km2 Xã Chiềng Mung có trung tâm xã là trung tâm hành chính kinh tế - văn hoá, giáo dục, y tế, ngoài ra trên địa bàn xã còn có 8 km đường quốc lộ và sân bay

Nà Sản Hệ thống giao thông đường bộ, đường hàng không khá thuận lợi tạo nhiều điều kiện cho Chiềng Mung trong việc giao lưu thông thương trao đổi hàng hoá, thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện

Tuy nhiên, là xã miền núi, địa hình hiểm trở lại nằm sâu trong nội địa, hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng đang được đầu tư phát triển Song, tốc độ còn chậm là những hạn chế cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của xã

3.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình của xã cũng bị chia cắt phức tạp, bởi một số núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo và cao nguyên Độ cao trung bình so với mực nước biển từ

700 - 800 m Với địa hình như vậy tạo ra nhiều tiểu vùng với các ưu thế khác nhau cho phép phát triển nền kinh tế đa dạng

Do đặc điểm kiến tạo địa chất với địa hình nhiều nơi trong xã tương đối bằng phẳng, đã tạo cho Chiềng Mung nhiều dạng địa hình đặc trưng vùng núi, là địa bàn

Trang 31

thuộc khu vực cao nguyên Nà Sản, có nhiều ưu thế để hình thành vùng sản xuất nguyên liệu với quy mô tập trung

Sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng hàng hoá và cơ cấu đa dạng gồm phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây màu, chăn nuôi và trồng rừng

3.1.3 Khí hậu

- Khí hậu : Xã Chiềng Mung mang đặc điểm chung của vùng Tây Bắc (Nhiệt đới gió mùa) nóng ẩm mưa nhiều và chia làm hai mùa rõ rệt

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng

7, 8, 9 cùng với địa hình hơi nghiêng và dốc Do vậy, vào các tháng này thường hay gây ra lũ lụt, đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô, nóng làm cho mùa này thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh

tế đặc biệt sản xuất nông - lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn

- Vùng địa hình hơi dốc đứng mật độ sông suối là 0,72 km/km2, phần lớn là các nhánh suối nhỏ

Trang 32

- Vùng địa hình bát úp, thấp thoải mật độ 0,52 km/km2, bao gồm có một số

hệ thống suối chính: Bó Họ, Bung Bông và một số suối khác Nhìn chung lòng suối, khe, lạch diện tích hẹp, mực nước so với bề mặt diện tích canh tác thấp gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

3.2 Các nguồn tài nguyên

3.2.1 Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 3.602,40 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp là 2.075,28 ha chiếm 57,60% tổng diện tích đất tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp là 614,13 ha, chiếm 17,05% tổng diện tích tự nhiên

- Đất chưa sử dụng là 912,99 ha, chiếm 25,35% tổng diện tích tự nhiên Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, trên địa bàn xã Chiềng Mung có 3 nhóm đất chính:

- Nhóm đất đỏ vàng: Chiếm 96,88% tổng diện tích điều tra

- Nhóm đất đá vôi: Chiếm 0,67%

- Nhóm đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Chiếm 1,15%

Phần lớn đất đai trên địa bàn toàn xã có độ dốc lớn, có tới 60% diện tích đất

có độ dốc trên 250, và gần 10% có độ dốc dưới 150 Bên cạnh đó, xã có diện tích thuộc khu vực cao nguyên Nà Sản là nơi phân bố các loại đất có độ phì cao, tầng đất dầy, mang lại ưu thế để phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá có quy mô tập trung

Hầu hết các loại đất ở Chiềng Mung có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá (đất có tầng dầy >100 cm, chiếm gần 34%; từ 50 - 100 cm chiếm trên 36%; dưới 50

cm chiếm gần 30%)

Nhìn chung các loại đất của xã có thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ mùn và các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá, độ chua không cao lắm, nghèo bazơ trao đổi, đất thiếu lân, kali và các chất dễ tiêu

3.2.2 Tài nguyên nước

Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã được lấy từ hai nguồn:

Trang 33

- Nguồn nước mặt: Được cung cấp bởi hệ thống sông suối chính, bao gồm các suối (Bó Họ, Bung Bông và một số suối khác), ngoài ra còn một số lượng lớn các ao hồ… Tuy nhiên, phần lớn mặt nước các sông suối đều thấp hơn mặt bằng đất canh tác và các khu dân cư khá lớn nên hạn chế đáng kể tới khả năng khai thác, sử dụng vào sản xuất và đời sống Hơn thế nữa trong những năm gần dây một số tuyến suối và ao hồ vào mùa khô thương bị cạn nước nhiều hơn so với mức chung bình của những năm trước, đã gây không ít khó khăn cho sản xuất cũng như đời sống của người dân Không ít địa bàn tuy có điều kiện về đất đai nhưng khó khăn về nguồn nước do đó chưa phát huy, sử dụng đất có hiệu quả

- Nguồn nước ngầm: Qua kết quả điều tra khảo sát cho thấy hệ thống nước ngầm của xã phân bố không đều, mực nước thấp, khai thác khó khăn Nước ngầm tồn tại chủ yếu dưới hai dạng:

+ Nước ngầm chứa trong các kẽ nứt của đá: Được hình thành do đá bị phong hoá mạnh, nước mưa ngấm qua đất dự trữ vào các kẽ nứt trên bề mặt của các loại

đá, lưu lượng dao động mạnh theo mùa

+ Nước ngầm Kaster: Được tàng trữ trong các hang động Kaster hình thành

từ núi đá vôi Nước Kaster thường phân bố sâu, ít vận động, các mạch xuất lộ từ nguồn Kaster thường có lưu lượng lớn, động thái không ổn định Nước Kaster là loại nước cứng, khi sử dụng trong sinh hoạt cần được xử lý

3.2.3 Tài nguyên rừng, thảm thực vật

Chiềng Mung là một trong những xã có diện tích đất lâm nghiệp lớn, chiếm 24,02% diện tích tự nhiên, đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng, có điều kiện để xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao Rừng Chiềng Mung có nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm

Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp có rừng của Chiềng Mung còn nhưng không nhiều, chủ yếu tập trung ở những bản cách xa đường quốc lộ

Nhìn chung, Chiềng Mung là địa bàn có nguồn tài nguyên thảm thực vật khá phong phú và đa dạng, có ý nghĩa lớn cả về kinh tế và khoa học - môi trường sinh

Trang 34

thái Cây trồng ở đây tương đối phong phú về chủng loại, giống có ưu thế về chất lượng, năng suất… Hàng năm, cung cấp trữ lượng gỗ khá lớn

3.2.4 Tài nguyên khoáng sản

Nguồn khoáng sản của Chiềng Mung được nhiều tài liệu đánh giá là vùng có một số loại khoáng sản và nguyên vật liệu xây dựng như đá xây dựng khá phong phú, có chất lượng tương đối tốt, nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, trữ lượng không lớn, khó khai thác do đi lại khó khăn Một số núi đá có thể khai thác để làm nguyên vật liệu xây dựng, làm đường và làm nguyên liệu cho nhà máy chế biến xi măng

3.2.5 Tài nguyên nhân văn

Chiềng Mung là vùng đất được hình thành và phát triển sớm trong lịch sử nước ta Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã Chiềng Mung thường xuyên nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Huyện uỷ, HĐND - UBND huyện và các cơ quan ban ngành của huyện Do đó, tinh thần đoàn kết trong xã luôn luôn được giữ vững và phát huy, được thừa kế những kinh nghiệm từ những nhiệm kỳ trước Trình

độ dân trí ngày càng được nâng lên, uy tín của Đảng đối với nhân dân được củng cố

và tin tưởng, khối đại đoàn kết tiếp tục được khẳng định Chiêng Mung là xã nằm ở trong vùng kinh tế quan trọng của huyện, xã đã tranh thủ sự quan tâm đầu tư để xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tạo điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Bộ máy chính quyền được kiện toàn, đổi mới trong công tác lãnh đạo, điều hành nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước Nhân dân các dân tộc trong xã đoàn kết, tích cực trong lao động sản xuất, mạnh dạn đầu tư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất Bên cạnh đó cũng có không ít những khó khăn về nhận thức của một số ít cán bộ, Đảng viên chậm đổi mới trong tư duy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Mặt bằng dân trí chưa đồng đều, đời sống nhân dân tuy đã được cải thiện đáng kể, nhưng tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao Mặt khác, thời tiết diễn biến hết sức phức tạp, hạn hán kéo dài, đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của nhân dân, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế

Trang 35

Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhân dân các dân tộc của

xã Chiềng Mung đã viết nên trang sử quê hương rạng rỡ, với truyền thống văn hoá đặc sắc lâu đời, gắn liền với truyền thống kiên cường trong đấu tranh cách mạng Cộng đồng các dân tộc gồm 4 dân tộc chính đoàn kết, gắn bó chung sống từ lâu đời, trong đó: (Dân tộc Thái chiếm 65%; Dân tộc kinh chiếm 35%; Dân tộc Mường chiếm 0,8%; Dân tộc Tày chiếm 0,1%; Mỗi dân tộc có những nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hoá truyền thống, hoà nhập làm phong phú, đa dạng bản sắc dân tộc, bao gồm văn học nghệ thuật, lịch sử, tín ngưỡng

Kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng của các thế hệ cha ông, ngày nay Đảng bộ và nhân dân xã Chiềng Mung đang ra sức phấn đấu xây dựng xã phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, khai thác tối đa tiềm năng và thế mạnh của xã nhằm hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh"

3.3 Thực trạng môi trường

Chiềng Mung là xã miền núi vùng cao, địa hình phức tạp và chia cắt hình thành nhiều tiểu vùng khác nhau cùng với thảm thực vật phong phú, rộng lớn tạo nên cảnh quan hấp dẫn cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và nghiên cứu

Chiềng Mung có môi trường không khí trong lành, nguồn nước ít bị ảnh hưởng Nhưng hiện trạng và trong tương lai môi trường trên địa bàn xã cũng đã và đang bị ô nhiễm do: Tốc độ phát triển hiện tại cũng như trong tương lai sẽ rất nhanh, chất thải ra ngày càng nhiều, chất thải sinh hoạt các khu dân cư, việc xử lý rác thải chưa đồng bộ, kịp thời, việc sử dụng phân bón hoá học, phun thuốc trừ sâu không đúng quy định đang xảy ra ở nhiều nơi Mặt khác diện tích thảm thực vật che phủ đất hiện còn thấp, trên diện tích này, đất vẫn đang tiếp tục bị xói mòn, rửa trôi làm giảm tầng dày, độ phì gây sạt lở, lũ lụt ở vùng thấp, khu vực đất trống đồi trọc

bị xói mòn, rửa trôi Đây là vấn đề cần có sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của các cấp chính quyền nhằm bảo vệ môi trường sinh thái bền vững

Trang 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Phân loại và lựa chọn các HTCT tại địa bàn nghiên cứu

Xã Chiềng Mung có 4 HTCT chính đặc trưng cho địa hình đồi núi Sự khác nhau cơ bản trong mỗi HTCT là sự phối hợp giữa các loài cây trồng theo không gian và thời gian, dựa vào sự phối hợp đó đề tài chia thành 8 phương thức canh tác khác nhau,

cụ thể như sau:

4.2 Phân tích cơ cấu cây trồng vật nuôi trong các HTCT

4.2.1 Kết quả phân tích lịch mùa vụ các loài cây trồng

Phân tích lịch mùa vụ: là một công cụ cho việc đánh giá tiềm năng của thôn

bản nhằm lập kế hoạch cho các hoạt động sản xuất của thôn trong tương lai Lịch mùa vụ thể hiện rõ ràng các hoạt động sản xuất trong 1 năm Qua đây có thể đánh giá được kinh nghiệm của người dân địa phương trong quá trình sản xuất Kết quả lịch mùa vụ được thể hiện ở hình 4.1

Qua kết quả phân tích lịch mùa vụ cho thấy:

- Tại địa phương, mùa mưa bắt đầu từ tháng Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng

10, lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9 cùng với địa hình hơi nghiêng

và dốc Do vậy, vào các tháng này thường hay gây ra lũ lụt, đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô, nóng làm cho mùa này thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh

tế đặc biệt sản xuất nông - lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn

- Các loại cây trồng chính trong các HTCT là: Keo, Bạch đàn trồng trên diện tích đất lâm nghiệp đã được giao cho HGĐ; lúa được trồng trên ruộng bậc thang; ngô, sắn trồng trên nương rẫy; vải, nhãn, mía, dứa trồng ở vườn nhà

- Công việc tập trung nhiều vào các tháng 2 - 6 và 9 - 11 Đây là những tháng người dân chuẩn bị làm đất, gieo trồng, thu hoạch nên cần lượng lao động lớn và tập trung Các tháng còn lại chủ yếu là thời gian để chăm sóc cây trồng và sau thu hoạch, nương bỏ hoá nên thường ít việc hơn, yêu cầu về lao động không cao Vào lúc nông nhàn, một bộ phận người dân đi làm việc khác như: bốc vác, làm thuê, dệt

đồ thổ cẩm, buôn bán nhỏ,…

Trang 37

Nhiệt độ Lượng mưa

Hình 4.1 Lịch mùa vụ xã Chiềng Mung năm 2011 (âm lịch)

Trồng Chăm sóc chăm sóc Thu hoạch cây

Trồng Thu hoạch

Nhãn

Thu hoạch Vải

Chăm sóc

Trồng Chăm sóc Thu hoạch Trồng Chăm sóc Thu hoạch

Thu hoạch

Gieo mạ Cấy Chăm sóc

Chăm sóc Trồng

Thu hoạch

Trang 38

4.2.2 Kết quả điều tra hiện trạng và đặc điểm các HTCT tại địa phương

1, HTCT rừng trồng: theo số liệu thống kê của xã năm 2010, diện tích rừng

trồng của cả xã là 220 ha Hiện nay, HTCT này gồm 2 PTCT chính: Keo thuần loài

và Bạch đàn thuần loài

- PTCT Keo tai tượng thuần loài: chiếm diện tích lớn nhất, là loài cây được

đánh gía phù hợp với điều kiện lập địa của địa phương Keo tai tượng là cây ưa sáng, sinh trưởng nhanh, sinh trưởng tốt trên đất bồi tụ, dốc tụ tụ sâu, ẩm, tốt Trên đất xói mòn mỏng lớp khô hạn nghèo dinh dưỡng, chua vẫn sống song sinh trưởng kém Thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm, cành lá dày, tán rậm thường xanh, hệ rễ phát triển mạnh, nhiều nốt sần có tác dụng cố định đạm nên được trồng làm cây che phủ, cải tạo, bảo vệ đất,… Sinh trưởng nhanh, 7 – 8 năm có thể cho thu hoạch, trữ lượng ước tính 90-100m3 trên 1 ha Người dân không phải đầu tư chăm sóc nhiều nên chi phí thấp Thị trường tiêu thụ gỗ keo rộng, giá bán cao và ổn định 2.000.000 đồng/m3, gỗ củi 90.000 đồng/ster

Kỹ thuật trồng: Thời vụ trồng keo thường vào mùa Xuân hoặc mùa Thu Phát dọn thực bì trước khi trồng theo dải hoặc băng Keo được trồng hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2 m Cuốc hố theo kích thước 30 x 30 x 30 cm nếu trồng bằng cây con

Keo đem lại giá trị kinh tế nhưng thời gian sinh trưởng 7 – 8 năm nên ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người dân, mặt khác nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn xung yếu trồng Keo thuần loài không thể đáp ứng được yêu cầu phòng hộ Trong thời gian tới cần có phương án làm giàu rừng để đa dạng cây trồng, tăng nguồn thu cho HGĐ

- PTCT Bạch đàn thuần loài: Là cây có tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất

cao phù hợp điều kiện sinh thái của địa phương, hiệu quả kinh tế cao, dễ trồng và ít phải chăm sóc, nhu cầu thị trường cao

Kỹ thuật trồng: Thời vụ trồng Bạch đàn thường vào mùa Xuân hoặc mùa Thu Phát dọn thực bì trước khi trồng theo dải hoặc băng Mật độ trồng 2500-3300 cây /

ha Cuốc hố theo kích thước 30 x 30 x 30 cm nếu trồng bằng cây con

Vấn đề đặt ra hiện nay với PTCT này là: Mặc dù là loài cây lâm nghiệp có tốc độ

Trang 39

sinh trưởng nhanh, song sớm nhất 7-8 năm mới khai thác được nên vẫn ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày người dân địa phương, mặt khác trồng loài cây dẫn đến khô đất thoái hoá đất, tác dụng phòng hộ chưa cao

2, HTCT ruộng bậc thang: Với diện tích 142 ha, chiếm tỷ lệ 14.02 % diện tích

đất nông nghiệp HTCT ruộng bậc thang có duy nhất một PTCT là lúa nước Hiện tại người dân đã tiến hành trồng 2 vụ trong năm: vụ Xuân từ tháng 1 đến 5, vụ Mùa

từ tháng 6 đến tháng 11 (âm lịch) Năng suất lúa 5,0 tấn / ha

Canh tác lúa nước đóng vai trò quan trọng, đảm bảo phần lớn nhu cầu lương thực cho HGĐ Tuy nhiên, do chưa có sự đầu tư thỏa đáng về giống, phân, thâm canh để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nên năng suất không cao Trong bối cảnh hoạt động sản xuất vẫn mang nặng tính tự cung tự cấp, sự bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp trước hết được xem xét thông qua khả năng đáp ứng lương thực đối với nông hộ Vì vậy, canh tác lúa nước đã và luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng

3, HTCT nương rẫy: Là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm

độ phì và thoái hoá đất Được hình thành ngẫu nhiên từ thực tế thiếu gạo ăn phải

trồng ngô, sắn, khoai để bù đắp phần lương thực thiếu hụt Đất nương rẫy đã được giao đến từng hộ gia đình, tuy nhiên việc giao đất này chỉ căn cứ vào diện tích trước đây các gia đình khai phá được nên diện tích không đồng đều, phân bố rải rác, trung bình mỗi hộ chỉ khoảng 0,3 - 0,5 ha, có HGĐ không có đất nương rẫy nên tình trạng phá rừng làm nương rẫy vẫn xảy ra Hiện tại, người dân vẫn chưa thể bỏ canh tác nương rẫy - loại hình canh tác luôn bị coi là thủ phạm của nạn chặt phá rừng và làm cho nguy cơ xói mòn đất, lũ lụt gia tăng – vì đây là lựa chọn duy nhất để đảm bảo lương thực cho các HGĐ không có ruộng hoặc có diện tích ít Trên đất nương rẫy

bao gồm 2 PTCT chính đó là: Ngô độc canh và sắn độc canh

- PTCT Ngô độc canh: trồng nhiều trên đất nương rẫy với diện tích tương đối

lớn là 273.2 ha, có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi đem lại nguồn thu nhập đáng kể Thời vụ trồng cuối tháng 5, đầu tháng 6 Ngô được trồng 1 - 2 vụ/năm, chủ yếu giống ngô lai Bioseed 9698, ngô đá, răng

Ngày đăng: 01/09/2017, 09:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm