Phân bố thú linh trưởng theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu .... Phân bố của các loài thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu .... Mục tiêu Mục tiêu chung: Nghiên cứu này tập
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học./
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2016
Người cam đoan
Phạm Anh Quốc Phương
Trang 2Xin chân thành cảm ơn TS Đồng Thanh Hải, TS Nguyễn Vĩnh Thanh đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực địa và viết đề tài
Xin cảm ơn thôn Sa Bai, thôn Mới xã Hướng Linh, thôn Cha Ly xã Hướng Lập, thôn Chênh Vênh xã Hướng Phùng đã cung cấp những thông tin trong cuộc điều tra này
Mặc dù đã rất cố gắng trong khi thực hiện luận văn nhưng do kiến thức có hạn, điều kiện về thời gian và tư liệu tham khảo còn hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn./
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,ngày 30 tháng 5 năm 2016
Tác giả
Phạm Anh Quốc Phương
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm chung của thú bộ Linh trưởng (Primates) ở Việt Nam 3
1.2 Phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam 4
1.3 Phân bố Linh trưởng Việt Nam 5
1.4 Tình trạng các loài linh trưởng Việt Nam 8
1.5 Các mối đe dọa đối với khu hệ thú linh trưởng 9
1.6 Đặc điểm tài nguyên KBTTN Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 11
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Mục tiêu 13
2.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 13
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 13
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 13
2.3 Nội dung 13
2.4 Phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần loài 14
2.4.2 Phân chia sinh cảnh và xác định phân bố của các loài 17
2.4.3 Các mối đe doạ 18
2.4.4 Đánh giá các mối đe dọa 19
2.4.5 Phương pháp nội nghiệp 20
Trang 4Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI 22
3.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới 22
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 22
3.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng 23
3.2.1 Tài nguyên thực vật của Khu bảo tồn BHH 23
3.2.2 Tài nguyên động vật của Khu bảo tồn BHH 24
3.3 Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội 24
3.3.1 Cơ cấu dân cư, lao động trong vùng dự án 24
3.3.2 Kinh tế - xã hội 24
3.4 Đánh giá chung về tình hình cơ bản 25
3.4.1 Về điều kiện tự nhiên 25
3.4.2 Về kinh tế - xã hội 26
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Thành phần khu hệ thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu 27
4.2 Phân bố thú linh trưởng theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu 32
4.2.1 Các dạng sinh cảnh chính 32
4.2.2 Phân bố của các loài thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu 37
4.3 Đánh giá giá trị các loài thú linh trưởng trong khu vực nghiên cứu 38
4.3.1 Giá trị sinh thái 38
4.3.2 Giá trị bảo tồn khu hệ linh trưởng 39
4.4 Đánh giá các mối đe dọa đến khu hệ linh trưởng tại KBTTN Bắc Hướng Hóa 40
4.4.1 Các mối đe dọa 40
4.4.2 Đánh giá các mối đe dọa 45
4.4.3 Hiện trạng công tác quản lý và bảo tồn thú linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa 46
4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn khu hệ Linh trưởng tại KBTTN Bắc Hướng Hóa 48
Trang 54.5.1 Bảo vệ loài và sinh cảnh sống hiện có 49
4.5.2 Kiểm soát tình trạng săn bắn 50
4.5.3 Xây dựng chương trình giám sát lâu dài cho các loài thú linh trưởng 50
4.5.4 Nâng cao nhận thức cộng đồng 50
4.5.5 Cải thiện sinh kế cho người dân địa phương 51
4.5.6 Hoạt động nghiên cứu khoa học 52
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 53
1 Kết luận 53
2 Tồn tại 54
3 Kiến nghị 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 67 KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
8 KBTTN BHH Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa
14 RGTNLRTX Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh
15 RGTNLRTXTB Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng kết về phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam theo thời gian 4
Bảng 1.2 Phân loại khu hệ thú linh trưởng Việt Nam theo Groves (2004) 4
Bảng 1.3 Phân bố thú linh trưởng theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 6
Bảng 1.4 Tình trạng các loài linh trưởng Việt Nam 9
Bảng 2.1 Kết quả phỏng vấn người dân địa phương 14
Bảng 2.2 Kết quả điều tra thực địa 16
Bảng 2.3 Biểu điều tra loài theo sinh cảnh 18
Bảng 2.4 Biểu ghi chép về tác động của con người 19
Bảng 2.5 Kết quả đánh giá các mối đe dọa 20
Bảng 4.1 Thành phần các loài thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu 27
Bảng 4.2 Tần suất bắt gặp các loài trên tuyến điều tra 30
Bảng 4.3 Tình trạng bảo tồn các loài thú linh trưởng 39
Bảng 4.4 Kết quả đánh giá các mối đe dọa 46
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ các tuyến điều tra tại KBTTN Bắc Hướng Hóa 17
Hình 4.1 Khỉ vàng bị nuôi nhốt tại xã Hướng Lập 28
Hình 4.2 Khỉ vàng được ghi nhận tại Hướng Việt 29
Hình 4.3 Chà vá chân nâu 29
Hình 4.4 Voọc hà tĩnh 30
Hình 4.5 Tổng số lần quan sát các loài trong quá trình điều tra 32
Hình 4.6 Sinh cảnh RGTNLRTXTB núi đất 34
Hình 4.7 Sinh cảnh RGTNLRTX núi đá 35
Hình 4.8 Bản đồ phân bố của các loài linh trưởng tại KBTTN Bắc Hướng Hoá 38
Hình 4.9 Phá bẩy bắt động vật hoang dã tại Hướng Việt 42
Hình 4.10 Khai thác lâm sản trái phép tại Bản Cuôi Hướng Lập 43
Hình 4.11 Phá rừng làm nương rẫy tại Hướng Linh 44
Hình 4.12 Lan tại KBT Bắc Hướng Hóa 44
Hình 4.13 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động của KBT 47
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được coi là một trong những Quốc gia có khu hệ thú linh trưởng đa dạng trên thế giới theo phân loại của Groves (2004) thú linh trưởng Việt Nam gồm 24 loài và phân loài, thuộc 3 họ đó là họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ
Vượn (Hylobatidae) Trong đó có 4 loài đặc hữu là Vọoc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Vọoc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus), Vọoc gáy trắng (Trachypithecus hatinhensis) và Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) Ngoài ra, Việt
Nam có tới 5 loài linh trưởng trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới hiện nay, đó là Voọc mông trắng, Voọc mũi hếch, Chà vá chân xám, Vượn Cao Vít và Voọc đầu vàng (Schwitzer et al., 2015)
Tất cả các loài thú linh trưởng ở Việt Nam đều có tình trạng sắp nguy cấp đến nguy cấp Theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 trong số 24 loài và phân loài hiện biết ở Việt Nam, có 4 loài trong tình trạng "Cực kỳ nguy cấp" (CR) và 8 loài ở tình trạng "Nguy cấp" (EN), một vài loài trong số này đang đứng trước bờ vực của sự tuyệt chủng
Săn bắn, phá hủy sinh cảnh, và buôn bán trái phép là những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm quần thể các loài linh trưởng tại nước ta Nhận thức được điều này chính phủ Việt Nam đã có nhiều các biện pháp nhằm bảo tồn các loài động vật hoang dã như bảo tồn nội vi, ngoại vi, hay bằng hệ thống văn bản pháp luật
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Bắc Hướng Hóa được thành lập theo Quyết định số 479/QĐ-UBND ngày 14/03/2007 với tổng diện tích 23.456,7 ha rừng và đất rừng, thuộc địa bàn phía Bắc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Đây là một trong những KBT có nhiều loài thú linh trưởng quý hiếm như: Voọc Hà Tĩnh, Chà vá chân nâu từ trước đến nay đã có những điều tra về đa dạng sinh học (Khổng Trung, 2014); điều tra khu hệ thú (Ngô Kim Thái và cộng sự, 2013) Tuy nhiên chưa có nghiên cứu chuyên sâu về khu hệ thú linh trưởng tại đây
Trang 10Do đó, cần nghiên cứu một cách cụ thể về khu vực phân bố để có thể đưa ra
cơ sở dữ liệu đầy đủ và đảm bảo đáp ứng yêu cầu cho việc bảo vệ môi trường sống của thú linh trưởng để phục vụ công tác bảo tồn và phát triển loài
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm khu
hệ thú linh trưởng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị” là hết sức cần thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiểu
biết về các loài linh trưởng, bổ sung thêm thông tin về phân bố và các mối đe dọa làm cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách đề xuất giải pháp bảo tồn các loài này
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm chung của thú bộ Linh trưởng (Primates) ở Việt Nam
Bộ Linh trưởng (Primates) hay còn gọi là Bộ Khỉ hầu gồm những loài thú có kiểu đi bằng cả bàn chân, sống chủ yếu trên cây, ăn tạp hay ăn thực vật Ngoài những đặc điểm chung về cấu tạo của động vật có xương sống, của nhóm thú thì sự thích nghi với đời sống trên cây của thú linh trưởng được đặc trưng bởi hình dạng
và cấu trúc các chi Xương cẳng tay, xương cánh tay khớp động với xương bả vai
và có thể quay quanh trục của nó Chi có 5 ngón, ngón 1 (ngón cái) nằm đối diện với 4 ngón còn lại Hệ xương đai ngực luôn có xương đòn, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trước, một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo Nhờ cấu tạo đặc biệt này nên chi trước giảm đáng kể vai trò nâng
đỡ cơ thể trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn gọi là tay Thân chuyển dần tư thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi
đó cũng đã làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não Hộp sọ tăng theo chiều cao và giảm nhiều chiều dài Đáy hộp sọ nằm vuông góc với cột sống Hai hố mắt gần nhau, mắt hướng về trước tạo nên kiểu nhìn lưỡng hình Mũi ngắn; Thể tích hộp sọ tương đối lớn so với cơ thể và phát triển đồng thời với sự tăng thể tích não
bộ Tăng thể tích não bộ là đặc điểm rất tiến hoá tiến bộ của thú linh trưởng Răng thú linh trưởng có 2 loại: răng sữa và răng chính thức (difiodonte) Răng cửa to, răng hàm có 4 nón tù Cấu tạo bộ răng thích nghi với chế độ ăn tạp nhưng thiên về thực vật (quả, lá) Số lượng răng của các loài linh trưởng có thể biến đổi từ 32 đến
36 chiếc Thú linh trưởng ở con đực, có một đôi tinh hoàn và luôn nằm trong bìu da
ở ngoài bụng Con cái có một đôi vú ngực phát triển, có tử cung đơn hoặc hai sừng Nhau của Linh trưởng thuộc loại nhau tán, không rụng ở nhóm lemur và rụng ở các loài khác Thời gian mang thai dài, thường đẻ một con Con non đẻ ra yếu, thời gian bú sữa dài (Đặng Huy Huỳnh và cs 2007; Phạm Nhật 2002)
Trang 121.2 Phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam
Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về khu hệ thú linh trưởng ở Việt Nam và đưa ra nhiều quan điểm phân loại thú linh trưởng khác nhau, các quan điểm này thay đổi theo thời gian và rất khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.1) Chẳng hạn, Phạm Nhật (2002) cho rằng thú linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; Roos (2004) cho rằng thú linh trưởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ Trong khi đó Groves (2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài
và phân loài Tuy có sự khác nhau về số lượng loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú linh trưởng ở Việt Nam có 3 họ chính: Họ Cu li
(Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae)
Bảng 1.1 Tổng kết về phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam theo thời gian
Bảng 1.2 Phân loại khu hệ thú linh trưởng Việt Nam theo Groves (2004)
Trang 1310 Voọc gec manh Trachypithecus germaini
11 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi
12 Voọc đầu vàng Trachypithecus poliocephalus
13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis
14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus
15 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri
16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus
17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes
18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea
19 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus
21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus
22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys
(Nguồn: Groves, 2004)
1.3 Phân bố Linh trưởng Việt Nam
Ở Việt Nam, thú Linh trưởng phân bố hầu khắp các tỉnh có rừng trong cả nước, một số loài có vùng phân bố rộng như: Cu li nhỏ, Khỉ cộc, Khỉ đuôi lợn, Khỉ
Trang 14vàng Trong khi đó, một số loài có phân bố rất hẹp như Voọc Hà Tĩnh, Voọc mông trắng, Voọc Cát Bà và Voọc mũi hếch
Phân bố thú linh trưởng theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 được tổng hợp trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Phân bố thú linh trưởng theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007
1 Cu li lớn
Cao Bằng (Ba Bể), Thái Nguyên (Chợ Đồn, Đình Cả, Chợ Rả), Lạng Sơn, Hòa Bình, Quảng Trị (Lao Bảo) Thừa Thiên Huế
2 Cu li nhỏ
Có nhiều nơi: Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn
La, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Quảng Trị, Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Phú Yên
3 Khỉ đuôi dài Loài này phân bố từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào các
tỉnh phía Nam
4 Khỉ đuôi lợn
Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Thái, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thên - Huế, Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh
5 Khỉ mặt đỏ
Cao Bằng (Trùng Khánh, Quảng Hòa), Lai Châu (Mường Tè, Tuần Giáo, Sình Hồ), Yên Bái (Văn Chấn), Sơn La (Sông Mã, Mai Sơn, Quỳnh Nhai, Mộc châu), Hòa Bình (Đà Bắc, Kim Bôi, Mai Châu), Thanh Hóa (Hồi Xuân, Như Xuân), Hà Tĩnh (Hương Khuê, Hương Sơn), Quảng Bình (Tuyên Hóa), Thừa Thiên Huế (đảo Hải Vân, Huế), Kontum (Sa Thầy), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đắc Lắc (Easúp, Krông Nô, Đắc Min)
6 Khỉ mốc
Bắc Thái, Lạng Sơn, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
Trang 15TT Tên loài Phân bố
7 Khỉ vàng khỉ vàng phân bố khắp các tỉnh có rừng từ Gia Lai trở
ra Bắc kể cả các đảo gần bờ
8 Chà vá chân nâu
Từ Thanh Hóa (19030 độ vĩ bắc) dọc dãy Trường Sơn tới Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh
9 Chà vá chân xám Phía Tây tỉnh Quảng Nam và Tỉnh Kon Tum
10 Chà vá chân đen
Kontum (Sa Thầy), Đắc Lắc (Nam Ca), Lâm Đồng (Di Linh), thành phố Hồ Chí Minh, Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận và mới phát hiện một quần thể khá lớn ở núi Chứa Chan thuộc tỉnh Đồng Nai
Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn
14 Vượn má hung Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận,
Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước
15 Vượn siki Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế
16 Voọc bạc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
17 Voọc Hà Tĩnh Hà Tĩnh, Quảng Bình (Tuyên Hóa, Lệ Thủy, Bố
Trạch)
18 Voọc mông trắng
Yên Bái (Văn Chấn), Hòa Bình (Chi Nê), Ninh Bình (Cúc Phương, Vân Long), Nghệ An (Quỳ Châu, Con Cuông), Hà Tĩnh (Hương Sơn)
19 Voọc mũi hếch Tuyên Quang (Chiêm Hóa, Nà Hang), Yên Bái (Trấn
Yên)
Trang 16TT Tên loài Phân bố
20 Voọc xám
Yên Bái (Trấn Yên, Nghĩa Lộ), Lai Châu, Hà Tây, Hòa Bình Vĩnh Phú, (Thanh Sơn), Ninh Bình (Hoàng Long), Thanh Hóa (Lang Chánh, Hồi Xuân), Nghệ An (Quế Phong, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Tương Dương, Anh Sơn)
21 Voọc đầu trắng Hải Phòng (đảo Cát Bà)
22 Voọc bạc géc
manh
Kon Tum, Gia Lai vào đến Tây Ninh và Đồng Nai, phía Nam đồng bằng sông Cửu Long ở Kiên Giang và trên đảo Phú Quốc
23 Voọc gáy trắng Hà Tĩnh, Quảng Bình
24 Voọc đen tuyền Mường La (Sơn La), Mù Căng Chải, Văn Bàn (Yên
Bái)
(Nguồn Sách Đỏ Việt Nam 2007)
Vùng phân bố của các loài thú linh trưởng Việt Nam đại đa số đang ngày càng thu hẹp chẳng hạn như Voọc mũi hếch trước kia từng phân bố ở Ba Bể - Bắc Kạn nhưng đến năm 2007 trở về đây khu vực này không còn ghi nhận lại của chúng Đối với Voọc đen má trắng trước kia phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam, tuy nhiên cho đến nay quần thể loài này chỉ giới hạn ở một số tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên với số lượng quần thể nhỏ và
bị chia cắt (Nadler và cs, 2003)
1.4 Tình trạng các loài linh trưởng Việt Nam
Việt Nam có thể nói là trung tâm đa dạng thú linh trưởng của thế giới song hầu hết các loài ở đây đều đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngày càng cao, thể hiện bằng số lượng các loài có mặt trong Sách Đỏ các năm
Trang 17Bảng 1.4 Tình trạng các loài linh trưởng Việt Nam
1.5 Các mối đe dọa đối với khu hệ thú linh trưởng
Mất nơi sống và săn bắt là hai mối đe dọa chính đối với khu hệ thú linh trưởng ở Việt Nam hiện nay (Phạm Nhật, 2002; Nadler và cộng sự, 2003; Đồng Thanh Hải 2009; Boonratana và Lê Xuân Cảnh, 2006) Khác với các nhóm động vật khác, thú linh trưởng sống chủ yếu ở rừng tự nhiên, chỉ một số loài vãng lai đi kiếm ăn trên các nương rẫy hoặc ven khe suối gần rừng Vì vậy, mất rừng tự nhiên
là mất hết tất cả các điều kiện sống cơ bản của chúng Theo Viện điều tra quy hoạch rừng (FIPI), thì diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam năm 1943 có 14.3 triệu
ha, so với năm 1990 chỉ có 8,43 triệu ha Đến năm 2000 diện tích rừng tự nhiên có tăng lên 9.444 triệu ha, nhưng phần lớn là rừng phục hồi Những diện tích rừng này chỉ có thể giúp các loài cu li, khỉ mở rộng vùng sống, nhưng các loài voọc, vượn vẫn chưa có cơ hội có thêm sinh cảnh vì diện tích rừng giàu, rừng trung bình và rừng núi đá, nơi sống chính của các loài linh trưởng không tăng lên
Mất nơi sống, các quần thể linh trưởng giảm khả năng tăng trưởng và phát triển Mặt khác, mất rừng buộc các quần thể thú linh trưởng phải co cụm lại và chính điều này tạo thuận lợi cho các thợ săn tiêu diệt chúng một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn
Săn bắt bừa bãi là mối đe dọa quan trọng thứ hai Săn bắt thú linh trưởng có
từ khi loài người xuất hiện và càng ngày càng phát triển Cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật và trí thông minh của con người là sự phát triển các hình thức và
kỹ thuật săn bắt thú linh trưởng Các loài khỉ, voọc, vượn đều là những loài có kích thước và trọng lượng cơ thể lớn, cung cấp một lượng thực phẩm đáng kể, được người
Trang 18ta coi là nguồn nguyên liệu, dược liệu có giá trị nên chúng là đối tượng săn bắn hấp dẫn của nhiều người Thợ săn ở các địa phương đã dùng đủ mọi phương tiện thô sơ như nỏ, bẫy cần giật, bẫy lồng sập, bẫy kẹp, súng kíp đến các phương tiện hiện đại như súng săn hai nòng bắn đạn ghép, súng liên thanh quân dụng để săn bắt các loài thú linh trưởng Các thợ săn không chỉ đi đơn mà còn tổ chức thành nhóm lớn, dùng
cả chó xua đuổi dồn thú linh trưởng lại để bắn Một số địa phương còn dùng lửa đốt xung quanh rừng có Voọc mũi hếch và đánh trống chiêng inh ỏi suốt ngày đêm làm
cả đàn thú không ngủ được, sau cùng phần vì đói, phần vì sợ hãi, chúng lần lượt bị rơi xuống đất và bị trói đem về làm thịt (Đào Văn Tiến, 1983)
Nhiều thợ săn ở Cát Bà còn dùng bẫy lồng để săn bắt khỉ Từ những bẫy lồng chỉ bắt được một vài con, họ đã cải tiến thiết kế các bẫy lồng lớn hơn để bẫy bắt cả đàn Cũng theo Phạm Nhật (2002), năm 1985 ở địa bàn 3 xã của huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), có ít nhất 35 Chà vá và 70 Khỉ cộc bị bắn chết Hai tháng cuối năm 1991
và 3 tháng đầu năm 1992, ít nhất có 16 con Voọc mũi hếch bị bắn chết ở Na Hang Trong những năm 1980 - 1991, vùng Phong Nha Kẻ Bàng đã rất phát triển nghề "khỉ ép" Sau khi Khỉ, Voọc bị bắn, thợ săn mổ bỏ nội quan, sấy và ép con vật và mang về bán cho lái buôn Thời kỳ đó hàng năm ít nhất không dưới 10 tấn thú linh trưởng khô (tương đương với khoảng 1.500 con Khỉ ,Voọc) bị khai thác Từ năm 1991 đến nay hoạt động săn bắt thú linh trưởng ở vùng Phong Nha Kẻ Bàng tuy cường độ giảm vì súng quân dụng đã bị Ban Chỉ huy quân sự tỉnh thu hồi (1991) nhưng vẫn còn tiếp tục và hàng năm không dưới 1 tấn Khỉ ép được khai thác
Những năm gần đây thú linh trưởng là nguồn hàng có giá trị thương mại cao Chính vì vậy, các loại mẫu nhồi, da lông, cao linh trưởng được buôn bán, thúc đẩy hoạt động săn bắn thú linh trưởng gia tăng
Tóm lại, rừng bị mất và săn bắn bừa bãi là những minh chứng về sự yếu kém trong công tác quản lý rừng nói chung và tài nguyên thú linh trưởng nói riêng Những yếu kém này vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Lý do phổ biến và bao trùm trước hết có lẽ do sự chi phối bởi đời sống kinh tế khó khăn của cộng đồng, đồng bào dân tộc trên mọi miền của đất nước sau nhiều năm chiến tranh
Trang 19khốc liệt và phương thức canh tác lạc hậu Việt Nam là một nước nông nghiệp, cuộc sống của phần lớn dân cư, đặc biệt là các cộng đồng miền núi hiện còn phụ thuộc rất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên Ở các vùng sâu, vùng xa, 90% dân địa phương sống dựa vào nông nghiệp, khai thác lâm sản ngoài gỗ và có khoảng 50% hộ gia đình thuộc diện nghèo đói
Lý do quan trọng thứ hai, công tác pháp chế, bảo tồn trong quản lý tài nguyên rừng còn yếu, một phần do trình độ dân trí chưa cao, nhận thức về giá trị bảo tồn tài nguyên rừng cũng như hiểu biết của cộng đồng về pháp luật còn hạn chế Nhưng phần lớn là do hạn chế về ý thức và trách nhiệm của những cán bộ công tác trong lĩnh vực quản lý và bảo tồn tài nguyên rừng và các cấp ngành liên quan
1.6 Đặc điểm tài nguyên KBTTN Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Bắc Hướng Hóa được thành lập theo Quyết định số 479/QĐ-UBND ngày 14/03/2007, nằm trên 5 xã Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh thuộc huyện miền núi Hướng Hóa Đây là KBTTN thứ hai được thiết lập trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Kết quả khảo sát bước đầu của Tổ chức BirdLife tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa cho thấy, đây là khu vực có đa dạng sinh học cao, là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm như: Sao la, Bò tót, Mang lớn, Voọc hà tĩnh, Vượn siki, Chà vá chân nâu, Thỏ vằn Các loài chim đặc hữu đang bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế như: Gà lôi lam mào trắng, Trĩ sao, Hồng hoàng, Niệc nâu, Gà so trung bộ Những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã tiến hành khảo sát khu hệ thú ở Khu BTTN Bắc Hướng Hóa và bổ sung vào danh lục nhiều loài mới, đặc biệt là các loài dơi và thú nhỏ
Ngô Kim Thái và cs (2013) và Khổng Trung (2014) đã phối hợp, liên kết được với các Tổ chức Birdlife; Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật phối hợp với Viện Động vật Xanh Pe-tec-bua (Nga), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hungary (Hungary), Đại học Kyoto (Nhật Bản) và Viện Động vật học Côn Minh (Trung Quốc) để nghiên cứu khảo sát điều tra thành phần loài, xây dựng danh lục về thành phần loài thú ở KBT Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ghi nhận tổng quan các Khu hệ thú
Trang 20trong KBT trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây và tổ chức phỏng vấn và thu thập mẫu vật, điều tra chung, chưa có nghiên cứu khoa học chuyên sâu
về khu hệ thú Linh trưởng
Về khu hệ thực vật, đã phát hiện 920 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc
518 chi và 130 họ Trong số đó, có 17 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và 23 loài – trong Danh lục Đỏ IUCN, 1996 Về giá trị sử dụng đã thống kê được 125 loài cây cung cấp gỗ, 161 loài cây làm thuốc, 44 loài cây làm cảnh và 89 loài cây làm thực phẩm
Khu hệ động vật hoang dã ở đây là còn chứa nhiều tiềm ẩn bất ngờ về các loài mới cho khoa học, là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, là nơi giao lưu của khu hệ động vật giữa Tây và Đông Trường Sơn, giữa Bắc và Nam Trường Sơn Tại khu vực này cũng đã ghi nhận có sự di cư theo mùa và thay đổi tập tính kiếm ăn của động vật, đặc biệt là các loài thú lớn Về thành phần loài, đã phát hiện 42 loài thú (không kể Dơi) thuộc 17 họ và 6 bộ Về khu hệ Chim, đã phát hiện 171 loài, thuộc 14 bộ, và 32 họ Khu hệ Bò sát và Ếch nhái đã phát hiện 30 loài Ếch nhái thuộc 5 họ, 1 bộ và 31 loài Bò sát thuộc 8 họ và 2 bộ
Trang 21Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
Mục tiêu chung: Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá mức độ đa dạng và đặc điểm phân bố của các loài linh trưởng ở KBTTN Bắc Hướng Hóa nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn
Mục tiêu cụ thể
- Xác định được thành phần loài phân bố của các loài linh trưởng tại KBT
- Xác định phân bố các loài linh trưởng theo sinh cảnh
- Xác định được các mối đe dọa đến các loài thú linh trưởng tại KBT
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý và bảo tồn lâu dài khu hệ thú linh trưởng tại KBT
2.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài thú linh trưởng tại Khu bảo tồn loài thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
3) Đánh giá giá trị của thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu
4) Đánh giá các mối đe dọa đến khu hệ thú linh trưởng và sinh cảnh của chúng tại khu vực nghiên cứu
5) Đề xuất một số kiến nghị cho công tác quản lý và bảo tồn khu hệ thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu
Trang 222.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần loài
Tiến hành điều tra thành phần loài thú linh trưởng ở Khu bảo tồn bằng phương pháp phỏng vấn và phương pháp điều tra theo tuyến
Đối tượng phỏng vấn: Người dân địa phương, thợ săn tại địa phương, là những người dân sống quanh vùng đệm của Khu bảo tồn và thường xuyên vào rừng
để săn bắt, kiếm củi, chăn trâu bò, lấy các lâm sản ngoài gỗ…Tổng số có 85 người được phỏng vấn (Danh sách người phỏng vấn được trình bày tại Phụ lục 3)
Câu hỏi phỏng vấn tập trung vào thành phần loài, địa điểm và thời gian bắt gặp, tình hình bảo vệ, mục đích sử dụng và các mối đe dọa đến các loài và sinh cảnh sống của chúng Bộ câu hỏi phỏng vấn ở được trình bày chi tiết tại phụ lục 01
Để đảm bảo tính chính xác cao đề tài sẽ sử dụng hình ảnh màu của một số loài linh trưởng tại khu vực điều tra để cho đối tượng phỏng vấn nhận diện Kết quả được ghi chép vào bảng 2.1 Những thông tin từ phỏng vấn sẽ là cơ sở cho việc thiết kế
tuyến điều tra ngoài thực địa
Bảng 2.1 Kết quả phỏng vấn người dân địa phương Người điều tra: Ngày điều tra: Tên người dân: Tuổi: Địa điểm:
TT
Tên loài
Số lượng
Địa điểm bắt gặp
Trang 232.4.1.2 Điều tra theo tuyến
Để điều tra thành phần loài và phân bố của quần thể thú linh trưởng, đề tài
đã tiến hành lập 13 tuyến điều tra và 02 điểm quan sát trong khu vực nghiên cứu Công việc điều tra được thực hiện trong 33 ngày (Sơ thám và lập tuyến: 14 ngày từ 01/9/2015 đến 18/9/2015; Phỏng vấn: 13 ngày từ 21/9/2015 đến 05/10/2015; Khảo sát tuyến: 22 ngày từ 06/10/2025 đến 17/11/2015)
Trước hết sử dụng bản đồ hiện trạng rừng kết hợp với phân bố của thảm thực vật và kết quả phỏng vấn phân chia ra các dạng sinh cảnh (ở đây đồng nghĩa với kiểu rừng theo các cách phân chia của Thái Văn Trừng (1978) khác nhau và đánh dấu trên bản đồ
Nguyên tắc lập tuyến: Dựa trên bản đồ địa hình, phân bố thảm thực vật, khảo
sát thực tế
Tổng độ dài tuyến khảo sát là 36,73 km; trung bình 2,8 km/tuyến; tuyến dài nhất 5,26 km; truyến ngắn nhất 1,19 km Điều tra theo tuyến được thực hiện lặp lại 2-3 lần trong tháng 10 và tháng 11 năm 2015
Khu vực phía Nam KBT không bố trí tuyến khảo sát Qua quá trình sơ thám, phỏng vấn từ người dân ít có ghi nhận sự suất hiện của các loài Linh trưởng ở khu vực này, do phần lớn rừng ở đây chủ yếu là rừng phục hồi sau nương rẫy, chịu sự tác động nhiều của các hoạt động sản xuất
Trang 24Quan sát và ghi chép trên tuyến
Các loài thú linh trưởng có thời điểm hoạt động kiếm ăn khác nhau Chẳng hạn các loài khỉ, voọc và vượn hoạt động kiếm ăn ngày, còn các loài cu li hoạt động kiếm ăn đêm Nên thời gian quan sát trên tuyến cũng được bố trí theo các pha khác nhau trong ngày, có thể quan sát ngày hoặc quan sát đêm Đối với các loài cu
li, quan sát được thực hiện vào ban đêm (19h30-23h), còn lại các loài khỉ, voọc và vượn được quan sát vào ban ngày (6h-17h)
Vận động trên tuyến nhẹ nhàng, không nói chuyện, không hút thuốc và di chuyển với tốc độ 1,5- 2,0 km/giờ Chú ý quan sát, cẩn thận lắng nghe hai bên tuyến để phát hiện con vật Tập trung hơn vào các khu vực có nhiều khả năng xuất hiện các loài linh trưởng
Các ghi nhận về thú linh trưởng thu thập thông qua quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc ống nhòm, tiếng kêu và các dấu vết khác như: Dấu chân, dấu phân, dấu ăn, nơi ngủ các thông tin quan sát trong quá trình điều tra theo tuyến được ghi vào mẫu bảng sau:
Bảng 2.2 Kết quả điều tra thực địa Người điều tra: Ngày điều tra: Thời tiết: Địa điểm điều tra: Tuyến điều tra: Chiều dài tuyến: Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc: Sinh cảnh: Thời
gian Loài Số lượng
Tọa độ GPS
Tuổi/giới tính
Hoạt động Ghi chú
Trang 25Hình 2.1 Sơ đồ các tuyến điều tra tại KBTTN Bắc Hướng Hóa
2.4.2 Phân chia sinh cảnh và xác định phân bố của các loài
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia các dạng sinh cảnh rừng Việt Nam Chẳng hạn, Thái Văn Trừng (1978) đã phân rừng Việt Nam thành 14 kiểu Trong khi đó, Lê Mộng Chân và Vũ Văn Dũng (1992) phân chia thành 9 kiểu rừng chính ở Việt Nam Kiểu rừng ở đây đồng nghĩa với dạng sinh cảnh
Trang 26Tuy nhiên, trong giới hạn luận văn này việc phân chia các dạng sinh cảnh chủ yếu dựa vào bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và quá trình quan sát trực tiếp trên tuyến điều tra, dùng máy ảnh chụp lại các dạng sinh cảnh chính Các dạng sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu được phân chia như sau:
- Rừng nguyên sinh trên núi đá vôi: là những khu rừng nguyên thủy trong thiên nhiên không bị biến động, hoặc nếu có thì tác động trực tiếp và gián tiếp của con người rất hạn chế Rừng nguyên sinh thường có những cây cổ thụ to lớn có tuổi thọ lâu năm cùng những cây non và cây chết, tạo nên tán lá nhiều tầng Dưới gốc cây là nhiều lớp rác rưởi thực vật mục ruỗng dày dặn, giúp tạo màu mỡ đất đai
- Rừng thứ sinh trên núi đá vôi và rừng thứ sinh trên núi đất: là rừng đã bị tác động bởi con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng bị thay đổi
- Rừng phục hồi sau khai thác nương rẫy: là những khu rừng được tái sinh sau hoạt động canh tác nương rẫy của con người
Kết quả được tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 2.3 Biểu điều tra loài theo sinh cảnh Người điều tra: Ngày điều tra: Thời tiết: Địa điểm điều tra: Tuyến điều tra: Chiều dài tuyến: Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc: Sinh cảnh:
1
2
Trong đó A, B, C, D là các dạng sinh cảnh
2.4.3 Các mối đe doạ
Quan sát trực tiếp và phỏng vấn người dân các thông tin về mức độ tác động của con người vào tài nguyên rừng như: Săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ, đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc các thông tin thu thập được ghi vào mẫu bảng sau
Trang 27Bảng 2.4 Biểu ghi chép về tác động của con người
Địa điểm điều tra: Ngày: Thời gian bắt đầu: Thời gian kết thúc: Tuyến số: Quãng đường đi: Người điều tra: Hoạt động
Diện tích ảnh hưởng của mối đe dọa: Tỷ lệ diện tích bị ảnh hưởng bởi mối
đe dọa trong khu vực nghiên cứu Ở đây chúng tôi xem xét mối đe dọa đó ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực nghiên cứu hay chỉ là một phần Cho điểm cao nhất (n
Trang 28điểm) đối với mối đe dọa mà ảnh hưởng đến diện tích rộng nhất và cho điểm thấp nhất (1 điểm) cho những mối đe dọa ảnh hưởng đến diện tích nhỏ nhất
Cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa: Mức độ phá hủy của mối đe dọa đối với sinh cảnh Ở đây chúng tôi xem xét liệu mối đe dọa đó phá hủy toàn bộ sinh cảnh trong khu vực đó hay chỉ ảnh hưởng một phần Cho điểm cao nhất đối với mối
đe dọa nào có mức độ tác động mạnh nhất và cho điểm giảm dần theo cường độ ảnh hưởng của các mối đe
Tính cấp thiết của mối đe dọa: Mối đe dọa ảnh hưởng hiện tại hay nó sẽ xảy
ra trong tương lai Việc cho điểm tiêu chí này tương tự với tiêu chí trên nghĩa là mối đe dọa nào có tính nguy cấp nhất sẽ cho điểm cao nhất và giảm dần theo tính nguy cấp
Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa được nêu theo bảng 2.5
Bảng 2.5 Kết quả đánh giá các mối đe dọa
hưởng
Cường độ ảnh hưởng
Tính cấp thiết
1
2
…
Tổng
Sau khi cho điểm và tính tổng điểm tiến hành xếp hạng các mối đe doạ, mối
đe doạ mạnh nhất thì cho điểm cao nhất…
2.4.5 Phương pháp nội nghiệp
Kết quả thu thập được phân tích và xử lý theo từng nội dung nghiên cứu, trong quá trình phân tích và xử lý số liệu chúng tôi có sử dụng một số phần mềm như Excel, Photoshop và MapInfo Ví du: Excel dùng để thống kê tọa độ trong quá trình điều tra trên tuyến; Photoshop dùng để chỉnh sửa hình ảnh và MapInfo để thiết kế các tuyến điều tra, xây dựng bản đồ phân bố các loài thú linh trưởng và bản
đồ phân cấp mức độ đe dọa
Trang 29Công thức tính tần suất bắt gặp (Theo: Dự án tăng cường công tác quản lý
hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam - SPAM (2003), “Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học”, Nxb Giao thông vận
tải, Hà Nội.)
Trong đó: A - Tần suất bắt gặp của một loài trên tuyến
N - Tổng số chứng cứ phát hiện của loài trên tuyến
L - Chiều dài của tuyến điều tra
Trang 30Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới
Khu BTTN Bắc Hướng Hóa nằm ở phía bắc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị thuộc khu vực Trung Trường Sơn Phần lớn khu vực có địa hình chia cắt mạnh,
độ cao phổ biến từ 15- 250, có nhiều nơi dốc đứng Trong vùng có hai đỉnh núi cao nổi trội là đỉnh Sa Mù (1.550 m) và đỉnh Voi Mẹp (1.771 m)
Diện tích Khu bảo tồn: 23.456,7 ha, được giới hạn trong khoảng tọa độ địa lý: + Từ 16043'22’’ đến 16059'55’’ vĩ độ Bắc
+ Từ 106033'00’’ đến 106047'03’’ kinh độ Đông
Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa có ranh giới phía tây giáp với nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào; phía bắc giáp với tỉnh Quảng Bình; phía nam giáp các xã Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh; phía đông giáp với 3 huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Đakrông
Vùng đệm của KBT có diện tích 4.034 ha thuộc địa bàn các xã Hướng Lập,
xã Hướng Sơn và vùng lõi quy hoạch sản xuất tại xã Hướng Lập 1.900 ha
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Đặc điểm địa hình địa thế:
Địa hình núi cao, chia cắt mạnh, độ dốc phổ biến từ 15- 250, nhiều chỗ dốc đứng, đồi núi chiếm đa số
+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp phát triển trên đá hỗn hợp
+ Đất Feralit vàng đỏ núi trung bình phát triển trên đá phún xuất tính chua
- Khí hậu:
Trang 31Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6, tháng có lượng mưa nhiều nhất là 9, 10, 11 So với khi hậu chung của tỉnh Quảng Trị thì khu vực này mùa mưa và mùa khô đến sớm hơn các vùng khác
Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình năm khoảng từ 24 - 250C, tương đương với tổng tích ôn trong năm khoảng 8.300 - 8.5000C
Chế độ mưa ẩm
Vùng nghiên cứu có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình năm đạt 2.400
- 2.800 mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa
Độ ẩm không khí trong vùng đạt tới 85 - 90%, trong mùa mưa ẩm độ có thể lên tới 95%
- Thuỷ văn
Do địa hình có độ dốc lớn, nên sông suối ở đây thường ngắn, trong vùng có nhiều khe suối nhỏ đổ vào sông lớn Sê Păng Hiêng chảy qua Lào đổ vào sông Mê Kông
3.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng
3.2.1 Tài nguyên thực vật của Khu bảo tồn BHH
Về Khoa học: Kết quả điều tra khảo sát của nhiều đề tài nghiên cứu đã ghi
nhận tại KBT có 1.009 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 548 chi, 138 họ của 5 ngành thực vật khác nhau Trong đó có 50 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ thế giới
Về Kinh tế: Có 125 loài cung cấp cây gỗ, 161 loài cây làm thuốc, 44 loài cây
làm cảnh, 89 loài cây làm thực phẩm
Trong vùng quy hoạch có các kiểu rừng
Kiểu phụ thứ sinh: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phục hồi sau
nương rẫy Kiểu rừng này có nguồn gốc từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, nhưng do các hoạt động nương rẫy, sau canh tác nương rẫy được bỏ hoá 8 - 10 năm, rừng thứ sinh hình thành và rừng non đã xuất hiện
Trang 32Rừng thứ sinh sau canh tác nương rẫy: Tập trung chủ yếu quanh làng bản,
sau canh tác nương rẫy được bỏ hoá 8 - 10 năm, rừng thứ sinh hình thành
Trảng cỏ: Hình thành do hậu chất độc hoá học chiến tranh
3.2.2 Tài nguyên động vật của Khu bảo tồn BHH
Tổng số 109 loài thú thuộc 30 họ, 10 bộ được ghi nhận trong quá trình điều tra Trong đó loài Voọc Hà tĩnh được phát hiện tại xã Hướng Lập, Hướng Việt, là loài phụ đặc hữu của Việt Nam lân đầu tiên phát hiện ở tỉnh Quảng Trị
Trong tổng số 109 loài thú ghi nhận có 37 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam
và 32 loài nằm trong Danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2004) Các loài như: Voọc chà
vá chân nâu, Voọc Hà Tĩnh, Vượn siki, Gấu ngựa và Sao la, Tê tê Java, Khỉ mặt đỏ, Rỏi cỏ vuốt bộ, Mang lớn, Bò tót và Sơn dương
3.3 Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội
3.3.1 Cơ cấu dân cư, lao động trong vùng dự án
Trong khu vực có 5 xã, 42 thôn, 2.402 hộ, 11.073 khẩu, với 4.562 lao động Trong đó có 02 thôn sinh sống ở trong vùng lõi đó là thôn Cuôi, Cựp xã Hướng Lập; 19 thôn sinh sống ở vùng giáp ranh Dân tộc Vân Kiều là người bản xứ, chiếm
tỷ lệ lớn (78,3%), chưa có đời sống sản xuất ổn định, phương thức sản xuất chính là canh tác lúa rẫy, cuộc sống còn dựa vào rừng Người dân tộc Kinh trong khu vực có
713 hộ/2.405 khẩu chủ yếu đi, làm kinh tế mới trồng cây công nghiệp (cà phê) và trên 100 hộ làm nghề dịch vụ Sự có mặt của cộng đồng người Kinh ít nhiều gây áp lực về diện tích đất canh tác, lưu thông hàng hóa nói chung trong đó có lâm sản 3.3.2 Kinh tế - xã hội
- Sản xuất: Sản xuất lương thực mức bình quân đầu người quy thóc là: 175kg/người/năm Tỷ lệ hộ đói nghèo của vùng 23,06% Nông nghiệp sản xuất chủ yếu là lúa rẫy và một ít hoa màu, chăn nuôi không đáng kể, kinh tế lâm nghiệp chưa
có Bên cạnh đó người dân phụ thuộc khá nhiều vào lâm sản phụ từ rừng và phế liệu chiến tranh
- Cơ sở hạ tầng Giao thông - thuỷ lợi - điện- nước sạch: thôn Cựp đã có Đường Hồ Chí Minh ngang qua kể từ năm 2003, thôn Cuôi cách trung tâm xã gần
Trang 3320 km đã có đường sá để có thể dùng đến phương tiện giao thông, đi lại tương đối thuận lợi hơn so với những năm trước Điện thắp sáng đã được xây dựng và đưa vào sử dụng Công trình nước sạch: thôn Cựp đã có bể nước sạch về đến thôn, thôn Cuôi người dân vẫn sử dụng nước khe suối để sinh hoạt
- Y tế- giáo dục: Trạm y tế xa cách khu vực dân cư trên 10 km Thôn Cựp, Cuôi đã có trường tiểu học bố trí lớp ghép
3.4 Đánh giá chung về tình hình cơ bản
3.4.1 Về điều kiện tự nhiên
Theo Khổng Trung (2014), KBTTN Bắc Hướng Hóa có địa hình phức tạp, cao, dốc, có cả núi cao và trung bình: Đồi và núi thấp thung lũng, sông suối Vùng đồi núi được cấu tạo bởi các nham thạch cứng rắn, nhưng phong hoá dễ dàng, giàu dinh dưỡng như: Bazan, aldezit phiến thạch sét
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, được phân làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài 6 tháng (tháng 7 - 12) tập trung vào tháng 9, 10 nhưng cao nhất vào tháng 9, thời điểm này thường xuyên có lũ, lụt, bão gây khó khăn cho công tác bảo vệ rừng Mùa khô từ tháng 01 đến tháng 06, lượng mưa thấp, thời tiết khô hanh Đặc trưng của mùa khô là gió Tây Nam khô nóng, ảnh hưởng đến bảo vệ rừng, nhất là cháy rừng thường xuyên xảy ra vào mùa này
Thổ nhưỡng: phổ biến là đất Feralit nâu đỏ trên Macma bazơ và trung tính giàu chất dinh dưỡng và đất Feralit đỏ vàng trên đá phiến sét Nhiều diện tích nương rẫy cũ đã có hiện tượng thoái hoá, xói mòn
Tài nguyên rừng: Phần lớn là rừng thứ sinh nhưng độ che phủ khá cao Những diện tích nương rẫy cũ hay đất trống đồi núi trọc vẫn có khả năng phục hồi lại rừng nếu công tác quản lý bảo vệ thực hiện tốt Riêng tại tiểu khu 628 do ảnh hưởng chất độc màu da cam nên không có khả năng tái sinh rừng, hiện trạng lau lách vẫn cứ duy trì đã 40 năm nay
Trang 343.4.2 Về kinh tế - xã hội
Kinh tế - xã hội trong vùng còn chậm phát triễn, cả hai vùng có điểm giống nhau là: cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, mặt bằng dân trí, dân tộc và các phong tục văn hóa tương đối giống nhau
Đa số dân số là người dân tộc Vân Kiều Nguồn nhân lực khá dồi dào có khả năng tham gia các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Tóm lại, để hạn chế những khó khăn trong hoạt động bảo vệ rừng và bảo tồn
đa dạng sinh học, góp phần giải quyết công ăn việc làm tạo thu nhập cho người dân đang sinh sống trong vùng lõi Khu bảo tồn, phát huy những tiềm năng to lớn về tài nguyên rừng và đất rừng trong vùng, ngoài sự nổ lực của nhân dân rất cần sự đầu tư thích đáng của Nhà nước thông qua các Chương trình Dự án đầu tư hỗ trợ để phát triển cộng đồng và sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý bảo vệ rừng
Trang 35Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thành phần khu hệ thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu
Kết quả điều tra, khảo sát đã ghi nhận được tổng số 08 loài thú linh trưởng thuộc 03 họ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa thông qua các nguồn thông tin phỏng vấn, kế thừa tài liệu, và quan sát trực tiếp (bảng 4.1)
Bảng 4.1 Thành phần các loài thú linh trưởng tại khu vực nghiên cứu
phương Nguồn Tên Việt Nam Tên khoa học
3 Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides (I Geoffroy, 1831) Xi ắc PV,TL
4 Khỉ vàng Macaca mulatta (Zimmermann, 1780) Ta mư Rđô QS
5 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis (Raffles, 1821) QS
Ghi chú: QS- quan sát; PV- phỏng vấn, TL- tài liệu (Ngô Kim Thái và cs (2013); Khổng Trung (2014)…)
Trong đó, có 05 loài được ghi nhận qua quan sát trực tiếp ngoài thực địa là:
Khỉ vàng (Macaca mulatta), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Vọoc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki)
Trang 36Tám loài linh trưởng được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu chiếm 33,33% tổng số loài thú linh trưởng hiện có ở Việt Nam
Về mặt phân loại học, đợt điều tra đã ghi nhận được tổng số 08 loài linh trưởng thuộc 03 họ tại KBTTN Bắc Hướng Hóa, trong đó họ Khỉ có 05 loài (chiếm 62.5% tổng số loài ghi nhận được), họ Cu li có 02 loài (chiếm 25%) và họ Vượn có
Một trong những kết quả quan trọng nhất trong cuộc điều tra lần này là số loài quan sát trực tiếp khá cao với năm loài (thông tin về thời gian bắt gặp, khoảng cách, số lượng đàn, hoạt động của chúng cũng như sinh cảnh bắt gặp chúng được trình bày chi tiết tại phụ lục 02)
Hình ảnh một số loài quan sát được trong quá trình điều tra:
Trong quá trình phỏng vấn chúng tôi cũng ghi nhận được người dân nuôi loài khỉ vàng tại xã Hướng Lập (hình 4.1)
Hình 4.1 Khỉ vàng bị nuôi nhốt tại xã Hướng Lập
Trang 37Nguồn: Thái Văn Thành và Phạm Anh Quốc Phương
Hình 4.2 Khỉ vàng được ghi nhận tại Hướng Việt Chà vá chân nâu là loài mà nhóm điều tra ghi nhận được nhiều nhất trên các tuyến điều tra Qua đây cho thấy số lượng loài này vẫn còn tương đối nhiều tại KBT (hình 4.3)
Nguồn: Thái Văn Thành và Phạm Anh Quốc Phương
Hình 4.3 Chà vá chân nâu
Trang 38Trong thời gian điều tra loài Voọc hà tĩnh chỉ được quan sát duy nhất một lần Tuy nhiên do chúng di chuyển nhanh nên hình ảnh loài chưa chụp được Nhưng trong quá trình phỏng vấn nhóm điều tra đã chụp được loài này bị nuôi nốt trong lồng sắt (hình 4.4)
Nguồn: Thái Văn Thành và Phạm Anh Quốc Phương
Hình 4.4 Voọc hà tĩnh Mức độ phong phú của các loài Linh trưởng tại khu vực nghiên cứu được thể hiện qua tần suất bắt gặp trên tuyến Số liệu điều tra cho thấy tần suất bắt gặp các loài linh trưởng tại các tuyến điều tra là khác nhau (bảng 4.2)
Bảng 4.2 Tần suất bắt gặp các loài trên tuyến điều tra
gặp
Chiều dài tuyến (km)
Tần suất (lần/km) Điểm quan
Trang 39Tuyến Loài bắt gặp Số lần bắt
gặp
Chiều dài tuyến (km)
Tần suất (lần/km)
Như vậy, tổng số 13 tuyến điều tra đã được thành lập tại KBT để điều tra khu hệ linh trưởng, trong đó tuyến số 10 gặp nhiều loài nhất với 4 loài: Khỉ đuôi
Trang 40lợn (Macaca leonina), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki) Trong thời gian điều
tra quan sát được loài Chá vá chân nâu là nhiều nhất, hầu như quan sát thấy đều trên các tuyến tra đều Hai loài Khỉ đuôi lợn và Voọc hà tĩnh chỉ quan sát được duy nhất một lần Qua đây cho thấy loài chà vá chân nâu số lượng còn nhiều hơn so với các loài khác (hình 4.6)
Hình 4.5 Tổng số lần quan sát các loài trong quá trình điều tra
4.2 Phân bố thú linh trưởng theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu 4.2.1 Các dạng sinh cảnh chính
Qua quá trình điều tra và kết hợp với bản đồ hiện trạng rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa chia làm 03 dạng sinh cảnh (chỉ những sinh cảnh ghi nhận được các loài linh trưởng) chính sau:
- Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh (RGTNLRTXTB) núi đất (trung bình - giàu)
- Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh (RGTNLRTX) núi đá
- Rừng phục hồi
4.2.1.1 Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình núi đất
Sinh cảnh này có diện tích 12.872,41 ha, chiếm 54,87% diện tích tự nhiên,
có độ cao từ 500 - 1.500 m So với các quần xã thực vật khác xuất hiện trong KBT quần xã thực vật này có diện tích lớn nhất và hình thành các mảng lớn Đây chính