1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp góp phần cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình thuộc diện tái định cư sau khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện lương sơn

131 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thu hồi đất không chỉ làm các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị, các cơ hội, nguồn thực phẩm, thu nhập của hộ gia đình và cộ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho tôi cả

về kiến thức chuyên môn và đạo đức con người trong suốt những năm học qua

Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực hiện luận văn để tôi có thể hoàn thành cuốn luận văn tốt nghiệp này

Nhân dịp này tôi cũng xin cảm ơn các bác, các chú lãnh đạo của UBND huyện Lương Sơn, các hộ gia đình trong các xã thực hiện nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và thu thập số liệu

Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè - những người đã luôn ở bên, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu và hoàn thành báo cáo này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

HỌC VIÊN

Trang 2

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

UBND : Ủy ban nhân dân

VLXD : Vật liệu xây dựng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 4

CHƯƠNG I 5

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KẾ VÀ 5

PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG 5

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sinh kế bền vững 5

1.1.1 Khái niệm về sinh kế 5

1.1.2 Phát triển sinh kế bền vững 6

1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề phát triển sinh kế bền vững 18

1.2.1 Trên thế giới 18

1.2.2 Tại Việt Nam 21

CHƯƠNG II 30

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38

Trang 4

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đối với

quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 43

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 46

2.2.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 47

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48

2.2.5 Phương pháp chuyên gia: 51

CHƯƠNG III 52

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

3.1 Tình hình thu hồi đất và bố trí tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn 52

3.1.1 Tình hình thu hồi đất tại huyện Lương Sơn 52

3.1.2 Thực trạng công tác cấp đất tái định cư tại huyện Lương Sơn 55

3.2 Thực trạng sinh kế của các hộ dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn 57

3.2.1 Hoàn cảnh dễ bị tổn thương 57

3.2.2 Thực trạng các nguồn lực của hộ dân thuộc diện tái định cư 58

3.2.3 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong sinh kế của hộ dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng KCN 85

3.2.4 Kết quả phát triển sinh kế của các hộ dân sau tái định cư 88

3.2.5 Chiến lược và mô hình sinh kế của hộ dân Tái định cư 91

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sinh kế của dân tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn 94

3.3.1 Nhân tố bên trong 94

3.3.2 Nhân tố bên ngoài 95

3.4 Những thành công và tồn tại trong phát triển sinh kế cho các HGĐ thu hồi đất 98

3.5 Giải pháp phát triển sinh kế cho các hộ dân thuộc diện TĐC trên địa bàn huyện Lương Sơn 99

Trang 5

3.5.1 Cơ sở của định hướng và giải pháp 99

3.5.2 Định hướng 100

3.5.3 Các giải pháp đề xuất nhằm cải thiện sinh kế cho người dân tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn 100

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

4.1 Kết luận 105

4.2 Khuyến nghị 106

4.2.1 Đối với nhà nước 106

4.2.2 Đối với chính quyền địa phương 107

4.2.3 Đối với doanh nghiệp 107

4.2.4 Đối với hộ nông dân 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 112

PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG DÂN 112

PHIẾU ĐIỀU TRA VỀ CÁC BÊN LIÊN QUAN 121

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất đai của huyện Lương Sơn 34

Bảng 3.1: Tình hình thu hồi đất của Huyện Lương Sơn từ 2003 đến nay 52

Bảng 3.2: Mức đền bù cho người dân khi thu hồi đất 53

Bảng 3.3: Công tác TĐC của huyện Lương Sơn trong 3 năm 2011-2013 56

Bảng 3.4: Mức hỗ trợ khi thu hồi đất và TĐC 57

Bảng 3.5: Kết quả điều tra về chủ hộ năm 2013 59

Bảng 3.6: Thực trạng về nhân khẩu và lao động của các hộ gia đình 60

Bảng 3.7: Tình hình sử dụng lao động của các nhóm hộ điều tra sau TĐC 63

Bảng 3.8: Kết quả sự chuyển đổi nghề nghiệp của lao động trong các nhóm hộ 65 Bảng 3.9: Diện tích đất của các hộ dân sau tái định cư 68

Bảng 3.10: Nhu cầu sử dụng đất sản xuất của các hộ được điều tra năm 2013 69

Bảng 3.11: Tình hình sử dụng tiền đền bù của các nhóm hộ điều tra 71

Bảng 3.12: Thu nhập trung bình của các hộ dân TĐC năm 2013 73

Bảng 3.13: Tổng hợp chi phí của hộ dân TĐC năm 2013 75

Bảng 3.14: Tình hình vay vốn và sử dụng vốn vay của các hộ TĐC (2013) 77

Bảng 3.15: Tổng hợp điều tra về hiện trạng nhà ở của các hộ dân TĐC (2013) 78 Bảng 3.16: Sự thay đổi về nhà ở của các hộ dân TĐC 78

Bảng 3.17: Tổng hợp tài sản của các hộ dân TĐC 80

Bảng 3.18: Ý kiến đánh giá của người dân về cơ sở hạ tầng sau TĐC 81

Bảng 3.19: Tình hình tham gia các tổ chức xã hội của các hộ dân 82

Bảng 3.20: Tổng hợp ý kiến về khả năng liên kết trong cộng đồng 84

Bảng 3.21: Phân tích SWOT trong sinh kế của người dân sau TĐC 87

Bảng 3.22: Đánh giá thay đổi thu nhập và khả năng kiếm sống sau thu hồi đất 89 Bảng 3.23: Thuận lợi khó khăn của các hộ dân sau TĐC 90

Bảng 3.24: Tổng hợp ý kiến của các hộ dân TĐC về công tác thu hồi đất 91

Bảng 3.25: Các mô hình sinh kế của các hộ dân TĐC 92

Bảng 3.26: Định hướng phát triển mô hình sinh kế trong tương lai 93

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững 7

Hình 1.2: Tài sản sinh kế của người dân 9

Hình 3.1: Cơ cấu lao động theo độ tuổi của các nhóm hộ điều tra 62

Hình 3.2: Sự chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ dân TĐC 66

Hình 3.3: Cơ cấu việc làm trước và sau TĐC 67

Hình 3.4: Cơ cấu về việc sử dụng tiền đền bù của các hộ TĐC 72

Hình 3.5: Cơ cấu thu nhập của các hộ dân TĐC 74

Hình 3.6: Cơ cấu các hộ dân TĐC tham gia các tổ chức xã hội 83

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Khu vực nông thôn có 13 triệu hộ trong đó có khoảng 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp Vì thế đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ nông dân là vấn đề được quan tâm nhiều trong nông thôn khi mà hiện nay quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng diễn ra với tốc độ nhanh chóng Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp

Quá trình phát triển đã mang lại nhiều kết quả tốt, giúp nhiều địa phương có điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên cùng với đó là việc thu hồi đất sản xuất đã có tác động đến đời sống của hàng ngàn hộ gia đình Các hộ bị thu hồi đất phần lớn là những hộ sản xuất nông nghiệp Sau khi bị thu hồi đất, có nhiều hộ

đã được tạo điều kiện chuyển đổi sang các ngành nghề khác, nhưng cũng có rất nhiều hộ phải đối mặt với mất việc làm Hàng năm có khoảng 50 - 60 nghìn ha đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, tương ứng với khoảng 1.5 lao động/hộ bị mất việc làm

Việc thu hồi đất không chỉ làm các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị, các cơ hội, nguồn thực phẩm, thu nhập của hộ gia đình và cộng đồng, gây ra sự xáo trộn xã hội Không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất nông nghiệp, nông dân phải tìm cách kiếm sống mới Với trình độ dân trí có hạn, quen lao động chân tay, người nông dân đã xoay xở như thế nào với cuộc sống mới Có nhiều người phải đổ ra thành thị để kiếm việc làm và đối mặt với rủi ro của cuộc sống nơi đô thị, một số ít lao động trẻ được tuyển dụng vào làm việc trong khu công nghiệp, một số lao động tìm kiếm việc làm tại các địa phương khác hoặc mở các dịch vụ (Mở quán nước, xây dựng nhà ở cho thuê )

Bên cạnh đó những nông dân không bị thu hồi đất cũng bị tác động đến sản xuất của mình, một phần lao động trong gia đình chuyển sang làm việc trong nhà máy hoặc khu công nghiệp Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều biện pháp tác

Trang 9

động nhằm ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất như: Chính sách TĐC, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề… Tuy nhiên vấn đề sinh kế của người dân mất đất sản xuất nông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn

Như vậy, cùng với tốc độ hình thành các khu, cụm công nghiệp thì số lao động nông nghiệp không còn đất sản xuất nông nghiệp hoặc còn quá ít đất sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng lên, một số lao động đã thích nghi được với điều kiện mới và

đã tìm được việc làm đảm bảo cho cuộc sống, xây dựng mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện của hộ, tăng thu nhập, song nhiều hộ lại vẫn đang thiếu việc làm, rất cần sự trợ giúp của các cấp, ngành và của địa phương để họ ổn định với cuộc sống mới

Huyện Lương Sơn là một huyện nằm ven thành phố Hà Nội, có nhiều điều kiện

để phát triển kinh tế - xã hội Theo đó huyện Lương Sơn thu hút được các nhà đầu tư vào xây dựng các trung tâm thương mại, nhà máy, khu công nghệ, công nghiệp Đây cũng là nơi thu hút nhiều lao động vào làm việc khi được hoàn thành Tuy nhiên cũng

có nhiều lao động chỉ có việc làm tạm thời hoặc rơi vào cảnh thiếu việc làm Họ phải đi làm thuê để kiếm sống hoặc mở quán nước Nhìn chung đời sống của họ cũng còn nhiều khó khăn Vấn đề đặt ra là sau khi bị thu hồi đất sinh kế của các hộ dân, đặc biệt

là các hộ dân tái định cư thay đổi như thế nào? Có đảm bảo cho cuộc sống hiện tại của

họ hay không? Mức sống của họ thay đổi ra sao? Làm sao để ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho họ?

Để trả lời những câu hỏi này, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo PGS TS

Nguyễn Văn Tuấn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp góp phần cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình thuộc diện tái định cư sau khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Lương Sơn”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần cải thiện sinh kế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho các hộ gia đình thuộc diện tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn, Hòa Bình

Trang 10

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng sinh kế của các hộ dân thuộc diện bị thu hồi đất và đã được bố trí tái định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn

Trang 11

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về vấn đề phát triển sinh kế bền vững

- Thực tra ̣ng công tác bố trí tái định cư cho người dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Lương Sơn

- Thực trạng sinh kế các HGĐ TĐC trên địa bàn huyện Lương Sơn

- Một số giải pháp góp phần phát triển sinh kế cho các hộ dân thộc diện tái

định cư trên địa bàn huyện Lương Sơn

Trang 12

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KẾ VÀ

PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sinh kế bền vững

1.1.1 Khái niệm về sinh kế

Phương pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phương pháp tiếp cận mới trong phát triển nông thôn nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống HGĐ mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn theo xu hướng bền vững và hiệu quả Người

đi đầu về nội dung sinh kế đó là Robert Chambers trong tác phẩm của ông vào những năm 1980 (sau đó được phát triển và hoàn thiện hơn nữa bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện Phương pháp tiếp cận sinh kế đã được phát triển và hoàn thiện ở các nước phát triển trên thế giới, dựa trên khuôn khổ cam kết hỗ trợ của Bộ phát triển quốc tế Anh (DFDI) về

“Những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững”

Đây là một trong ba mục tiêu mà DFDI đã đặt ra trong Sách Trắng năm 1997 nhằm đạt được những mục đích chung về xoá đói giảm nghèo

Theo khái niệm của DFID đưa ra thì: “Một sinh kế có thể được miêu tả như

là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” [13]

Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ

Tiếp cận sinh kế là cách tư duy về mục tiêu, phạm vi và những ưu tiên cho phát triển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo Đây là phương pháp tiếp cận sâu rộng với mục đích nắm giữ và cung cấp các phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân của đói nghèo

Trang 13

với trọng tâm tập trung vào một số yếu tố như các vấn đề kinh tế, an ninh lương thực

Nó cũng cố gắng phác hoạ những mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của nghèo đói, giúp xác lập ưu tiên tốt hơn cho những hoạt động xoá nghèo

Phương pháp tiếp cận sinh kế được sử dụng để xác định, thiết kế và đánh giá các chương trình, dự án mới, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động hiện có, sử dụng để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử dụng cho nghiên cứu Một trong những điểm nổi trội của tiếp cận sinh kế là khả năng linh hoạt và khả năng áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống

Chiến lược sinh kế là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các

nguồn lực vật chất và phi vật chất của hộ (Seppala, 1996) Để duy trì hộ, HGĐ thường có các chiến lược sinh kế khác nhau, theo (Seppala, 1996) chiến lược sinh

- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên

hệ giữa những thành phần này

- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng

- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh hưởng tới sinh kế

Trang 14

Khung sinh kế bền vững có dạng như sau:

Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững

Chú thích: N (Natural Capital): Nguồn lực tự nhiên

H (Human Capital): Nguồn lực con người

P (Physical Capital): Nguồn lực vật chất

F (Financial Capital): Nguồn lực tài chính

S (Social Capital): Nguồn lực xã hội

Đây là khung giúp cho người sử dụng hiểu được các loại hình sinh kế hiện hữu và dùng nó làm cơ sở để lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển và các hoạt động khác Điều này kéo theo việc phân tích và sử dụng nhiều loại công cụ hiện có như phân tích xã hội và phân tích các bên liên quan, các phương pháp đánh giá nhanh và đánh giá kinh tế về:

Khả năng phục hồi sau sốc Thiết lập trạng thái cân bằng mới

KẾT QUẢ ĐẦU RA

- Cuộc sống của hộ ra sao? (cải thiện an ninh lương thưc? Thu nhập tốt hơn? Giảm tính dễ

bị tổn thương?)

- Năng lực của hộ có được cải thiện? (sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên)

CÁC LỰA CHỌN CỦA HỘ

- Các hoạt động tạo thu nhập

- Xây dựng năng lực

- Các lựa chọn khác được xem như quá trình điều chỉnh và thích ứng sau sốc

Các tài sản (N, H, P,

F, S)

CƠ HỘI

CÁC CHÍNH SÁCH VÀ XU

khảo từ tài liệu của ĐFI, 1999

Trang 15

- Bối cảnh sống của người dân, trong đó bao gồm những ảnh hưởng của các

xu hướng bên ngoài với họ (xu hướng về kinh tế, xu hướng phát triển dân số)

- Khả năng tiếp cận của người dân đối với các loại tài sản sinh kế và khả năng sử dụng chúng vào sản xuất

- Những thể chế, những chính sách và tổ chức định hình cho các loại hình tài sản sinh kế của người dân

- Các chiến lược mà người dân áp dụng để theo đuổi mục đích của mình Khung sinh kế giúp ta sắp xếp những nhân tố gây cản trở hoặc tăng cường các

cơ hội sinh kế, đồng thời cho ta thấy cách thức chúng liên quan với nhau như thế nào

Nó không phải là mô hình chính xác trong thực tế mà nó chỉ đưa ra một cách tư duy

về sinh kế, nhìn nhận nó trên góc độ phức hợp và sâu rộng nhưng vẫn trong khuôn khổ có thể quản lý được Khung sinh kế luôn được đặt trong trạng thái động, nó không có điểm đầu, điểm cuối Giá trị của một khung sinh kế giúp cho người sử dụng nhìn nhận một cách bao quát và có hệ thống các tác nhân gây ra nghèo khổ và mối quan hệ giữa chúng Có thể đó là những cú sốc và các xu hướng bất lợi, các chính sách và thể chế hoạt động kém hiệu quả hoặc việc thiếu cơ bản các tài sản sinh kế

Mục đích sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức mà con người đã kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ Mà những mục tiêu và ước nguyện mà con người đạt được nhờ sử dụng và kết hợp các nguồn lực khác nhau có thể gọi là kết quả sinh kế Đây là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống kể

cả trước mắt cũng như lâu dài

Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu được động lực nào dẫn tới các hoạt động mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì Đồng thời cũng cho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và nguy cơ mới Kết quả sinh

kế thể hiện trên chỉ số như cuộc sống hưng thịnh hơn, đời sống được nâng cao, khả năng tổn thương giảm, an ninh lương thực được củng cố và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó cần phải kết hợp và sử dụng khác nhau như đất đai, vốn, khoa học công nghệ

Trang 16

1.1.2.1 Các thành phần của khung sinh kế bền vững

a Hoàn cảnh dễ bị tổn thương

Hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được

Một số ví dụ về các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản và sinh kế của con người:

- Xu hướng: Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột, xu hướng kinh tế quốc gia, quốc tế, những xu hướng thể chế (bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật )

- Cú sốc: Cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh

- Tính thời vụ: Biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có tác động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ

mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi

b Những tài sản sinh kế

Tiếp cận sinh kế cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người Nó cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người (tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích

Hình 1.2: Tài sản sinh kế của người dân

Trang 17

Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những sinh kế: Nguồn vốn con người, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật thể, nguồn vốn tài chính

- Nguồn vốn nhân lực

Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn Những thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo

vệ sức khoẻ

Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai Nó được xem là nền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập

Điều gì có thể tạo nên vốn con người cho người dân ở nông thôn?

Việc hỗ trợ nguồn nhân lực có thể thực hiện cả trực tiếp lẫn gián tiếp Trong

cả hai cách thực hiện đó kết quả thực sự mang lại chỉ khi con người, chính bản thân

họ sẵn sàng đầu tư vào vốn nhân lực của họ bằng cách tham gia vào các khoá đào tạo hay trường học Tiếp cận với các dịch vụ phòng ngừa dịch bệnh Trong trường hợp con người bị ngăn cản bởi những việc làm trái với lẽ thường (những tiêu chuẩn

xã hội hay chính sách cứng nhắc ngăn cấm phụ nữ tới trường) thì việc hỗ trợ gián tiếp vào việc phát triển vốn con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Trong nhiều trường hợp ta nên kết hợp cả hai hình thức hỗ trợ Cơ chế phù hợp nhất cho việc kết hợp hỗ trợ là thực hiện các chương trình trọng điểm Các chương trình trọng điểm có thể hướng vào việc phát triển nguồn nhân lực, đế xuất những thông tin thông qua việc phân tích các phương thức kiếm sống để chắc chắn rằng các nỗ lực tập trung vào nơi cần thiết nhất

Cải thiện phương thức tiếp cận với giáo dục chất lượng cao, thông tin, công nghệ và đào tạo nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ sẽ góp phần làm phát triển nguồn vốn con người

Trang 18

- Nguồn vốn xã hội

Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những gì mà con người vẽ ra

để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm:

Các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng quen)

và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm) có tác động làm tăng cả uy tín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng

Là thành viên trong một nhóm ảnh hưởng hoặc kế thừa triệt để các quyết định chung, các quy tắc được chấp nhận, các tiêu chuẩn và mệnh lệnh Uy tín của các mối quan hệ, sự nhân nhượng và sự trao đổi khuyến khích kết hợp, cắt giảm các chi phí giao dịch và có thể tạo ra một mạng lưới không chính thức xung quanh vấn đề nghèo đói

Trong năm yếu tố cơ bản của kế sinh nhai, nguồn vốn xã hội có quan hệ sâu sắc nhất đối với sự chuyển dịch quá trình và chuyển dịch cơ cấu Thực sự có thể là hữu ích nếu xem vốn xã hội như sản phẩm của một tiến trình hoặc cấu trúc, thông qua các mối quan hệ đơn giản này các tiến trình và cấu trúc trở thành sản phẩm của nguồn vốn xã hội Mối quan hệ này đưa ra hai con đường và có thể làm cho nó phát triển hơn

Ví dụ:

+ Khi người ta sẵn sàng liên kết các tiêu chuẩn và mệnh lệnh thông thường chúng có thể làm cho việc hình thành các hoạt động mới dễ dàng hơn để theo đuổi các mối quan tâm của họ

+ Những người có địa vị trong xã hội giúp chúng ta gọt giũa các chính sách

và bảo đảm rằng các mối quan tâm của họ được thể hiện trong luật pháp

Làm gì để tạo ra nguồn vốn xã hội cho người dân nông thôn?

Hầu hết những nỗ lực xây dựng vốn xã hội đều tập trung vào các thể chế địa phương, ngay cả hoạt động trực tiếp (thông qua việc tạo ra các khả năng, huấn luyện đào tạo hay phân phối các nguồn lực) hoặc gián tiếp thông qua việc tạo ra một môi trường dân chủ thông thoáng

Trong khi việc trao quyền cho các nhóm có thể xem như một mục tiêu chính, vốn xã hội có thể được xem là sản phẩm phụ trong các hoạt động khác (tham gia

Trang 19

nghiên cứu sự hình thành nên các nhóm để phát triển và kiểm tra các công nghệ có khả năng nâng cao đời sống của họ) Thông thường, những biến động gia tăng nguồn vốn xã hội được theo đuổi cần phải có sự hỗ trợ từ các lĩnh vực khác Do đó cần gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức tiết kiệm và tín dụng vào nguồn vốn xã hội Cũng như việc kết hợp quản lý các tai hoạ cần phải dựa vào việc kết nối các hành động để hạn chế chúng

- Nguồn vốn tự nhiên

Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hàng hoá công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng

Trong khung sinh kế bền vững Mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm hoạ tàn phá kế sinh nhai của người nghèo thường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháy rừng, lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu và đất nông nghiệp) Và tính mùa vụ thì ảnh hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua các năm

Điều gì có thể làm nên nguồn vốn tự nhiên cho người dân nông thôn?

Mục tiêu sinh kế hướng đến một tầm rộng lớn hơn, chú trọng vào con người

và hiểu tầm quan trọng của các quy trình và cấu trúc (những cách thức phân phối đất, các quy tắc rút ra từ việc đánh bắt cá) trong quá trình xác định cách mà các nguồn vốn tự nhiên được tạo ra và sử dụng

Những tiến trình và cấu trúc điều chỉnh các phương cách tiếp cận đối với nguồn lực tự nhiên và có thể khuyến khích, hoặc ép buộc khi cần thiết để cải thiện việc quản lý các nguồn lực Nếu các thị trường hoàn thiện hơn thì giá trị các nguồn lực cũng được cao hơn, việc xúc tiến quản lý tốt hơn (trong một vài trường hợp, thị

Trang 20

trường phát triển có thể dẫn đến sự sụt giảm doanh số bởi vì nghèo đói có thể làm tăng sự cơ cực)

Việc hỗ trợ gián tiếp đối với vốn tự nhiên thông qua sự chuyển đổi các tiến trình và cấu trúc thì có ý nghĩa rất quan trọng Sự hỗ trợ trực tiếp tập trung vào các nguồn lực mà chính các nguồn lực đó có thể chống lại khả năng sử dụng các nguồn lực đó của con người vẫn có sự tái tạo cho nhu cầu sử dụng trong tương lai Một trong các thành phần chính của mục tiêu sinh kế bền vững là tin và theo đuổi mục tiêu ổn định nhiều loại nguồn lực khác nhau Sao cho không ảnh hưởng đến sự ổn định của môi trường (ổn định nguồn vốn tự nhiên và các dịch vụ của nó, như giảm

khí cacbon và quản lý sự xói mòn)

- Nguồn vốn vật thể

Vốn vật thể gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản HGĐ hỗ trợ cho sinh kế như: Giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn, tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin

Chúng ta phải làm gì để tạo ra nguồn vốn vật thể cho người dân nông thôn?

Trước đây DFID đã khuyến khích việc dự trữ trực tiếp hàng hoá sản xuất cho người nghèo Có thể là vấn đề của một số nguyên nhân:

+ Hoạt động nhỏ một nhà cung ứng trực tiếp hàng hoá sản xuất dẫn đến sự phụ thuộc và phá vỡ thị trường tư nhân

+ Dự trữ trực tiếp có thể làm giảm sự tham gia cải thiện cơ cấu và quy trình thể chế để đảm bảo những gì đạt được là bền vững và hàng hoá sản xuất được sử dụng là tốt nhất

Vì vậy mục tiêu sinh kế tập trung vào việc giúp đỡ tiếp cận thích hợp, những thứ giúp ích cho sinh kế của người nghèo Tiến tới việc tham gia là cần thiết để thiết lập sự ưu tiên và cần thiết cho những người sử dụng

Vốn vật thể (In particular infrastructure) có thể là đắt đỏ Nó không chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư ban đầu mà còn cung cấp tài chính cho những gì đang diễn ra

và nguồn lực con người đáp ứng những hoạt động và duy trì chi phí cho dịch vụ.Vì vậy, việc nhấn mạnh cung cấp một dịch vụ không chỉ đáp ứng những nhu cầu trung

Trang 21

gian của người sử dụng mà còn phải đủ trong thời gian dài Nó không chỉ quan trọng để cung cấp sự khuyến khích cùng một lúc đến phát triển kĩ năng, năng lực để đảm bảo việc quản lý có hiệu quả của dân chúng địa phương

Cơ sở hạ tầng là một trong những loại tài sản hỗ trợ trực tiếp người dân, đặc biệt là người nghèo Tài sản này có thể giúp người nghèo thoát nghèo một cách nhanh chóng, nếu được đầu tư đúng, và phù hợp với sinh kế hộ nghèo Như hệ thống đường xá, vận tải, y tế

- Nguồn vốn tài chính

Vốn tài chính thể hiện nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướng tới mục tiêu sinh kế của họ Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chất kinh tế mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùng sản phẩm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế quan trọng, đó là sự giá trị của tiền mặt hoặc tính thanh khoản, người ta có thể làm theo những cách sinh kế khác

Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu

+ Vốn sẵn có: Tiết kiệm là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không bị ràng buộc về tính pháp lý Chúng có thể có nhiều hình thức: tiền mặt, tín dụng ngân hàng, hoặc tài sản thanh khoản khác như vật nuôi, nữ trang Nguồn lực tài chính

có thể tồn tại dưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng

+ Dòng tiền đều: Ngoại trừ thu nhập hầu hết loại này là tiền trợ cấp, hoặc sự chuyển giao Để có sự tạo lập rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này phải xác thực (trong khi sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm bảo có sự khác nhau giữa việc trả nợ một lần với sự chuyển giao thường xuyên vào kế hoạch đầu tư)

Chúng ta làm gì để tạo nguồn vốn tài chính cho người dân nông thôn?

Những chi nhánh ngân hàng phát triển không giao tiền cho người nghèo ( hỗ trợ trực tiếp vốn tài chính) Người nghèo ít có khả năng vay, vì ít tài sản thế chấp, đồng thời cho người nghèo vay rủi ro thường cao hơn, đó là việc không thu hồi được nợ Do đó tiếp cận vốn tài chính đối với người nghèo chỉ có thể thông qua các

tổ chức, trung gian gián tiếp Có thể là:

Trang 22

+ Mang tính tổ chức: Tăng tiết kiệm và dòng tài chính nhờ sự hỗ trợ để phát triển sản xuất hiệu quả thông qua những tổ chức dịch vụ tài chính cho người nghèo Bằng cách truyền đạt cho họ phương thức sản xuất hiệu quả, đồng thời các dịch vụ tài chính này, cần phải đảm bảo nguồn hỗ trợ không bị thất thoát, người nhận cuối cùng phải là người nghèo

+ Có tính chất cơ quan: Tăng sự tiếp cận dịch vụ tài chính, vượt qua rào cản liên đới những người nghèo với nhau (Cung cấp cho họ sự bảo đảm hoặc máy móc đồng nhất để họ có được những loại tài sản hoạt động song song nhau)

+ Lập pháp/sự điều chỉnh - cải thiện môi trường dịch vụ tài chính để tổ chức hoặc giúp đỡ Chính phủ cung cấp tốt hơn độ an toàn cho những người nghèo (như trợ cấp)

Vấn đề có tính tổ chức của sự bền vững là sự gia nhập quan trọng của bộ phận tài chính vi mô Trừ khi người ta tin tưởng rằng những tổ chức dịch vụ tài chính sẽ tồn tại theo thời gian và sẽ tiếp tục đưa ra lãi suất hợp lý, họ không thể giao phó tiết kiệm của họ cho những tổ chức đó hoặc tin rằng sẽ được trả nợ

Khi tiết kiệm không theo một hình thức rõ ràng, đặc biệt đến nhu cầu và văn hoá của chính người sử dụng, cách thức hỗ trợ khác nhau có thể thích hợp Ví dụ, người chăn nuôi có được lợi nhuận từ việc cải tiến sức khoẻ vật nuôi và hệ thống tiếp thị, thị trường giảm rủi ro khi kết hợp với tiết kiệm của họ (ở hình thức vật nuôi) hơn là thiết lập ngân hàng địa phương

c Đặc điểm của mô hình 5 loại tài sản

- Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó

- Một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Nếu một người có thể tiếp cận chắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) họ cũng có thể có được nguồn tài chính vì họ có thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê

- Phẩm chất của tài sản thay đổi thường xuyên vì vậy ngũ giác cũng thay đổi liên tục theo thời gian

- Hình dạng của ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại tài sản Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào Các điểm

Trang 23

nằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản Như vậy những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho những cộng đồng khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó Điều quan trọng là một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Sơ đồ hình ngũ giác rất hữu ích cho việc tìm ra điểm nào thích hợp, những tài sản nào sẽ phục vụ cho nhu cầu của nhóm xã hội

khác nhau và cân bằng giữa những tài sản đó như thế nào

1.1.2.2 Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế

Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của

họ Các HGĐ, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách sinh sống) Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều kiện môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thị trường, việc làm trong nền kinh tế

và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Người dân có thể sử dụng những

gì mà họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại

Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của

họ về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau Quy mô của các hoạt động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi Quản lý như thế nào để bảo tồn được các nguồn lực sinh kế và thu nhập của họ? Cách người dân thu thập và phát triển các kiến thức, kĩ năng cần thiết để kiếm sống ? Cách sử dụng thời gian và công sức? Cách họ đối phó với rủi ro

Kết quả sinh kế mang tính chất là tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền vững Kết quả sinh kế là vấn đề thuộc về an sinh xã hội, cuộc sống của người dân ra sao? Thu nhập của họ như thế nào? An ninh lương thực, khả năng ứng biến sinh kế trước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội Đây là kết quả của những thay đổi cuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mong muốn đạt được

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa các loại tài sản trong khung

a Quan hệ giữa các tài sản

Những tài sản sinh kế nối kết với nhau theo vô số cách để tạo ra kết quả sinh

kế có lợi Hai loại quan hệ quan trọng là:

Trang 24

- Sự tuần tự: Việc sở hữu một loại tài sản giúp người dân từ đó tạo thêm các loại tài sản khác Ví dụ người dân dùng tiền (nguồn vốn tài chính) để mua sắm vật dụng sản xuất và tiêu dùng (nguồn vốn vật thể)

- Sự thay thế: Một loại tài sản có thể thay thế cho những loại tài sản khác không? Sự gia tăng nguồn vốn con người có đủ đền bù sự thiếu hụt nguồn vốn tài

chính không? Nếu có, điều này có thể dựa vào mở rộng lựa chọn cho cung cấp

b Mối quan hệ trong khung

- Tài sản và hoản cảnh dễ bị tổn thương: Tài sản có thể vừa bị phá huỷ vừa được tạo ra thông qua các biến động của hoàn cảnh

- Tài sản và sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế: Thể chế, chính sách

và sự chuyển dịch cơ cấu, quy trình sản xuất có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng tiếp cận tài sản

- Tạo ra tài sản: Chính sách đầu tư xây dựng CSHT cơ bản (nguồn vốn hữu hình) hoặc phát minh kỹ thuật (nguồn vốn con người) hoặc sự tồn tại của những thể chế địa phương làm mạnh lên nguồn vốn xã hội

- Xác định cách tiếp cận tài sản: Quyền sở hữu, những thể chế điều chỉnh cách tiếp cận với những nguồn tài nguyên phổ biến

- Ảnh hưởng tỉ lệ tích luỹ tài sản: Chính sách thuế ảnh hưởng đến doanh thu của những chiến lược sinh kế

Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản, những cá nhân và những nhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế Nói chung, tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng nhiều Vì vậy một cách để đạt được sự trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dân xây dựng những tài sản của họ

Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có khuynh

hướng có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến lược để đảm bảo sinh kế của họ

Trang 25

Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ thuộc

chủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản Những tài sản khác nhau cần

để đạt được những kết quả sinh kế khác nhau

Ví dụ: Thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính Diện tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cố định ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và áp dụng giống lúa mới Tất

cả các yếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu nhập của nông hộ

Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp, bằng sự gia tăng thặng dư tương tự lúa gạo và như vậy tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn, thương mại và các hoạt động vận chuyển (Seppala, 1996) từ đó có thể đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn

Sự phát triển tài nguyên nhân lực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ, có thể góp phần làm tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông hộ gia tăng Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao động gia đình thủ công, năng suất thấp (Chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như: thương mại và dịch vụ Tình trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập thông qua giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng

cơ hội lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn Ngoài nguồn vốn tiết kiệm của gia đình, tiếp cận tín dụng làm tăng thêm vốn cũng làm tăng thêm thu nhập của nông hộ

1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề phát triển sinh kế bền vững

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam Là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1.3 tỷ người nhưng cũng giống như Việt Nam, gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động Vì thế nhu cầu giải quyết việc làm càng trở nên gay gắt Sau cải cách và mở cửa nền kinh tế năm

Trang 26

1978, Trung Quốc thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hương Trấn nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội ở nông thôn, từ đó rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị

Trung Quốc coi việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường giải quyết vấn đề việc làm và sinh kế của người dân Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích đầu

tư của nhà nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp

đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương Trong những năm đầu đã

có đến 20% thậm chí có nơi 50% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương

Cùng với việc đưa ra các chính sách phát triển thì nhà nước cũng đẩy mạnh xây dựng CSHT nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng hoá, thu mua bảo trợ hàng hoá nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường tín dụng

Chỉ trong vòng hơn 10 năm (từ 1978 đến 1991) Trung Quốc đã thu hút được

96 triệu lao động vào các xí nghiệp Hương Trấn (bằng 13.8% lực lượng lao động ở nông thôn), tạo ra được 1162 tỷ nhân dân tệ (chiếm đến 60% giá trị sản phẩm khu vực nông thôn, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp và 1/4 GDP cả nước) Đây là một thành công lớn, nó đã làm cho tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ trên 70% (năm 1978) xuống còn dưới 50% (năm 1991)

Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (vấn

đề tam nông) vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc Những chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng Trong đó đặc biệt chú trọng việc nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo bằng việc mở mang các ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách vốn, tín dụng

Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho người dân nông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Trang 27

- Thứ nhất: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá

ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất, mở mang hoạt động phi nông nghiệp đã góp phần lớn tạo nên tốc độ phát triển kinh tế và làm đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu hút nhiều lao động vào các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn

- Thứ hai: Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất trong

nước Điều này giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn Từ đó sinh kế của người dân cũng được cải thiện hơn

- Thứ ba: Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng, miền làm hạn chế

sinh kế của người dân nông thôn Do các doanh nghiệp sẽ gây khó dễ trong việc trả lương hoặc hạn chế trong việc sử dụng tay nghề của người dân [13]

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước nông nghiệp, nông nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc Nông dân Hàn Quốc cũng là người Châu

Á, mang ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti Trước năm 1970, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc tương tự nước ta vào năm 1991, 1992, khoảng 300 -

350 USD/người/năm

Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện cải cách ruộng đất Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3ha để bán lại cho nông hộ thiếu đất với phương thức trả dần để tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Từ năm 1965 đến năm 1971 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 2.5% Năm 1971 đến năm 1978 tăng 6.9%, 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế cao Năm 1975 tự túc được nhiều lương thực và nhiều nông sản khác, chăn nuôi tăng 8 -10%/năm Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng hàng hóa với hệ thống cây, con, ngành nghề có giá trị kinh tế cao Thu nhập phi nông nghiệp chiếm 35% tổng số

Trước năm 1970 Hàn Quốc lấy CNH - HĐH làm trọng điểm, công nghiệp tăng trưởng rất nóng nhưng lại ko có cơ hội vì không có thị trường Trong khi đó

Trang 28

nông nghiệp tăng chậm Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa giàu – nghèo lớn

Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra 1 con đường giải phóng đó là phong trào

“Sumomidon” (Phong trào xây dựng nông thôn mới) Học tập phương châm “Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” Một mặt vẫn phát triển công nghiệp, mặt khác đầu tư vào nông nghiệp, phát huy nội lực của người nông dân trên mảnh đất của họ để phát triển kinh tế Chính phủ đầu tư, hỗ trợ vào nông nghiệp bằng vật chất để phát triển nông nghiệp, nông thôn Với tư tưởng

là chỉ đầu tư tài chính một phần mà chủ yếu là vật chất bằng cách đưa sản phẩm công nghiệp không thể ra thị trường tiêu thụ về nông thôn như sắt, thép xây dựng

cơ sở vật chất như: đường giao thông, các công trình công cộng (Trường học, bệnh viện )

Mặt khác chuyển giao một số khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực nông thôn Xây dựng các phương án, dự án phát triển theo từng cấp:

Cấp 1: Nâng cao điều kiện sống cho người dân

Cấp 2: Nâng cao cơ sở hạ tầng

Cấp 3: Tăng thu nhập cho nông dân

Làm từ thấp đến cao, chỉ khi nào hoàn thành cấp 1 mới được làm tiếp cấp 2

Từ thực tiễn của Hàn Quốc rút ra kinh nghiệm: Phát triển công nghiệp song song với đầu tư phát triển nông nghiệp Như vậy vừa thực hiện được CNH-HĐH đất nước vừa đảm bảo được an ninh lương thực Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo từng bước không nóng vội, hoàn thành cấp này mới làm tiếp cấp kia [13]

1.2.2 Tại Việt Nam

1.2.2.1 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm và sinh kế cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở nông thôn và làm nông nghiệp Theo thống kê của hội Nông dân Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng với

Trang 29

mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có biện pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất, làm sao để đảm bảo sinh kế bền vững cho họ Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 11/2006/CT-TTg yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương có định hướng quy hoạch, kế hoạch về chuyển đổi mục đích sử dụng, chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động ngay

trong quá trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp [35]

- Thứ nhất là việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả,

nâng cao độ phì của đất, bồi dưỡng đất, tăng hiệu quả kinh tế của đất Vì đất đai là

tư liệu sản xuất đặc biệt, không sinh thêm mà lại ngày càng thu hẹp lại cho nên phải

có kế hoạch sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, đất nào sử dụng với mục đích ấy Hạn chế tối đa việc sử dụng đất 2 vụ lúa vào xây dựng KCN, khu đô thị Nên sử dụng đất đồi, đất bãi để xây dựng KCN Trước khi quy hoạch sử dụng đất để xây dựng KCN, khu chế xuất, khu đô thị mới thì cần thông báo công khai cho nhân dân biết Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, chính quyền các cấp để tuyên truyền chủ trương, chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước Thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và đền bù phải theo quy định

- Thứ hai là việc giải quyết việc làm cho nông dân đang là vấn đề bức xúc

Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề Các cấp chính quyền nên tạo điều kiện cho những hộ nông dân bị mất đất sản xuất có việc làm mới ngay trên địa bàn như cho họ vào làm tại các nhà máy, xí nghiệp ngay trên mảnh đất của họ trước đây Thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” Phải có biện pháp bắt buộc thực hiện chính sách dạy nghề miễn phí cho người dân trong vùng bị lấy đất Phải có lớp tập huấn, đào tạo để giúp người nông dân có kiến thức về sản xuất, kinh doanh, giúp họ tiếp cận thị trường Chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cũng cần cải cách Ngoài ra, một biện pháp đang được đánh giá ưu việt là khi thu hồi đất nhà đầu tư không bồi hoàn tất cả mà để lại cho người dân một phần cổ phần nhất

Trang 30

định trong dự án đó Nếu bồi hoàn toàn bộ một lượng tiền, người nông dân không có nghề nghiệp có thể sẽ tiêu hết tiền và trở thành người trắng tay, trong khi nếu có cổ phần họ sẽ có được lợi ích lâu dài để đảm bảo cuộc sống

Để tạo việc làm một cách bền vững và phát triển mạnh thị trường xuất khẩu lao động, chiến lược đào tạo của quốc gia cần có sự định hướng rõ ràng ngay từ cấp trung học Trên cơ sở chiến lược phát triển Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có những định hướng đào tạo nghề cho học sinh ngay từ bậc trung học như khoảng 1/3 số học sinh Phổ thông trung học sẽ tiếp tục học lên Cao đẳng, Đại học; 1/3 đào tạo nghề theo

mô hình công nhân kỹ thuật cao, số này sẽ cung cấp lao động cho các KCN, khu chế xuất và phục vụ xuất khẩu; 1/3 còn lại sẽ được đào tạo nghề kỹ thuật cơ bản, nghề thủ công truyền thống, số này có thể đáp ứng được lực lượng lao động cho khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ [36]

Với những hộ nông dân có nhu cầu đến vùng khác để sinh sống thì chính quyền địa phương nên phối hợp với hội nông dân và các ban ngành khác để có chính sách hỗ trợ việc di dân, định canh, định cư

- Thứ ba là tình trạng hộ nông dân thiếu đất sản xuất do phát triển KCN ngày

càng có xu hướng tăng Vì vậy việc giao đất ở địa phương không chỉ giao cho những hộ có hộ khẩu trong vùng, mà phải mở rộng cho các đối tượng nghèo không

có ruộng khác Tuy nhiên phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, không để bị lợi dụng giao đất sai đối tượng, giao đất sai mục đích Chính quyền các cấp kết hợp với các đoàn thể, đặc biệt là hội nông dân vận động người dân nâng cao nhận thức, tuân thủ luật pháp nói chung và luật đất đai nói riêng [13]

1.2.2.2 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề sinh kế và việc làm cho hộ nông dân

bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

a Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

Theo thống kê của Bộ Lao động - TBXH trong 5 năm (2001 - 2004) số người mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu: Xây dựng KCN, khu chế xuất, khu đô thị ở Hà Nội là gần 800.000 người Trong 8 năm (từ 2001 đến 2007), Hà

Trang 31

nội đã triển khai hơn 2800 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất Thành phố đã bàn giao cho chủ đầu tư gần 1300 dự án với 6300 ha đất, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân Bình quân mỗi năm Hà Nội đã giải phóng mặt bằng gần 1000ha [37]

Trong những năm qua, mặc dù Trung Ương và Thành phố đã có những chính sách về hỗ trợ việc làm và học nghề nhưng lại chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn đến nguy

cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn Bởi họ khó học nghề mới, phần lớn lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hoá hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu lao động chất lượng cao Một bộ phận nông dân khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp đã trở thành hộ nghèo Ở 5 quận, huyện bị thu hồi nhiều nhất, có

1223 hộ nghèo với 4389 nhân khẩu [37]

Hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có được Hà Nội chỉ ra

là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bị thu hồi (tức là mới chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất) dẫn đến tình trạng người dân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề để có thể đảm bảo cuộc sống ổn định khi Nhà nước thu hồi đất

Mới đây Hà Nội đã đưa ra các chủ trương tìm cách hỗ trợ nông dân bị thu hồi đất như sau:

- Một là, UBND thành phố đề xuất thành lập Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống,

phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ nông dân bị mất trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao theo NĐ64/CP của Chính phủ Quỹ này sẽ có vốn ban đầu là 40 tỷ đồng từ ngân sách thành phố cấp, tiếp theo sẽ trích nguồn kinh phí của các nhà đầu tư khi được giao đất

- Hai là, trẻ em của các gia đình bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ học phí phổ

thông trong 3 năm Người lao động có nhu cầu học nghề sẽ được cấp thẻ học nghề

có giá trị tối đa 6 triệu đồng, ưu tiên những người này tham gia kinh doanh các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và KCN Hỗ trợ 100% kinh phí BHYT cho người trên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đối với nữ

Trang 32

Ngoài ra các giải pháp khác được UBND Thành phố quan tâm đó là xây dựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị, KCN mới hình thành, xã hội hoá các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị, KCN xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp Cho người dân có đất bị thu hồi tham gia kinh doanh, đặc biệt sẽ ưu tiên cho lao động của hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất Có cơ chế về đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thu hồi nhiều đất nông nghiệp để tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ phục vụ các KCN, khu đô thị, giải quyết việc làm tại chỗ, đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị

và KCN với vùng dân cư

Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân mất đất tại Hà Nội ta thấy:

b Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, trong vòng 10 năm (từ 1997 đến 2007) nhờ phát triển các KCN tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 17.1% Nhưng cũng chính vì thế mà nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, KCN… Mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân

bị mất việc làm Theo thống kê của các cơ quan chức năng, sau 10 năm kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu hồi hơn 4.000ha đất nông nghiệp để xây dựng các KCN, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000

hộ dân mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, có khoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây, đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp tục bị thu hồi để phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Số lượng nông dân không còn tư liệu

Trang 33

sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm Trước thực trạng đó, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh đã có nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết cơ bản…

Với quan điểm: Có “an cư” mới “lạc nghiệp” Để sớm ổn định đời sống cho người dân có đất ở bị thu hồi phải nhanh chóng giải quyết tốt vấn đề tái định cư cho dân Đây là quan điểm nhất quán của tỉnh Vì vậy, tỉnh chủ trương khi tái định cư cho dân phải bảo đảm nơi ở mới có điều kiện sống, sinh hoạt tốt hơn nơi ở cũ Trên thực tế đã có nhiều địa phương làm khá tốt việc này, được dư luận nhân dân đánh giá cao như Vĩnh Yên, Mê Linh, Phúc Yên…

Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã sớm xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp” Theo đề án, từ thời điểm thực hiện cho đến năm 2015, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy móc thiết bị; Hỗ trợ học phí cho 14.000 lao động nông thôn (Chủ yếu là thanh niên); Phát triển hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm… Tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 45% vào năm 2014 Đến nay toàn tỉnh đã có 52 cơ sở đào tạo nghề, với cơ cấu nghề đào tạo khá đa dạng, quy mô đào tạo hơn 31.000 lao động mỗi năm, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động Ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc đã tổ chức 385 lớp đào tạo về các nghề chăn nuôi, trồng trọt, thuỷ sản, thú y, điện, kinh tế, tin học cho trên 11.640 nông dân tham gia học tập Để nâng cao hơn nữa số lượng thanh niên nông thôn được đào tạo nghề cũng như được nhận vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ như: Các HGĐ dành đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ nếu tham gia các khóa đào tạo nghề dài hạn sẽ được hỗ trợ 10 tháng/khóa học; Tham gia học

bổ túc văn hóa và nghề sẽ được hỗ trợ 15 tháng/khóa học (mức hỗ trợ 200.000 đồng/học viên/tháng) Tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động nông thôn vào làm việc với mức 500.000 đồng/người (nếu lao động chưa được đào tạo nghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã được đào tạo nghề), hỗ trợ học phí với mức từ 250.000 đồng đến 300.000 đồng/tháng/ học viên /khoá học đào tạo nghề; Hỗ

Trang 34

trợ 1 triệu đồng/người/ khoá đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng xuất khẩu lao động Tỉnh cũng khuyến khích đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh theo chế độ mỗi lao động thuộc hộ có đất chuyển đổi mục đích sử dụng đi làm việc ở các tỉnh phía Bắc được hỗ trợ 300 nghìn đồng, đi miền Trung 500 nghìn đồng và đi miền Nam là

700 nghìn đồng Từ nay đến năm 2015, tỉnh sẽ mở 3.000 lớp đào tạo các nghề mới cơ khí, may, điện, điện tử cho trên 90.000 nông dân; đồng thời mở các điểm tư vấn, thông tin việc làm, cơ chế chính sách, thị trường lao động từ tỉnh đến huyện, xã phục

vụ người dân Chính từ những chủ trương đúng đắn này mà đến nay, 23% lao động nông thôn có đất bị thu hồi đã được nhận vào làm việc ổn định trong các khu công nghiệp [38]

Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển đổi nghề, tỉnh xác định hướng giải quyết là tạo việc làm tại chỗ Để làm được điều này, một mặt, tỉnh chú trọng đến công tác quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống, các nghề thủ công, tiểu thủ công… Huy động Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… vào cuộc, nhằm định hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho những đối tượng phù hợp, có nhu cầu Mặt khác, một mô hình được dư luận đánh giá có tính “đột phá” đã và đang được tỉnh áp dụng rộng rãi Đó là mô hình “đổi đất lấy dịch vụ” Quyết định 2502/2004/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao đất dịch vụ cho các HGĐ, cá nhân có đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị… đã nêu rõ: các HGĐ,

cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 40% tổng diện tích đất nông nghiệp trở lên của HGĐ, cá nhân đó sẽ được cấp đất để làm dịch vụ Cứ 1 sào (360m2) đất thu hồi

sẽ được cấp 10m2 đất dịch vụ (Tối thiểu 20m2, tối đa 100m2) Đất “dịch vụ” sẽ được nông dân sử dụng để xây nhà cho công nhân thuê, kinh doanh hàng ăn, tạp phẩm… tùy từng gia đình Đây thực sự là một quyết định đúng đắn, được sự đồng tình, nhất trí cao của đông đảo người dân có đất bị thu hồi Đất “dịch vụ” không những giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động mà còn có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng…[38]

Từ thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân tỉnh Vĩnh Phúc ta thấy: Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cụ thể cho từng

Trang 35

đối tượng Tỉnh cũng đã có những hỗ trợ dành cho những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao Tuy nhiên đó mới chỉ là những giải pháp bước đầu giải quyết được tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp của hộ nông dân Các biện pháp đó chưa mang tính đồng bộ và dài hạn, chưa gắn kết với các Sở, Ban, Ngành và lồng ghép sâu rộng với các chương trình, dự án của Tỉnh cũng như trên phạm vi toàn quốc

1.2.2.3 Một số thành tựu của các công trình nghiên cứu có liên quan

Trong những năm gần đây, việc xây dựng các KCN diễn ra ngày càng nhiều Vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân, đặc biệt là những hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp đang là vấn đề bức xúc được các cấp ngành và nhiều người quan tâm

Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề sinh kế hộ nông dân, cụ thể là sinh kế của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp như:

- Sinh kế của hộ nông dân sau khi mất đất sản xuất nông nghiệp do xây dựng KCN ở xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên ThS Nguyễn Trọng Đắc - ThS Nguyễn Thị Minh Thu - ThS Nguyễn Viết Đăng 2007

- Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại thôn Thọ

Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội Đỗ Thị Nâng, Nguyễn Văn Ga 2008

- Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp Luận văn thạc sỹ, năm 2008, Nguyễn Duy Hoàn

- Ảnh hưởng của xây dựng KCN đến sinh kế của người dân ven khu công nghiệp Nam Sách - Hải Dương Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2008, Đỗ Thị Dung

- Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân xã Tứ Minh - thành phố Hải Phòng Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2005, Vũ Tiến Quang

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN Bắc Phú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2008, Ngô Văn Hoàng

Trang 36

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất do xây dựng khu công nghiệp tập trung đến đời sống kinh tế - xã hội của nông dân xã Phương Liễu - Quế Võ - Bắc Ninh Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2005, Trần Thị Thoa

- Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của hộ dân xã Yên Sơn - Quốc Oai - Hà Tây Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2006, Nguyễn Thị Xuân

Các nghiên cứu này đều tìm hiểu sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp, ứng xử của họ Nói lên ảnh hưởng của việc thu hồi đất hay ảnh hưởng của KCN đến sinh kế của người dân Hầu hết các nghiên cứu cho rằng việc thu hồi đất để xây dựng KCN có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, mặc dù nó tạo cơ hội việc làm mới cho nông dân nhưng do trình độ của người dân thấp nên không thể đáp ứng được nhu cầu lao động chất lượng cao của nhà máy, xí nghiệp Dẫn đến tình trạng thất nghiệp và khả năng kiếm sống của họ bị đe doạ

Trang 37

CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Lương Sơn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hòa Bình, cửa ngõ phía Tây Hà Nội, phía Bắc giáp huyện Quốc Oai và Thạch Thất, phía Đông giáp huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ (Hà Nội), phía Nam giáp huyện Kim Bôi, phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình) Huyện lỵ là thị trấn Lương Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 40km Trên địa bàn Lương Sơn có đường QL6 chạy qua theo hướng Đông - Tây, cắt ngang qua huyện từ khu Năm Lu đến Dốc Kẽm, đi qua thị trấn của huyện, nối Hà Nội với Thành phố Hoà Bình, đi lên các tỉnh phía Tây Bắc; Quốc lộ 21A và đường Hồ Chí Minh chạy qua rìa một số xã phía Đông Nam huyện

Xét về mặt vị trí, Lương Sơn được gọi là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, là điểm cầu nối, giao thoa giữa Hoà Bình với các tỉnh vùng Tây Bắc và Thành phố Hà Nội, lan toả ra toàn vùng Hà Nội rồi tới các tỉnh đồng bằng sông Hồng Vị trí này tạo ra những lợi thế đặc biệt cho huyện trong phát triển kinh tế, nhất là thương mại dịch vụ, giao thông vận tải, hậu cần, khoa học công nghệ, du lịch, giáo dục, giao lưu hàng hoá đa dạng, phong phú

2.1.1.2 Địa hình, khí hậu, thủy văn

a Địa hình:

Về địa hình, Lương Sơn là huyện vùng thấp bán sơn địa, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện so với mực nước biển là 251 m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam Sau khi sáp nhập 7 xã huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình; trong đó chủ yếu là vùng đất tiếp xúc với đồng bằng, với những cánh đồng nhỏ bằng phẳng, diện tích đất đồng bằng trên địa bàn huyện lên tới trên 45% Như vậy, địa hình của Lương Sơn có thể hệ thống thành những dạng: (1) vùng địa hình đồi núi: bao gồm vùng núi cao xen kẽ đồi thấp thuộc dãy Trường Sơn, có độ dốc trung bình 20 - 30%, trong đó có nhiều

Trang 38

dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động hoặc có nhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo đan xen tạo nên cảnh sắc đẹp (2) Vùng địa hình bằng phẳng, bao gồm chủ yếu ở phía Bắc QL6, các xã phía Nam huyện, độ dốc khoảng 3 - 5%, cao độ trung bình khoảng 15 - 30m (3) Khu vực trũng thấp ven sông Bùi, phía Nam QL6 có cao độ dao động từ 10 - 12m

Dựa trên yếu tố địa hình kết hợp với vị trí địa lý, Lương Sơn có thể chia thành 4 tiểu vùng:

(1) Tiểu vùng phía Bắc huyện bao gồm Thị trấn Lương Sơn và các xã: Lâm Sơn, Hoà Sơn, Tân Vinh, Nhuận Trạch: có địa hình cao nhất, gồm những dãy núi cao xen kẽ đồi thấp hình bát úp, ở giữa là thung lũng rộng bằng phẳng, có hệ thống sông (sông Bùi) và hồ, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp, phong phú Vùng này có

vị trí địa lý thuận lợi, gần Hà Nội, có đường QL6 chạy qua, là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Hoà Bình và vùng Tây Bắc với vùng Hà Nội

(2) Tiểu vùng Đông Nam huyện, bao gồm các xã: Thành Lập, Trung Sơn, Liên Sơn, Tiến Sơn, Cao Thắng, Cao Dương, Thanh Lương: địa hình cao, có nhiều núi đã vôi, núi đất, xen kẽ hang động nhũ đá; vị trí địa lý giáp Hà Nội, có trục đường QL21 và đường Hồ Chí Minh chạy dài men theo các xã

(3) Vùng Tây Nam huyện bao gồm 4 xã: Trường Sơn, Cao Răm, Cư Yên, Hợp Hoà: địa hình cao, nhiều đồi núi thấp và là các xã thuộc vùng sâu, xa của huyện, hệ thống giao thông không thuận lợi Không những thế, phía cuối vùng (Cao Răm, Trường Sơn) gần như bị “chặn” do bị che chắn bởi hệ thống núi đất

(4) Vùng phía Nam huyện bao gồm các xã: Tân Thành, Hợp Châu, Long Sơn

và Hợp Thanh: vùng đất thấp, đồng bằng; đây là vùng có vị trí địa lý quan trọng về

an ninh quốc phòng (vùng CT229)

Yếu tố địa hình nói trên đã tạo cho Lương Sơn khả năng phát triển một nền kinh tế tổng hợp cả nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, kinh tế vườn đồi, công nghiệp VLXD, thương mại dịch vụ, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Tuy vậy, bản thân Lương Sơn cũng có thể phân chia thành những tiểu vùng có vị trí và điều kiện địa hình thuận lợi cho phát triển, nhưng cũng có nhiều tiểu vùng thiếu

Trang 39

điều kiện cho phát triển, một số địa phương lại giữ vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng

b Khí hậu:

Lương Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là

230C Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.769,50 mm nhưng phân bổ không đều, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 7, 8, 9 Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thường không đáng kể Độ ẩm trung bình năm là 84,5%,

và sự chênh lệch giữa các tháng khá lớn, tháng cao nhất (tháng 3) là 90% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 30%

c Thủy văn:

Chế độ thuỷ văn trên địa bàn huyện được chi phối bởi hệ thống sông, suối và

hồ đập Sông Bùi là con sông nhỏ, ngắn, lại dốc, có chiều dài 12km, bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn, chảy qua xã Cao Răm, Tân Vinh và Thị trấn, sau đó chảy vào sông Đáy tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội) Sông Bùi ảnh hưởng quan trọng đối với hiện tượng thuỷ văn của các xã phía Bắc huyện Phía Nam huyện có sông Song Huỳnh chảy qua địa phận hai xã Cao Thắng, Cao Dương, có độ dài khoảng 6 km, góp phần cung cấp nguồn nước mặt cho các xã khu vực này Trên địa bàn huyện có

6 hồ và khoảng 15 con suối, đây là nguồn thuỷ văn quan trọng cung cấp cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của dân cư

Điều kiện khí hậu, thuỷ văn, sông ngòi đã tạo cho Lương Sơn những thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hoá các loại vật nuôi, cây trồng, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp Hệ thống sông suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hoà khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

Ngoài những thuận lợi trên, điều kiện khí hậu, thuỷ văn của Lương Sơn cũng

có những yếu tố ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư: (1) Do chế độ nhiệt và mưa không đều trong năm, từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm mưa thường rất lớn, gây ra xói mòn, rửa trôi và lũ lụt Vào những tháng ít mưa, đôi khi kèm theo cả sương muối gây ra tình trạng hạn hán, lạnh giá,

Trang 40

làm ảnh hưởng đến quá trình gieo trồng vụ Đông Xuân cũng như hạn chế tốc độ sinh trưởng của một số loại cây trồng (2) Sông Bùi hiện nay đang trong tình trạng

có ảnh hưởng không tích cực cho sản xuất và đời sống dân cư, nhất là hiện tượng ô nhiễm môi trường trên sông và hiện tượng gây ngập lụt cho khu vực ven sông, nhất

là khu vực chợ ở Thị trấn Lương Sơn

2.1.1.3 Các nguồn tài nguyên

a Tài nguyên đất đai

Xét về tính chất đất: Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, toàn huyện Lương

Sơn có 9 loại đất chính bao gồm:

- Đất phù sa không được bồi hàng năm chiếm 0,45% diện tích tự nhiên Loại đất này được phân bố chủ yếu ở các xã Nhuận Trạch, Tân Vinh, và một phần xã Cao Răm

- Đất phù sa ngòi suối được bồi đắp hàng năm chiếm 0,42% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo sông Bùi

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ chiếm 3,85% diện tích tự nhiên, phân

bố ở khu vực trung tâm và phía Nam huyện

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa chiếm 11,5% diện tích tự nhiên

- Đất nâu vàng trên đất phù sa cổ chiếm 2,23% diện tích tự nhiên

- Đất đỏ vàng trên đá sét chiếm 48,7% diện tích tự nhiên

- Đất vàng nhạt trên đá cát chiếm 14,8% diện tích tự nhiên

Ngoài những loại đất chính trên còn có đất than bùn, đất bạc màu trên phù sa

cổ, đất nâu đỏ trên đá vôi với diện tích không đáng kể

Đất đai ở Lương Sơn có độ mùn khá, độ PH phổ biến ở mức 4,5-5,5, phù hợp với nhiều loại cây trồng

Tính chất đất đai khác nhau được phân bố trên các vùng khác nhau sẽ tạo điều kiện để Lương Sơn có thể phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên môn hoá quy mô lớn theo vùng để có một nền nông nghiệp đa dạng hoá trên toàn huyện

Xét về quỹ đất: Tổng diện tích đất tự nhiên (tính đến tháng 01/2014) là

37.707,79 ha, được phân bố như trên bảng 2.1

Ngày đăng: 01/09/2017, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Kim Chung (2008), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008
5. Phạm Thị Mỹ Dung (1996), Phân tích kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
6. Đỗ Thị Dung (2008), Ảnh hưởng của xây dựng KCN đến sinh kế của người dân ven khu công nghiệp Nam Sách - Hải Dương, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của xây dựng KCN đến sinh kế của người dân ven khu công nghiệp Nam Sách - Hải Dương
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2008
7. Hoàng Văn Đại (2008), Nghiên cứu sinh kế của người dân xã Đông Sơn, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh kế của người dân xã Đông Sơn, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Hoàng Văn Đại
Năm: 2008
8. Nguyễn Trọng Đắc, Nguyễn Thị Minh Thu, Nguyễn Viết Đăng (2007), “Sinh kế của hộ nông dân sau khi mất đất sản xuất nông nghiệp do xây dựng KCN ở xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên”, Tạp chí kinh tế và phát triển, (Số 125), Trang 38 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế của hộ nông dân sau khi mất đất sản xuất nông nghiệp do xây dựng KCN ở xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên”," Tạp chí kinh tế và phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Đắc, Nguyễn Thị Minh Thu, Nguyễn Viết Đăng
Năm: 2007
9. Nguyễn Duy Hoàn (2008), Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế của người dân ven KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Duy Hoàn
Năm: 2008
10. Ngô Văn Hoàng (2008), Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN Bắc Phú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của mất đất nông nghiệp do xây dựng KCN Bắc Phú Cát đến sinh kế của nông dân xã Phú Cát, Quốc Oai, Hà Tây
Tác giả: Ngô Văn Hoàng
Năm: 2008
12. Phạm Văn Hùng (2008), Bài giảng phương pháp nghiên cứu kinh tế. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Phạm Văn Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
13. Phí Thị Hương (2009), Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Đông Mỹ - thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình
Tác giả: Phí Thị Hương
Năm: 2009
14. Đỗ Thị Nâng, Nguyễn Văn Ga (2008), “Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội”, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, (Số 5), Trang 10 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại thôn Thọ Đa, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội
Tác giả: Đỗ Thị Nâng, Nguyễn Văn Ga
Năm: 2008
17. Vũ Tiến Quang (2005), Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân xã Tứ Minh - thành phố Hải Phòng, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của các hộ nông dân xã Tứ Minh - thành phố Hải Phòng
Tác giả: Vũ Tiến Quang
Năm: 2005
19. Nguyễn Phúc Thọ, Lương Xuân Chính, Vũ Thanh Hương (2006), Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Phúc Thọ, Lương Xuân Chính, Vũ Thanh Hương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
20. Trần Thị Thoa (2005), Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất do xây dựng khu công nghiệp tập trung đến đời sống kinh tế - xã hội của nông dân xã Phương Liễu - Quế Võ - Bắc Ninh, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất do xây dựng khu công nghiệp tập trung đến đời sống kinh tế - xã hội của nông dân xã Phương Liễu - Quế Võ - Bắc Ninh
Tác giả: Trần Thị Thoa
Năm: 2005
21. Lê Trọng (2003), Phát triển bền vững kinh tế hộ nông dân gắn liền kế hoạch với hạch toán kinh doanh, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững kinh tế hộ nông dân gắn liền kế hoạch với hạch toán kinh doanh
Tác giả: Lê Trọng
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 2003
34. Nguyễn Thị Xuân (2006), Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của hộ dân xã Yên Sơn – Quốc Oai – Hà Tây, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến sản xuất và đời sống của hộ dân xã Yên Sơn – Quốc Oai – Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân
Năm: 2006
35. Website Đảng cộng sản Việt Nam, http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id= BT2410088126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Website Đảng cộng sản Việt Nam, http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=
36. Website tạp chí cộng sản, http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object 37. Website Báo điện tử Vietnamnet, http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/03/772111/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Website tạp chí cộng sản, http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object" 37. Website Báo điện tử Vietnamnet, "http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/03/772111
38. Website Sàn nghề nghiệp, http://thegioi.sannghenghiep.vn/?id=2739 Link
1. Chi cục thuế Lương Sơn (2013), Công văn về việc rà soát lại danh sách một số trường hợp trong diện cấp đất TĐC tại xã Lâm Sơn Khác
3. Cục thống kê Hòa Bình (2013), Niên giám thống kê của tỉnh Hòa Bình Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w