“Sức khỏe là vàng” thậm chí còn quý hơn vàng đó là câu thành ngữ mà từ xa xưa ông ta cha đã đúc kết ra, nhưng dường như chỉ đến khi ốm đau bệnh tật mọi người mới lo lắng khám chữa bệnh và mới thấy được giá trị thực của sức khỏe, ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển thì việc nhận thức về giá trị của sức khỏe của người dân đã thay đổi. Chăm sóc sức khỏe (CSSK) đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội, tất cả các tầng lớp từ người giàu, người nghèo, từ trí thức đến người lao động, từ thành thị đến nông thôn, mọi người đều rất chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt CSSK cho lứa tuổi học sinh. Sức khỏe của học sinh hôm nay quyết định đến khuynh hướng sức khỏe dân tộc ta trong tương lai, chính vì vậy CSSK thể chất cho học sinh là tạo điều kiện cho các em phát triển chiều cao, cân nặng, rèn luyện sức khỏe. Để phát triển hài hòa, toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần thì việc CSSK tâm trí đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của trẻ, CSSK tâm trí là tạo điều kiện cho việc phát triển trí tuệ, tăng cường khả năng cân bằng tâm lý, tình cảm, thích nghi với môi trường sống với các mối quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội. Hơn nữa CSSK tâm trí còn giúp tạo cho trẻ phát triển tính tự lập, tự tin trong cuộc sống, phát triển nhân cách, mang giá trị đạo đức căn bản của con người. Sức khỏe tâm trí có vấn đề dẫn đến rối loạn hành vi, mất kiểm soát và có những hành vi sai lệch gây ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình và xã hội. Nhưng năm gần đây tình trạng học sinh có những hành vi tiêu cực như bỏ học, tự tử, nghiện hút, hoạt động tình dục tập thể hay hành vi bạo lực với bạn bè và thầy cô đang gia tăng tới mức báo động. Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO), những rối loạn này chiếm khoảng 12% trên tổng số gánh nặng bệnh tật trên thế giới 1. Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy: tỷ lệ tổn thương SKTT ở lứa tuổi trẻ em chiếm từ 821% 2. Việt Nam chúng ta đang trong quá trình phát triển hội nhập quốc tế, cuộc sống dần cuốn theo dòng chảy của kinh tế thị trường. Sự biến đổi nhanh của nền kinh tế xã hội đã tác động mạnh mẽ đến con người, lối sống của người dân gấp gáp hơn để theo kịp với thời đại, điều này đã dẫn đến các hậu quả khá là nghiêm trọng. Các bậc phụ huynh không còn thời gian để sum vầy, áp lực công việc khiến cho cha mẹ không quan tâm đến tâm lý của trẻ, họ chỉ cố gắng kiếm ra thật nhiều tiền đáp ứng nhu cầu vật chất cho trẻ, điều đó vô tình đã đẩy trẻ đến một cuộc sống tự lập, phải đối mặt với nhiều thách thức trong cuộc sống, trong khi đó các em còn chưa kịp trang bị những kiến thức của cuộc sống. Đối với lứa tuổi học sinh thì áp lực học tập, thi cử hay các mối quan hệ khác giới khiến cho các em luôn bị căng thẳng, nếu như không có sự quan tâm chia sẻ từ bố mẹ hay người thân trong gia đình thì các em luôn cảm thấy lo lắng bất an, lúng túng trong xử lý các tình huống; Tất cả những điều trên đều ảnh hưởng đến sức khỏe tâm trí của trẻ, đặc biệt là đối với lứa tuổi dậy thì, lứa tuổi đang có những thay đổi tâm sinh lý đặc biệt. Hà Nội là thủ đô nước Việt Nam đứng đầu về diện tích trong cả nước: 3328.9 km2 và đứng thứ nhì về dân số trên toàn quốc: 6.699.600 người. Hà Nội là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam với 677 trường tiểu học, 581 trường trung học cơ sở và 186 trường trung học phổ thông, trong đó có 65 trường trung học phổ thông ngoài công lập 3. Đề tài nghiên cứu về sức khỏe tâm trí của học sinh phổ thông có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về học sinh trung học phổ thông dân lập, chính vì vậy tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh ở một số trường trung học phổ thông ngoài công lập ở Hà Nội năm học 20132014” tại 2 trường THPT dân lập Đống Đa và THPT dân lập Lương Thế Vinh, Ba Vì với 3 mục tiêu: 1.Mô tả thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh THPT dân lập ở Hà Nội năm học 201320142.Xác định một số yếu tố liên quan ảnh hưởng tới sức khỏe tâm trí của học sinh THPT dân lập ở Hà Nội năm 20132014. 3.So sánh vấn đề sức khỏe tâm trí giữa học sinh THPT dân lập ở nông thôn và thành thị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2Hà Nội - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-ĐÀO THANH THỦY
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM TRÍ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MỘT SỐ TRƯỜNG NGOÀI CÔNG LẬP TẠI
HÀ NỘI
NĂM HỌC 2012-2013
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số : 60720301
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS CHU VĂN THĂNG
Trang 3Hà Nội – 2013 MỤC LỤC
Trang 41.3 Những rối loạn liên quan đếnSKTT……… 12
1.3.1 Rối loạn hành vi………
Trang 52.1.1 Địa điểm nghiên
Trang 6SDQ: Bộ câu hỏi sàng lọc vấn đề sức khỏe tâm trí
(Strength and difficulty questionnaire)
ICD: International Classification Diseases
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
1 Bảng 2.1: Thang điểm đánh giá SKTT học sinh do giáo viên điền
trên bộ câu hỏi
5 Bảng 3.4.1.1: Yếu tố đặc điểm cá nhân và vấn đề SKTT
6 Bảng 3.4.1.2: Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và vấn đề SKTT
7 Bảng 3.4.2.1: Yếu tố gia đình và vấn đề SKTT
8 Bảng 3.4.2.2: Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình và vấn đề SKTT
9 Bảng 3.4.2.3: Yếu tố quan hệ tình cảm trong gia đình và vấn đề
SKTT
10 Bảng 3.4.2.4: Mối liên quan giứa quan hệ tình cảm trong gia đình
với vấn đề SKTT
11 Bảng 3.4.3.1: Yếu tố môi trường nhà trường và vấn đề SKTT
12 Bảng 3.4.3.2: Mối liên quan giữa môi trường nhà trường và vấn đề
SKTT
13 Bảng 3.4.3.3: Môi trường học tập, vui chơi, giải trí và vấn đề SKTT
14 Bảng 3.4.3.4: Mối liên quan giữa môi trường học tập, vui chơi, giải
trí với vấn đề SKTT
Trang 9gánh nặng bệnh tật trên thế giới [1] Nhiều nghiên cứu trên thế giới vàtrong nước cho thấy: tỷ lệ tổn thương SKTT ở lứa tuổi trẻ em chiếm từ8-21% [2] Việt Nam chúng ta đang trong quá trình phát triển hội nhậpquốc tế, cuộc sống dần cuốn theo dòng chảy của kinh tế thị trường Sựbiến đổi nhanh của nền kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến conngười, lối sống của người dân gấp gáp hơn để theo kịp với thời đại, điềunày đã dẫn đến các hậu quả khá là nghiêm trọng Các bậc phụ huynhkhông còn thời gian để sum vầy, áp lực công việc khiến cho cha mẹkhông quan tâm đến tâm lý của trẻ, họ chỉ cố gắng kiếm ra thật nhiềutiền đáp ứng nhu cầu vật chất cho trẻ, điều đó vô tình đã đẩy trẻ đến mộtcuộc sống tự lập, phải đối mặt với nhiều thách thức trong cuộc sống,trong khi đó các em còn chưa kịp trang bị những kiến thức của cuộcsống Đối với lứa tuổi học sinh thì áp lực học tập, thi cử hay các mốiquan hệ khác giới khiến cho các em luôn bị căng thẳng, nếu như không
có sự quan tâm chia sẻ từ bố mẹ hay người thân trong gia đình thì các
em luôn cảm thấy lo lắng bất an, lúng túng trong xử lý các tình huống;Tất cả những điều trên đều ảnh hưởng đến sức khỏe tâm trí của trẻ, đặcbiệt là đối với lứa tuổi dậy thì, lứa tuổi đang có những thay đổi tâm sinh
lý đặc biệt
Hà Nội là thủ đô nước Việt Nam đứng đầu về diện tích trong cảnước: 3328.9 km2 và đứng thứ nhì về dân số trên toàn quốc: 6.699.600người Hà Nội là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam với 677 trườngtiểu học, 581 trường trung học cơ sở và 186 trường trung học phổ thông,trong đó có 65 trường trung học phổ thông ngoài công lập [3] Đề tàinghiên cứu về sức khỏe tâm trí của học sinh phổ thông có rất nhiều nhàkhoa học đã nghiên cứu nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về họcsinh trung học phổ thông dân lập, chính vì vậy tôi thực hiện nghiên cứu
“Thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh ở một số trường trung họcphổ thông ngoài công lập ở Hà Nội năm học 2013-2014” tại 2 trường
Trang 10THPT dân lập Đống Đa và THPT dân lập Lương Thế Vinh, Ba Vì với 3mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng sức khỏe tâm trí của học sinh THPT dân lập ở
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm sức khỏe
Theo tuyên ngôn của tổ chức Y tế thế giới năm 1982 tại AlmaAta: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinhthần và xã hội chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay thươngtật” Sức khỏe toàn diện trong mỗi con người đều bao gồm 3 thànhphần: khỏe về thể chất, khỏe về tinh thần và khỏe về xã hội
1.1.1 Sức khỏe thể chất được biểu hiện ở thể lực khỏe mạnh có thể
làm việc mang vác nặng, đi lại nhanh nhẹn thoải mái, có tính dẻo dai,bền bỉ không cảm thấy mệt mỏi Sức khỏe thể chất còn thể hiện khikhông có bệnh tật, không ốm đau, hay có sức đề kháng tốt, khi ốmthì có thể nhanh hồi phục hoặc có thể chống đỡ được được môitrường khắc nghiệt hoặc thời tiết thay đổi đột ngột [4]
1.1.2 Sức khỏe tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối
loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toànthoải mái, vui tươi yêu đời Sức khoẻ tinh thần chỉ là sự biểu hiệnnếp sống lành mạnh, văn minh Cơ sở của sức khoẻ trạng thái là sựthăng bằng và hài hoà giữa lý trí và tình cảm SKTT còn là một cuộc
Trang 11sống năng động có khả năng chống đỡ được được những thử tháchtrong cuộc sống.
1.1.3 Sức khỏe xã hội là sự hoà nhập của những cá nhân với cộng
đồng, gia đình, người thân và xã hội, như câu nói của Mác: "Conngười là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội" Sức khỏe xã hội còn là
sự đóng góp tích cực của cá nhân vào việc phát triển của xã hội Xãhội và các nhân có sự tương tác hỗ trợ cho nhau Nếu xã hội pháttriển ổn định về kinh tế, chính trị văn hóa xã hội thì sẽ tạo điều kiệncho cá nhân phát huy được khả năng với một tâm lý thoải mái vàngược lại [6]
1.1.4 Khái niệm tuổi vị thành niên (VTN)
Vị thành niên: từ này xuất phát từ tiếng Latinh - adolescere cónghĩa là "lớn lên" hay "phát triển đến sự chín muồi" VTN là nhữngngười trong độ tuổi 10-19 tuổi nghĩa là trong độ tuổi thiếu nhi vàtrước tuổi trưởng thành (Quy định của tổ chức y tế thế giới) hay nóitheo tâm lý học thì VTN là giai đoạn kết nối chuyển tiếp đòi hỏi mỗi
cá nhân phải có những thay đổi mới để thích nghi Tuổi vị thành niên
là giai đoạn phát triển sinh lý gắn liền với sự trưởng thành về sinhdục, nó bao hàm cả nghĩa phát triển về vị thế, địa vị xã hội, hành vi,tình cảm… Khi trẻ bước vào tuổi VTN thì luôn có xu hướng tách dần
ra khỏi vòng tay của cha mẹ, không muốn phụ thuộc vào bố mẹ Ởtuổi này sự biến đổi về tâm lý rất phức tạp, mỗi một giai đoạn lạibiểu hiện một tích cách khác nhau: có lúc thì kiềm chế nhẫn nhịn cókhi lại chủ quan chống đối Hơn nữa, đây còn là giai đoạn có nhữngmối quan hệ khác giới, nhu cầu giao tiếp với xã hội bạn bè nhiềuhơn, các em có xu hướng theo bạn bè hơn là cha mẹ Theo kết quảtổng điều tra dân số năm 2012 ở Việt nam trẻ VTN có khoảng23.165.631 trẻ, chiếm khoảng 26,2% dân số cả nước [6]
1.2 Những biến đổi về thể chất, tâm lý, xã hội
Trang 121.2.1 Biến đổi về thể chất
Những thay đổi về sinh lý khi các em tới tuổi VTN hay còngọi là tuổi dậy thì, cơ thể bắt đầu phát triển nhanh và nhiều thay đổi Sựphát triển này thường xảy ra từ từ kéo dài trong vài năm từ 13, 14 - 20tuổi, giai đoạn phát triển của mỗi cá nhân có sự thay đổi khác nhau, ởnam và nữ cũng khác nhau Ở nam sự thay đổi rõ rệt nhất là chiều caotăng đáng kể, từ một cậu bé cơ thể phát triển với những đặc điểm nhưmột người trưởng thành: vóc dáng cao hơn, bụng và hông thon lại, cơbắp nhiều lên Đặc biệt là sự phát triển của lông và râu, lông nách lôngchân thậm chí cả lông ngực, râu và ria mọc chậm hơn lông mu khoảngmột vài năm Ngoài ra còn xuất hiện lang ben và mụn chứng cá trên cổmặt và lưng, đó là do tuyến mồ hôi và tuyến bã hoạt động mạnh Hócmôn nam có tên gọi là testosterone tăng cường hoạt động mạnh dẫn đếncác bạn nam bị vỡ giọng, nhưng dần dần sẽ có chất giọng ấm áp củangười đàn ông trưởng thành Ở giai đoạn này các em còn thấy sự thayđổi của bộ phận sinh dục, biểu hiện rõ là dương vật càng ngày càng lớnlên, tinh hoàn cũng to lên theo, hiện tượng xuất tinh lần đầu tiên về banđêm đánh dấu sự dậy thì chính thức ở các bạn nam và thường xảy ra ởkhoảng 15 đến 17 tuổi [7]
Tuổi dậy thì ở con gái sớm hơn con trai khoảng 2 năm, trướcđây thường bắt đầu từ tuổi 13 nhưng cơ thể bắt đầu thay đổi từ 8- 9 tuổi,ngoài thay đổi về chiều cao thì vú to lên là dấu hiệu sớm nhất, bắt đầu 9-13 tuổi, tốc độ và mức độ to lên khác nhau tuỳ từng em Tiếp theo làlông mu mọc, cơ thể nở nang, sau đó mới là sự ra kinh lần đầu và mọclông nách Hành kinh là dấu hiệu bộ máy sinh sản đã sẵn sàng hoạtđộng Trước khi có hành kinh thì đã có sự tăng nồng độ hormoneandrogen nên thành phần axit béo của mồ hôi thay đổi khiến cho có thể
có mùi Ngoài ra androgen còn tăng bài tiết bã nhờn nên các em xuấthiện nhiều trứng cá [7]
Trang 131.2.2 Biến đổi về tâm lý
Khi bước vào tuổi dậy thì các em thường dễ rơi vào trạng thái
lo lắng, buồn rầu về những thay đổi trên trên cơ thể mình, các em bắtđầu phát triển tư duy trừu tượng một cách rõ rệt và thích tò mò về nhữnghành vi liên quan đến tính dục Lúc này cơ thể các em có những thay đổi
rõ ràng về mặt thể chất, kéo theo đó là những biến đổi về mặt tâm lý,tình cảm, trẻ trở nên bướng bỉnh muốn tách ra khỏi vòng kiểm soát củacha mẹ, muốn tự quyết định mọi việc, tự khẳng định bản thân Chính sựthay đổi về hormone và các đặc điểm sinh học của cơ thể đã thôi thúccác em quan tâm nhiều hơn đến bạn bè và nảy sinh tình cảm với bạnkhác giới [7] Những rung động đầu đời khiến cho các em tưởng tìnhbạn là tình yêu, khát vọng về tình dục mang lại cho các em cảm giácmới là về mối quan hệ khác giới nhưng sau đó lại dễ thay đổi, muốn gìthì phải đạt cho được nhưng lại chán ngay Đặc biệt thích tò mò cùngvới mong muốn khám khả năng lựa hoạt động tình dục của mình nêncác em dễ bốc đồng, hành động theo bản năng và theo bạn bè
1.2.3 Biến đổi về xã hội [8]
Trẻ vị thành niên thường tò mò khám phá môi trường bênngoài qua internet, sách báo, các em có hiểu biết khá rộng về môi trườngxung quanh, vì vậy việc hình thành các mối quan hệ xã hội luôn thôithúc các em phát triển các kỹ năng giao tiếp, ứng xử mới theo cáchriêng, theo trào lưu của bạn bè
1.3 Những rối loạn liên quan đến SKTT
Do biến đổi đặc điểm sinh lý ở lứa tuổi dậy thì nên trẻ VTNthường có những rối loạn cảm xúc, mất cân bằng tâm lý, các biểu hiệnnhư tim đập nhanh, chóng mặt, hoa mắt, dễ nổi nóng, khó hiểu thậm chícòn không hiểu được chính cả bản thân Có rất nhiều biểu hiện của rối
Trang 14loạn cảm xúc: rối loạn lo âu như sợ hãi một cái gì đó quá mức hoặc lolắng những vấn đề không có thật Các em có biểu hiện hoang mang, lolắng triền miên mà không biết lý do hoặc suy nghĩ viển vông tưởngtượng ra những câu chuyện ám ảnh không có thật rồi tự đặt mình vàotình huống rồi lại đau khổ [9] Ngoài ra thì những sang chấn hay những
sự kiện xảy đến với các em khiến tâm thần luôn bị hoảng loạn như tainạn, lạm dụng tình dục, bị bạo lực…Rối loạn cảm xúc còn có biểu hiệnnhư trầm cảm hay buồn rầu khóc lóc, tự ti, chán nản, biểu hiện chán ăn,hay quên, không chăm sóc đến bản thân như trước, học tập giảm sút,hoạt động chậm chạp Đặc biệt hơn rối loạn cảm xúc lưỡng cực khá phổbiến với tỉ lệ 0,5 dân số Đây là một bệnh tâm thần nội sinh xuất hiện cótính chất chu kì với các cơn hưng cảm và trầm cảm xen lẫn Theo BS.Nguyễn Văn Dũng- Viện Tâm thần Quốc gia (Bệnh viện Bạch Mai) chohay: tuổi teen là độ tuổi phát bệnh rối loạn cảm xúc cao nhất trong tổng
số ca mắc chứng bệnh này Trẻ có lúc thì lầm lì, buồn rầu, ức chế chánnản, bi quan, tuyệt vọng, dễ mủi lòng khóc lóc, than vãn rên rỉ, lúc lạihưng cảm đọc thơ ca, ví von hóm hỉnh, nói luôn miệng, tự đánh giá caobản thân, thậm chí coi thường người khác Bệnh mang tính chu kỳ tức làngười bệnh có thể chuyển từ cảm xúc hưng phấn (vui vẻ tột độ) sangcảm xúc ức chế (trầm cảm) và ngược lại một cách nhanh chóng
1.3.1 Rối loạn hành vi
Những dấu hiệu cho thấy trẻ rối loạn hành vi như càn quấy, cư
xử hung hãn đối với người khác hoặc động vật, phá hoại tài sản, nói dối,
ăn cắp vặt, bỏ học, hỗn láo với người lớn, bỏ nhà đi [9]
1.3.2 Rối loạn tăng động
Đặc trưng cơ bản của bệnh rối loạn tăng động là kém tậptrung, giảm chú ý, tăng động Theo Bác sĩ Ngô Văn Lương, Khoa Tâmthần, bệnh viện trung ương Huế: đặc trưng của rối loạn tăng động là sự
Trang 15kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, thiếu kiềm chế với giảmchú ý, thiếu kiên trì trong mọi công việc
Những nguyên nhân do sinh nở: trường hợp sinh khó để lại dichứng trong sự phát triển của bộ não
Những nguyên nhân do nuôi dưỡng: chế dộ ăn uống không hợp
lý đẫn đến suy dinh dưỡng, ảnh đến sức khỏe thể lực cũng như sức khỏetâm trí
Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh hướng, năng lực, tínhcách, khí chất…Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sựphát sinh các vấn đề về SKTT, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý.Khi mắc các vấn đề về SKTT thì người có nhân cách vững bị nhẹ hơn
Trang 16và hồi phục nhanh hơn.Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tốthuận lợi cho rối nhiễu tâm trí phát sinh, khi mắc thì sẽ hồi phục khókhăn và chậm.
1.4.2 Yếu tố nhà trường
Giáo dục nhà trường cũng có thể gây nên những tổn thương tâm
trí cho trẻ em Đó là cách giáo dục áp đặt làm cho trẻ em thiếu tự tin.Nội dung chương trình quá tải, áp lực thi cử nặng nề làm cho trẻ em lúcnào cũng căng thẳng, lo sợ, dẫn đến những rối loạn về cả thế xác lẫn tâmtrí Ván đề học thêm với chính thầy cô ở trường, trẻ phải học ngày họcđêm nên không có thời gian nghỉ ngơi, giải trí, luyện tập thân thể Điềunày dẫn đến những hành vi bất thường, tác hại lâu dài đến tư duy sángtạo học hỏi của trẻ
1.4.3 Yếu tố gia đình
Gia đình là nền tảng của xã hôi, gia đình hạnh phúc, con cáitrưởng thành, sẽ đóng góp một phần cho sự phát triển một xã hội tốtđẹp, một đất nước văn minh và giàu mạnh Tuy nhiên bên cạnh nhữngmặt tích cực là sự tốt đẹp của mỗi gia đình, sự hạnh phúc của cha mẹ, sựtrưởng thành của con cái, thì vẫn có những vấn đề mà mỗi chúng ta đềuphải nhìn nhận một cách xác đáng
Trẻ VTN sống trong gia đình có những hoàn cảnh không maynhư gia đình ly tán, cha mẹ thường xuyên xung đột, có người uốngrượu, thường xuyên dùng bạo lúc, trẻ bị bạo hành, đối sử bất công, bịxúc phạm, giáo dục lệch lạc dễ bị ảnh hưởng đến hành vi, ứng xử Những gia đình có bố mẹ quá bận rộn với công việc không có thời gianchăm sóc gần gũi con cái sẽ khiến cho trẻ bị lôi cuốn bởi những tácđộng xấu từ xã hội, từ phim ảnh, internet [11]
Trang 17Những áp đặt của bố mẹ, thiếu tin tưởng, thiếu công bằng cũng dẫnđến hiện tượng rối nhiễu tâm lý ở TVTN hiện nay
Trong giai đoạn hiện nay, dưới sức ép của một nền kinh tế pháttriển nhanh, tiếp nhận một lượng thông tin quá lớn trong thời đại bùng
nổ tin học, có nhiều tác nhân gây stress ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ emnhư: nhiều gia đình có nguyện vọng cho con em học thêm nhiều để nângcao tri thức, khối lượng học ở trường nhiều, học thêm nhiều, vì vậy thờigian vui chơi giải trí và vận động tích cực buộc phải thu hẹp lại Cha mẹbận rộn nhiều, ít có thời gian quan tâm, chăm sóc con cái
Xã hội hiện đại đang tạo ra những con người năng động trongnhiều lĩnh vực Sự đòi hỏi khắt khe của xã hội cùng với những kỳ vọngcủa cha mẹ vào con cái đều có thể là nguyên nhân gây áp lực tâm lý chocác em khi mà năng lực của các em không đáp ứng được [12]
1.4.4 Quan hệ thầy trò, bạn bè
Mối quan hệ bạn bè, thầy cô cũng là vấn đề rất quan trọng trongnhững ứng xử của trẻ Trong trường học thường hình thành những nhómtrẻ chơi với nhau do hợp tính cách nhung cũng có những nhóm trẻ connhà giàu có điều kiện thì chơi với nhau, đua nhau những vật dụng cácnhân, ăn mặc, tiêu xài… Sự phân nhóm này dẫn đến tình trạng phân biệtgiàu nghèo khiến các bạn con nhà nghèo thường mặc cảm tự ti, khôngdám tiếp xúc hoặc có xu hướng đua đòi dẫn đến những hành vi xấu, lệchlạc Mối quan hệ giữa học sinh và thầy cô có sự cách biệt, thầy giảng,trò nghe, chép không có sự khuyến khích sáng tạo, trao đổi thảo luận đểtrẻ có thể bộc lộ các cảm xúc của mình, điều này dẫn đến tình trạng họcsinh chây ì, không phát huy được khả năng mà luôn thụ động dựa vàobài giảng của giáo viên [13]
1.5 Tình hình sức khỏe tâm trí
Trang 181.5.1 Tình hình SKTT trên thế giới
Trên thế giới, có tới 7% đến 10% trẻ em và thanh thiếu niên mắcphải các rối loạn tâm trí cần điều trị Tỉ lệ này cao hơn ở các vùng đô thịđông dân có nhiều yếu tố xã hội không thuận lợi, đặc biệt ở tuổi dậy thì.Những trạng thái tâm lý bệnh học trẻ em thường gặp là:
- Hành vi gây rối và chống đối xã hội (những rối loạn bên ngoài) có
tỷ lệ mắc là 3-5%
- Rối loạn cảm xúc (những rối loạn bên trong) có tỷ lệ gặp là 2-5%
- Những trở ngại tâm lý và rối loạn dạng cơ thể chiếm 1-3%
- Hiếm gặp hơn là các rối loạn tâm trí trẻ em và rối loạn sự phát triển
nói chung (bệnh tự kỷ) gặp 0,1% [14]
Việc chăm sóc sức khỏe tâm trí cho trẻ em và trẻ vị thành niên làmột trong ba chương trình lớn của chăm sóc sức khỏe bao gồm phòngchống tai nạn, chống nhiễm khuẩn và chăm sóc sức khỏe tâm trí Cáctổn thương tâm trí luôn là một trong những gánh nặng bệnh tật cho xãhội, nó chiếm tỷ lệ khoảng 12% trên tổng số bệnh [1]
Những rối loạn hành vi gây rối và chống đối xã hội thường gặp ởtrẻ trai nhiều gấp 2 đến 3 lần trẻ gái Tỉ lệ giữa nam và nữ tương đồnghơn với các rối loạn cảm xúc, trẻ gái lại hay gặp trầm cảm và chứngbiếng ăn nhiều hơn so với trẻ trai Những rối loạn cảm xúc (lo âu, trầmcảm) làm giảm sút đáng kể sự phát triển và khả năng học của trẻ Cácrối loạn hành vi gây phá vỡ nghiêm trọng sự phát triển về mặt xã hội và
có thể dẫn tới mắc các chứng bệnh tinh thần về lâu dài
Các báo cáo nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề sức khỏe tâmtrí có xu hướng gia tăng Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, trên25% dân số thế giới bị rối loạn tâm trí và hành vi tại một thời điểm nào
đó trong cuộc đời[1] Năm 1996, nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật của
Trang 19thế giới của Đại học Harvard, WHO và Ngân hàng thế giới cho biếtgánh nặng toàn cầu của các rối loạn tâm trí chiếm 10,5% gánh nặngbệnh tật, tuy nhiên vẫn được cho là thấp hơn so với thực tế Cũng trongnghiên cứu này, ước tính gánh nặng bệnh tật do bệnh tâm trí và thầnkinh sẽ tăng lên với tốc độ cao hơn so với bệnh tim mạch và chiếmkhoảng 15% vào năm 2020 (WHO 1998).
Các số liệu nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ vị thành niên cóbiểu hiện rối loạn tâm trí tại một số nước phát triển như Úc, Mỹ, Đức,Thụy Sỹ, Tây Ban Nha đều trên 20% Ở Trung Quốc, các nhà nghiêncứu thấy rằng áp lực từ các kỳ thi chuyển cấp và gánh nặng học tập cóliên quan đến tình trạng sức khỏe tâm trí kém ở các học sinh TrungQuốc [16], không những thế, áp lực học tập cao cũng có thể dẫn đến bạolực và các vấn đề phát triển [17]
Ở các nước phát triển, mặc dù có hệ thống cơ sở hỗ trợ tâm lý vàchăm sóc sức khoẻ thể chất và tâm trí lâu đời và phong phú, nhưng hầuhết các trẻ em có nhu cầu hỗ trợ SKTT đều không được đáp ứng thoảđáng [5] Trong số những trẻ được đáp ứng thì phần lớn là thông qua hệthống trường học Lý do là: 1/3 thời gian trong ngày của trẻ diễn ra ởnhà trường Nhà trường vốn từ trước đến nay luôn thực hiện vai trò nuôidưỡng, giáo dục trẻ, tức là đảm bảo cho trẻ một sự phát triển toàn diện
và hoàn thiện nhân cách Do vậy, nhà trường luôn sẵn sàng tổ chức cáchoạt động trợ giúp, hỗ trợ các em khi gặp những khó khăn Trên thực tế,trẻ cũng có thể đến các phòng khám, trung tâm tư vấn để nhận được sự
hỗ trợ này nhưng thông thường khi đó, những khó khăn đã trở nên trầmtrọng hơn, có thể đã trở thành bệnh lý và nhiều người rất ngại đến cácphòng khám chăm sóc SKTT vì sợ bị định kiến, kì thị Ngoài ra, lợi thếtrường học là khi thực hiện các hoạt động này cũng dễ dàng tiếp cận đến
số đông Chính vì thế, ở nhiều nước, chính sách tăng cường cung cấp
Trang 20các dịch vụ hỗ trợ SKTT đã quan tâm đến việc chuyển dịch và hướngcác hình thức chăm sóc, hỗ trợ truyền thống vào cơ cấu nhà trường.
1.5.2 Tình hình SKTT ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu về rốinhiễu tâm trí ở tuổi vị thành niên Kết quả cho thấy tình trạng đã ở mứcđáng lo ngại Các rối loạn tâm trí thường được biểu hiện dưới dạng:trầm cảm, lo âu, hoảng loạn, rối loạn hành vi… Trong một thời điểmnào đấy, các em không đánh giá được hậu quả thực sự hành vi của mình.Những điều này không mới với các bậc cha mẹ và thầy cô giáo, có điềungười lớn chưa chú ý đến những biểu hiện nguy cơ ở mức độ cần thiết.Khi tai họa xảy ra thì đã muộn dù có cố gắng đi tìm nguyên nhân, tìmngười chịu trách nhiệm…
Mặc dù kết quả không hoàn toàn nhất quán, nhưng các nghiên cứucho thấy một xu hướng rõ ràng rằng tỉ lệ trẻ em Việt Nam gặp các vấn
đề sức khỏe tâm trí là đáng kể Có thể kể đến các nghiên cứu về các vấn
đề sức khỏe của học sinh, điển hình như nghiên cứu của bệnh viện tâmthần Mai Hương năm 2005 cho thấy tỉ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâmtrí của học sinh trong các quận nội thành là 19,46 % [18] Hoàng Cẩm
Tú và Đặng Hoàng Minh nghiên cứu trên học sinh ở 2 trường THPTNguyễn Trãi (Hà Nội) và Vân Tảo (Hà Tây) cho thấy trẻ mắc các vấn đề
về sức khỏe tâm trí chiếm 22.55% [15] Nghiên cứu của Trung tâmnghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng tiến hành tại 6 tỉnh trên cảnước cho thấy tỉ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm trí là 19,6%
Tuy nhiên sau đó, một nghiên cứu khác của Ananda và Trần Tuấn(2007) trên hai tỉnh miền Trung lại cho kết quả tỷ lệ trẻ mắc các vấn đềsức khỏe tâm trí là 9% [19] Nghiên cứu của Amstadter [19] đánh giámức độ các rối loạn tâm trí ở thanh thiếu niên Việt Nam, kết quả nghiêncứu cho thấy có 9,1% thanh thiếu niên cho là có mắc phải các vấn đề về
Trang 21tâm trí Những nghiên cứu này cho thấy sự quan tâm chú ý của nhữngnhà chuyên môn đến các vấn đề sức khỏe tâm trí của trẻ em Mckelvey
và cộng sự nghiên cứu tỷ lệ của các vấn đề hành vi, cảm xúc và cácđiểm mạnh của trẻ từ độ tuổi 4 đến 18 sống tại Hà Nội Kết quả nghiêncứu cho thấy nếu dựa trên điểm tiêu chuẩn của Mỹ, từ độ tuổi 4 đến 11
có 5,3% trẻ nam và 7,7% ở trẻ nữ, từ độ tuổi từ 12 đến 18 có 9,5% trẻnam và 10,1% trẻ nữ được coi là mắc các vấn đề sức khỏe tâm trí.[20]
Điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên lần thứ hai (SAVY 2)cho biết, trong số 10039 thanh thiếu niên trả lời, có 73,1% người từng
có cảm giác buồn chán Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng cảm thấy hoàntoàn thất vọng về tương lai là 21,3% và có 4,1% đã từng nghĩ đếnchuyện tự tử Có 78,9% thanh thiếu niên thành thị (trong tổng số 2465người) đã từng cảm thấy buồn chán, cao hơn khoảng 7% so với tỷ lệ này
ở nông thôn Tỷ lệ thanh thiếu niên thành thị cảm thấy thất vọng vềtương lai là 23,5% Tỷ lệ này ở nông thôn là 20,6% Trong số 4925 nữthanh thiếu niên, có 77,9% người đã từng trải qua cảm giác buồn chán
Tỷ lệ này ở nam thanh thiếu niên là 68,4% Đặc biệt, có 5,9% nữ thanhthiếu niên đã từng nghĩ đến chuyện tự tử Tỷ lệ này cao gấp hơn 2 lần sovới nam thanh thiếu niên [21]
Trong một nghiên cứu của sở y tế Hà Nội - Bệnh viện tâm thần MaiHương và trường đại học Melbourne của Úc được tiến hành gần đâytrong khuôn khổ dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trườnghọc tại Hà Nội” cho thấy có 15,94% em có rối nhiễu về tâm trí trongtổng số học sinh các cấp Lạm dụng chất gây nghiện đang tăng nhanhtrong thanh thiếu niên Trong số các ca tự sát có tới 10% các em ở độtuổi từ 10 đến 16 Khảo sát ở 1202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở
độ tuổi từ 10 đấn 16 có tới 19,46% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâmtrí [18]
Trang 22Sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với tốc độ nhanh chóng đã làmnảy sinh nhiều tác động lớn và làm tổn thương SKTT trẻ em, dẫn đếncác rối loạn stress, trầm cảm, tự tử, hành vi chống đối (như bỏ nhà, trốnhọc, trộm cắp, hung dữ, tàn bạo, đánh nhau, phá vỡ các quy tắc xãhội…), nghiện hút, mại dâm… Các hiện tượng trên ngày một gia tăng,thậm chí đến mức báo động… và đã trở thành mối lo ngại chung chotừng gia đình, tổ chức, nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới Ở ViệtNam, với sự biến đổi của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hoá, mởrộng giao lưu văn hoá liên quốc gia, mỗi người dân nói chung và trẻ emnói riêng đòi hỏi phải theo kịp sự phát triển của xã hội Nảy sinh giatăng mâu thuẫn quan điểm giữa các thế hệ, mâu thuẫn giữa nhu cầu bảnthân và sự đáp ứng của xã hội, gia đình; cấu trúc gia đình bị phá vỡ,chuẩn mực xã hội thay đổi… Đây là những stress tâm lý xã hội tác độngkhông nhỏ đến tâm lý và gây tổn thương SKTT của trẻ em vị thành niên.
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1Địa điểm và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 2 khu vực: thành thị, nông thôn miền Bắcnước ta Trong đó có hai quận huyện đại diện 2 khu vực
- Đại diện thành thị: trường THPT dân lập Đống Đa, Quận Đống
Đa
- Đại diện nông thôn: trường THPT dân lập Lương Thế Vinh, Huyện
Ba Vì
Trang 23Tiêu chuẩn chọn trường tham gia nghiên cứu
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Đại diện cho tỉnh, thành phố lựa chọn
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh 2 trường ngoài công lập (dân lập và TT GDTX) của 2
quận huyện:
- Giáo viên chủ nhiệm các lớp được chọn nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn học sinh, giáo viên tham gia nghiên cứu
- Học sinh các trường THPT ngoài công lập được lựa chọn vào
nghiên cứu
- Thầy cô giáo chủ nhiệm lớp của các trường được chọn tham gia
nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những học sinh đã được xác định có mắc bệnh thần kinh hoặc
thiểu năng trí tuệ
- Những học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Những học sinh vắng mặt trong thời gian nghiên cứu
- Những giáo viên vắng mặt trong thời gian nghiên cứu
2.2Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu và việc chọn mẫu
Trang 242.2.2.1 Cỡ mẫu: Cỡ mẫu cho nghiên cứu điều tra học sinh từng khối
được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu tỷ lệ trongquần thể
Đơn vị chọn mẫu là học sinh:
Số học sinh được chọn cho một tỉnh là:
p(1-p)n= Z2
(1-/2) -
(p)2Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
α: Mức ý nghĩa thống kê
Z1-/2 : Giá trị Z được tra từ bảng ứng với giá trị α được chọn
p: Tỷ lệ mắc các vấn đề về SKTT của học sinh ở một nghiên cứu trước.ℇ: Mức sai lệch tương đối mong muốn
Chọn ℇ = 0.25 và = 0,05; Z 1-/2 = 1,96; p = 0.1 (tỷ lệ học sinh có vấn đề sức khỏe ước tính từ nghiên cứu của Trần Tuấn và cộng sự) [18].
Từ đó tính được n = 553 Số học sinh cần điều tra là: 553 x 1.5 (hệ số
chọn mẫu) 829 học sinh.≌ 829 học sinh
2.2.2.2 Cách chọn mẫu:
Bước 1: Tại Hà Nội chọn đại diện 01 quận đại diện cho thành thị, chọn
01 huyện đại diện cho nông thôn
Trang 25Bước 2: Tại một quận, huyện chọn một trường trung học dân lập (báncốn, TT GDTX)
Bước 3: Tại mỗi trường: có 3 khối: mỗi khối (khối 10, 11, 12) chọn 3lớp, mỗi lớp lấy tất cả học sinh của lớp đó Ước tính có 829 học sinhGiáo viên: Tất cả giáo viên chủ nhiệm của các lớp được chọn vàonghiên cứu, tổng cộng có 18 giáo viên
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
2.2.3.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn theo bộ câu hỏi bán cấu trúc
có sẵn và bộ câu hỏi SDQ đã được dịch ra tiếng Việt và đã được kiểmđịnh
- Phỏng vấn học sinh theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn về các đặcđiểm cá nhân, môi trường gia đình và môi trường trường học
- Sử dụng bộ câu hỏi tự điền SDQ cho giáo viên để đánh giá về cácvấn đề sức khỏe tâm trí của từng học sinh trong lớp do giáo viên phụtrách
2.2.3.2 Công cụ thu thập thông tin
Phỏng vấn học sinh theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn về các đặc điểm cánhân, điều kiện văn hóa kinh tế gia đình và môi trường học tập nhàtrường (phụ lục 1)
- Bộ câu hỏi SDQ sử dụng cho giáo viên để đánh giá học sinh tronglớp mình (phụ lục 2): gồm 25 mục do viện nghiên cứu Sức Khoẻ TâmTrí, Vương Quốc Anh đưa ra và đã được sử dụng rộng rãi trên 40 nướctrên thế giới và đã được dịch ra 60 thứ tiếng trên thế giới Bộ câu hỏi
Trang 26bao gồm các thước đo để đo lường tình trạng sức khỏe tâm trí của trẻ về
5 khía cạnh:
Biểu hiện cảm xúc: buồn rầu, thất vọng, cáu gắt, tức giận, suy
nhược, sợ hãi, lo lắng, mất quan tâm thích thú, ngại giao tiếp bạn bè
(Câu 3; 8;13;16;24)
Hành vi: mất tự chủ, mất trật tự, vi phạm nội quy, bỏ học, gây hấn
(Câu 5; 7; 13; 18; 22)
Sự hiếu động của trẻ: căng thẳng, bồn chồn, luôn ngọ ngoạy, hấp
tấp, không thể tập trung chú ý để làm một việc gì đến nơi đến chốn
(Câu 2; 10; 15; 21; 25)
Quan hệ đồng đẳng: cách biệt, thích một mình, ít quan hệ, thiếu
hòa hợp, không được các bạn yêu mến.(Câu 6; 11; 14; 19; 23)
Quan hệ xã hội: không thân ái thân thiện, không tình nguyện,
không chia sẻ, không giúp đỡ mọi người, bàn quan vô cảm với xung
quuanh (Câu 1; 4; 9; 17; 20)
Tiêu chí đánh giá: Đánh giá kết quả theo thang điểm SDQ có 3 cách
lựa chọn: Không đúng = 0 điểm; Đúng một phần = 1 điểm; Chắc chắn
đúng = 2 điểm Các câu đúng một phần đều được cho 1 điểm, riêng
câu 7, 11, 14, 21, 25 trên thang SDQ sẽ thay đổi: không đúng = 2
điểm, chắc chắn đúng = 0 điểm Đánh giá sức khỏe tâm trí: tính tổng
điểm 20 câu, không tính điểm giao tiếp xã hội Tổng điểm được chia
làm 3 mức:
Bình thường: không gặp khó khăn về SKTT
Nghi ngờ: nghi ngờ, chưa chắc chắn
Có vấn đề SKTT: có khó khăn về SKTT
2.2.3.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu Biến số Chỉ số Định nghĩa/Phân loại Kỹ thuật,
Trang 27Công cụ:phiếu hỏi
tự điềnđược thiết
kế sẵn chođối tượng
tự trả lời
Dân tộc Tỷ lệ học sinh theo
dân tộc
Kinh/khácBiến nhị phân
Học lực Tỷ lệ học sinh theo
mức học lực
Học lực năm họctrước
Biến thứ hạng
Hạnh kiểm Tỷ lệ học sinh theo
mức hạnh kiểm
Hạnh kiểm năm họctrước
Biến thứ hạng
Lớp Tỷ lệ học sinh theo
lớp
Lớp 10, lớp 11, lớp12
thường/ranhgiới/nghi ngờ cóvấn đề SKTT
Được đánh giá bằng
bộ câu hỏi SDQ,gồm 25 câu, dựa trênkết quả tính theothang điểm SDQ đưa
ra tình trạng SKTTchung là bình
Kĩ thuật:phỏng vấngián tiếpCông cụ:
bộ câu hỏi
Trang 28dề SKTTBiến thứ hạng
sự hiếu động, quan
hệ đồng đẳng, quan
hệ xã hội
SKTT được đánh giátheo thang SDQ có 5vấn đề: cảm xúc,hành vi,sự hiếuđộng, quan hệ đồngđẳng, quan hệ xã hộiBiến danh mục
Nghề mà cha,mẹ đốitượng nghiên cứuđang làm
Biến danh mục
Kĩ thuật:phỏng vấngián tiếp
Công cụ:phiếu hỏi
tự điềnđược thiết
kế sẵn chođối tượng
Biến nhị phân
Gia đình có
người say
Tỷ lệ học sinh cóngười trong gia
Biến nhị phân
Trang 29bia/rượu đình say bia/rượu
Cha, mẹ
đánh/cãi
nhau
Tỷ lệ học sinh cócha,mẹ đánh/cãinhau
Biến thứ hạng
Thích đi
học
Tỷ lệ học sinhthích đi học
Biến nhị phân
Bị bạn bè
bắt nạt
Tỷ lệ học sinh bịbạn bè bắt nạt
Biến thứ hạng
Bị thầy cô
mắng
Tỷ lệ học sinh bịthầy cô mắng
Biến nhị phân
Học them Tỷ lệ học sinh có Biến nhị phân
Trang 30đi học thêm
Sử dụngmáy tính
Tỷ lệ học sinh có
sử dụng máy tính
Biến thứ hạng
Chơi thểthao
Tỷ lệ học sinh chơithể thao
Biến nhị phân
Bảng 2.1: Thang điểm đánh giá SKTT học sinh do giáo viên điền trên
bộ câu hỏi SDQ
Bình thường Nghi ngờ Có vấn đề SKTT
SKTT chung 0 – 11 điểm 12 – 15 điểm 16 – 40 điểm
Vấn đề cảm xúc 0 – 4 điểm 5 điểm 6 – 10 điểm
Quan hệ xã hội 6 – 10 điểm 5 điểm 0 – 4 diểm