Bạo lực học đường (BLHĐ) là một hiện tượng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng ở nhiều nước trong một vài thập kỉ gần đây, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế đang phát triển thì hiện tượng này càng rõ nét hơn 1. Trong những năm gần đây, Việt Nam phát triển mạnh mẽ và toàn diện về kinh tế – xã hội, phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Cùng với thành tựu kể trên thì giáo dục Việt Nam vẫn tồn tại những bất cập, yếu kém mà một trong đó thì BLHĐ đang trở thành mối lo ngại 2.BLHĐ là mối bận tâm không chỉ của phụ huynh, của nhà trường riêng biệt mà là vấn nạn chung của ngành giáo dục. Bạo lực xảy ra ở trong khuôn viên nhà trường lẫn ngoài xã hội, giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh… 3. Bạo lực và BLHĐ ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu. Nó trở thành một trong những nguyên nhân chính gây đau khổ cho các nạn nhân. BLHĐ có thể xảy ra ở tất cả các bậc học, từ mầm non, học sinh tiểu học, học sinh trung học cơ sở, học sinh THPT và đối với cả sinh viên cao đẳng và đại học 4.BLHĐ là hình thức khá phổ biến ở lứa tuổi học sinh trong môi trường giáo dục. BLHĐ không những là bạo lực về thân thể mà còn là bạo lực về tinh thần, ngôn ngữ, thi hành có ý đồ giữa các đối tượng trong và ngoài trường học. Cho dù là những hành động thiếu tôn trọng hay giễu cợt đã làm cho người bị hại cảm thấy bất tiện cũng được xem là bạo lực học đường 5. Một nghiên cứu gần đây (năm 2013) của Viện Tâm lý học Việt Nam trên 1141 học sinh THPT về hành vi BLHĐ cho thấy, số học sinh bị bạo lực tinh thần là 725 em, (chiếm 63,7% số học sinh toàn mẫu nghiên cứu). Tỷ lệ học sinh bị các bạo lực khác ít hơn so với bạo lực tinh thần. Bạo lực tình dục có tỷ lệ thấp (122 em, chiếm 10,7% số học sinh tham gia nghiêm cứu) 6.Theo Ông Phùng Khắc Bình nguyên Vụ trưởng vụ Công tác học sinh – sinh viên, Bộ GD – ĐT Việt Nam cho biết: thống kê từ 38 Sở GD – ĐT từ 2003 đến 2009 có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham gia đánh nhau và bị xử lý kỉ luật. Cũng theo báo cáo của Bộ GDĐT, năm học 2009 – 2010 trên toàn quốc đã xảy ra khoảng 1598 vụ việc học sinh đánh trong trong và ngoài trường học, và trong số đó có 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chết người 7.Học sinh lứa tuổi THPT (16 – 18 tuổi), đang ở trong độ tuổi hoàn thiện về nhân cách, nên dễ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: gia đình, nhà trường và xã hội. Mặt khác đây là lứa tuổi dành nhiều thời gian học tập, sinh hoạt tại trường, nên vấn đề BLHĐ cần được quan tâm nhiều hơn cả. Trong bối cảnh văn hóa – xã hội có nhiều thay đổi hiện nay, các em có điều kiện thuận lợi để học tập, vui chơi nhưng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố dễ gây nên những hành vi sai lệch, phá vỡ những giá trị đạo đức và chuẩn mực xã hội 8. Ở Việt Nam, tuy đã có khá nhiều nghiên cứu về BLHĐ, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về bạo lực học sinh và xử trí khi xảy ra bạo lực trên học sinh, đặc biệt là trên học sinh THPT. Chính vì lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu : “Thực trạng bạo lực và cách xử trí với bạo lực của học sinh trường trung học phổ thông Hiệp Hòa số 2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, năm 2016”, với các mục tiêu sau:1.Mô tả thực trạng bạo lực của học sinh trường trung học phổ thông Hiệp Hòa số 2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, năm 2016. 2.Mô tả thực trạng xử trí với bạo lực của học sinh trường trung học phổ thông Hiệp Hòa số 2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, năm 2016.
Trang 1ĐẶNG QUANG TÂN
THùC TR¹NG B¹O LùC Vµ C¸CH Xö TRÝ VíI B¹O LùC CñA HäC SINH TR¦êNG TRUNG HäC PHæ TH¤NG
HIÖP HßA Sè 2, HUYÖN HIÖP HßA, TØNH B¾C GIANG N¡M 2016
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 – 2016
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Hạnh
HÀ NỘI – 2016 LỜI CẢM ƠN
Trang 2Và đặc biệt em cũng muốn gửi lời biết ơn tới tất cả các thầy cô của ViệnĐào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng đã cho em những giờ giảng hay,những bài học chuyên ngành ý nghĩa và đầy hấp dẫn
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Dân số vìnhững kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập vừa qua, cũng như sựgiúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình làm khóa luận tốt nghiệp của em
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ, bác sĩ Phòng công tác Chính trịhọc sinh sinh viên, Phòng Đào tạo Đại học đã tạo điều kiện tốt nhất giúp emhoàn thành khóa luận
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS TS Nguyễn ThịThúy Hạnh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong thời gian thực hiệnkhóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các cán bộ giảng dạy, học sinhtrường trung học phổ thông Hiệp Hòa số 2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
đã nhiệt tình hợp tác và tạo điều kiện để việc thu thập số liệu của tôi đượcnhanh chóng và thuận tiện
Cuối cùng, em xin gửi tấm lòng biết ơn tha thiết và sâu sắc nhất tới giađình thân yêu cùng những người bạn đồng khóa đã luôn luôn sát cánh, ủng hộ
Trang 3Kính gửi:
• Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
• Phòng đào tạo Đại học trường Đại học Y Hà Nội
• Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng trường Đại học Y Hà Nội
• Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Em là Đặng Quang Tân, sinh viên tổ 29 lớp Y6H trường Đại học Y HàNội Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tự bản thân
em thực hiện Các số liệu trong bản khóa luận này là hoàn toàn trung thực vàchưa từng được công bố tại công trình nghiên cứu khoa học khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Đặng Quang Tân
Trang 5PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạo lực học đường (BLHĐ) là một hiện tượng đang trở thành vấn đềnghiêm trọng ở nhiều nước trong một vài thập kỉ gần đây, đặc biệt là ở cácnước có nền kinh tế đang phát triển thì hiện tượng này càng rõ nét hơn [1].Trong những năm gần đây, Việt Nam phát triển mạnh mẽ và toàn diện về kinh
tế – xã hội, phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nướccông nghiệp theo hướng hiện đại Cùng với thành tựu kể trên thì giáo dục ViệtNam vẫn tồn tại những bất cập, yếu kém mà một trong đó thì BLHĐ đang trởthành mối lo ngại [2]
BLHĐ là mối bận tâm không chỉ của phụ huynh, của nhà trường riêngbiệt mà là vấn nạn chung của ngành giáo dục Bạo lực xảy ra ở trong khuônviên nhà trường lẫn ngoài xã hội, giữa học sinh với học sinh, giữa học sinhvới giáo viên, giữa giáo viên với học sinh… [3]
Bạo lực và BLHĐ ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu Nó trở thành mộttrong những nguyên nhân chính gây đau khổ cho các nạn nhân BLHĐ có thểxảy ra ở tất cả các bậc học, từ mầm non, học sinh tiểu học, học sinh trung học
cơ sở, học sinh THPT và đối với cả sinh viên cao đẳng và đại học [4]
BLHĐ là hình thức khá phổ biến ở lứa tuổi học sinh trong môi trườnggiáo dục BLHĐ không những là bạo lực về thân thể mà còn là bạo lực về tinhthần, ngôn ngữ, thi hành có ý đồ giữa các đối tượng trong và ngoài trườnghọc Cho dù là những hành động thiếu tôn trọng hay giễu cợt đã làm chongười bị hại cảm thấy bất tiện cũng được xem là bạo lực học đường [5]
Một nghiên cứu gần đây (năm 2013) của Viện Tâm lý học Việt Namtrên 1141 học sinh THPT về hành vi BLHĐ cho thấy, số học sinh bị bạo lựctinh thần là 725 em, (chiếm 63,7% số học sinh toàn mẫu nghiên cứu) Tỷ lệ
Trang 8học sinh bị các bạo lực khác ít hơn so với bạo lực tinh thần Bạo lực tình dục
có tỷ lệ thấp (122 em, chiếm 10,7% số học sinh tham gia nghiêm cứu) [6]
Theo Ông Phùng Khắc Bình nguyên Vụ trưởng vụ Công tác học sinh –sinh viên, Bộ GD – ĐT Việt Nam cho biết: thống kê từ 38 Sở GD – ĐT từ
2003 đến 2009 có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham gia đánh nhau và bị xử lý kỉluật Cũng theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, năm học 2009 – 2010 trên toànquốc đã xảy ra khoảng 1598 vụ việc học sinh đánh trong trong và ngoàitrường học, và trong số đó có 7 vụ việc học sinh đánh nhau dẫn đến chếtngười [7]
Học sinh lứa tuổi THPT (16 – 18 tuổi), đang ở trong độ tuổi hoàn thiện
về nhân cách, nên dễ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: gia đình, nhàtrường và xã hội Mặt khác đây là lứa tuổi dành nhiều thời gian học tập, sinhhoạt tại trường, nên vấn đề BLHĐ cần được quan tâm nhiều hơn cả Trong bốicảnh văn hóa – xã hội có nhiều thay đổi hiện nay, các em có điều kiện thuậnlợi để học tập, vui chơi nhưng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiềuyếu tố dễ gây nên những hành vi sai lệch, phá vỡ những giá trị đạo đức vàchuẩn mực xã hội [8] Ở Việt Nam, tuy đã có khá nhiều nghiên cứu về BLHĐ,nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về bạo lực học sinh và xử trí khi xảy ra bạolực trên học sinh, đặc biệt là trên học sinh THPT Chính vì lý do trên, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu : “Thực trạng bạo lực và cách xử trí với bạo lực của học sinh trường trung học phổ thông Hiệp Hòa số 2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, năm 2016”, với các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng bạo lực của học sinh trường trung học phổ thông
Hiệp Hòa số 2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, năm 2016
Trang 92. Mô tả thực trạng xử trí với bạo lực của học sinh trường trung học phổ
thông Hiệp Hòa số 2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, năm 2016.
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm, định nghĩa
1.1.1. Khái niệm bạo lực và bạo lực học đường
• Khái niệm bạo lực
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): bạo lực là việc đe dọa, dùng sứcmạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với mộtnhóm người hay một cộng đồng người làm gây ra hay làm tăng khả năng gâytổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển [9]
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức,trấn áp hoặc lật đổ” [10] Trên thực tế, bạo lực được coi như một phương thứchành xử trong các quan hệ xã hội nói chung Các mối quan hệ xã hội rất đadạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thànhnhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy vàbạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với học sinh, với trẻ em
Theo Trung tâm Kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Hoa Kì “bạo lực làviệc cố ý sử dụng vũ lực hoặc quyền lực nhằm chống lại người khác bằngnhững hành vi có khả năng gây thiệt hại về thể chất hoặc tâm lý” [11]
• Khái niệm bạo lực học đường (BLHĐ)
Có nhiều định nghĩa liên quan đến bạo lực và BLHĐ Tùy vào mụcđích của các nhà nghiên cứu cũng như đặc trưng văn hóa của mỗi nước màmỗi nghiên cứu có những định nghĩa riêng về BLHĐ
Trang 10BLHĐ bao gồm bạo lực giữa các học sinh trong phạm vi trường họccũng như những vụ tấn công bởi học sinh nhằm vào giáo viên của trường hayngược lại [12] Theo báo cáo “Hiểu biết về bạo lực học đường” năm 2015 củaTrung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật, BLHĐ được đinh nghĩa:BLHĐ là bạo lực giới trẻ xảy ra trong khuôn viên của trường, trên đường đếntrường hoặc trong sự kiện do trường tổ chức Một học sinh có thể là nạn nhân,thủ phạm hay một nhân chứng của BLHĐ [13].
Ở Mỹ, BLHĐ còn được gọi là bắt nạt học đường Định nghĩa bắt nạtđược đưa ra bởi StopBullying – một trang web của chính phủ Mỹ: bắt nạt làhành vi hung hăng không mong muốn xảy ra ở trẻ trong độ tuổi đến trường cóliên quan đến sự mất cân bằng trong nhận thức hoặc cảm xúc Trẻ bị bắt nạt
và trẻ bắt nạt đều có thể gặp những vấn đề nghiêm trọng lâu dài Bắt nạt baogồm những hành động như đe dọa, phát tán tin đồn, tấn công ai đó về thể chấthoặc lời nói, và loại trừ một ai đó từ một nhóm chủ đích [14]
1.1.2. Các hình thức BLHĐ
Nghiên cứu này đề cập đến 3 hình thức sau [15]
• Bạo lực thể chất: gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc, xéquần áo, trấn lột… của một hay một nhóm học sinh khác
• Bạo lực tinh thần (bằng lời nói): bao gồm các hành vi như gán/gọi biệtdanh (mang nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lờinói đe dọa, ép buộc… một hay một nhóm học sinh khác làm theo ý mình
• Bạo lực tình dục: có thể chia ra làm hai loại cơ bản: quấy rối tình dục vàlạm dụng tình dục
o Quấy rối tình dục: bất kì một lời nói hay hành động, cử chỉ có ý nghĩatình dục ngoài ý muốn, những câu nói xúc phạm cố ý, hay bất kì nhữngnhận xét về tình dục xúc phạm người khác
o Lạm dụng tình dục: hành động lợi dụng sự thiếu hiểu biết, kinhnghiệm, quyền lực của người khác để đạt được mục đích tình dục củamình: ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn, cưỡng hiếp, đánh ghen…
Trang 111.2. Tình hình bạo lực học đường
1.2.1. Tình hình BLHĐ trên thế giới
Trên toàn thế giới ước tính có khoảng 200000 vụ giết người xảy ra ởthanh niên từ 10 – 29 tuổi mỗi năm và là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 4cho những người ở nhóm tuổi này Trên toàn cầu, có khoảng 83% nạn nhân
vụ giết người ở thanh niên là nam giới, và trong tất cả các nước thủ phạm lànam giới cũng chiếm đa số Trong những năm 2000 – 2012 thì tỷ lệ giết người
ở thanh niên ở hầu hết các quốc gia, ở các nước có thu nhập cao việc giảm lớnhơn so với các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình [16]
Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1994, bạo lực dẫn đến tử vong tăngnhanh ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở độ tuổi từ 10 – 24 tuổi Nghiêncứu của WHO đã chỉ ra một số đặc trưng sau: hiện tượng này xảy ra ở độ tuổi
15 – 19 và 20 – 24 tuổi nhiều hơn là độ tuổi từ 10 – 14 tuổi, xảy ra ở namnhiều hơn ở nữ Ví dụ về nguyên nhân do những thay đổi về tình hình kinh tế
xã hội: khi tỷ lệ tử vong do bạo lực ở giới trẻ ở các nước Đông Âu và LiênBang Xô Viết đặc biệt tăng nhanh sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản giaiđoạn cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990 thì tỷ lệ này ở các nướcTây Âu nhìn chung vẫn thấp và ổn định Ở Nga, trong giai đoạn 1985 – 1994,
tỷ lệ này ở độ tuổi 10 – 24 tuổi tăng hơn 150%, tỷ lệ này là từ 7/100.000 dânlên đến 18/100.000 dân [17]
Bên cạnh những hậu quả dẫn đến chết người, bạo lực ở giới trẻ cũngxảy ra ở những hành vi như bắt nạt, tát, hoặc sử dụng vũ lực dẫn đến bịthương Ở trường hợp này, bạo lực xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới Mộtnghiên cứu ở Eldoret, Kenya cho thấy tỷ lệ nạn nhân là nam giới so với nữgiới là 2,6:1 Một nghiên cứu khác ở Jamaica thì tỷ lệ đó là 3:1 Tỷ lệ bạo lựcgây chấn thương có xu hướng tăng nhanh ở độ tuổi từ thanh thiếu niên đếnthanh niên Một cuộc điều tra ở Johannesburg, Nam Phi cho thấy 3,5% nạn
Trang 12nhân của bạo lực ở độ tuổi 13 hoặc ít hơn trong khi ở độ tuổi 14 – 21 tuổi là21,9% và ở độ tuổi từ 22 – 35 là 52,3% Tỷ lệ này cũng tương tự ở Brazil,Chile, Colombia [17].
Một nghiên cứu cho thấy, trong năm học 1010 – 2011, có 11 vụ giếtngười của độ tuổi đi học trong khoảng lứa tuổi từ 5 – 18 tuổi Trong tất cả vụgiết người ở độ tuổi thanh thiếu niên, số vụ xảy ra ở trường học ít hơn 1% và
tỷ lệ này cũng khá ổn định trong vòng 1 thập kỉ qua [13] Năm 2012, cókhoảng 749.200 vụ bạo lực không gây tử vong diễn ra ở trường học giữa cáchọc sinh từ 12 – 18 tuổi Khoảng 9% giáo viên cho biết họ đã từng bị đe dọatấn công bởi học sinh trong trường [18] Năm 2013, một nghiên cứu đượcthực hiện tại Mỹ do Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh thực hiệntrên học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 cho thấy: 7,1% học sinh đã không đi họctrên một hoặc nhiều ngày trong vòng 30 ngày trước khi làm khảo sát bởi vìhọc sinh cảm thấy không an toàn ở trường hoặc trên đường đến trường hay từtrường về nhà Có 5,2% học sinh báo cáo mang vũ khí (súng, dao, ) trongmột hoặc nhiều ngày trong vòng 30 ngày trước khi khảo sát 9% báo cáo là bị
đe dọa hoặc bị thương do vũ khí khi đến trường trong một hoặc nhiều lầntrong 12 tháng trước điều tra [19]
Ở Châu Á, BLHĐ cũng đang trở thành một vấn đề rất phổ biến củangành giáo dục nói riêng và của toàn xã hội nói chung Tổ chức phát triểncộng đồng tập trung vào trẻ em và trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nữvừa công bố báo cáo về khảo sát tình trạng BLHĐ trong các trường học ởChâu Á Báo các dựa trên kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tế với 9.000học sinh ở lứa tuổi 12 – 17, các giáo viên, hiệu trưởng, phụ huynh… tại 5nước: Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal
Theo báo cáo thì tình trạng bạo lực trong các trường ở Châu Á đang ởmức báo động Trung bình cứ khoảng 10 học sinh thì có 7 học sinh từng trải
Trang 13nghiệm BLHĐ Trong đó Indonesia có số học sinh chịu nạn bạo lực lớn nhất(84%), thấp nhất là Pakistan (43%) Chỉ tính trong 6 tháng (10/2013 –3/2014), số học sinh bị bạo lực tại các trường ở Indonesia là 75%, Việt Namđứng thứ 2 với tỷ lệ 71% [20] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những học sinh
đã tận mắt thấy bạo lực của cha mẹ ở nhà và có quan điểm về giới thấp,thương có nhiều khả năng gây ra bạo lực ở trường hơn Mạng xã hội cũng làmột trong những nguyên nhân gia tăng BLHĐ Nhiều học sinh kể rằng, từnhững tin đồn, cãi vã, đăng ảnh bôi nhọ và bình phẩm ác ý trên facebook đãkhiến các em đánh nhau ở trường Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực tinhthần chiếm tỷ lệ cao cả ở 5 nước, bạo lực thể chất là hình thức phổ biến thứ 2,nhìn chung tỷ lệ xâm hại và quấy rối tình dục là thấp ở một số nước [20]
1.2.2. Tình hình BLHĐ ở Việt Nam
Nghiên cứu “Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại trường Trunghọc cơ sở Lê Lai – Quận 8 – Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009” do Lê ThịHồng Thắm, Tô Gia Kiên thực hiện cho thấy các em có hành vi bạo lực luônmuốn chứng tỏ mình Ba mẹ của các em thường la mắng, đánh đập các emmỗi khi các em sai phạm và có thái độ xúi giục các em thực hiện hành vi bạolực khi bị người khác xúc phạm Nhà trường chưa tổ chúc được chương trìnhphòng chống BLHĐ và không đồng nhất trong cách xử lý các hành vi saiphạm của các em, đôi khi còn dùng hành vi bạo lực đối với các em Khi gặpthầy cô, đôi khi các em không chào vì một số nguyên nhân nào đó [21]
Nguyễn Thị Hoa với nghiên cứu “Hành vi có vấn đề của trẻ vị thànhniên: những ảnh hưởng của bố mẹ” cho thấy: nhân cách và mối quan hệ của
bố mẹ có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi có vấn đề của trẻ vị thành niên Tácgiả cũng chỉ ra rằng cách ứng xử của bố mẹ với con cái trong xã hội hiện naychủ yếu theo hai xu hướng: bố mẹ thiếu quan tâm, chăm sóc con cái hoặc quánuông chiều con cái Trong những nguyên nhân dẫn đến hành có vấn đề của
Trang 14trẻ ở lứa tuổi này thì bố mẹ phải chịu một phần trách nhiệm, cần phải có sựquan tâm và giáo dục đúng mực từ phía cha mẹ của các em [22].
Trong một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của nhóm bạn bè tới hành vilệch chuẩn của học sinh, tác giả đã liệt kê những hành vi lệch chuẩn của họcsinh và chỉ ra những nguyên nhân gây ra những hành vi đó Đã kết luận rằng:hiện tượng bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo là một trong những nguyên nhân khá chủyếu khiến học sinh có những hành vi lệch lạc [23]
Theo báo cáo từ “Hội thảo giải pháp phòng ngừa từ xa và ngăn chặntình trạng đánh nhau” do Bộ GD – ĐT tổ chức, trong năm học 2009 – 2010,trên toàn quốc đã xảy ra khoảng 1598 vụ việc học sinh đánh nhau Các trường
đã cảnh cáo 1558 học sinh, buộc thôi học 735 học sinh và đã có 7 vụ việc họcsinh đánh nhau dẫn đến chết người Tính bình quân, cứ 11.111 học sinh thì có
1 em bị kỷ luật buộc thôi học có thời hạn vì đánh nhau [24]
Một nghiên cứu gần đây (năm 2013) của Viện Tâm lý học Việt Nam,xét theo các hành vi bạo lực cụ thể đã xảy ra với học sinh, thì số học sinh bịgọi bằng biệt hiệu/bị lấy làm trò đùa/bị trêu chọc và số học sinh bị nói xấu saulưng/bị tung tin đồn sai chiếm tỷ lệ lớn nhất và đáng kể nhất (lần lượt tươngứng với tỷ lệ 71,3% và 47,7% số học sinh bị bạo lực; 48,8% và 32,7% số họcsinh trên toàn mẫu) Tỷ lệ các em học sinh bị hành vi bạo lực khá thấp, một sốhành vi như: bị ép hò hẹn/ép quan hệ tình dục và bị ép xem văn hóa phẩmkích thích tình dục chiếm tỷ lệ lần lượt chiếm 2,3% và 1,6% [6]
Xét theo hình thức gây bạo lực học đường thì học sinh gây bạo lực tinhthần chiếm tỷ lệ lớn nhất: có 48,0% số học sinh trên toàn mẫu nghiên cứu Tỷ
lệ học sinh thực hiện các hình thức bạo lực khác ít hơn nhiều lần so với tỷ lệhọc sinh gây hình thức bạo lực tinh thần Đặc biệt, bạo lực tình dục có tồn tạitrong học sinh, tuy nhiên tỷ lệ các em thực hiện các hành vi bạo lực này thấp
Trang 15(62 em chiếm 10,7% số học sinh gây bạo lực và 0,5% số học sinh tham gianghiên cứu) [6].
Cũng theo nghiên cứu được thực hiện bởi tổ chức phát triển cộng đồngtập trung vào trẻ em (Plan International) và Trung tâm nghiên cứu quốc tế vềphụ nữ từ năm 2013 đến năm 2014 Việt Nam cũng thuộc tốp có tỷ lệ cao ở cảnhóm bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác và bạo lực tình dục Tỷ lệ học sinhViệt Nam trải qua bạo lực ở bất cứ hình thức nào là 71% 66% học sinh ViệtNam được khảo sát từng trải qua bạo lực tinh thần, 31% học sinh từng hứngchịu bạo lực thể xác Tỷ lệ bạo lực tình dục ở nước ta là 11% [20]
Trong một nghiên cứu về thực trạng BLHĐ tại trường THPT Bãi Cháy– Hạ Long – Quảng Ninh cho thấy, có tới 91,8% học sinh trả lời là đã chứngkiến BLHĐ và có 75,3% học sinh trả lời rằng rất quan tâm lo lắng trước thựctrạng BLHĐ đang diễn ra Khi được hỏi về hành động của các em chứng kiếnhành vi bạo lực thì 75% các em trả lời chỉ đứng xem, không có hành động gì.Khi được phỏng vấn sâu thì các em cho biết do tâm lý sợ hãi bị trả thù hoặckhông muốn liên quan đến vụ việc đó Cũng theo điều tra thì có 14,6% các
em cho rằng khi đứng xem thì reo hò, cổ vũ nhưng những em này là cùngnhóm với những em có hành vi bạo lực không tham gia đánh thì đứng cổ vũcho bạn mình, còn lại thì 15,4% các em tham gia can ngăn và 24,6% các emthông báo cho ban quản lý trường như Ban giám hiệu, bảo vệ trường… và có10% các em là bỏ đi khi thấy hành vi bạo lực Bên cạnh đó, nghiên cứu cũngchỉ ra rằng, hiện tượng học sinh đánh nhau đang xuất hiện cả ở hai giới nam
và nữ Các em đánh nhau dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau, có thể làchửi bới xúc phạm nhân cách của bạn mình, các hành động chân tay như đấm,
đá, tát, dùng dao, phớ: con gái thì thường là xé quần áo, túm tóc, cắt tóc…một hình thức biểu hiện đáng quan tâm hiện nay đó là việc dùng điện thoạihoặc máy quay phim quay lại hành vi đánh nhau đưa lên mạng, những video
Trang 16đó được phát tán nhanh chóng trong cộng đồng, hình thức này gây tổn hạinặng về mặt tinh thần cho các bạn bị bạo lực [25].
Học sinh đánh nhau có thể ở nhiều địa điểm khác nhau, cũng theo khảosát ở trường THPT Bãi Cháy hành vi BLHĐ diễn ra chủ yếu ở ngoài cổngtrường, trong căng tin và nhà vệ sinh và ngay trong lớp học gây lo sợ cho cáchọc sinh khác Thực hiện hành vi bạo lực ngoài cổng trường nguyên nhân đưa
ra là 83,6% có thể nhờ người giúp đỡ; dễ chạy trốn 59,3%; ít bị thầy cô kiểmsoát 55,7%; một số em cho rằng nguyên nhân là thích thể hiện Địa điểm căngtin: 40% cho rằng ít bị thầy cô kiểm soát; 23,6% nhờ người giúp đỡ, dễ chạytrốn 9,3% Địa điểm nhà vệ sinh thì có tới 50% học sinh cho rằng ít bị thầy côkiểm soát; 12,1% nhờ người giúp đỡ; 9,7% dễ chạy trốn [25]
1.3. Xử trí khi bạo lực xảy ra ở học sinh
Lứa tuổi vị thành niên với thay đổi đặc điểm tâm lý, về vai trò, vị trí xãhội cộng với những áp lực học tập nên những vấn đề khó khăn căng thẳng các
em phải đối mặt không phải là ít Những vấn đề gây nên tình trạng căng thẳng
có thể làm nhẹ bớt hoặc ngăn chặn nếu các em sử dụng những cách ứng phó,
xử trí phù hợp Nhưng nếu vấn đề không được giải quyết, hoặc giải quyếttheo hướng tích cực Những khó khăn đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến bảnthân các em và cả những người xung quanh Một trong những khó khăn màhọc sinh ở độ tuổi này phải đối mặt là mâu thuẫn trong quan hệ ban bè.Những thiếu hụt kỹ năng ứng phó tích cực hay việc gia tăng của việc sử dụngcác kiểu ứng phó không có lợi trước những tình huống khó khăn là nguyênnhân dẫn đến vấn nạn BLHĐ Hậu quả của nó là thương tật vĩnh viễn về thểxác và tâm hồn, là những cái chết thương tâm, là nỗi ám ảnh kéo dài đến suốtcuộc đời của học sinh lầm lỡ và người thân của các em, là nguy cơ tiềm ẩn tệnạn xã hội gây tâm lý bất an cho cộng đồng và xã hội
Trang 17Thuộc một trong năm kỹ năng sống cơ bàn bao gồm: kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năngứng phó và xử trí với căng thẳng (theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)), kỹnăng ứng phó được hiểu là khả năng con người lựa chọn và áp dụng nhữngcách thức phù hợp, cả trong suy và hành động, để giải quyết các tình huốngkhó khăn Kỹ năng ứng phó bao gồm cả những phản ứng bên trong (suy nghĩ
và tình cảm) trước hoàn cảnh xảy ra những hành động bên ngoài nhằm đáp lạiyêu cầu của hoàn cảnh Nó nhấn mạnh đến hiệu quả của việc lực chọn nhữnghành vi ứng phó phù hợp, tích cực, có lợi cho sự phát triển của cá nhân Cóthể phân loại kỹ năng ứng phó thành 5 nhóm, căn cứ vào mức độ hiệu quả củacách ứng phó đối với cá nhân và đối với việc giải quyết tình huống, đó là: ứngphó tích cực, chủ động; tìm kiếm sự hỗ trợ; xoa dịu căng thẳng; lảng tránh vàkiểu ứng phó tiêu cực [26]
Trong một nghiên cứu về BLHĐ trên 9000 học sinh ở 5 nước Châu Á,trong đó có Việt Nam cho thấy, cứ 10 em thì có khoảng 7 em trải nghiệmBLHĐ Cũng trong nghiên cứu này, sau khi hứng chịu bạo lực ở trường học,các học sinh ở Việt Nam, Campuchia cho biết, các em cảm thấy buồn chán,tuyệt vọng, sợ hãi phải đến trường, từ đó làm hạn chế khả năng tập trung họctập Gần một nửa số học sinh của 5 nước tham gia nghiên cứu cho biết, đốitượng gây ra bạo lực là giáo viên, nhân viên nhà trường Bạo lực do bạn họcgây ra, dao động từ 33% (Việt Nam) tới 58% (Campuchia) Với những emtừng bị bạo lực thì các em cũng hiếm khi kể lại với người lớn việc bị bạo lực.Ngay cả khi học sinh kể lại trải nghiệm bạo lực, người có trách nhiệm ít khi
có những hành động can thiệp Theo báo cáo phân tích “việc thiếu niềm tinvào nhà trường và lo sợ bị khiển trách có thể đã ngăn cản học sinh báo cáo vềbạo lực Chính việc này đã tạo thành quyền hạn không cần bàn cãi của nhà
Trang 18trường, đẩy đến việc bình thường hóa các hành xử bạo lực giữa học sinh, tạonên sự im lặng của học sinh trước các hành vi bạo lực” [20].
Cũng theo nghiên cứu được thực hiện bởi tổ chức phát triển cộng đồngtập trung vào trẻ em (Plan International) và Trung tâm nghiên cứu quốc tế vềphụ nữ từ năm 2013 đến năm 2014, có 43% học sinh được khảo sát cho biết
đã không làm gì bị bạo lực [20]
Trong một khảo sát ý kiến về hành vi BLHĐ của học sinh một sốtrường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, với câu hỏi giả định: nếubản thân em bị BLHĐ, em sẽ có những phản ứng và hành động gì? Kết quảcho thấy, có 41,2% báo với thầy cô giáo, 38,8% cãi lại, 29,6% đánh lại, và27,9% im lặng, chỉ 3,4% nghỉ học vì sợ [27]
Trong một nghiên cứu đã cho thấy, những học sinh bị đánh, bị bạo lực
đã vô cùng hoảng sợ, các em không dám nói lên sự thật để nhờ nhà trường vàgia đình can thiệp Các em đã chịu đựng, liên tục bị đánh vì những lý do hếtsức đơn giản và vô lý Từ đó các em dễ bị trầm cảm, tâm lý sợ sệt mỗi khi đếnlớp, nơm nớp lo sợ bị đánh…ảnh hưởng đến kết quả học tập hoặc muốn xinnghỉ học Nghiêm trọng hơn, nhiều em sợ hãi và bế tắc dẫn đến nghĩ quẩn đã
tự tử [28]
1.4 Nguyên nhân, hậu quả, giải pháp phòng tránh BLHĐ
1.4.1 Nguyên nhân của BLHĐ ở Việt Nam trong những năm gần đây
• Nguyên nhân xuất phát từ cá nhân học sinh.
Cá nhân học sinh có thể nhận thức sai hoặc không đầy đủ về BLHĐ, do đódẫn đến các hành vi vi phạm Bên cạnh đó học sinh không chấp nhận các quichuẩn đạo đức của xã hội, quan điểm riêng khác với chuẩn mực chung [29]
• Nguyên nhân xuất phát từ phía gia đình học sinh.
Gia đình là một trong những yếu tố quan trọng việc hình thành nhâncách của mỗi cá nhân, là cái nôi nuôi dưỡng và cũng là nơi ảnh hưởng sâu sắc
Trang 19tới hành vi của con người Cha mẹ thiếu quan tâm chăm sóc con em đúngmực, thả lỏng các em với các trò chơi điện tử, ít quan tâm đến các mối quan
hệ bạn bè của con em mình Người lớn trong gia đình cư xử với nhau và vớicon em mình chưa đúng, chưa gương mẫu trong cuộc sống là một trongnhững yếu tố khiến tình trạng BLHĐ ngày càng gia tăng Cụ thể trong giađình mà bố mẹ thường xuyên có hành vi bạo lực thì con cái của họ sẽ có nguy
cơ cao gây ra bạo lực [29] Bên cạnh đó, những học sinh đã tận mắt thấy bạolực của cha mẹ ở nhà và có quan điểm về giới thấp, thương có nhiều khả nănggây ra bạo lực ở trường hơn [20]
• Nguyên nhân xuất phát từ phía nhà trường
Trong nhà trường, mâu thuẫn hàng ngày của các em không quá lớn, hầuhết là các xích mích nhỏ nhặt Tuy nhiên, các em đề cao cái tôi của mình lênchỉ cần một vài lời qua lại là cả hai bên xung đột Do những giá trị vật chấttrong cuộc sống đang được đề cao và góp phần được tôn vinh nên giới trẻđang dần dần bị lãng quên những giá trị văn hóa và tinh thần, trong đó có đạođức học đường
Trong khi đó, nhà trường vẫn chú trọng dạy chữ mà chưa chăm lo đầy
đủ cho việc dạy người, tư tưởng “học để thi, thi gì học nấy” vẫn còn rất nặng;hoạt động giáo dục toàn diện chưa được quan tâm đúng mức, việc giáo dục ýthức tuân thủ pháp luật cho hoc sinh chưa thực sự có hiệu quả Một bộ phậnthầy cô giáo không còn là “tấm gương sáng” cho học sinh noi theo, từ cáchnói năng, cư xử với nhau, với người khác và với học sinh Các tổ chức khácnhư Đoàn thanh niên, ban đại diện hội cha mẹ học sinh chưa thực sự quan tâmcông tác giáo dục đạo đức cho học sinh; các hoạt động ngoại khóa có nộidung giáo dục đạo đức, lối sống, kĩ năng sống còn mang tính hình thức, kémhiệu quả, hình thức xử lý học sinh có hành vi BLHD vẫn chưa được hiệu quả;thầy cô kể cả giáo viên chủ nhiệm hầu như ít quan tâm đến những khó khăn
Trang 20và diễn biến tư tưởng, tình cảm của học sinh Sự phối hợp giữa gia đình – nhàtrường – xã hội còn thiếu chặt chẽ [29].
• Nguyên nhân xuất phát từ cộng đồng xã hội, và phương tiện truyền thông
Mặt trái của cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hành vicủa học sinh Phim ảnh và truyền thông ảnh hưởng khá lớn đến tình trạng bạolực Các cảnh bạo lực trong phim với những hành động, đấm đá… dần dần đãtrở thành định hướng không tốt ở các em Các trò chơi game online hiện naycũng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tính cách bạo lực ở chính các em [29]
1.4.2 Hậu quả của BLHĐ
Các hành vi BLHĐ gây ra các hệ lụy không nhỏ đối với học sinh, giađình, nhà trường và xã hội Với học sinh có những hành vi bạo lực, nếu khôngphát hiện kịp thời và giáo dục đúng cách có thể trở thành mầm mống tội phạmtrong tương lai Đối với những học sinh là nạn nhân hay từng chứng kiến bạolực cũng có thể dẫn đến các triệu chứng tổn thương tâm lý, trầm cảm, cô đơn,học hành sa sút, cáu gắt, và có thể bùng phát dưới nhiều hình thức [13]
Đối với học sinh
• Đối với học sinh là nạn nhân:
o Thể chất: thường gây hậu quả về thể xác như vết bầm tím, trầy xước,tổn thương vùng da, gẫy xương, thậm chí không ít vụ bạo lực đã cướp
đi cả sinh mạng của học sinh
o Tinh thần: học sinh cảm thấy bị tổn thương, lo âu, chán nản, cô đơn,mệt mỏi Bên cạnh đấy thì các em rất dễ bị trầm cảm, sợ hãi, ám ảnh, tự
cô lập mình với thế giới bên ngoài gây khó khăn trong cuộc sống hàngngày đồng thời cũng sẽ ảnh hưởng nhiều đến lúc các em trưởng thành.Thậm trí nhiều em có phản ứng tự tử hoặc nổi loạn để trả thù [30]
• Đối với học sinh có hành vi bạo lực: khi lớn lên có thể mắc phải mắc phảicác hành vi tội ác hơn những đứa trẻ bình thường khác Những đứa trẻ này
Trang 21có nguy cơ lạm dụng rượu, bia, thuốc lá, chất ma túy và dính vào các tệnạn xã hội [30].
Ảnh hưởng đến gia đình
Những gia đình có con em là nạn nhân hay gây ra bạo lực thường phảichịu đựng những nỗi đau về mặt tinh thần, các bậc phụ huynh luôn trongtrạng thái lo lắng về sự an toàn, tương lai và cả tính mạng của con em mình.Gia đình dễ dẫn đến mâu thuẫn trong việc nuôi dạy con cái Cuộc sống giađình cũng bị ảnh hưởng, xáo trộn do phản ứng của dư luận và mọi người xungquanh Chưa kể đến những vụ bạo lực để lại hậu quả nghiêm trọng về mặt thểxác, gia đình phải mất thêm về tài chính để giải quyết hậu quả [30]
Ảnh hưởng đến nhà trường, xã hội
Bạo lực ở môi trường học đường ảnh hưởng đến danh tiếng của trường
và thành tích thi đua của lớp BLHĐ thể hiện sự suy đồi về mặt đạo đức và sựsai lệch về mặt hành vi đang báo động của một bộ phận trong xã hội hiện nay.Những vụ BLHĐ đã góp phần làm mất trật tự xã hôi, để lại gánh nặng cho xãhội, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai của đất nước cũng như sự phát triển củaquốc gia sau này [30]
1.5 Các yếu tố tác động đến hành vi BLHĐ ở học sinh
1.5.1 Đặc điểm cá nhân, gia đình, trường học, cộng đồng và hàng xóm
Các đặc điểm tiêu cực của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến hành vibạo lực của học sinh [31],[32] Tùy vào suy nghĩ và thái độ của học sinh vềbạo lực mà có thể ảnh hưởng đến cách hành xử của họ Nếu quan niệm củahọc sinh cho rằng bạo lực là điều bình thường, có thể chấp nhận được thì khảnăng học sinh đó sẽ sử dụng bạo lực để giải quyết vấn đề khi gặp phải
Những học sinh không thể kiềm chế được cơn giận dữ của mình khi bịngười khác có những hành vi tác động đến bản thân thường giải quyết vấn đềbằng cách sử dụng bạo lực Bên cạnh đó, những học sinh có tính khí nóng nảy
Trang 22thường rất dễ nổi cáu, rất dễ bị kích động, không kiềm chế được sự giận dữ vàthường chửi thề khi giận dữ Vì vậy khi gặp vấn đề thường tỏ ra hung hăng và
có nguy cơ sử dụng bạo lực để giải quyết [32]
Đối với phần lớn học sinh ở Việt Nam, thời gian học sinh ở trườngchiếm rất nhiều [33] Vì thế môi trường trong trường học là một yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến tâm lý của học sinh, từ đó ảnh hưởng đến cách hành xửcủa học sinh khi gặp phải vấn đề Khi học sinh thấy tự hào về trường học củamình, thầy cô, bạn bè đối xử tốt với nhau sẽ tạo ra một môi trường tốt hạn chếcác hành vi bạo lực có thể xảy ra [34]
1.5.2 Các yếu tố khác
Lứa tuổi vị thành niên thường có nguy cơ tổn thương tâm lý cao và việctiếp xúc với BLHĐ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và hành vi củatrẻ em [35] Học sinh là nạn nhân của bạo lực có nguy cơ sử dụng bạo lực đểđáp trả Hơn nữa, trở thành nạn nhân của bạo lực học sinh có thể bị tổnthương tâm lý dẫn đến trầm cảm, tự ti, cô đơn, có thể dễ bị kích động và cóthái độ hung hăng khi gặp phải vấn đề Ngoài ra, các mối quan hệ bạn bè củahọc sinh có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi bạo lực của học sinh Việc tiếp xúcvới những bạn bè có nguy cao, hay việc đi qua đêm với bạn bè, và mức độthân thiết với những bạn bè có nguy cơ cao có thể tác động tiêu cực đến hành
vi bạo lực của học sinh [31],[32]
Môi trường xã hội xung quanh rất quan trọng cho việc hình thành nhâncách của vị thành niên Việc chứng kiến bạo lực ngày càng nhiều tác động đếntrẻ em Nó có thể khiến học sinh nghĩ rằng bạo lực đã trở nên bình thường đốivới tất cả mọi người, và mọi người sử dụng bạo lực hàng ngày, do đó bạo lựccũng là một cách thông dụng để giải quyết vấn đề [36]
Các biến thuộc tính như giới tính, loại trường, trình độ giáo dục là cácbiến đặc trưng của cá nhân kỳ vọng có ảnh hưởng đến hành vi bạo lực của
Trang 23học sinh [32] Đồng thời một nghiên cứu của Anderson cũng đã chỉ ra rằnghọc sinh thường xuyên chơi trò chơi điện tử trực tuyến hoặc xem ti vi có yếu
tố bạo lực (game online) sẽ có hành vi bạo lực nhiều hơn bình thường [37], do
đó game online cũng tác động đến hành vi bạo lực của học sinh
1.6 Thang đo BLHĐ
• Thang đo của Chen: gồm hành vi đánh học sinh khác để làm họ bị tổnthương, bị đau Dùng các vật dụng nguy hiểm để làm hại học sinh khác
Cố ý làm hư hỏng, hư hại tài sản của nhà trường hoặc của học sinh khác
Đe dọa/dọa dẫm bằng lời nói đối với học sinh khác Cố ý quấy rầy/chọcghẹo/khiêu khích, chế nhạo, hoặc chơi các trò gian trá/lừa phỉnh có hại đếnthể chất đối với học sinh khác Chửi rủa hoặc sỉ nhục học sinh khác, cố ýquấy rầy, khiêu khích và chế nhạo học sinh khác [32]
• Bạo lực ở thanh niên, giới trẻ của WHO (1999) đề cập đến 3 nhóm sau:
Bạo lực thể chất: bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đạp, tát, dứttóc, cào cấu, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vặt… của một hay một nhóm họcsinh khác
Bạo lực tinh thần: bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mangnghĩa xấu) , chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lời nói đe dọa, cảnhcáo, ép buộc, đưa lên mạng những thông tin ác ý … một hay một nhóm họcsinh khác làm theo ý mình
Bạo lực tình dục: có thể chia ra làm hai loại cơ bản: quấy rối tình dục
và lạm dụng tình dục Quấy rối tình dục: bất kỳ một lời nói hay hành động, cửchỉ có ý nghĩa tình dục ngoài ý muốn, những câu nói xúc phạm cố ý, hay bất
kỳ những nhận xét về tình dục xúc phạm người khác Lạm dụng tình dục:hành động lợi dụng sự thiếu hiểu biết, kinh nghiệm, quyền lực của người khác
để đạt được mục đích tình dục của mình: ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn,cưỡng hiếp, sàm sỡ, đánh ghen… [15]
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường THPT Hiệp Hòa số 2, huyệnHiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Trường được thành lập vào năm 1973 với tiền thân
là trường THPT cấp 3 Hiệp Hòa với 13 lớp (600 học sinh) Với truyền thống
43 năm trải qua rất nhiều khó khăn, nhà trường đã vươn lên xây dựng, trưởngthành và đạt được nhiều thành tích nhất định, vị thế nhà trường ngày càngđược khẳng định rõ nét
Trang 25Hiện nay, trường THPT hiệp Hòa số 2 với quy mô 42 lớp (3 khối) vớikhoảng 1900 học sinh, số cán bộ công nhân viên là 92, 7 tổ chuyên môn và 1
tổ hành chính Với chất lượng bình quân: học sinh lên lớp 99%, 30% học sinhkhá giỏi, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT 98%, số giải học sinh giỏi khoảng 20 giảicho các môn học, số học sinh đỗ Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyênnghiệp là 40%, trong đó Đại học, Cao đẳng là khoảng 23%
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2015 đến 05/2016
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu là học sinh đang học tại trường THPT Hiệp Hòa số
2, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
• Tiêu chuẩn chọn đối tượng:
o Đối tượng được chọn là học sinh có mặt vào thời điểm nghiên cứu
Trang 26o Đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
• Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:
o Đối tượng không có mặt vào thời điểm nghiêm cứu
o Không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng
bộ câu hỏi tự điền
- n: là cỡ mẫu nghiên cứu
- Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 (tương ứng với độ tin cậy 95%) Với độtin cậy 95%: Z1-α/2 = 1,96 (tra từ bảng với giá trị α được chọn)
- Khoảng sai lệch mong muốn d = 0,05
- p là tỷ lệ học sinh bị BLHĐ (bất kỳ loại nào)
Kết quả của một nghiên cứu của Viện xã hội học về “Bạo lực trên cơ sởgiới liên quan đến nhà trường ở 6 tỉnh/thành phố tại Việt Nam” năm 2015 chothấy, tỷ lệ học sinh bị bạo lực học đường là 58% [38]
Chọn p = 0,58
Cỡ mẫu tính được là: n = 374 học sinh
Để hạn chế các ảnh hưởng do sai số, đối tượng từ chối, chúng tôi đã tăng
số lượng đối tượng thêm 20% Cỡ mẫu nghiên cứu tính được là 448 học sinh
Trang 27Nghiên cứu sử dụng cách chọn mẫu nhiều giai đoạn, cụ thể như sau:
• Chọn số lớp học trong trường tham gia nghiên cứu:
o Trường THPT Hiệp Hòa số 2 và thầy hiệu trưởng cung cấp thông tin vềtrường: gồm tổng 42 lớp trong 3 khối lớp (10, 11, 12) Trung bìnhkhoảng 40 học sinh/lớp
o Với cỡ mẫu được chọn là 448 học sinh Vậy số lớp trong trường cầnthu thập số liệu là: 448:40 = 11,2 (lớp)
o Có 3 khối lớp như vậy sẽ chọn 11,2:3 = 3,7 lớp ngẫu nhiên/khối Đểthuận lợi cho nghiên cứu, chọn 4 lớp/khối (tổng sẽ chọn 12 lớp)
• Chọn số học sinh tham gia nghiên cứu
o Với mỗi lớp học đã chọn ngẫu nhiên, chọn toàn bộ số học sinh trong lớp cómặt tại thời điểm thu thập và thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn, loại trừ
o Thực tế, tổng số học sinh sau khi thu thập của 12 lớp là 538 học sinh.Đây là cỡ mẫu được dùng để phân tích cho phần kết quả của nghiên cứu
2.4. Biến số và chỉ số nghiên cứu
Nghề nghiệp bố Nghề nghiệp chiếm nhiều thời gian nhất của bốNghề nghiệp mẹ Nghề nghiệp chiếm nhiều thời gian nhất của mẹBạn thân Bạn bè thân thiết của học sinh
Bạn trai/ gạn gái bạn trai/gái của học sinhTuổi có bạn trai/gái Tuổi khi có bạn trai/gái
Trang 28lực tinh thần mắng/quát tháo, hăm dọa/cảnh cáo, trêu trọc/đuacợt/ lấy giấu đồ, đưa lên mạng thông tin ác ýTình trạng bạo
lực tình dục
Bị hoặc gây ít nhất một trong các hành vi sau: nhìnvùng kín/nhạy cảm, sờ mó vào cơ thể người kháckhi không đồng ý, ép hẹn hò, ép quan hệ tình dụcNgười gây ra
bạo lực
Đối tượng thực hiện hành vi bạo lực với học sinh
Địa điểm xảy rabạo lực
Nơi mà bạo lực đó xảy ra
Mục
tiêu 2
Phản ứng khi xảy ra bạo lực
Những hành động, lời nói của học sinh ngay khi bịbạo lực
Sự chia sẻ về bạo lực
Sau khi bị bạo lực học sinh tìm đến ai để chia sẻvấn đề đó
Tìm kiếm sự hỗ trợ
Sau khi bị bạo lực học sinh có tìm kiếm đến ai hỗtrợ
Nghỉ học Tỷ lệ học sinh phải nghỉ học sau khi xảy ra bạo lực
2.5. Công cụ thu thập số liệu
2.5.1. Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu
• Công cụ thu thập số liệu: bộ câu hỏi định lượng được thiết kế dựa vàocác biến số đã xây dựng
• Kỹ thuật: phát bộ câu hỏi, học sinh tự điền dưới sự hướng dân của điềutra viên
2.5.2. Quy trình thu thập số liệu
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
• Xin phép hiệu trưởng trường THPT Hiệp Hòa số 2 để được tiến hànhnghiên cứu
• Quan sát, tìm hiểu về trường THPT Hiệp Hòa số 2
• Xây dựng bộ công cụ định lượng dựa trên các biến số đã xây dựng
• Dựa vào thời khóa biểu các khối học của trường THPT hiệp Hòa số 2,lên kế hoạch điều tra
Giai đoạn 2: Thử nghiệm bộ công cụ đã thiết kế
Trang 29• Chọn 1 lớp trong 1 khối bất kì để điều tra thử lấy số liệu.
• Đánh giá phản hồi của học sinh về bộ công cụ
• Sửa đổi bộ công cụ và bổ sung, thay đổi cho hợp lý
Giai đoạn 3: Thu thập thông tin
• Chọn bất kì các lớp trong các khối theo thời khóa biểu
• Sử dụng bộ câu hỏi định lượng đã xây dựng, chỉnh sửa, bổ sung để tiếnhành phát vấn học sinh
• Hướng dẫn chi tiết cho học sinh điền bộ câu hỏi, đồng thời giám sáttrong quá trình thu thập thông tin
2.6. Sai số và hạn chế sai số
Nghiên cứu này có thể xảy ra các sai số sau:
Trang 302.6.1. Sai số thu thập thông tin
Đây là những sai số trong quá trình thu thập thông tin gây ra bởi cácđiều tra viên: chưa giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể cho học sinh điền bộcâu hỏi
Cách khắc phục:
• Điều tra viên cần được tập huấn kỹ và hiểu rõ nội dung bộ câu hỏi
• Phát triển bộ câu hỏi đơn giản dễ hiểu và có điều tra thử, ghi nhận phảnhồi từ học sinh để chỉnh sửa cho phù hợp, dễ hiểu hơn
2.6.3. Sai số không hồi đáp
Là sai số do sự khác biệt giữa những học sinh trả lời và những học sinhkhông trả lời khi được nhận bộ câu hỏi Không hồi đáp bao gồm: không trảlời hoàn toàn và không trả lời một số câu hỏi
Trang 312.8. Đạo đức nghiên cứu
- Thông báo về mục đích nghiên cứu cho hiệu trưởng và học sinh thamgia nghiên cứu và chỉ tiến hành khi có sự đồng ý của hiệu trưởng vàhọc sinh tham gia nghiên cứu
- Đảm bảo tính bảo mật thông tin cho đối tượng tham gia nghiên cứu
- Các số liệu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ chocác mục đích khác
- Tất cả điều tra viên trong nhóm nghiên cứu sẽ được tập huấn và hiểu rõnghiên cứu, tiến hành một cách cẩn thận
- Thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ các quy định về y đức của ngành y tế
- Các kết quả của nghiên cứu sẽ được phản hồi cho trường
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ
.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=538)
Trang 33Kết quả bảng 3.1 cho thấy, trong tổng số học sinh tham gia nghiên cứu,học sinh nữ chiếm 58,3% nhiều hơn học sinh nam Phân bố học sinh trong cáckhối khá cân bằng nhau Về học lực của học sinh, chủ yếu là học lực khá vàtrung bình lần lượt là 53,4% và 40% Học lực giỏi, yếu chiếm tỷ lệ rất thấp là2,2% và 4,5% Đa số học sinh sống cùng với bố, mẹ (chiếm 92,9%), và phầnlớn bố, mẹ học sinh là nông dân (lần lượt chiếm 75,7% và 76,0%) Học sinh
có bạn bè thân thiết chiếm tỷ lệ cao là 86,4% Số học sinh đã từng có bạntrai/bạn gái chiếm tỷ lệ là 40,7%, trong đó nhiều nhất là ở tuổi 16 (chiếm38,5%), sau đó là ở tuổi 15 (chiếm 27,1%)
.2. Thực trạng bạo lực ở học sinh trường THPT Hiệp Hòa số 2, tỉnh Bắc Giang
.2.1 Thực trạng bạo lực chung
Từ khi lên cấp 3 Trong học kỳ vừa qua
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ học sinh bị bạo lực
Biểu đồ 3.1 cho thấy, từ khi lên cấp 3, hơn một nửa số học sinh đã từng bịbạo lực (52,2%), còn trong học kỳ vừa qua có 36,1% số học sinh bị bạo lực
Bảng 3.2: Tỷ lệ học sinh bị bạo lực theo các hình thức bạo lực
Hình thức bạo lực Từ khi lên cấp 3 Trong học kỳ vừa qua
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Trang 34Bảng 3.2 cho thấy, bạo lực tinh thần ở học sinh chiếm tỷ lệ cao nhất cả
từ khi lên cấp 3 và trong học kỳ vừa qua, với tỷ lệ lần lượt là 48,6% và31,4% Tỷ lệ bạo lực tình dụ````c thấp nhất trong 3 hình thức bạo lực với5,6% (từ khi lên cấp 3) và 4,5% (trong học kỳ vừa qua)
lệ cao là bị đánh, bị cào cấu với tỷ lệ lần lượt là 10,1%; 7,5% và 4,5%; 5.9%
Bảng 3.3: Tỷ lệ người gây ra bạo lực thể chất lần gần nhất
Bảng 3.4: Tỷ lệ địa điểm xảy ra bạo lực thể chất lần gần nhất
Địa điểm Số lượng Bạo lực thể chất Tỷ lệ %
Trang 35Kết quả bảng 3.4 cho thấy, trong số học sinh bị bạo lực thể chất, trườnghọc là nơi xảy ra phổ biến nhất (82 em) với tỷ lệ 80,4%.
Bảng 3.5: Tỷ lệ người gây ra bạo lực tinh thần cho học sinh lần gần nhất
Người gây bạo lực cho học sinh Số lượng Bạo lực tinh thần Tỷ lệ %
Bảng 3.6: Tỷ lệ địa điểm xảy ra bạo lực tinh thần lần gần nhất
Địa điểm Số lượng Bạo lực tinh thần Tỷ lệ %
Trang 36Bảng 3.7: Tỷ lệ người gây ra bạo lực tinh dục cho học sinh lần gần nhất
Người gây Số lượng Bạo lực tình dục Tỷ lệ %
Bảng 3.8: Tỷ lệ địa điểm xảy ra bạo lực tình dục lần gần nhất
Địa điểm Số lượng Bạo lực tình dục Tỷ lệ %
Trang 37Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ học sinh gây ra bạo lực từ khi lên cấp 3 và trong học kỳ
vừa qua
Biểu đồ 3.5 cho thấy, từ khi lên cấp 3 có 24,7% học sinh gây ra bạo lực,còn trong học kỳ vừa qua chỉ có 18,8%
Bảng 3.9: Tỷ lệ học sinh gây ra các hình thức bạo lực
Hình thức bạo lực Từ khi lên cấp 3 Trong học kỳ vừa qua
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ học sinh đã từng gây ra bạo lực từ khi lên cấp 3 và
trong học kỳ vừa qua