Rối loạn tâm thần là một vấn đề sức khỏe khá phổ biến mang tính toàn cầu. Trên thế giới cứ 3 người lại có một người bị mắc bệnh rối loạn tâm thần (có tiêu chí đầy đủ) tại một thời điểm nào đó trong đời họ 1. Các rối loạn tâm thần đang ngày càng trở nên phổ biến ở các nước đang phát triển. Nguyên nhân là do các điều kiện nghèo khổ kéo dài (thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn, việc làm, công việc quá tải), các thay đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội, xung đột chính trị và thiên tai 2. Theo thống kê dịch tễ học về Sức khỏe tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới, các rối loạn (bệnh tật) liên quan đến stress đang gia tăng rất nhanh, tỷ lệ chung trong dân số có thể từ 5% 10% và thậm chí ở một số nước phát triển con số này còn lên đến 15% 20%. Cũng theo WHO, vào năm 2010, các rối loạn tâm thần chiếm 15% tổng số gánh nặng bệnh tật của xã hội.Sức khỏe tâm thần ở Việt Nam không nằm ngoài tình hình chung của toàn cầu. Kết quả điều tra quốc gia năm 19992000 cho thấy tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm thần phổ biến là 15%. Gần đây một số nghiên cứu ở quy mô nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ rối loạn tâm thần khoảng 2030% 3.Các rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu TLTK. Mang thai và sinh con được chứng minh là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện và nặng thêm các rối loạn tâm thần. Stress khi mang thai xảy ra ở rất nhiều phụ nữTLTK. Tâm trạng thay đổi khi mang thai có thể được gây ra bởi căng thẳng, mệt mỏi, thay đổi trong trao đổi chất của cơ thể hoặc bởi các hormone estrogen và progesterone. Mặt khác, còn do mối quan hệ của người phụ nữ trong xã hội, mối quan hệ với chồng và các căng thẳng trong cuộc sống gia đình hàng ngày TLTK.Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng tỷ lệ các rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai ở các nước thu nhập thấp trung bình từ 10% đến 41,2%4.Tại Việt Nam một nghiên cứu được tiến hành trên phụ nữ mang thai từ 12 đến 20 tuần, sử dụng thang đo EDPS cho kết quả có 40% phụ nữ mang thai ở đầu thai kì và 28% phụ nữ mang thai ở cuối thai kì có các rối loạn tâm thần thường gặp5.Rối loạn tâm thần thường gặp được coi là nghiêm trọng đối với phụ nữ mang thai vì nó không những ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ sơ sinh. Sự xuất hiện của rối loạn tâm thần thường gặp (CMDs) trong khi mang thai là một yếu tố dự báo trầm cảm sau sinh. Đứa trẻ sơ sinh có bà mẹ bị trầm cảm có sự tăng trưởng phát triển kém hơn so với trẻ sơ sinh của các bà mẹ không bị trầm cảm.Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ, đặc biệt là đối với phụ nữ có thai và những yếu tố ảnh hưởng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:” Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh Hà Nội năm 20142015 và các yếu tố liên quan” với những mục tiêu chính sau:1.Mô tả thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp đo bằng thang SRQ20 trên phụ nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh Hà Nội năm 20142015.2.Liên quan giữa rối loạn tâm thần thường gặp và một số yếu tố về bản thân người phụ nữ, hành vi của chồng và cuộc sống gia đình.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn tâm thần là một vấn đề sức khỏe khá phổ biến mang tính toàn cầu.Trên thế giới cứ 3 người lại có một người bị mắc bệnh rối loạn tâm thần (có tiêuchí đầy đủ) tại một thời điểm nào đó trong đời họ [1] Các rối loạn tâm thần đangngày càng trở nên phổ biến ở các nước đang phát triển Nguyên nhân là do các điềukiện nghèo khổ kéo dài (thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn, việclàm, công việc quá tải), các thay đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội, xung đột chínhtrị và thiên tai [2] Theo thống kê dịch tễ học về Sức khỏe tâm thần của Tổ chức Y
tế thế giới, các rối loạn (bệnh tật) liên quan đến stress đang gia tăng rất nhanh, tỷ lệchung trong dân số có thể từ 5% - 10% và thậm chí ở một số nước phát triển con sốnày còn lên đến 15% - 20% Cũng theo WHO, vào năm 2010, các rối loạn tâm thầnchiếm 15% tổng số gánh nặng bệnh tật của xã hội
Sức khỏe tâm thần ở Việt Nam không nằm ngoài tình hình chung của toàn cầu.Kết quả điều tra quốc gia năm 1999-2000 cho thấy tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm thần phổbiến là 15% Gần đây một số nghiên cứu ở quy mô nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ rối loạntâm thần khoảng 20-30% [3]
Các rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu trầmcảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ thống chămsóc sức khỏe ban đầu [TLTK] Mang thai và sinh con được chứng minh là yếu tốnguy cơ làm xuất hiện và nặng thêm các rối loạn tâm thần Stress khi mang thaixảy ra ở rất nhiều phụ nữ[TLTK] Tâm trạng thay đổi khi mang thai có thể đượcgây ra bởi căng thẳng, mệt mỏi, thay đổi trong trao đổi chất của cơ thể hoặc bởi cáchormone estrogen và progesterone Mặt khác, còn do mối quan hệ của người phụ
nữ trong xã hội, mối quan hệ với chồng và các căng thẳng trong cuộc sống giađình hàng ngày [TLTK]
Trang 2Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng tỷ lệ các rối loạn tâm thần thườnggặp trên phụ nữ mang thai ở các nước thu nhập thấp trung bình từ 10% đến41,2%[4].
Tại Việt Nam một nghiên cứu được tiến hành trên phụ nữ mang thai từ 12 đến
20 tuần, sử dụng thang đo EDPS cho kết quả có 40% phụ nữ mang thai ở đầu thai
kì và 28% phụ nữ mang thai ở cuối thai kì có các rối loạn tâm thần thường gặp[5].Rối loạn tâm thần thường gặp được coi là nghiêm trọng đối với phụ nữ mangthai vì nó không những ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ mà còn gián tiếpảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ sơ sinh Sự xuất hiện của rối loạn tâm thần thườnggặp (CMDs) trong khi mang thai là một yếu tố dự báo trầm cảm sau sinh Đứa trẻ
sơ sinh có bà mẹ bị trầm cảm có sự tăng trưởng phát triển kém hơn so với trẻ sơsinh của các bà mẹ không bị trầm cảm
Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về rối loạn tâm thầnthường gặp trên phụ nữ, đặc biệt là đối với phụ nữ có thai và những yếu tố ảnh
hưởng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:” Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ
nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh- Hà Nội năm 2014-2015 và các yếu tố liên quan” với những mục tiêu chính sau:
1 Mô tả thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp đo bằng thang SRQ-20 trênphụ nữ có thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh- Hà Nội năm 2014-2015
2 Liên quan giữa rối loạn tâm thần thường gặp và một số yếu tố về bản thânngười phụ nữ, hành vi của chồng và cuộc sống gia đình
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1Các khái niệm và định nghĩa
1.1.1 Rối loạn tâm thần thường gặp (Common mental disorders)
Rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm một nhóm các trạng thái lo âu, trầmcảm và rối loạn dạng cơ thể, thường gặp phải trong cộng đồng và hệ thống chămsóc sức khỏe ban đầu [6] CMDs hiện đang là nguyên nhân hàng đầu về sức khỏetâm lí trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu [7] Nghiên cứu trên nhiều quần thể sinhhọc luôn cho thấy rằng nghèo đói và không được chăm sóc làm tăng nguy cơ gặpnhững rối loan này [8]
Rối loạn này có triệu chứng như là: mệt mỏi, chứng mất ngủ, tính hay quên,khó tập trung, tính dễ kích thích và rối loạn bản thể [6]
Rối loạn tâm thần thường gặp (CMDs) phổ biến hơn ở phụ nữ, một phần là do
sự chênh lệch về giới trong tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ về… [9]
1.1.2 Rối loạn tâm thần thường gặp trên phụ nữ mang thai
CMDs trong thời kì mang thai là rối loạn trầm cảm và lo âu được phân loạitrong ICD-10 là “loạn thần kinh, rối loạn liên quan đến stress chất vè tinh thần” và
“rối loạn tâm trạng” [10][11]
Trang 4Mang thai và sinh con được chứng minh là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện vànặng thêm các rối loạn tâm thần [12] CMDs đã được nghiên cứu cả trong dân sốnói chung và trong phụ nữ có thai so với phụ nữ không mang thai Trong thời gianmang thai, CMDs đã được coi là một yếu tố dự báo khả năng các kết quả của sảnkhoa và trẻ sơ sinh[13][14].
Thay đổi về sinh lý trong quá trính mang thai tác động đến tâm lí của ngườiphụ nữ Các chuyên gia tìm thấy mối quan hệ giữa hàm lượng hormone và chất dẫntruyền thần kinh của não (đặc biệt là serotonin- một chất hóa học điều khiển tâmtrạng) gây nên xáo trộn trong tâm sinh lý ở phụ nữ mang thai Khi phụ nữ mangthai, cơ thể có những thay đổi toàn diện, do những biến đổi trong trao đổi chất của
cơ thể hoặc bởi các hoormone estrogen và progesterone Sự thay đổi hàm lượnghoormone có ảnh hưởng đến hệ thần kinh, trong đó có các chất tác động “điềuchỉnh” tâm trạng Cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, cáu gắt hay lo lắng đều xuất phát
từ căn nguyên này Phụ nữ khi mang thai đều ít nhiều có những thay đổi, tùy thuộcvào cơ địa, thể chất và điều kiện sống của mỗi người Nhìn chung, những bất ổntrong tâm lý của bà bầu suốt thai kỳ là điều khó tránh do chịu sự chi phối củanhững thay đổi hormone bên trong cơ thể
Sự thay đổi hàm lượng các hóc môn trong thai kì dẫn đến sự thay đổi cảm xúccủa người phụ nữ [15] Quá trình mang thai xảy ra sự thay đổi của 6 hormonechính sau đây:
Human Chorionic Gonadotropin (HCG): không có nghiên cứu nào chắcchắn khẳng định những gì là nguyên nhân gây ra ốm nghén, nhưng nhiềubác sĩ cho rằng nó có liên quan đến mức độ tăng HCG Phụ nữ có hàmlượng HCG cao thường bị buồn nôn và nôn nhiều hơn
Progesterone: làm giãn cơ trơn, mạch máu gây nên huyết áp thấp hơnbình thường và đôi khi chóng mặt.Sự tăng lượng Progesterone khiến não
Trang 5bộ chùng xuống và khiến cho sản phụ dễ rơi vào trạng thái buồn ngủtrong suốt thời kì mang thai.
Estrogen : nổi tĩnh mạch dưới da, buồn nôn, tăng sư thèm ăn và một sốthay đổi về da
Oxytocin tác dụng giảm căng thẳng và lo lắng
và trung bình (LAMIC) và các nước có thu nhập cao [14]
Các nước có thu nhập thấp
Các rối loạn tâm thần thường gặp (lo âu, trầm cảm và rối loạn dạng cơ thể) phổbiến ở những phụ nữ sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, ngườiđang mang thai hoặc mới sinh con Một tổng quan và phân tích hệ thống kết luậnrằng trung bình ở các nước này, 16% phụ nữ mang thai và 20% phụ nữ chăm sóctrẻ sơ sinh có triệu chứng đáng kể của một rối loạn tâm thần, và tỷ lệ này cao hơn
Trang 6nhiều ở các phụ nữ không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế và an sinh xãhội [16].
Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng tỉ lệ các rối loạn tâm thần thườnggặp ở phụ nữ mang thai ở các nước thu nhập thấp trung bình từ 10% đến 41.2%[4] Tại Brazil, nghiên cứu sử dụng SRQ-20 để đánh giá với điểm cắt là 7/8 chokết quả là tỷ lệ nhiễm CMDs trong phụ nữ mang thai ở vùng có sự phát triển kinh
Các nước có thu nhập cao
Nghiên cứu khác tiến hành ở vùng thủ đô của Ethopia, 753 phụ nữ mangthai đã được đưa vào nghiên cứu Kết quả là tỷ lệ có CMDs (SRQ-20 score>6) đã được tìm thấy là 26,2% (95% CI 23,04 -29,36) [20]
1.2.2 Tình hình tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện đã có một số nghiên cứu về rối loạn tâm thần thường gặptrên phụ nữ mang thai, nhưng chưa có nghiên cứu nào sử dụng thang đo SRQ-20
Trang 7Một nghiên cứu khác ở vùng nông thôn Việt Nam về CMDs sử dụng thang đoEPDS cho kết quả: Tỷ lệ CMDs đầu thai kì là 22,4%, cuối thai kì là 10,7% và cả 2đợt đánh giá là 17,4% CMDs là phổ biến ở các vùng nông thôn Việt Nam, yếu tốnguy cơ tâm lí xã hội đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề sức khỏe cộngđồng [21].
1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến CMDs
Yếu tố bản thân người phụ nữ
Nhiều nghiên cứu được tiến hành ở LAMIC đã chỉ ra các triệu chứng củaCMDs có thể trầm trọng hơn do hút thuốc và uống rượu bia trong khi mang thai[22]
Phụ nữ trong thai kỳ gặp phải các vấn đề sản khoa có nguy cơ bị CMDs caohơn gần 2 lần với OR = 1,941 (1,146-3,287) Phụ nữ có thai ngoài ý muốn có nguy
cơ bị CMDs cao hơn gần 4 lần với OR = 3,595 (2,330-5,546) Bệnh tâm thầntrong quá khứ cũng đã được tìm thấy có liên quan đáng kể với tình trạng CMDsvới OR (CI 95%) = 4,482 (1,614-12,449) [20]
Yếu tố hành vi của người chồng
Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành với 1.120 phụ nữ mang thai ở độ tuổi18-49 tuổi, những người đã đăng ký trong chương trình sức khoẻ gia đình ở thànhphố Recife, đông bắc Brazil, giữa năm 2005 và 2006 CMDs được đánh giá bằngcách sử dụng bộ câu hỏi tự đánh giá SRQ-20 Bạo lực đối tác thân mật được địnhnghĩa là tâm lý, thể chất và tình dục hành vi lạm dụng cam kết đối với phụ nữ docác đối tác của họ Tỷ lệ thô và tỷ lệ cược được điều chỉnh ước tính cho hiệp hộinghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy logistic Kết quả các hình thức phổ biếnnhất của bạo lực do chồng là bạo lực tâm lý Sự phổ biến của rối loạn tâm thầnthường gặp là 71,0% trong số phụ nữ cho biết tất cả các hình thức bạo lực trong
Trang 8thời kỳ mang thai và 33,8% trong số những người không bị bạo lực tình dục Rốiloạn tâm thần thường được gắn liền với bạo lực tâm lý (OR 2.49, 95% CI 1,8; 3,5),thậm chí không có bạo lực thể xác hoặc tình dục Khi bạo lực tâm lý được kết hợpvới bạo lực thể xác hoặc tình dục, nguy cơ rối loạn tâm thần thường gặp thậm chí
còn cao hơn (OR 3,45; 95% CI 2,3; 5,2) [19]
Yếu tố mối quan hệ gia đình và xã hội
Các phụ nữ mang thai sống ở khu vực nông thôn có khả năng giảm nguy cơ rốiloạn tâm thần kinh tới 43% (OR 95% CI: 0,57 (0,38, 0,85) Thu nhập hàng thángthấp hơn (OR 95%CI: 1.94 (1.12, 3.35)) Ngoài ra còn có các yếu tố khác như bạolực đối tác thân mật (bạo lực do chồng) (OR 95% CI: 10,1 (4.78, 21,57)), nghềnghiệp (OR 95% CI: 4,45 (1,79, 11,02)), tình trạng hôn nhân (OR 95% CI: 0,26(0,13, 0,53), và tiền sử gia đình (OR 95% CI: 5.12 (2.38, 11.00) cho thấy liên kếtvới CMDs [18]
1.2.4 Hậu quả của CMDs
Hậu quả trên bà mẹ
Trầm cảm, lo lắng và stress trong khi mang thai có thể gây ra tiền sản giật/sảngiật (PE/E) [23] Trầm cảm và lo lắng trong đầu thai kỳ có nguy căng làm tăng PE/
E cao lên từ 2,5 đến 3,2 lần [24] Tiền sản giật là một biến chứng đa hệ xảy ra từsau tuần thứ 20 của thai kỳ và gây ra tỷ tệ đáng kể mắc bệnh và tử vong trên cả bà
mẹ và thai nhi Nghiên cứu bệnh chứng tiến hành tại quận Sukohajo cho kết quả có
sự liên quan đáng với tỷ lệ PE/E là: CMDs (dương tính) (P<0,01, OR=6,11,95%CI: 2,99-14,07) [9]
Sự xuất hiện của CMDs trong khi mang thai là một yêu tố dự báo trầm cảm sausinh [22][25] Trong một nghiên cứu nhắm tìm hiểu mối liên quan giữa trầm cảmtrong khi mang thai và trầm cảm sau sinh được thực hiên tại brazil sử dụng SRQ-
Trang 920 để đánh giá trầm cảm, được phát triển cho tầm soát rối loạn tâm thần thườnggặp Kết quả tỷ lệ có triệu chứng trầm cảm sau sinh là 31,2% Trong số đó có gần50% đã có triệu chứng trầm cảm trong lúc mang thai Những phụ nữ có triệu chứngtrầm cảm trước sinh có khản năng gặp trầm cảm sau sinh gấp 2,4 lần so vs nhữngphụ nữ ko có như vậy[25].
Hậu quả trên trẻ sơ sinh
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra mối liên quán giữa CMDskhi mang thai và ảnh hưởng trên trẻ sơ sinh CMDs được nhiều người nghiêncứu cho rằng đó là dự đoán sự thay đổi quá trình sơ sinh và sự phát triển củađứa bé [26]
Nghiên cứu tiến hành tại Pháp với 634 phụ nữ mang thai đã kết luận rằngcác triệu chứng lo lắng, trầm cảm kết hợp với các yếu tố sinh học cụ thể có liênquan với sinh non tự phát [27] Tại Brazil, một nghiên cứu theo chiều dọc tiếnhành tại thành phố Jundiai, bang São Paulo, tìm thấy mối liên quan giữa sựcăng thẳng trong quá trình mang thai và các biến nhẹ cân và sinh non Trongmột nghiên cứu thuần tập lớn thực hiên ở nước Anh để điều tra mối liên hệ giữatrầm cảm và lo âu trong khi mang thai và sinh thiếu cân thấy rằng sự kết hợpvới yếu tố trầm cảm là yếu hơn sau khi điều chỉnh yếu tố gây nhiễu [28]
Trẻ sơ sinh có bà mẹ bị trầm cảm có sự tăng trưởng kém hơn so với trẻ sơsinh của các bà mẹ không bị trầm cảm Về trọng lượng, trẻ em sinh ở nhóm bà
mẹ trầm cả có nguy cơ bị nhẹ cân cao gấp 3,41 so với nhóm phụ nữ không bịtrầm cảm, với OR=3,41 (95%CI: 1,30-8,52) Khác biệt này có ý nghĩa thống kê;
ở tháng thứ 3 (trọng lương: OR 3.41, 95%CI 1,30-8,52; chiều dài: OR 3.28,95%CI 1,03-10,47) và sau khi sinh 6 tháng (trọng lương: OR 4.21, 95%CI 1,36-13,20; chiều dài OR 3.34, 95%CI 1,18-9,52) Bà mẹ bị trầm cảm có nhiều khả
Trang 10năng cho bé ngừng bú sớm và con của họ có khả năng mắc phải tiêu chảy vàcác bệnh truyền nhiễm khác cao hơn [29].
CMDs trên phụ nữ có thai ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhận thức của trẻcon tại thời điểm 6 tháng tuổi, nếu không được giải quyết thì trạng có thể kéodài thêm [30]
Hậu quả về mặt kinh tế
Phụ nữ có rối loạn tâm thần trong thời kì chu sinh (những rối loạn xảy ratrong khi mang thai cho đến 1 năm sau sinh) đã giảm khả năng tham gia vào cáchoạt động kinh tế xã hội và ít có khả năng tuân thủ các khuyến cáo chăm sóc y
tế [31][32]
1.3 Các thang đo rối loạn tâm thần thường gặp
1.3.1 Thang đo SRQ-20
SRQ-20 là một thang điểm đánh giá triệu chứng lo âu và trầm cảm về thể chất
và tinh thần, được phát triển bởi tổ chức y tế thế giới (WHO) Thang đo SRQ-20được thiết kế như một dụng cụ để kiểm tra sự rối loạn tâm thần , nhất là ở các nướcđang phát triển SRQ-20 gồm 20 câu hỏi, 16 câu triệu chứng cơ năng và 4 câu hỏi
về triệu chứng thực thể, được trả lời bằng có hoặc không Thang đo này thườngđược sử dụng như bộ câu hỏi tự trả lời Ngoài ra những câu hỏi bổ sung khác nhau
đã được sử dụng kết hợp với SRQ-20 để kiểm tra cho sự rối loạn tâm thần và tìnhtrạng lạm dụng thuốc [33]
SRQ-20 đã được dùng để đánh giá CMDs cho nhiều đối tượng:
Nghiên cứu điều kiện làm việc và các rối loạn tâm thần thường gặp củacác bác sĩ ở Brazi cho thấy tỉ lệ các bác sĩ có CMDs là 24% [34]
Trang 11 Một cuộc khảo sát ở đại học Pernambuco-Brazil (UPE) giữa các sinhviên của một số các khóa học chăm sóc sức khỏe cho thấy một tỉ lệ chungsinh viên có CMDs là 34,1% [35].
Nghiên cứu thực hiện ở Campinas, Brazil sử dụng SRQ-20 cho thấy tỉ lệ
CMDs trong dân cư đô thị là 17% [36]
Nghiên cứu: CMDs và các yếu tố liên quan ở phụ nữ với trẻ sơ sinh ởnông thôn Malawi đã chứng minh rằng CMDs là một gánh nặng sức khỏeđáng kể ở những phụ nữ trẻ ở nông thôn Malawi, và được kết hợp với đóinghèo, mối quan hệ khó khăn, nhiễm HIV và các vấn đề sức khỏe trẻ sơsinh [37]
Nghiên cứu CMDs và bạo lực do chồng trong thai kì được tiến hành tại Y
tế huyện II của thành phố Recife, Đông Bắc brazil, nơi đây các gia đình
có thu nhấp thấp chiếm tỉ lệ cao [19]
Bảng câu hỏi tự đánh giá: phụ lục 1
Đánh giá các vấn đề sức khỏe gặp trong 4 tuần gần nhất Mỗi câu trả lời cótính 1 điểm, trả lời không tính 0 điểm Rà soát trên toàn cầu nói chung cho thấy ởmỗi nghiên cứu được đề nghị điểm cắt riêng Số điểm sử dụng sẽ phụ thuộc vàngôn ngữ, phương pháp nghiên cứu, đặc điểm của quần thể nghiên cứu cũng nhưmục đích của nghiên cứu( ví dụ: Độ nhạy cảm cao, tính đặc hiệu cao hoặc giá trị
dự báo tối ưu…) [33]
SRQ-20 được giới thiệu bởi Harding vào năm 1980, để sàng lọc các rối loạntâm thần nhẹ và được xác nhận tại Brazil bởi Mari Nghiên cứu cho thấy SRQ-20đáp ứng các chỉ số trong nghiên cứu với độ nhạy 85% và độ đặc hiệu 80% Điểm
số cao hơn hoặc bằng 6 cho nam giới và cao hơn hoặc bằng 8 cho nữ giới được coi
là có CMDs [38]
Nghiên cứu tại Rwanda cho thấy SRQ-20 có thể được sử dụng như một công
cụ để sàng lọc rối loạn tâm thần trong cộng đồng Độ tin cậy của các SRQ-20 ở
Trang 12phụ nữ là 85% và ở nam giới là 80% Cắt điểm (cut-off) cần phải được điều chỉnh.Phụ nữ và nam giới có điểm cắt tối ưu khác nhau.Đối với nam giới điểm cắt tối ưu
là 8 điểm và đối với nữ giới là 10 điểm [39]
Hiện tại ở Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu về SRQ-20 Năm 2004, cáctác giả đã tiến hành nghiên cứu Tính giá trị và độ tin cậy của SQR-20 tại ViệtNam Kết quả điểm cắt của SRQ-20 tại Việt Nam được khuyến khích sử dụng làcut-off 7/8, để xác định các trường hợp có CMDs với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu82% Nghiên cứu này xác định SRQ-20 thích hợp dùng để xác định tình trang rốiloạn tâm thần dùng trong cộng đồng tại Việt Nam [40]
Trong một nghiên cứu khác, sử dụng SRQ-20 để xác định tình trạng CMDs ởmột vùng nông thôn Việt Nam vào năm 2006, các tác giả đã khẳng định SRQ-20 làcông cụ phù hợp để đánh giá tình trang CMDs Công cụ này thích hợp sử dụng chocác nước đang phát triển nhưng điểm cắt tối ưu được xác định theo đặc điểm củatừng khu vực Trong nghiên cứu tại cộng đồng, điểm cắt tối ưu là 6/7 với độ nhạy
là 85% và độ đặc hiệu là 61% [41]
Trong nghiên cứu này, xét về đặc điểm địa phương và đối tượng nghiên cứu,chúng tôi sử dụng điểm cắt là 7/8 để xác định tình trạng CMDs
1.3.2 Thang đo EPDS
EPDS là một thang điểm đánh giá trầm cảm chu sinh Các EPDS chỉ là công cụsàng lọc Nó không dùng để chẩn đoán trầm cảm- việc được xác nhận bởi bác sĩchuyên khoa Được thiết kế đặc biệt cho phụ nữ mang thai hoặc mới sinh con và nócũng được chứng minh là biện pháp hiệu quả khi đánh giá chứng trầm cảm nóichung trong cộng đồng
EPDS gồm 10 câu hỏi, mỗi câu có 4 phương án trả lời, mỗi câu trả lời được tínhđiểm 0 1 2 3 tăng theo mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng Đánh giá trong 7
Trang 13ngày trước phỏng vấn Nghiên cứu đã xác nhận sử dụng điểm cắt khác nhau trongcác đối tượng phụ nữ khác nhau Cut-off (điểm cắt) điểm dao động từ 9 đến 13điểm Vì vậy để sai lầm về mặt an toàn , khi đạt 9 điểm trở lên hoặc có bất kì ýtưởng tự sát (điểm 1 hoặc cao hơn ở câu hỏi số 10) cần lập tức được theo đõi đánhgiá trầm cảm, ngay cả khi điểm nhỏ hơn 9, nếu các bác sĩ cảm thấy đối tượng cónguy cơ trầm cảm thì cũng cần giới thiệu một biện pháp chăm sóc theo dõi cụ thể.
1.3.3 Thang đo ICD-10 và DSM-IV
Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng hai phương tiện để chẩn đoán trầm cảm làBảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 và DSM-IV (1994) của Hội tâm thần Mỹ Về
cơ bản ICD-10 và DSM-IV là thống nhất với nhau (Nguyễn Việt,1995) nên chúng
ta có thể sử dụng kết hợp cả hai
Chẩn đoán theo Bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10)
Dựa vào sự phán đoán lâm sàng, trên cơ sở số lượng, loại, mức độ trầm trọngcủa triệu chứng hiện có ICD-10 đã chỉ ra và phân biệt giữa các giai đoạn trầm cảmnhẹ, vừa, nặng
Các triệu chứng điển hình:
- Khí sắc trầm
- Mất mọi quan tâm thích thú
- Giảm năng lương, giảm hoạt động, tăng mệt mỏi
Các triệu chứng phổ biến khác:
- Giảm sút sự tập trung và sự chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Có những ý tưởng bị tội và không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan
Trang 14- Có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ
- Ăn mất ngon
Các triệu chứng sinh học: sút cân, rối loạn giấc ngủ, táo bón, mất ngon miệng,giảm dục năng, dao động khí sắc trong ngày, nhiều phụ nữ có rối loạn kinh nguyệt
Thang đo DSM-IV
Tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV về giai đoạn trầm cảm chủ yếu yêu cầu sựhiện diện của 5 trong số các triệu chứng sau đây và kéo dài ít nhất hai tuần Tốithiểu 01 trong 05 triệu chứng này phải là khí sắc trầm nhược hoặc là mất hứng thúhay sự hài lòng
- Khí sắc trầm buồn hầu như cả ngày và gần như tất cả các ngày
- Mất mọi quan tâm hứng thú trong các hoạt động thường ngày
- Khó khăn trong việc ngủ (mất ngủ, không ngủ sâu, không trở lại được giấc ngủsau khi bị thức giấc, ngủ nhiều)
- Thay đổi trong cường độ hoạt động, chậm chạp, hoặc dễ bị kích động
- Mất cảm giác thèm ăn và sút cân, hoặc tăng cảm giác thèm ăn, tăng cân
- Mất năng lượng, mệt mỏi rõ
- Tự nhận thức phủ định, tự trách mình và tự buộc tội, cảm giác vô giá trị và tội lỗi
- Những lời phàn nàn hoặc có bằng chứng khó khăn trong việc tập trung chú ý, tưduy chậm chạp và không thể tự quyết định được mọi việc
- Suy nghĩ luẩn quẩn về cái chết hay tự tử
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
Trang 152.1.1 Địa điểm nghiên cứu.
Hình 1: Bản đồ huyện Đông Anh- Hà Nội
Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đông Anh, một huyện ngoại thành HàNội Nó nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội và nằm trong vùng quyhoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch đã được Chính phủ vàThành phố phê duyệt, là đấu mối giao thông quan trọng nối Thủ Đô Hà Nội với cácTỉnh phía Bắc
Tổng diện tích đất tự nhiên: 18.230 ha; trong đó: Đất nông nghiệp 9.785 ha.Huyện có 23 xã, 1 thị trấn; 156 thôn, làng và 62 tổ dân phố Đến nay huyện có 85làng văn hoá, trong đó có 35 làng văn hoá cấp Thành phố Dân số trên 331.000
Trang 16người, trong đó: dân cư đô thị chiếm 11% Thu nhập chính của người dân từ nôngnghiệp (80%)
Có 33,3 km đường sông (sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lô) và 21km sôngnội huyện (sông Thiếp)
Có 33km đừng sắt, 4 ga thuộc các tuyến Hà Nội đi lào Cai; Hà Nội – TháiNguyên và có đừng QL3, quốc lộ Thăng Long – Nội Bài, QL23
Về công nghiệp Đông Anh có 2 khu công nghiệp lớn: Khu công nghiệp ĐôngAnh và khu công nghiệp Thăng Long Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một sốlàng nghề truyền thống đang được đầu tư và phát triển mạnh tại các xã Liên Hà,Vân Hà, Dục Tú…Đóng trên địa bàn huyện có trên 700 công ty TNHH, 355 công
ty cổ phần, 105 doanh nghiệp tư nhân, gần 30 công ty nhà nước một thành viên vàtrên 13000 hộ kinh doanh cá thể
Thu nhập chính của người dân từ nông nghiệp (80%)
Huyện Đông Anh có hai bệnh viện là bệnh viện Bắc Thăng Long và bệnh viện
đa khoa Đông Anh Đa số phụ nữ đến hai bệnh viện để khám thai và sinh con tạihai bệnh viện này Theo thống kê từ hai bệnh viện năm 2012, có 11600 phụ nữmang thai có chăm sóc tiền sản và sinh con tại đây
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Đông Anh dưới sự giúp đỡ của Dự ánPAVE
2.1.2 Thời gian nghiên cứu.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
2.2 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh
Trang 17Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ mang thai dưới 24 tuần tại huyện Đông Anh
được lấy từ danh sách quản lý thai nghén của các trạm y tế xã của huyện ĐôngAnh
Tiêu chuẩn loại trừ:
Những thai phụ không có hộ khẩu thường trú tại địa điểm nghiên cứu vàthường xuyên di chuyển khỏi địa điểm nghiên cứu
Những phụ nữ bị những bệnh nặng như: bệnh tiểu đường nặng, ung thư, bệnhtim mạch phức tạp, bại liệt hoặc bệnh tâm thần nặng cũng bị loại khỏi nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05
Khoảng sai lệch mong muốn d = 0,05
Tỉ lệ phụ nữ mang thai có CMD p = 0,412 [20]
Cỡ mẫu cần thiết tính được là 373
Nghiên cứu này sử dụng một phần số liệu từ Dự án PAVE, với cỡ mẫu 497(>373)
2.3.2.2 Cách chọn mẫu
Trang 18Chọn 6 xã trong huyện Đông Anh mỗi xã lấy 83 phụ nữ có thai Những phụ
nữ có thai này sẽ được lấy từ danh sách quản lý thai nghén của cán bộ chuyên tráchdân số của các xã Đến khi phỏng vấn đủ số lượng mẫu thì dừng lại
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến số/chỉ
Phương pháp thu thập
Thông tin
chung
- Tuổi - Tuổi của đối tượng
tính theo năm dương lịch
Rời rạc Bộ câu hỏi
độ học vấn
- Bậc học cao nhất củađối tượng đã hoàn thành
Thứ hạng
trạng hônnhân
- Tình trạng kếthôn/chưa kết hôn của đốitượng
Danhmục
Tình hìnhkinh tế giađình
Kinh tế hộ gia đình theo xếphạng của nhà nước
- Trong quá khứ, đốitượng từng ít nhất một lần bịsảy thai, lưu thai hoặc từngphá thai
Nhị phân
Mục tiêu 1 Tình trạng rối
loạn tâm thần
- Tình trạng tâm thầncủa bệnh nhân, xác định dựavào SRQ-20, là một thangđiểm đánh giá triệu chứng
lo âu và trầm cảm (WHO)
Nhị phân
Trang 19Mục tiêu 2
Sự chủ độngmang thai
- Trạng thái có chủđộng hay không (ngoài ýmuốn) mang thai của ngườiphụ nữ
Nhị phân
Giới tính thainhi lần mangthai này
- Lần mang thai này làcon gái, con trai, hay khôngbiết
Danhmục
Ý muốn cócon trai củangười chồng
Sự quan tâm, mong muốngiới tính thai nhi là con traicủa người chồng
Nhị phân
Hành vi uốngrượu củangười chồng
Tần suất uống rượu củangười chồng
Thứ hạng
Hành vi baolực của ngườichồng
Trong 12 tháng qua có ítnhất một trong những hànhvi: Đe dọa hay dọa nạt bằngbất cứ cách nào (quắc mắt,quát mắng, đập phá đồ đạc);
Hăm dọa; Đánh/tát/ném cái
Tần suất diễn ra cãi vã giữahai vợ chồng
Thứ hạng
giúp đỡ củangười thân
- Khi cần có thể nhờcậy được sự giúp đỡ củangười thân trong gia đìnhphụ nữ hoặc gia đình chồng
2.4 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin.
Kỹ thuật: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu
Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi định lượng
Trang 202.5 Quy trình thu thập số liệu
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
- Xin phép lãnh đạo đơn vị nơi tiến hành phỏng vấn
- Tiến hành nghiên cứu định tính thăm dò (phỏng vấn thăm dò, quan sát)các đối tượng cung cấp thông tin chính, là những người chuyên trách vềdân số và quản lý thai sản tại trạm y tế xã/thị trấn tại huyện Đông Anh
- Quan sát các cơ sở y tế tại địa điểm định nghiên cứu Bố trí phòng đủriêng tư, kín đáo, an toàn và trang thiết bị, cơ sở vật chất như bàn, ghế,quạt điện để có thể phỏng vấn đối tượng
- Lấy danh sách phụ nữ có thai được quản lý tại trạm y tế xã/thị trấn để cóthể lập danh sách đối tượng
- Xây dựng bộ công cụ định lượng
Giai đoạn 2: Thử nghiệm bộ công cụ và cơ sở vật chất đã chuẩn bị
- Gửi giấy mời cho 15 đối tượng đủ tiêu chuẩn trong danh sách
- Tiến hành phỏng vấn đối tượng tại cơ sở
- Đánh giá phản hồi của đối tượng, của cộng tác viên tại xã/thị trấn về bộcông cụ và cơ sở vật chất nơi tiến hành phỏng vấn
- Sửa đổi bộ công cụ và bổ sung, thay đổi cơ sở vật chất nếu cần
Giai đoạn 3: Nghiên cứu định lượng trên quần thể nghiên cứu
- Gửi giấy mời cho các đối tượng thuộc quần thể nghiên cứu
- Sử dụng bộ câu hỏi định lượng đã xây dựng để phỏng vấn trực tiếp cácđối tượng nghiên cứu
2.6Quản lí chất lượng số liệu.
Trang 21Sai số trong quá trình thu thập thông tin.
Đây là những sai số trong quá trình thu thập thông tin gây ra bởi cách điều traviên đặt câu hỏi hoặc do khả năng nắm bắt câu hỏi của các đối tượng còn hạn chế,hoặc do sai sót khi ghi chép thông tin
Phát triển bộ câu hỏi đơn giản, dễ hiểu
Điều phối viên giám sát quá trình thu thập số liệu và đánh giá kết quả điều travới tỷ lệ 5%
Tổ chức buổi họp thảo luận đánh giá công việc cuối mỗi tuần điều tra, rút kinhnghiệm cho tuần điều tra sau
2.7 Phân tích số liệu.
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata, sau đó được làm sạch, xử lý bằngphần mềm SPSS 16.0 Các biến số được trình bày theo tần suất và tỷ lệ phần trăm.Mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng rối loạn tâm thần thườnggặp được trình bày bằng tỷ suất chênh OR và ước lượng khoảng 95% CI
2.8 Đạo đức nghiên cứu.
Sự an toàn của người trả lời và nhóm nghiên cứu là rất quan trọng
Trang 22 Những người tham gia nghiên cứu sẽ được đảm bảo tính bảo mậtthông tin và phải được sự đồng ý của họ thông qua bản đồng thuậntham gia nghiên cứu.
Tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu sẽ được lựa chọn vàđược đào tạo chuyên nghiệp và tiến hành một cách cẩn thận
Phụ nữ tham gia nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đíchcủa nghiên cứu và lợi ích của họ
Thực hiện nguyên tắc giữ bí mật và giấu tên tất cả các thông tin liênquan đến người được phỏng vấn Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứukhông được gây thiệt hại cho người tham gia và bảo vệ họ bất cứ cáchnào có thể
Các kết quả của nghiên cứu sẽ được phản hồi cho cộng đồng và cácviện liên quan
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
3.1 Thực trạng rối loạn tâm thần thường gặp ở phụ nữ có thai dưới 24 tuần tuổi
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 : Bảng thông tin chung của đối tượng
Trang 23Thông tin đối tượng Tần số Tỉ lệ 95% CI
Trang 24là phụ nữ từ 18 tới 24 tuổi Đa phần có trình độ học vấn từ trung học phổ thông tớicao đẳng/đại học, lần lượt chiếm 38,63% và 44,06% Số người là nông dân(14,08%) nhiều hơn số sinh viên (4,02%) nhưng ít hơn công nhân viên chức lànghề nghiệp chủ yếu trong mẫu nghiên cứu (59,56%), có 22,33% làm các nghềkhác Hầu như các đối tượng không theo tôn giáo nào, chiếm 97,79% và tỉ lệ hộnghèo/cận nghèo được chính quyền địa phương xếp loại chỉ có 2,21% Hai phần ba
số phụ nữ đã có một con (65,16%), chỉ có 25 người trong số những người được hỏichưa có con nào, còn lại là những người đang mang thai con thứ 3 trở lên
3.1.2 Tỉ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần tuổi có CMDs
21.53
78.47
Có Không
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần có CMDs
Có 107 phụ nữ có rối loạn tâm thần thường gặp trên tổng số 497 số phụ nữtham gia nghiên cứu Biểu đồ 1 cho thấy tỉ lệ phụ nữ có thai dưới 24 tuần tại ĐôngAnh tham gia nghiên cứu có rối loạn tâm thần thường gặp là 21,53%; còn lại78,47% trong số họ không có rối loạn tâm thần thường gặp
3.1.3 Phân bố mắc CMDs giữa các nhóm đối tượng