MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cả nước ta hiện nay có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh xâm lược, nhân dân trong cả nước vẫn luôn là một khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh to lớn, vững mạnh giữ vững độc lập, chủ quyền cho quốc gia. Cho đến nay, các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 15 dân số của cả nước nhưng dân tộc thiểu số lại được phân bố trên hơn 34 diện tích lãnh thổ quốc gia, tại các vùng trọng yếu về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái. Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rất không đều nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như PuPéo, Rơmăm, Brâu... Trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước, góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khăn. Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên mà các dân tộc nước ta có có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau. Các dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng thấp như đồng bằng, trung du có trình độc phát triển kinh tế xã hội cao hơn các dân tộc sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Từ thời chiến cho đến thời bình, nhiều thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn ra sức chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam, các chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, chia rẽ đoàn kết dân tộc. Các dân tộc thiểu số miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn do kinh tế kém phát triển, nhận thức chưa cao, đời sống còn nghèo nàn, lạc hậu, điều kiện tiếp xúc với các phương tiên thông tin truyền thông còn hạn chế. Kẻ xấu đã lợi dụng điểm yếu đó, tiến hành diễn biến hòa bình, lôi kéo bà con làm mai một lòng tin vào Đảng, Nhà nước, đi ngược, chống đối lại các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Các dân tộc thiểu số còn cư trú ở các vùng biên giới, tiếp giáp với lãnh thổ nhiều quốc gia, nếu không có sự quản lý chặt chẽ, rất dễ dẫn đến việc xâm phạm chủ quyền, truyền bá những tệ nạn xã hội như ma túy, buôn lậu… vào đất nước. Giai đoạn hiện nay, vấn đề về nhân quyền, dân tộc, tôn giáo đang là những chủ đề “nhạy cảm” và “bức xúc”, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn được cả cộng đồng quốc tế quan tâm. Nắm được tình hình đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng xây dựng các chính sách, chương trình, dự án nhằm hỗ trợ nâng cao hơn đời sống của các dân tộc thiểu số miền núi, giúp cho kinh tế xã hội các vùng dân tộc phát triển đồng đều với cả nước. Muốn nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm đến kinh tế mà còn cần nâng cao dân trí, nhận thức, củng cố đời sống chính trị, văn hóa của bà con. Trong nhiều năm qua, Chính phủ chỉ đạo các tỉnh, địa phương phối hợp cùng các bộ, ban, ngành, các cơ quan chức năng triển khai nhiều chương trình, dự án trọng điểm quốc gia nhằm xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Công cuộc đấu tranh bảo vệ quốc gia không chỉ nằm ở kinh tế mà quan trọng hơn hết là giáo dục tư tưởng chính trị cho nhân dân. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với mục tiêu hỗ trợ, giúp đỡ bà con trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế… còn bào hàm ý nghĩa thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước tới đồng bào, củng cố lòng tin Đảng, yêu nước, nêu cao tình thân đấu tranh bảo vệ đất nước. Để bà con dân tộc hiểu được thông tin, hiểu biết về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, ngoài lực lượng truyên truyền còn hạn chế tại địa phương thì báo chí chính là kênh thông tin truyền thông chuyên nghiệp, hiệu quả trong công tác truyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến đồng bào dân tộc thiểu số. Tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm, thay đổi suy nghĩ của bà con. Để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được đến với bà con, được đồng bào thực hiện hiệu quả nhất, báo chí là lực lượng quan trọng trọng làm công tác đó. Nhiệm vụ của báo chí truyền thông trong công tác tuyên truyền chính sách tới đồng bào dân tộc thiểu số là rất quan trọng và cần thiết. Đảng và Nhà nước ngay từ những năm đầu đổi mới đã nắm bắt được tầm quan trọng của báo chí, từ đó đưa ra những chỉ đạo để báo chí hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình, đó là thông tin tuyền truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phản ánh chân thực, sâu sắc đời sống của nhân dân, làm tốt nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền. Xác định được yêu cầu đó, tôi chọn đề tài: “Khảo sát thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên báo Dân tộc và Phát triển năm 2012”. Báo Dân tộc và Phát triển là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Dân tộc, có chức năng thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về lĩnh vực công tác dân tộc. Chính vì thế, thông tin về chính sách dân tộc được ví như xương sống của Báo Dân tộc và Phát triển. Thông tin về chính sách dân tộc cần phải nhanh, kịp thời, đảm bảo tính chính xác của thông tin. Từ năm 1993, Chính phủ đã ra quyết định cấp một số loại báo (không thu tiền) cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Quyết định mới nhất đó là quyết định số 2472 ngày 28122011 của Thủ tướng Chính phủ về “Cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015”. Hệ thống các tờ báo, tạp chí, ấn phẩm cho dân tộc ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Trước tình hình trên, việc nghiên cứu, khảo sát thông tin về chính sách dân tộc trên báo Dân tộc và Phát triển là cần thiết.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của khóa luận 8
7 Kết cấu của khóa luận 8
Chương 1: Những chính sách, văn kiện nổi bật hiện nay liên quan đến dân tộc thiểu số miền núi 9
1.1.Các chính sách về dân tộc thiểu số miền núi 12
1.2.Hệ thống báo chí viết cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi 22
1.3.Sự ra đời và phát triển của báo Dân tộc và Phát triển 33
Tiểu kết chương 39
Chương 2: Khảo sát Thông tin về Chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên Báo Dân tộc và phát triển năm 2012 40
2.1.Tần suất xuất hiện 40
2.2.Phân loại các tác phẩm về thông tin 42
2.3.Hình thức thể hiện trên báo Dân tộc và Phát triển 61
Tiểu kết chương 69
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng báo Dân tộc và Phát triển 70
Trang 23.1.Đánh giá chung về báo Dân tộc và Phát triển 70
3.2.Một số đề xuất nâng cao chất lượng báo Dân tộc và Phát triển 73
Tiểu kết chương 79
KẾT LUẬN 80
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cả nước ta hiện nay có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống Trải qua bao nhiêucuộc chiến tranh xâm lược, nhân dân trong cả nước vẫn luôn là một khối đạiđoàn kết, tạo thành sức mạnh to lớn, vững mạnh giữ vững độc lập, chủ quyềncho quốc gia Cho đến nay, các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 1/5 dân số của cảnước nhưng dân tộc thiểu số lại được phân bố trên hơn 3/4 diện tích lãnh thổquốc gia, tại các vùng trọng yếu về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, môitrường sinh thái Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rấtkhông đều nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu Trong
đó, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, cótrình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầutrong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước, góp phần to lớn vàoviệc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam Tuy số dân
có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà,quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc,
cả khi thuận lợi cũng như lúc khăn
Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên mà các dân tộcnước ta có có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau Các dân tộcthiểu số sinh sống ở các vùng thấp như đồng bằng, trung du có trình độc pháttriển kinh tế - xã hội cao hơn các dân tộc sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa
Từ thời chiến cho đến thời bình, nhiều thế lực thù địch trong và ngoài nướcluôn ra sức chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam, các chủtrương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, chia rẽ đoànkết dân tộc Các dân tộc thiểu số miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó
Trang 4khăn do kinh tế kém phát triển, nhận thức chưa cao, đời sống còn nghèo nàn, lạchậu, điều kiện tiếp xúc với các phương tiên thông tin truyền thông còn hạn chế.
Kẻ xấu đã lợi dụng điểm yếu đó, tiến hành diễn biến hòa bình, lôi kéo bà conlàm mai một lòng tin vào Đảng, Nhà nước, đi ngược, chống đối lại các chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Các dân tộc thiểu số còn
cư trú ở các vùng biên giới, tiếp giáp với lãnh thổ nhiều quốc gia, nếu không có
sự quản lý chặt chẽ, rất dễ dẫn đến việc xâm phạm chủ quyền, truyền bá những
tệ nạn xã hội như ma túy, buôn lậu… vào đất nước Giai đoạn hiện nay, vấn đề
về nhân quyền, dân tộc, tôn giáo đang là những chủ đề “nhạy cảm” và “bức xúc”, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn được cả cộng đồng quốc tế quan
tâm
Nắm được tình hình đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chú trọng xâydựng các chính sách, chương trình, dự án nhằm hỗ trợ nâng cao hơn đời sống củacác dân tộc thiểu số miền núi, giúp cho kinh tế - xã hội các vùng dân tộc pháttriển đồng đều với cả nước Muốn nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc, Đảng
và Nhà nước không chỉ quan tâm đến kinh tế mà còn cần nâng cao dân trí, nhậnthức, củng cố đời sống chính trị, văn hóa của bà con
Trong nhiều năm qua, Chính phủ chỉ đạo các tỉnh, địa phương phối hợp cùngcác bộ, ban, ngành, các cơ quan chức năng triển khai nhiều chương trình, dự ántrọng điểm quốc gia nhằm xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống đồng bào dântộc thiểu số Công cuộc đấu tranh bảo vệ quốc gia không chỉ nằm ở kinh tế màquan trọng hơn hết là giáo dục tư tưởng chính trị cho nhân dân Các chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước với mục tiêu hỗ trợ, giúp đỡ bà con trong lĩnhvực kinh tế, giáo dục, y tế… còn bào hàm ý nghĩa thể hiện sự quan tâm sâu sắccủa Đảng và Nhà nước tới đồng bào, củng cố lòng tin Đảng, yêu nước, nêu caotình thân đấu tranh bảo vệ đất nước
Trang 5Để bà con dân tộc hiểu được thông tin, hiểu biết về các chủ trương, đườnglối, chính sách của Đảng, Nhà nước, ngoài lực lượng truyên truyền còn hạn chếtại địa phương thì báo chí chính là kênh thông tin truyền thông chuyên nghiệp,hiệu quả trong công tác truyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước đến đồng bào dân tộc thiểu số Tác động vào nhận thức, tâm tư, tìnhcảm, thay đổi suy nghĩ của bà con Để các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước được đến với bà con, được đồng bào thực hiện hiệu quả nhất, báo chí
là lực lượng quan trọng trọng làm công tác đó
Nhiệm vụ của báo chí truyền thông trong công tác tuyên truyền chính sách tớiđồng bào dân tộc thiểu số là rất quan trọng và cần thiết Đảng và Nhà nước ngay
từ những năm đầu đổi mới đã nắm bắt được tầm quan trọng của báo chí, từ đóđưa ra những chỉ đạo để báo chí hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình, đó làthông tin tuyền truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phản ánhchân thực, sâu sắc đời sống của nhân dân, làm tốt nhiệm vụ thông tin, tuyêntruyền
Xác định được yêu cầu đó, tôi chọn đề tài: “Khảo sát thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên báo Dân tộc và Phát triển năm 2012”.
Báo Dân tộc và Phát triển là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Dân tộc, có chứcnăng thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhànước và chỉ đạo của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về lĩnh vực công tácdân tộc Chính vì thế, thông tin về chính sách dân tộc được ví như xương sốngcủa Báo Dân tộc và Phát triển Thông tin về chính sách dân tộc cần phải nhanh,kịp thời, đảm bảo tính chính xác của thông tin
Từ năm 1993, Chính phủ đã ra quyết định cấp một số loại báo (không thutiền) cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quyết định mới nhất đó là quyết
định số 2472 ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về “Cấp một số ấn
Trang 6phẩm báo, tạp chí cho dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015” Hệ thống các tờ báo, tạp chí, ấn phẩm cho dân tộc ngày càng
được nâng cao cả về số lượng và chất lượng Trước tình hình trên, việc nghiêncứu, khảo sát thông tin về chính sách dân tộc trên báo Dân tộc và Phát triển làcần thiết
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng và đề ra nhiều chính sách để
hỗ trợ về báo chí, thông tin tuyên truyền cho vùng dân tộc thiểu số miền núi Hệthống báo, tạp chí, các ấn phẩm, phát thanh – truyền hình dành cho đồng bào dântộc thiểu số miền núi ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng Tuynhiên, những công trình nghiên cứu về mảng báo chí đề tài dân tộc thiểu số miềnnúi còn chưa nhiều, nhất là về báo in, tạp chí còn chưa nhiều Các tờ báo Trungương viết cho dân tộc thiểu số miền núi còn chưa được nghiên cứu, mà vẫn chỉtập trung ở một vài báo địa phương Liên quan đến đề tài nghiên cứu này, có một
số đề tài và hội thảo đáng chú ý sau:
- Năm 1995, tác giả Phạm Ngọc Quyết có luận văn với đề tài nghiên cứu:
“Mấy vấn đề chủ yếu góp phần tiếp tục đổi mới báo chí tỉnh miền núi TuyênQuang” Luận văn đã nêu lên một vài vấn đề về đổi mới báo chí tỉnh miền núiTuyên Quang từ năm 1995, những năm đầu đổi mới, do đó, luận văn tập trung đề
ra hướng đi, định hướng phát triển cho báo chí tỉnh miền núi nói chung, gồm cảbáo in, phát thanh – truyền hình mà chưa chú trọng và mảng báo in và tờ báo cụthể nào cả
- Năm 2004, Phùng Quốc Việt đã có đề tài nghiên cứu luận án thạc sỹ: “BáoBiên phòng với chủ đề bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia” Ở luận ánnày, tác giả tập trung nghiên cứu dựa trên phương pháp khảo sat – điều tra, thống
kê qua các bài báo của bạn đọc, ý kiến của lãnh đạo và các đồng nghiệp Do đó,
Trang 7kết quả khảo sát là khách quan, mang tính thực tế cao Luận án đã đưa ra nhữnggóp ý rất thực tế để góp phần nâng cao chất lượng của báo Biên phòng
- Năm 2010, tác giả Lữ Thị Ngọc đưa ra đề tài nghiên cứu bảo vệ luận ánthạc sỹ: “Nâng cao chất lượng báo in phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số (Khảosát trường hợp người Thái ở Tương Dương, Nghệ An)” Luận án đưa ra một sốgiải pháp để nâng cao chất lượng báo in cho đồng bào dân tộc thiểu số dựa trênkhảo sát dân ở một vùng nhất định, do đó, luận án có tính chính xác cao, cụ thể
- Ngày 7/9/2012, báo Dân tộc và Phát triển tổ chức Hội thảo “Nâng caohiệu quả thông tin tuyên truyền thực hiện chính sách dân tộc và biển đảo” Hộithảo nêu ra nhiệm vụ của báo Dân tộc và Phát triển trong giai đoạn hiện nay, đó
là phải tăng cường thông tin tuyên truyền không chỉ cho đồng bào dân tộc thiểu
số mà còn chú trọng vào các vùng biển đảo
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Khảo sát thực trạng đăng tải thông chính về chính sách dân tộc thiểu số miềnnúi trên báo Dân tộc và Phát triển, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nângcao chất lượng thông tin trên báo
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả khóa luận đã phải hoànthành những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ và
Ủy ban Dân tộc liên quan đến vấn đề dân tộc thiểu số miền núi
+ Tìm hiểu, nghiên cứu về hệ thống báo chí viết cho đồng bào dân tộc thiểusố
Trang 8+ Tiến hành khảo sát các tờ báo của báo Dân tộc và Phát triển năm 2012, từ
đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, hạn chế về nội dung và hình thức thểhiện
+ Thông qua nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội học nhằm đánh giá chấtlượng nội dung và hình thức của tờ báo, đồng thời tìm hiểu hiệu quả và sự tácđộng của các thông tin về chính sách dân tộc thiểu số đối với cán bộ, đồng bàosinh sống tại vùng cao, vùng sâu, vùng xa…
+ Từ những nghiên cứu trên, đề ra kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên báo Dân tộc và Pháttriển
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên báo Dân tộc và Phát triển
- Phạm vi nghiên cứu:
Khảo sát thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên báo Dân tộc vàPhát triển
Thời gian khảo sát từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả dựa trên phương pháp luận củachủ nghĩa Mác – LêNin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử Đồng thời, tác giả cũng dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh vềđường lối dân tộc; dựa trên những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước đối với vấn đề dân tộc thiểu số miền núi
- Phương pháp nghiên cứu:
Trang 9Để nghiên cứu đề tài này, tác giả khóa luận đã sử dụng những phương phápnghiên cứu sau:
+ Phương pháp điều tra xã hội học
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của khóa luận
- Ý nghĩa lý luận của đề tài:
Đề tài nghiên cứu này sẽ khẳng được được vai trò, nhiệm vụ của báo Dân tộc
và Phát triển trong công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách các dân tộcthiểu số miền núi Đồng thời, đề tài cũng phát hiện ra những điểm hạn chế, thiếusót, đề ra kiến nghị, phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của báotrong công tác thông tin về chính sách dân tộc thiểu số
- Ý nghĩa thực tiễn của khóa luận:
Luận văn sẽ là đề tài tham khảo cho các đồng nghiệp, các nhà quản lý, nhànghiên cứu về dân tộc thiểu số miền núi, các sinh viên báo chí tại các cơ sở đàotạo chuyên ngành báo chí, đặc biệt là các phóng viên, biên tập viên trực tiếptham gia sản xuất, phát hành tờ báo Dân tộc và Phát triển
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luậnvăn này gồm có 3 chương và 8 mục lớn
Trang 10Chương 1 Những chính sách, văn kiện nổi bật hiện nay liên quan đến vấn đề dân tộc
thiểu số miền núi.
1.1 Các chính sách về dân tộc thiểu số miền núi
1.1.1 Các chính sách kinh tế - xã hội
1.1.2 Các chính sách về thông tin, tuyên truyền
1.2 Hệ thống báo chí viết cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi
1.2.1 Các loại báo, tạp chí
1.2.2 Phát thanh – truyền hình
1.2.3 Nội dung thông tin tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số miền
núi của báo chí
1.2.4 Công tác phát hành báo chí phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số miền núi
1.3 Sự ra đời và phát triển của báo Dân tộc và Phát triển
1.3.1 Một vài nét về tờ báo Dân tộc và phát triển
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của báo Dân tộc và Phát triển
1.3.3 Cơ cấu tổ chức
Tiểu kết chương
Chương 2 Khảo sát thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên báo Dân tộc
và Phát triển năm 2012 2.1 Tần xuất xuất hiện
2.2 Phân loại tác phẩm về thông tin
2.2.1 Đề tài phản ánh
Trang 112.2.2.4 Nêu gương người có uy tín trong cộng đồng dân tộc; phát hiện, tuyên truyền, nêu gương tập thể, cá nhân làm kinh tế giỏi, thực hiện mô hình sản xuất tiên tiến, hiệu quả
2.3 Hình thức thể hiện trên báo Dân tộc và Phát triển
Trang 12Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng báo Dân tộc và Phát triển 3.1 Đánh giá chung về báo Dân tộc và Phát triển
3.1.1 Những ưu điểm của thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi3.1.2 Những nhược điển của thông tin về chính sách dân tộc thiểu số miền núi
3.2 Một số đề xuất nâng cao chất lượng báo Dân tộc và Phát triển
3.2.1 Lựa chọn và phát hiện đề tài phản ánh phong phú, đa dạng hơn
3.2.2 Vấn đề phản ánh phải sâu sát, thông tin khách quan, cụ thể, dễ hiểu đối vớiđồng bào
3.2.3 Các vấn đề phải có tính khái quát, điển hình, có thể áp dụng vào thực tiễn3.2.4 Nội dung phải có tính chiến đấu, thông tin đa chiều
3.2.5 Nâng cao tính thẩm mỹ trong hình thức trình bày
3.2.6 Vấn đề nhân lực
3.2.6.1 Phóng viên, biên tập viên
3.2.6.2 Tăng cường xây dựng mạng lười cộng tác viên
3.2.7 Tăng kỳ, tăng số lượng phát hành, phạm vi phát hành rộng rãi
Tiểu kết chương
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 13Chương 1: Những chính sách, văn kiện nổi bật hiện nay liên quan đến dân tộc thiểu số miền núi.
1.1 Các chính sách về dân tộc thiểu số miền núi
1.1.1 Các chính sách kinh tế - xã hội
Đồng bào dân tộc và miền núi là một bộ phận dân cư quan trọng đối với đấtnước cả về chính trị, kinh tế và văn hóa, chính vì thế Đảng và Nhà nước luôn tạođiều kiện để đồng bào DTTSMN phát triển toàn diện mọi mặt Ngay trong Hiếnpháp và hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ mục tiêu bao
trùm đó là thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là trách nhiệm của Nhà nước Chính vì vậy, chính sách dân tộc
là chính sách tổng hợp, có nội dung toàn diện và đa ngành Nội dung về cácchính sách dân tộc hiện nay tập trung vào 3 vấn đề chủ yếu là:
- Chính sách phát triển kinh tế vùng dân tộc, nhằm xóa đói, giảm nghèo, cảithiện đời sống của đồng bào, phát huy thế mạnh, tiềm năng của vùng đồng bàodân tộc, từ đó gắn với kế hoạch phát triển kinh tế chung của cả nước
- Chính sách đời sống, xã hội, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y
tế, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội,… hướng đến nâng cao năng lực,dân trí, đời sống cho đồng bào dân tộc để cân bằng với mặt bằng chung của cảnước
- Chính sách liên quan đến các lĩnh vực quốc phòng, an ninh nhằm củng cố địabàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề các dân tộc, quan hệ dân tộc qua biêngiới…
Từ những năm đầu đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định được rằng pháttriển vùng dân tộc thiểu số miền núi là một trong những mục tiêu quan trọng,thiết yếu đối với đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương,chính sách dành cho vùng dân tộc thiểu số miền núi Nghị quyết 22 của Bộ
Trang 14Chính trị (27/11/1989) về “Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế
- xã hội miền núi”, các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
IX Quán triệt những chủ trường, đường lối chỉ đạo của Đảng, nội dung chínhsách dân tộc được cụ thể hóa với hàng loạt các chương trình kế hoạch được bạnhành và đi vào cuộc sống
Mới đây nhất, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, Đảng
xác định: “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ” (Đại hội X) và “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển” (Đại hội XI) Đảng ta chỉ rõ hướng phát triển cụ thể đối
với các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn Về chính sáchkinh tế - xã hội, văn hóa – xã hội cũng như an ninh – quốc phòng: “… Tăngcường chính sách hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn, nhất là vùngsâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Nâng cao dân trí, đẩy mạnh xoáđói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân; có chế độ, chính sách hợp lý đốivới cán bộ, bộ đội, công an, nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biêncương của Tổ quốc, bảo vệ rừng và nguồn nước… Bảo đảm công bằng xã hộitrong giáo dục; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với người và gia đình
có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi, học sinh nghèo, học sinhkhuyết tật, giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn.”Quyết định 72 ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) làbước cụ thể hóa Nghị quyết 22 của Đảng; Quyết định 327 (1992) của Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống, đồi núitrọc; Nghị quyết 64 (1993) ban hành bản quy chế về việc giao đất nông nghiệpcho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nôngnghiệp; Quyết định 02/CP (1994) của Chính Phủ ban hành quy định về việc giaođất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào
Trang 15mục đích lâm nghiệp; Chương trình Mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo;Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Chương trình 135
về đầu từ phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn…
Theo rà soát của Ủy ban Dân tộc, hiện có 20 nhóm chính sách của Nhà nướcvới hơn 50 chương trình, chính sách cụ thể do các bộ, ngành, địa phương quản
lý, chỉ đạo thực hiện trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi Trong phạm vi khóaluận này xin được trình bày một số chính sách, chương trình cơ bản được đề cậpnhiều nhất trong nội dung báo Dân tộc và Phát triển
Về chính sách kinh tế - xã hội, Nhà nước luôn chú trọng hỗ trợ nhằm tạo điều
kiện phát huy thế mạnh của từng vùng, địa phương từ đó từng bước nâng mặtbằng phát triển kinh tế đồng đều trên cả nước Trong các chương trình phát triển
về kinh tế dành cho đồng bào DTMN, Chương trình 135 hiện đang được thựchiện sâu rộng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước “Chương trình 135” lấy tên
gọi từ quyết định 135 ngày 31/7/1998 của Chính phủ “Phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa” Quyết định 135 đề ra mục tiêu tổng quát: nâng cao nhanh đời sống vật chất,
tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùngsâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạngnghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cảnước; góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng Chươngtrình 135 bước đầu đã tạo được nhiều biến chuyển trong tình hình kinh tế - xãhội ở các vùng đồng bào DTMN đặc biệt khó khăn, là bước “khởi động” cho cảmột quá trình đầy gian nan, thử thách
Nhận thấy nhiều biến chuyển khả quan trong tình hình kinh tế - xã hội tại cácđịa phương sau quá trình thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 1998-2005, ngày
10/01/2006, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 07 “Phê duyệt Chương trình
Trang 16phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi và vùng sâu, vùng xa giai đoạn từ năm 2006-2010” Chương trình được tiến
hành tại 1644 xã nghèo trong 45 tỉnh, phần lớn là các vùng dân tộc miền núi,ngân sách dành cho Chương trình khoảng 800 triệu USD
Mới đây nhất, vào ngày 04/04/2013, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số
551 “Phê duyệt Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn”, quyết định đề ra kế hoạch tiếp tục thực hiện
Chương trình 135 giai đoạn 2012-2015 và 2015-2020
Song song với Chương trình 135, đồng bào DTMN cũng được hưởng hỗ trợ
từ quyết định 134 “Về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và
nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn” (gọi
tắt là Chương trình 134) Nhân dân ta có câu “an cư lạc nghiệp”, phải “an cư” rồimới “lạc nghiệp”, nơi ở, nơi sinh hoạt là yếu tố quan trọng để đồng bào DTMN
có thể ổn định được cuộc sống, sản xuất, phát triển kinh tế, thoát nghèo
Đồng bào DTMN nhiều tỉnh trên cả nước và nhất là các tỉnh miền núi phíaBắc nước ta thường có tập quán du canh, du cư Chính việc không ổn định đượcnơi ở, nơi sản xuất là một trong những nguyên nhân khiến cuộc sống của đồngbào luôn trong tình trạng nghèo đói, khó khăn, thiếu lương thực Nhận biết đượctình hình đó, Chính phủ đã ra quyết định đúng đắn, hỗ trợ về nhà ở, cung cấpnước sạch để sinh hoạt, hỗ trợ đất sản xuất, giúp cho đồng bào DTMN ổn địnhnơi ở, cải thiện đời sống Cùng với việc hỗ trợ chính sách, thông tin tuyên truyềncho đồng bào hiểu được chính sách, dần dần thay đổi tập quán, phong tục ducanh, du cư của dân tộc mình cũng là yếu tố quyết định để chính sách có thểthành công
Trang 17Cùng với Chương trình 134, đồng bào dân tộc thiểu số miền núi và các hộnghèo trên khắp cả nước cũng được hưởng nhiều ưu đãi về nhà ở tại quyết định
số 167 ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở” Trong đó, các hộ đồng bào DTMN thuộc diện ưu tiên được
nhận hỗ trợ về nhà ở, số hộ được hỗ trợ theo quyết định là 500.000 hộ
Đặc biệt, tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, ngày 9/6/2008, Chính phủ ban
hành Quyết định 74 “Về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất
và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng ĐBSCL, giai đoạn 2008 – 2010” Đây là sự tiếp nối nhằm tháo gỡ những
khó khăn, vướng mắc tại các địa phương trong việc thực hiện Chương trình 134của Chính phủ về hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc, thể hiện sự quan tâm đặc biệtcủa Chính phủ đến đời sống đồng bào dân tộc nghèo, đặc biệt là người Khmer.Quyết định 74 dành nhiều khoản ưu đãi nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc
hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc, qua đây cũng có những quy định mang tính ràngbuộc, nhằm hướng đến sự phát triển vùng đồng bào dân tộc một cách bền vững Thời gian qua, tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
đã đóng góp những biến chuyển nhất định trong tình hình xóa đói giảm nghèochung của cả nước Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệchgiàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt là ở nhữnghuyện có tỷ lệ hộ nghèo cao
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng chủ yếu là do
vị trí địa lý của những vùng này phức tạp, đường sá giao thông chưa phát triển,nguồn vốn đầu tư của Nhà nước đến đây còn thiếu tập trung, vốn mỏng, dàn trảidẫn đến hiệu quả thấp Trước tình hình đó, Chính phủ ra nghị quyết số 30a ngày
27/12/2008 “Về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo” Mục tiêu của Chương trình là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về
Trang 18đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộccác huyện nghèo, đảm bảo đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khuvực
Trong thời gian qua, để thực hiện tốt những chính sách dành cho đồng bàoDTMN, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Ủy ban Dân tộc và cơ quan ngôn luận làbáo Dân tộc và Phát triển đã thực hiện tích cực nhiệm vụ phổ biển rộng rãi quyết
định 30 “Về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc miền núi giai đoạn 2012-2015”, ban hành ngày 18/7/2012 Đây có thể coi là một
quyết định tương đối quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi tới các xã, thôn,vùng đồng bào DTMN trên cả nước
Các chính sách, chương trình của Chính phủ thường hướng tới đối tượng làcác hộ nghèo, tuy nhiên, đối tượng là các hộ cận nghèo cũng có cuộc sống rấtkhó khăn Các hộ nhận được hỗ trợ phải nằm trong “chuẩn” xét hộ nghèo, nhiều
hộ cận nghèo tuy không “nghèo” theo “chuẩn” nhưng họ cũng rất cần những hỗtrợ từ các chính sách bởi đời sống vẫn tồn tại nhiều khó khăn, tuy nhiên cho đếngiờ, các chính sách cho hộ cận nghèo vẫn chưa được chú trọng
Cho đến nay, Chính phủ đã đầu tư nhiều chương trình, ra quyết định ban hànhcác chính sách hỗ trợ cho đời sống của các hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số
Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –
2020 (Quyết định 800 ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ) hiện đang được
triển khai sâu rộng tại nhiều vùng trên cả nước Mục tiêu tổng quát của Chươngtrình là từng bước thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, cải thiện đời sống củangười dân Chương trình được triển khai trên địa bàn nông thôn của toàn quốc,
từ năm 2010 đến năm 2020
Tại Hội nghị toàn quốc đánh giá và triển khai thực hiện chính sách vùng dân tộc miền núi, do Ủy ban dân tộc tổ chức ngày 11/4/2013, theo báo cáo tổng kết
Trang 19của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử, trong những nămqua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ngày càng toàn diện và đồng bộcho vùng dân tộc và miền núi, với nguồn lực đầu tư nhiều hơn, thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồngbào Về kinh phí, trong giai đoạn 2006 - 2012, Chính phủ đã bố trí nguồn chocác chương trình, chính sách vùng dân tộc và miền núi với tổng kinh phí trên54.770 tỷ đồng Bên cạnh những thành tựu, ông Giàng Seo Phử thừa nhận 8điểm hạn chế, yếu kém cần được khắc phục trong xây dựng và thực hiện cácchính sách phát triển vùng DTMN thời gian qua.
Về chính sách đời sống, để đời sống của đồng bào DTMN ngày càng được cải
thiện, giáo dục là nhiệm vụ quan trọng, thiết yếu đặt ra Giáo dục để đem lại kiếnthức không chỉ về khoa học – kĩ thuật mà còn đem lại kiến thức về văn hóa, xãhội, nâng cao nhận thức, dân trí cho đồng bào DTMN Chính vì thế, bên cạnhcác chính sách đầu tư hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, đất sản xuất, nhà ở, cơ sở vật chất,
Chính phủ ban hành nghị định số 82 ngày 15/7/2010 về “Quy định dạy và học tiếng nói của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên”.
Nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta, do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn, việcdạy và học chính ngôn ngữ của mình cũng gặp nhiều cản trở dẫn đến ngôn ngữcủa nhiều dân tộc bị mai một dần, những giá trị văn hóa, bản sắc của dân tộc do
đó cũng bị mai một dần Xét tình hình trên, Chính phủ ban hành Nghị định 82 làphù hợp với điều kiện thực tế Tuy nhiên, công tác dạy tiếng, chữ viết dân tộc tạicác trường phổ thông tại nhiều vùng còn gặp nhiều hạn chế, khó đảm bảo tínhliên tục và bền vững Bởi đội ngũ giáo viên đạt chuẩn dạy được tiếng, chữ viếtdân tộc còn ít so với nhu cầu thực tế; sách giáo khoa, tập viết chữ dân tộc của
Trang 20học sinh còn ít, chậm được đầu tư, hỗ trợ trong khi ngoài thị trường chưa có bánloại sách giáo khoa, tập viết tiếng dân tộc…
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núicũng là vấn đề gai góc được đặt ra Do điều kiện cơ sở hạ tầng, đường sá giaothông, bệnh viện trạm xá còn thiếu thốn nên việc khám chữa bệnh tại các vùngdân tộc là tương đối khó khăn Bên cạnh đầu tư cơ sở hạ tầng về y tế, tuyêntruyền, giáo dục cho người dân về ý thức, thói quen khám chữa bệnh cũng lànhiệm vụ cấp thiết được đề ra Ngoài việc tăng cường đội ngũ y bác sĩ tại cácvùng dân tộc, chính sách y tế cũng chú trọng đến việc giáo dục kiến thức về sứckhỏe, phòng chống dịch bệnh cho đồng bào
Về phương diện văn hóa, nội dung bao trùm của lĩnh vực văn hóa trong chính
sách dân tộc là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc Nền văn hóa bao gồm các giá trị và bản sắc của 54 dân tộc đang cư trú trênkhắp mọi miền đất nước, tạo nên sự thống nhất đa dạng của nền văn hóa ViệtNam Nội dung chính sách văn hóa cụ thể như: phát triển ngôn ngữ; phát triểnvăn hóa, giáo dục, xây dựng đời sống văn hóa mới; chính sách thông tin tuyêntruyền cho miền núi, vùng sâu, vùng xa; bài trừ hủ tục, chống và đẩy lùi các tệnạn xã hội Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) chỉ rõ: giữ gìn bản sắc văn hóacác dân tộc; nâng cao trình độ dân trí; xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp;phát triển văn hóa các dân tộc trong mối quan hệ kết hợp truyền thống và hiệnđại; đào tạo, bồi dường cán bộ văn hóa; nâng cao công tác thông tin tuyên truyềnbáo chí; đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống diễn biến hòa bình trên mặt trận tưtưởng – văn hóa
Trong các chính sách về thông tin, tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu sốtrong giai đoạn hiện nay, nổi bật lên là quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt Chương trình phổ biến,
Trang 21giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 và Đề án 554 về tuyên truyền,phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số giaiđoạn 2009 – 2012 Đề án này được phê duyệt theo quyết định số 554/QĐ-TTgngày 04/05/2009 với mục tiêu: tuyên truyền, phổ biến các nội dung pháp luật đãlựa chọn thông qua các hình thức phù hợp cho người dân nông thôn và đồng bàodân tộc thiểu số nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ
về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, từng bước hình thành nếp sống vàlàm việc theo pháp luật của người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số
Về quốc phòng, an ninh: đồng bào dân tộc thiểu số miền núi nước ta chủ yếu
sinh sống ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới,… có vị trí chiến lược quantrọng về an ninh chính trị, an ninh quốc phòng Các thế lực thù địch luôn lợidụng nhưng điểm yếu của dân tộc sống ở những vùng này như đói nghèo, lạc hậu
để thực hiện những hành vi không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự của đấtnước, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc phòng, toàn vẹn chủ quyềnlãnh thổ của quốc gia Chính vì vậy, thực hiện chính sách dân tộc có ý nghĩa rấtquan trọng đối với an ninh quốc phòng
Trong các Chương trình hỗ trợ dành cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi,công tác nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị - xãhội luôn được nhấn mạnh, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế Để bảo vệ anninh quốc phòng, không chỉ có sức mạnh về kinh tế, về quân sự mà cái cốt yếu,
đi đầu chính là sức mạnh chính trị Chính sách dân tộc trong lĩnh vực quốcphòng an ninh đặt ra yêu cầu phải xây dựng cơ sở chính trị trong lòng đồng bàodân tộc, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các lực lượng trên địa bàn Các lựclượng vũ trang đóng trên địa bàn là các chiến sĩ tuyên truyền, tổ chức và vậnđộng quần chúng Tăng cường mối quan hệ nhân dân, đi sâu, bám rễ vào tronglòng quần chúng
Trang 221.1.2 Các chính sách về thông tin, tuyên truyền
Trong những năm qua, báo chí truyền thông đóng một vai trò quan trọngtrong việc tuyền truyền sâu rộng những chủ trương, chính sách và pháp luật củaĐảng và Nhà nước, phổ biến kiến thức về khoa học kỹ thuật, cung cấp thông tin
về mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc miền núi
Ngay từ những ngày đầu đổi mới, trong Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị banhành ngày 27/11/1989, nội dung chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã nếu rõ:
“Tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu thanh cát - sét, máy thu hình, băng ghi hình, để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình ở địa phương, phổ biến các văn hóa phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào các dân tộc Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (và các chữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền” Đảng và Nhà nước đã
nhận thực được tầm quan trọng của thông tin truyền thông, của báo chí trongcông cuộc phát triển kinh tế - xã hội cùng đồng bào dân tộc miền núi
Trong Quyết định 72 (13/03/1990) của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) chỉ rõ: “Giúp đỡ các tỉnh, các huyện miền núi kinh phí xây dựng trạm tiếp sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam”, “các tỉnh cần cải tiến nâng cao chất lượng nội dung và hình thức báo địa phương, chú trọng giới thiệu các cá nhân, hộ gia đình, các bản làng về làm ăn giỏi, xây dựng nông thôn mới trong vùng để đồng bào học tập…”.
Ngày 03/12/1998, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 39 về việc “Đẩy mạnh công tác văn hóa, thông tin ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.
Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định, ngày càng có tính chất đi sâu vào thựctiễn, dần dần đáp ứng được nhu cầu về các ấn phẩm báo, tạp chí cho đồng bàodân tộc thiểu số và miền núi Được sự quan tâm và hỗ trợ từ các chủ trương,
Trang 23chính sách của Đảng và Nhà nước, các cơ quan làm công tác thông tin tuyêntruyền, số lượng báo, tạp chí, bản tin, các chương trình phát thanh, truyền hình,các chuyên mục về dân tộc thiểu số miền núi ngày càng được nâng cao cả về sốlượng và chất lượng, nội dung phong phú, hấp dẫn hơn Các phương tiện thuphát, phủ sóng phát thanh truyền hình được mở rộng và mạng lưới phát hành báochí ngày càng được mở rộng tới các vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới, hảiđảo.
Nhận thức được vai trò của báo chí trong thôn tin tuyền truyền chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước, trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ:
“Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng Báo chí, xuấtbản làm tốt chức năng tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong
xã hội, giới thiệu gương người tốt việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê pháncác hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với nhữngquan điểm sai trái; coi trọng nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiếnđấu của thông tin Sử dụng Internet đẩy mạnh thông tin đối ngoại, đồng thời hạnchế, ngăn chặn những hoạt động tiêu cực qua mạng Khắc phục khuynh hướng
"thương mại hoá" trong hoạt động báo chí, xuất bản Nâng cao bản lĩnh chính trị,
tư tưởng, ý thức trách nhiệm, trình độ văn hoá và nghề nghiệp, phẩm chất đạođức của đội ngũ báo chí, xuất bản”
1.2 Hệ thống báo chí viết cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi
1.2.1 Các loại báo, tạp chí
Theo con số thống kê chính thức của Nhà nước, tính đến ngày 30/11/2012,Việt Nam hiện có 812 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm, trong đó có 197báo in (84 cơ quan Trung ương và 113 cơ quan địa phương); 615 tạp chí (488 tạp
Trang 24chí Trung ương và 127 tạp chí Địa phương); 62 trang tin điện tử; 67 đài phátthanh truyền hình trên cả nước; 1024 trang tin điện tử tổng hợp chung (trong đó
có 300 trang của các cơ quan báo chí) và 17.000 nhà báo được cấp thẻ hànhnghề Với đội ngũ các cơ quan báo chí và lực lượng nhà báo đông đảo, các ấnphẩm báo chỉ không ngừng phát triển về số lượng, cập nhật thông tin thời sựnóng hổi, phục vụ nhu cầu của đông đảo bạn đọc
Hầu hết các báo Trung ương như Nhân Dân, Lao động, Tiền phong, Quân độiNhân dân, Đại đoàn kết, Phụ nữ Việt Nam, Văn nghệ, Công an nhân dân, Nôngthôn ngày nay, Nông nghiệp Việt Nam, Pháp luật Việt Nam… và các từ báo tỉnhcủa miền núi đều thường xuyên đăng tải các tin, bài, chuyên mục về các vấn đềdân tộc, miền núi Một số tờ báo còn ra các số chuyên đề, phụ trương, chuyêntrang, bản tin riêng phục vụ đồng bào dân tộc miền núi với số lượng ngày càngtăng Ngoài ra, cồn nhiều ấn phẩm chuyên biệt dành riêng cho dân tộc miền núinhư báo Dân tộc và Phát triển, Tạp chí dân tộc, Bản tin ảnh Dân tộc thiểu sốmiền núi, Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi, …
Do hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, việc tiếp cận với các ấn phẩm thông tincòn hạn chế, Chính phủ đã ra nhiều quyết định hỗ trợ, cấp báo (không thu tiền)cho các vùng dân tộc thiểu số miền núi, góp phần phổ cấp kiến thức, thông tincho đồng bào vùng sâu, vùng xa Từ quyết định số 21 ngày 16/01/1993 của Thủ
tướng Chính phủ về việc “Quyết định về chính sách đối với việc phát hành sách, báo, phim ảnh cho thiếu nhi”, chỉ đạo cấp báo (không thu tiền) cho đối tượng là
thiếu nhi, qua các năm, đối tượng được cấp báo, tạp chí đã được mở rộng hơn,phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng nhu cầu được tiếp nhiện thông tin củađồng bào thiểu số miền núi, đồng thời thực hiện công tác thông tin, tuyên truyềnphục vụ sự nghiệp phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho đồng bào dântộc thiếu số và các vùng khó khăn
Trang 25Thiếu nhi là đối tượng cần được xã hội đặc biệt quan tâm và thiếu nhi có nhucầu lớn về việc thông tin qua sách, báo, phim ảnh Việc làm ra và cung cấp cácloại sách, báo, phim ảnh, các chương trình phát thanh truyền hình, các chươngtrình vui chơi giả trí dành riêng cho thiếu nhi là việc làm quan trọng và cần thiết.
Để đáp ứng nhu cầu sách, báo cho thiếu nhi ở những vùng nông thôn miền núi vàTây Nguyên, vùng xa và hải đảo, Nhà nước cấp (không thu tiền) một số loạisách, báo cho các trường phổ thông cấp I, II và các trường dân tộc nội trú
Từ thời gian này, Nhà nước đã quan tâm đến việc thông tin, giáo dục chothiếu nhi, đặc biệt là trẻ em ở các vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số miền núi,hải đảo Qua thời gian, đối tượng của chính sách tài trợ báo, tạp chí đã được mởrộng, không chỉ dành cho trẻ em mà là dành cho đông đảo đồng bào dân tộcthiểu số miền núi Ngày 31/12/2001, Chính phủ ban hành Quyết định 1637 về
việc “Nhà nước cấp (không thu tiền) một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi”.
Chủ trương cấp báo (không thu tiền) cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu sốmiền núi được tiếp nối bằng nhiều quyết định đó là Quyết định số 975 ngày
20/7/2006 về việc “Cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số miền
núi, vùng đặc biệt khó khăn”; Quyết định số 2472 ngày 28/12/2011 về “Cấp một
số ấn phẩm báo, tạp chí cho dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015” Điểm mới trong quyết định 975 (giai đoạn 2006-
2010) so với quyết định 1637 năm 2001 đó là tăng số lượng báo, tạp chí và mởrộng đối tượng được hưởng lợi từ chính sách này Các ấn phẩm được cấp ngàycàng được mở rộng về nội dung, dành cho nhiều đối tượng từ trẻ em đến ngườicao tuổi, nội dung cung cấp kiến thức phong phú về sản xuất, sức khỏe, phápluật, an ninh quốc phòng… Ấn phẩm dành cho dân tộc thiểu số miền núi được
in bằng Tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác nhau như: Tày, Thái, Khmer, Mường,
Trang 26Dao, Mông, Hoa, H’re, Ba Na, Chăm, Cao Lan… Các Bộ, ban ngành Trungương phối hợp thực hiện, triển khai các chính sách của Chính phủ mà cơ quanchủ quản là Ủy ban Dân tộc
Với nội dung thông tin đa đạng, phong phú phản ánh nhiều mặt của đời sống
xã hội, các ấn phẩm báo chí như Nông thôn ngày nay, Đại đoàn kết, Tạp chí Dântộc, Thanh niên, chuyên đề Dân tộc thiểu số, nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo…luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, các sự kiện chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng diễn ra trong nước và trên thế giới Báo chí đã tập trung phản ánh những thành tựu đổi mới, sự phát triển kinh tế -
xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Các kiến thức về bảo tồn các giá trị vănhóa dân tộc; Phê phán những phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, các tệnạn xã hội; Kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi; Nêu gương điển hình tiên tiến về laođộng sản xuất, kinh doanh giỏi; Hiệu quả từ việc thực hiện các chính sách củaĐảng và Nhà nước thông qua các chương trình 134, 135, chính sách trợ giá, trợcước, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội đã góp phần tuyên truyền, phổ biếnđường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung cấpnhững thông tin bổ ích trong lao động, sản xuất cho bà con Các ấn phẩm báo chí
đã thực sự trở thành kênh thông tin hữu ích đối với bà con dân tộc thiểu số
Từ năm 1992, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) đã xuất bản Bản tin ảnh vànăm 1995 xuất bản thêm chuyên đề Dân tộc miền núi với số lượng bản tin720.000 số/kỳ, chuyên đề 120.000 số/kỳ phát hành tới các xã thuộc miền núi trên
cả nước Tạp chí Dân tộc và Miền núi xuất bản năm 1999 với số lượng phát hành60.000 bản/năm, phát hành không thu tiền đến các cán bộ xã, trụ sở làm việc củatất cả các xã trong cả nước
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, từ tháng 7-2012, “Báo ảnh Dântộc và Miền núi” song ngữ Việt-Khmer, Việt-Chăm, Việt-Ba Na, Việt-Jrai, Việt-
Trang 27Êđê của TTXVN số đầu tiên đã ra mắt bạn đọc cả nước, đặc biệt là đồng bào cácdân tộc thiểu số có chữ viết Bảo ảnh xuất bản bằng hai thứ tiếng nên đã nhanhchóng có sức lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Đến nay, ấnphẩm song ngữ này đã có mặt tại 52 tỉnh, thành miền núi và vùng đồng bào dântộc trọng điểm với số lượng phát hành lên tới 35.000 bản/ kỳ Hiện TTXVNđang khẩn trương khảo sát và chuẩn bị các điều kiện để trong quí 2 năm 2013tiếp tục mở rộng xuất bản thêm 3 ấn phẩm của “Báo ảnh Dân tộc và Miên núi”song ngữ gồm Việt-Mông, Việt-K'Ho và Việt-M'Nông Dự kiến, đến năm 2015,TTXVN sẽ xuất bản các ấn phẩm song ngữ của tất cả các thứ tiếng dân tộc thiểu
số có chữ viết được Nhà nước công nhận TTXVN cũng đang chuẩn bị đề ánthành lập báo điện tử bằng các thứ tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Chuyên đề Nhi đồng "Dân tộc thiểu số và miền núi" của báo Nhi đồng cấpcho các trường tiểu học; các trường dân tộc nội trú bậc tiểu học của các tỉnhmiền núi, vùng dân tộc thiểu số Chuyên đề Thiếu niên Tiền phong "Dân tộcthiểu số và miền núi" của báo Thiếu niên Tiền phong cấp cho các trường phổthông trung học cơ sở thuộc các xã miền núi, vùng cao; các trường dân tộc nộitrú bậc trung học cơ sở của các tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, biên giới,hải đảo Báo Thiếu nhi Tiền phong đã xuất bản riêng tờ Thiếu nhi dân tộc inbằng tiếng Việt và in bằng các tiếng: Tày, Thái, Khmer, Mường, Dao, H’Mông,Hoa, H’re, Ba Na, Chăm, Cao Lan, phát hành không thu tiền cho các lớp phổthông trung học cơ sở các tỉnh miền núi
Báo Văn nghệ Dân tộc Miền núi là số chuyên đề của Báo Văn nghệ thuộc hộinhà văn Việt Nam có số lượng phát hành 11.000 bản/năm Báo Văn hóa có sốchuyên đề “Nông thôn, Dân tộc, Miền núi” số lượng 1.000 bản/kỳ, phát hành chocác vùng dân tộc miền núi thuộc diện đặc biệt khó khăn
Trang 28Cho đến nay, số lượng báo chí cấp không thu tiền cho đồng bào dân tộc miềnnúi đã lên tới 20 ấn phẩm, ngoài ra còn rất nhiều báo, tạp chí, chuyên đề dànhcho đối tượng độc giả là đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Các báo cấp khôngthu tiền, phổ cập đến các vùng dân tộc là: Báo Dân tộc và Phát triển, Báo Vănhóa, Báo Tin tức, Báo Nông thôn ngày nay, Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miềnnúi - Báo Khoa học và Đời sống, Chuyên đề Dân tộc miền núi - Báo CôngThương, Chuyên đề Dân tộc và Miền núi – Báo Nông nghiệp Việt Nam, Chuyên
đề Dân tộc và Miền núi – Bộ Lao động và Xã hội, Chuyên đề Dân tộc, miền núi– Báo Đại đoàn kết, Chuyên đề Dân tộc và Miền núi – Báo Phụ Nữ, Tạp chí Dântộc, Tạp chí văn hóa các dân tộc, Báo Khmer ngữ, Chuyên đề Dân tộc thiểu số
và miền núi – Báo Khuyến học và Dân trí, Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miềnnúi – Báo Tài nguyên và Môi trường, Chuyên đề Dân tộc miền núi – Báo Phápluật Việt Nam, Chuyên đề “Măng non” – Báo Nhi đồng, Chuyên đề “Thiếu nhiDân tộc” – Báo Thiếu niên tiền phong, Phụ trương An ninh biên giới – Báo Biênphòng
Các ấn phẩm có nội dung phong phú, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau từchính trị, kinh tế, pháp luật đến giáo dục, khoa học kỹ thuật, môi trường… phùhợp với nhiều đối tượng là phụ nữ, thiếu nhi, học sinh, cán bộ cấp cơ sở, ngườicao tuổi, nông dân, nhà nghiên cứu văn hóa Có thể nhận thấy rằng, báo, tạp chí,các ấn phẩm dành cho dân tộc thiểu số đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, đượcnâng cao về chất lượng, gia tăng về số lượng, đi sâu đi sát vào thực tế đời sốngdân tộc để phản ánh, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin về mọi lĩnh vực củađồng bào dân tộc thiểu số miền núi
1.2.2 Phát thanh – Truyền hình:
Phát thanh – Truyền hình là loại hình báo chí có sức tác động mạnh mẽ, rộnglớn, nhanh và vô cùng hấp dẫn bởi thế mạnh đặc trưng là âm thanh và hình ảnh
Trang 29Âm thanh và hình ảnh tác động trực tiếp đến con người qua thị giác và thínhgiác, tạo nên cho khán thính giả một thế giới sống động, phong phú, diễn tả chânthực, tác động trực tiếp đến khán thính giả Phát thanh với đặc trưng là âm thanh,truyền hình với đặc trưng là âm thanh và hình ảnh đến với công chúng với tốc độnhanh chóng, mạnh mẽ, sức lan truyền rộng rãi Phát thanh – Truyền hình đếnvới công chúng dễ dàng hơn so với sách, báo, tạp chí ở điểm công chúng có thểtiếp cận loại hình này dưới dạng thụ động, trái với báo, tạp chí là tiếp nhận chủđộng Không những thế, phát thanh – truyền hình còn đem lại lượng thông tin dễhiểu, dễ tiếp cận với đồng bào.
Trong điều kiện hiện nay khi nhiều người dân, hộ gia đình dân tộc miền núicòn khó khăn khi tiếp xúc với các ấn phẩm sách, báo, tạp chí thì phát thanh –truyền hình với âm thanh, hình ảnh sống động đã góp phần rất lớn vào công cuộcthông tin, tuyên truyền, phổ biển kiến thức cho đồng bào Sóng phát thanh –truyền hình được phủ sóng tại nhiều tỉnh trên cả nước
Phát thanh – truyền hình giúp đồng bào tiếp thu trực tiếp những kiến thức vềchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, phản ánh hấp dẫn, kịp thời gươngngười tốt việc tốt, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan Cũng qua phát thanh– truyền hình, đồng bào học hỏi cách làm kinh tế, gieo trồng, chăn nuôi gia súc,trồng rừng và bảo vệ rừng, tìm hiểu về pháp luật, hiểu thêm về cuộc sống củađồng bào miền xuôi, bạn bè quốc tế
Cả nước ta tính đến nay có một Đài truyền hình, một Đài Phát thanh Quốcgia, hơn 60 Đài Phát thanh Truyền hình các tỉnh địa phương, hệ thống truyềnhình cáp, truyền hình số, vệ tinh phủ sóng cả nước Do đặc thù địa hình rừng núichia cắt phức tạp, việc phủ sóng Phát thanh – Truyền hình gặp rất nhiều khókhăn Hằng năm, Nhà nước đầu tư kinh phí lớn để tăng công suất, xây dựng cáctrạm thu – phát sóng chuyển tiếp để đưa các chương trình đến với đồng bào vùng
Trang 30sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Các đài phát thanh, truyền hình quốc gia và địaphương cũng chú trọng và từng bước nâng cao chất lượng các chương trình dànhcho đồng bào dân tộc miền núi
Đài Truyền hình Việt Nam từ tháng 4/1997 mở Chuyên mục Dân tộc phátđịnh kì vào 20 giờ tối thứ 4 hàng tuần, thời lượng 15 phút phát sóng trên VTV1
Từ ngày 10/2/2002, kênh VTV5 – Kênh thông tin dành riêng cho dân tộc thiểu
số chính thức phát sóng Đây là chương trình đặc biệt cho các dân tộc thiểu
số bằng tiếng của họ Trên lãnh thổ Việt Nam có hơn 50 nhóm dân tộc thiểu sốsinh sống, chủ yếu trên các vùng đồi núi xa xôi Kênh chương trình này đượcđánh giá là cách hiệu quả nhất để kết nối với những người dân này và đem đếncho họ các thông tin về chính sách của chính phủ, các sự kiện đang diễn ra trênđất nước Việt Nam Bằng cách này, khoảng cách phát triển giữa các vùng miềntrong đất nước đã được giảm bớt VTV5 được phát sóng liên tục 24 giờ mỗingày
Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng kênh VOV4 – Kênh dành cho đồng bàodân tộc ít người với thời lượng 12 giờ/ngày Phát sóng các chương trình tiếngKhmer, H’Mông, Ê đê, Gia rai, Ba na, K’Ho, Thái và Xê đăng Đài Tiếng nóiViệt Nam thành lập ban Dân tộc chuyên phụ trách sản xuất chương trình pháttiếng các dân tộc thiểu số, vì vậy, chất lượng chương trình không ngừng được cảitiến Đến nay Đài tiếng nói Việt Nam có 9 chương trình phát thanh tiếng Dân tộcthiểu số do Ban Phát thanh Dân tộc và cơ quan Thường trú khu vực thực hiện, đó
là Mông, Thái, Ba Na, Êđê, Jrai, K’Ho, XơĐăng, Khmer; vùng phủ sóng chủ yếu
là Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam bộ và Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày tổngthời lượng phát sóng là 25 giờ 30 phút Ngoài 9 chương trình của Đài Phát thanhquốc gia, còn có 24 Đài Phát thanh - Truyền hình của các tỉnh, thành phố cóchương trình phát thanh tiếng Dân tộc thiểu số
Trang 31Các chương trình phát thanh tiếng Dân tộc của Ban Phát thanh Dân tộc tậptrung vào tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước về vấn đề dân tộc; trong đó đặc biệt quan tâm đến củng cố pháttriển đại đoàn kết toàn dân tộc; xóa đói giảm nghèo; bảo vệ môi trường; giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; biểu dương điển hình, mô hình tiên tiến,gương người tốt việc tốt và đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc chính sáchdân tộc của Đảng và Nhà nước ta Trong những năm qua, thực hiện Chươngtrình mục tiêu “Đưa sóng phát thanh về vùng núi cao, biên giới, hải đảo”, ĐàiTiếng nói Việt Nam đã cấp hơn 400.000 Rađiô cho đồng bào dân tộc đặc biệtkhó khăn và xây lắp hơn 1000 trạm truyền thanh cơ sở nhưng vẫn chưa đáp ứngđược yêu cầu của “bạn nghe đài”, bởi chất lượng phát ở nhiều nơi nhất là ởnhững vùng lõm còn thấp
1.2.3 Nội dung thông tin tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số miền núi của báo chí.
Song song với việc tăng số lượng ấn phẩm báo, tạp chí, chuyên đề, mở rộngphạm vi phát sóng, mạng lưới phát hành báo chí để đảm bảo công tác thông tinđến chó đồng bào dân tộc thiểu số miền núi được nhanh, kịp thời, các cơ quanbáo chí, đài phát thanh, truyền hình cũng cần chú trọng đến nội dung và chấtlượng thông tin Các tin, bài, chương trình dành cho dân tộc thiểu số miền núicần đáp ứng được nhu cầu thông tin của đồng bào, nắm bắt được tâm lý tiếpnhận thông tin của công chúng Thông tin đến các vùng dân tộc cần ngắn gọn, rõràng, dễ hiểu và sinh động nhằm giúp đồng bào tiếp thu nhanh Nội dung các tinbài, chương trình phát thanh, truyền hình chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
- Tuyên truyền phổ biến thông tin kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hướng dẫn, cổ vũ đồng bào sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Trên hầu hết các báo, chương trình phát thanh
Trang 32– truyền hình, tuyền truyền phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật đều làđiểm nhấn quan trọng Ngoài việc giới thiệu các văn bản về chính sách, phápluật, các báo, đài phát thanh – truyền hình còn có nhiều hình thức truyền tải như
kể chuyện pháp luật, hướng dẫn thực thi pháp luật,… Nhờ việc đẩy mạnh côngtác tuyền truyền tại vùng dân tộc mà các chủ trương, chính sách của Nhà nướcnhư xóa bỏ cây thuốc phiện, buôn bán ma túy, chống chặt phá rừng, chính sáchtôn giáo, các chính sách an sinh xã hội… được đồng bào dân tộc thấu hiểu vàthực hiện có hiệu quả
- Tuyên truyền, vận động đồng bào xây dựng và phát triển kinh tế miền núi theo thế mạnh của từng vùng miền; giới thiệu những mô hình, gia đình điển hình làm kinh tế giỏi, thoát nghèo… Các báo, đài phát thanh – truyền hình tập trung khai
thác và phản ánh những gương sáng trong phát triển kinh tế như các xã, buôn,làng hay các hộ gia đình biết học hỏi, thử những phương pháp sản xuất, mô hìnhnuôi trồng, chăn nuôi mới hiệu quả Ngoài ra, các chương trình với chuyên gianông nghiệp hướng dẫn bà con trong việc phòng, chống các loại dịch bệnh trêngia súc, gia cầm, rau màu… cũng là đề tài được khai thác phù hợp với đồng bàodân tộc Thời gian qua, báo chí, phát thanh – truyền hình là những kênh thông tinchuyển tải rộng rãi, tương đối toàn diện về việc thực hiện các chương trình 135,
134, các dự án cho các xã vùng đặc biệt khó khăn,… đến bà con vùng dân tộc.Báo chí là kênh thông tin hai chiều, vừa giúp thông tin cho đồng bào về cácchính sách, vừa là nơi phản ánh những vướng mắc, khó khăn trong quá trìnhthực hiện các chương trình, dự án đến các cơ quan có thẩm quyền để kịp thờiđiều chỉnh
- Cổ vũ, vận động, hướng dẫn đồng bào các dân tộc quý trọng, giữ gìn và phát huy vốn văn hóa truyền thống của dân tộc trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng bản làng và gia đình văn hóa Bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín
Trang 33dị đoan và các tệ nạn xã hội Các báo, đài phát thanh – truyền hình thời gian qua
đã góp phần quan trọng trong việc tôn vinh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa,nghệ thuật truyền thống quý báu của dân tộc ta Báo chí đã đem đến đời sốngvăn hóa tinh thần phong phú hơn cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, biến giới, hảiđảo
- Thông tin báo chí góp phần tích cực phổ biến kiến thức khoa học và nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi Đồng bào dân tộc thiểu số ở
các vùng sâu, vùng xa, với điều kiện kinh tế khó khăn, chưa đủ cái ăn, cái mặc,
do đó đồng bào chưa chú trọng đến vấn đề giáo dục, nâng cao nhận thức của bảnthân và con em mình Bên cạnh đó, vị trí địa lý khó khăn trong di chuyển nênviệc lan truyền thông tin, phổ biến kiến thức gặp nhiều khó khăn Cho đến nay,các tờ báo, chương trình phát thanh – truyền hình đã khẳng định vai trò nòng cốtcủa mình trong việc thông tin cho đồng bào dân tộc thiểu số Đồng bào dân tộcmiền núi tương đối thiếu hụt thông tin kiến thức về chăm sóc sức khỏe, thông tin
về dinh dưỡng, kiến thức làm mẹ, nuôi con, kế hoạch hóa gia đình; kiến thứctrồng trọt, chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi, hoa màu; kiến thức
về pháp luật, đăng kí kết hôn, làm giấy khai sinh cho trẻ… Chính vì vậy, mỗi tờbáo, đài phát thanh – truyền hình cần nắm bắt được nhu cầu thông tin của đốitượng độc giả, khán thính giả mà mình hướng tới
1.2.4 Công tác phát hành báo chí phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số miền núi
Do địa hình của vùng dân tộc thiểu số miền núi chia cắt mạnh, đường sá giaothông còn khó khăn, các bản làng có thể cách nhau nhiều quả đồi, mất nhiều giờ
đi bộ mới tới được, chính vì thế công tác phát hành cho đồng bào dân tộc cũngkhó khăn hơn ở đồng bằng Bên cạnh đó, nhiều dân tộc sống ở nhiều vùng miềnkhác nhau, có trình độ, văn hóa khác nhau, nên việc xác định đúng đối tượng đểphát hành đúng ấn phẩm cũng là khâu quan trọng Yêu cầu của công tác phát
Trang 34hành báo chí cho đồng bào dân tộc thiểu số là kịp thời, đúng địa chỉ, đúng đốitượng, đúng thời gian và diện rộng
Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Thông tin và truyền thông) phối hợp vớiTổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (nay là Tập đoàn Bưu chính Viễnthông Việt Nam) đã có nhiều cố gắng trong việc in ấn, phát hành, truyền dẫn tínhiệu thông tin báo chí phục vụ khu vực miền núi Với hệ thống thiết bị truyềnbáo theo công nghệ mới và công nghệ in hiện đại nên đã khắc phục tình trạngbáo đến chậm, khu vực trống thông tin Kể từ năm 1998 đến hết năm 2007, Tổngcông ty Bưu chính Viễn thông (nay là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ViệtNam) đã triển khai xây dựng hệ thống Điểm bưu điện văn hóa xã trên phạm vitoàn Việt Nam Tính đến nay đã đưa vào sử dụng 8.021 điểm trong đó có 1.524điểm thuộc các xã đặc biệt khó khăn Việc đầu tư và đưa vào sử dụng 8.021 điểmbưu điện văn hóa xã thời gian qua đã tạo nên một hệ thống mạng lưới điểm phục
vụ bưu chính viễn thông rộng khắp với 18.941 điểm phục vụ trên toàn quốc Thực hiện quyết định 21/TTg ngày 16/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ,Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (nay là Tập đoàn Bưu chính Viễnthông Việt Nam) đã giảm 2% phí phát hành báo Thiếu niên, Báo Thiếu niênmiền núi, Báo Nhi đồng, thực hiện chuyển phát miễn cước Bản tin ảnh, Chuyên
đề và nhiều tờ báo khác đến vùng sâu, vùng xa, các đồn biên phòng Hiện nay,công tác phát hành báo chí có nhiều điều kiện thuận lợi, nhanh chóng, an toàn,giúp đồng bào dân tộc tiếp cận hưởng thụ thông tin với chất lượng cao
1.3 Sự ra đời và phát triển của báo Dân tộc và Phát triển
1.3.1 Một vài nét về tờ báo Dân tộc và phát triển
Báo Dân tộc và Phát triển phát hành vào thứ 4 và thứ 6 hàng tuần Báo bao gồm
12 trang (Không kể phụ trương) Các chuyên trang của báo gồm có:
- Trang 2 + 3: Thời sự
Trang 35- Trang 4: Chính sách – Đời sống
- Trang 5: Bạn đọc
- Trang 6: Người uy tín trong cộng đồng
- Trang 7: Văn hóa – Du lịch
- Trang 8: “Hà Nội với đồng bào dân tộc – Đồng bào dân tộc với Thủ đô vănhiến”
- Trang 9: Kinh tế - Xã hội
- Trang 10: An ninh – Pháp luật
- Trang 11: Giáo dục – Sức khỏe (Các ngày thứ 4)
- Trang 11: Công nghệ - Môi trường (Các ngày thứ 6)
- Trang 12: Quốc tế
Ngoài 12 chuyên trang, tờ báo còn xuất bản thêm các phụ trang: Phụ trang A + B+ C + D (Từ tháng 9/2012)
- Các ngày thứ 4, tin bài phụ trương đăng theo chủ đề “Vì bình yên cộng đồng”
- Các ngày thứ 6, tin bài phụ trương đăng theo chủ đề “Vì mục tiêu giảm nghèobền vững”
Măng – sét: Tên báo là “Dân tộc và Phát triển” Số báo ra ngày thứ tư, măng –sét in màu đỏ và màu cam; số báo ra ngày thứ 6, măng – sét in màu xanh lam vàxanh lục, bên cạnh tên báo có in hình trống đồng Cơ quan chủ quản là: Ủy banDân tộc Báo Dân tộc và Phát triển là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Dân tộc; Làdiễn đàn của các dân tộc Việt Nam
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của báo Dân tộc và Phát triển
Báo Dân tộc và Phát triển phát hành số báo đầu tiên vào ngày 27/12/2002.Trải qua hơn 10 năm phát triển, báo Dân tộc và Phát triển đã trở thành kênhthông tin quan trọng trong hoạt động tuyên truyền đối nội, đối ngoại, giúp đồngbào ở nước ngoài, bạn bè và nhân dân thế giới hiểu rõ hơn về quan điểm, chính
Trang 36sách dân tộc đúng đắn của Đảng, Nhà nước, góp phần không ngừng tăng cườngkhối đại đoàn kết các dân tộc Từ đó, cổ vũ cộng đồng các dân tộc tạo sự đồngthuận và sức mạnh to lớn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam Báo Dân tộc và Phát triển còn là kênh thông tin tuyêntruyền quan trọng đối với đồng bào dân tộc trong cả nước, nhằm tuyền truyền,phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước, định hướng dư luận xã hội, nâng cao dân trí, góp phần cải thiện đời sốngcho đồng bào các dân tộc thiểu số.
Trong thời gian tới, Báo Dân tộc và Phát triển sẽ xây dựng tờ báo xứng tầmvới tôn chỉ, mục đích và tên gọi, thiết thực góp phần xây dựng vùng dân tộc vàmiền núi ngày càng đổi mới, ổn định và phát triển
Báo Dân tộc và Phát triển là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Dân tộc; diễn đàncủa đồng bào dân tộc Việt Nam; có chức năng thông tin, tuyên truyền chủtrương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo của Bộ trưởng,Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về lĩnh vực công tác dân tộc Báo Dân tộc và Pháttriển “Bút sắc – Tâm sáng – Chí bền” vì cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Báo Dân tộc và Phát triển là đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân,
có con dấu và tài khoản riêng và có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội Báo Dân tộc
và Phát triển có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Trình Bộ trưởng, Chủ nhiệm chương trình, kế hoạch hoạt động dài hạn hằngnam của báo Dân tộc và Phát triển và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;
Tổ chức biên tập, xuất bản báo Dân tộc và Phát triển và các ấn phẩm theo cácquy định của giấy phép hoạt động báo chí, các văn bản có liên quan và chỉ đạocủa Bộ trưởng, Chủ nhiệm;
Thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật củaĐảng và Nhà nước; sự chỉ đạo của Bộ trưởng, Chủ nhiệm về quản lý và phát
Trang 37triển sự nghiệp công tác dân tộc; tổ chức tuyên truyền và mở cuộc vận động tiếntới đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam các cấp.
Thông tin tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách dân tộc ở trongnước và nước ngoài, các hoạt động về hợp tác quốc tế trong xây dựng và triểnkhai thực hiện chính sách dân tộc;
Phản ánh và định hướng dư luận xã hội, phổ biến chính sách dân tộc, là diễnđàn của đồng báo các dân tộc trong việc xây dựng và phát triển chính sách dântộc theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước
Phát hiện, tuyên truyền các tập thể điển hình tiến tiến, các nhân tiêu biểu làgià làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc, góp phần pháttriển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố
và tăng cường khói đại đoàn kết dân tộc, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa cácdân tộc
Thực hiện quan hệ hợp tác, trao đổi thông tin với các tổ chức, cá nhân trongnước và nước ngoài, sau khi được Bộ trưởng, Chủ nhiệm phê duyệt và theo đúngquy định của pháp luật
Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, hồ sơ tài liệu và thực hiện chế độ chínhsách đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ báo chí, đối với công chức,viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của báo Dân tộc và Pháttriển, theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ trưởng, Chủnhiệm Quản lý và sử dụng tài chính, tài sản và các nguồn thu khác theo quy địnhcủa pháp luật.Thực hiện các nhiệm vụ khác được Bộ trưởng, Chủ nhiệm giao
1.3.3 Cơ cấu tổ chức
Báo Dân tộc và Phát triển gồm có một Tổng biên tập, hai Phó Tổng biên tập;các trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương; công chức, viên chức,
Trang 38biên tập viên, phóng viên, làm việc theo chế độ thủ trưởng kết hợp với chế độchuyên viên.
Các phòng, Ban chuyên môn, nghiệp vu:
Trang 39Các cơ quan đại diện tại Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam
Bộ và phía Nam
Ban Bạn đọc
Ban Chuyên đề - Quảng cáo
Phó Tổng biên tập
Lê Tuấn Hà
Ban Phóng viên
Phòng Tổ chức – Hành chính
Phòng Kế toán Phó Tổng biên tập
Trang 40hơn Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống chính sách tương đối đầy đủ vềnhiều lĩnh vực của đời sống – xã hội như: kinh tế, giáo dục, y tế, pháp luật… Cácchương trình trọng điểm quốc gia như Chương trình 135, Chương trình 134,Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới… Bên cạnh đó, cácchính sách về thông tin tuyên truyền, hỗ trợ phát báo, tạp chí không thu tiền chođồng bào dân tộc thiểu số, đầu tư cơ sở hạ tầng phát thanh – truyền hình cũngđược chú trọng Chương 1 nêu lên một cách khái quát, hệ thống nhất nhữngquyết định, chính sách, chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số trên nhiềulĩnh vực của đời sống, được đăng tải với tần suất lớn trên báo Dân tộc và Pháttriển trong năm 2012.
Với phần 3, tìm hiểu về báo Dân tộc và Phát triển, ta có được thông tin cơ bảnnhất về báo Dân tộc và Phát triển, nắm được mục tiêu, nhiệm vụ của tờ báo để từ
đó có cơ sở khảo sát, nghiên cứu, hoàn thành khóa luận được hoàn thiện nhất
Chương 2: Khảo sát Thông tin về Chính sách dân tộc thiểu số miền núi trên Báo Dân tộc và phát triển năm 2012
2.1 Tần suất xuất hiện.
Phổ biến các chính sách, văn kiện, văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nướcđến các vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quanbáo chí Báo chí là kênh thông tin, tuyên truyền nhanh chóng, rộng rãi và chínhxác các chính sách của Đảng và Nhà nước Báo Dân tộc và Phát triển hiểu rõ vềchức năng, nhiệm vụ của mình, từ đó thông tin đến các vùng dân tộc thiểu số