Bao phủ Y tế toàn dân là một khái niệm đang ngày càng phổ biến. Khái niệm này nhằm đề cập đến một hệ thống tài chính y tế đảm bảo cho tất cả mọi người được sử dụng các dịch vụ y tế mà họ cảm thấy cần thiết mà không gặp khó khăn về tài chính cho việc chi trả cho các dịch vụ y tế đó. Báo cáo Tài chính Hệ thống Y tế thế giới của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2010 đã chỉ ra có khoảng 1 tỷ người trên toàn cầu không có khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cần thiết; khoảng 100 triệu người bị đẩy vào tình trạng nghèo đói và 150 triệu người phải đối mặt với khó khăn trong việc chi trả cho Y tế, do họ phải chi trả trực tiếp từ tiền túi mà không nhận được sự trợ giúp về tài chính nào [1]. Các vấn đề về gánh nặng tài chính trong chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, trên thế giới và tại Việt Nam đã được nghiên cứu nhiều, tuy nhiên phần lớn tập trung vào các bệnh cụ thể, hoặc tập trung vào vùng nông thôn, nơi được đánh giá phải chịu chi phí thảm họa và tình trạng nghèo hóa cao hơn so với đô thị. Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về gánh nặng tài chính cho chăm sóc sức khẻo của người dân ở đô thị vẫn còn hạn chế. Bài tổng quan được thực hiện nhằm mục tiêu: 1. Mô tả khái quát về các chi phí chăm sóc sức khỏe. 2. Mô tả thực trạng gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khỏe của người dân đô thị trên thế giới. 3. Mô tả thực trạng gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khỏe của người dân đô thị tại Việt Nam.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 3 GÁNH NẶNG CHI PHÍ CHO CHĂM SÓC SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI DÂN ĐÔ THỊ
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Bao phủ Y tế toàn dân là một khái niệm đang ngày càng phổ biến Khái niệmnày nhằm đề cập đến một hệ thống tài chính y tế đảm bảo cho tất cả mọi ngườiđược sử dụng các dịch vụ y tế mà họ cảm thấy cần thiết mà không gặp khó khăn vềtài chính cho việc chi trả cho các dịch vụ y tế đó Báo cáo Tài chính Hệ thống Y tếthế giới của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2010 đã chỉ ra có khoảng 1 tỷ người trêntoàn cầu không có khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cần thiết; khoảng 100 triệungười bị đẩy vào tình trạng nghèo đói và 150 triệu người phải đối mặt với khókhăn trong việc chi trả cho Y tế, do họ phải chi trả trực tiếp từ tiền túi mà khôngnhận được sự trợ giúp về tài chính nào [1]
Các vấn đề về gánh nặng tài chính trong chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả bệnhlây nhiễm và không lây nhiễm, trên thế giới và tại Việt Nam đã được nghiên cứunhiều, tuy nhiên phần lớn tập trung vào các bệnh cụ thể, hoặc tập trung vào vùngnông thôn, nơi được đánh giá phải chịu chi phí thảm họa và tình trạng nghèo hóacao hơn so với đô thị Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về gánh nặngtài chính cho chăm sóc sức khẻo của người dân ở đô thị vẫn còn hạn chế
Bài tổng quan được thực hiện nhằm mục tiêu:
1 Mô tả khái quát về các chi phí chăm sóc sức khỏe
2 Mô tả thực trạng gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khỏe của người dân
đô thị trên thế giới
3 Mô tả thực trạng gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khỏe của người dân
đô thị tại Việt Nam
Trang 5NỘI DUNG
1 Một số khái niệm liên quan
1.1 Khái niệm về chi phí liên quan đến bệnh tật và cách thức đo lường
Chi phí do ốm đau bệnh tật (Cost of illness) là giá trị nguồn lực bị mất đi gây
ra do ốm đau bệnh tật Chi phí do ốm đau bệnh tật bao gồm chi phí của ngành y tế,mất sức lao động, năng suất lao động của bệnh nhân và những chi phí không đolường được (chi phí ảo) như đau đớn, lo buồn, bị kỳ thị
Khi người dân bị ốm đau và các tình trạng bệnh tật sẽ tiêu tốn của xã hộinhiều nguồn lực như chi phí các dịch vụ y tế cho điều trị, dự phòng bệnh, chi phí đilại, ăn ở của bệnh nhân và người nhà, mất sức lao động, mất năng suất lao độngcủa bệnh nhân và người nhà, chi phí ảo (như đau đớn, lo buồn, bị kỳ thị ) [2, 3].Các nghiên cứu tính chi phí bệnh tật (Cost-of-illness studies) đo lường gánhnặng kinh tế liên quan đến một hoặc nhiều bệnh và ước lượng số tiền tối đa có thểtiết kiệm được hoặc khoản thu được khi bệnh được điều trị khỏi [2, 3] Chi phí liênquan đến bệnh tật thường được phân loại theo chi phí trực tiếp hoặc chi phí giántiếp [4]:
- Chi phí trực tiếp: bao gồm giá trị của tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ, và
các vật dụng khác được sử dụng khi can thiệp hoặc quản lý một bệnh hoặc tìnhtrạng bệnh Chi phí trực tiếp có thể được chia thành “chi phí trực tiếp cho điều trị ”
và “chi phí phi trực tiếp không cho điều trị”:
o Chi phí trực tiếp cho điều trị: bao gồm các nguồn lực được sử dụng
trong quá trình chăm sóc sức khỏe Chi phí trực tiếp bao gồm chi phí điềutrị ngoại trú, nội trú, dịch vụ cấp cứu và tự điều trị (mua thuốc, vật dụng
y tế, v.v)
o Chi phí phi trực tiếp không cho điều trị: bao gồm các chi phí liên quan
đến đi lại, ăn uống…
Trang 6- Chi phí gián tiếp: bao gồm các chi phí liên quan đến tử vong, bệnh tật và
những chi phí không chính thức
o Chi phí liên quan đến tử vong: là những mất mát về kinh tế do tử vong
gây ra
o Chi phí liên quan đến bệnh tật: là những chi phí do mất hoặc giảm khả
năng làm việc do bệnh tật gây ra
o Chi phí y tế không chính thức: các thiệt hại về kinh tế do giành thời
gian chăm sóc người bệnh
Một nghiên cứu chi phí bệnh tật toàn diện bao gồm cả chi phí trực tiếp và giántiếp, dù trọng tâm nghiên cứu có thể chỉ liên quan đến một loại chi phí [2, 3]
1.2. Một số khái niêm liên quan về gánh nặng chi phí Y tế và phương thức đo lường [5, 6]
Để đo lường các vấn đề liên quan đến gánh nặng tài chính cho chăm sóc sứckhỏe, cần có các điều tra mang tính đại diện về hộ gia đình nhằm thu thập các biến
số sau [6]:
- Thông tin cá nhân: như tuổi, giới, trình độ văn hóa, nơi sinh sống, và tình
hình sử dụng dịch vụ y tế
- Thông tin hộ gia đình: tổng chi tiêu của hộ gia đình, chi phí cho lương thực
thực phẩm (không bao gồm thuốc lá và rượu bia) và chi phí trực tiếp cho dịch vụ y
tế và phí đóng bảo hiểm y tế
Các biến số liên quan đến chi tiêu nên được chuyển theo đơn vị hàng tháng.Khi đó, các chỉ số về chi tiêu được tính toán như sau:
- Chi trả cho Y tế trực tiếp từ hộ gia đình (Out-of-pocket health payments):
chi phí cho y tế hộ gia đình phải chi trả trực tiếp cho các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe mà họ nhận được, chủ yếu là mua thuốc men, viện phí, chi phí chẩn đoán xétnghiệm và các chi phí giá tiếp khác liên quan tới các dịch vụ y tế do các cơ sở y tế
Trang 7nhà nước hoặc tư nhân (gồm cả việc tự điều trị) Chỉ số này được tính bằng tổngchi phí bao gồm phí khám chữa bệnh tư vấn của bác sĩ, chi phí mua thuốc, chi phínhập viện, Các chi phí liên quan tới vận chuyển hoặc dinh dưỡng đặc biệt trongviệc điều trị không được đề cập ở trường hợp này
- Chi tiêu của hộ gia đình (Household’s consumption expenditure): toàn bộ
số tiền và giá trị hiện vật (kể cả các khoản do hộ tự sản xuất) mà hộ dân cư và cácthành viên của hộ đã chi vào các hàng hóa và dịch vụ, bao gồm các sản phẩm đượcsản xuất tại nhà
- Khả năng chi trả của hộ gia đình (Household’s capacity to pay): số thu
nhập của một hộ gia đình còn lại sau khi đã chi trả cho các khoản dành cho lươngthực/thực phẩm
- Chi tiêu sinh hoạt của hộ gia đình (Household’s subsistence spending):
mức chi tiêu tối thiểu có thể duy trì cuộc sống cơ bản trong xã hội
- Chi phí y tế “thảm họa” (Catastrophic health payment): mức chi phí trực
tiếp cho y tế (OOP) của hộ gia đình bằng hoặc cao hơn 40% so với khả năng chi trả
của hộ gia đình đó
- Nghèo hóa do chi phí y tế (Impoverishment): tình trạng hộ gia đình có mức
chi phí cho y tế bằng hoặc cao hơn mức chi phí cơ bản tối thiểu, nhưng sau khi trừ
đi các chi phí trực tiếp cho y tế lại trở nên thấp hơn mức chi phí cơ bản tối thiểu.
- Gánh nặng tài chính cho chăm sóc sức khỏe (Financial burden of health care): được định nghĩa là tỷ lệ tổng chi trả trực tiếp cho việc sử dụng dịch vụ y tế
của hộ gia đình trên khả năng chi trả của hộ gia đình đó [7]
2 Thực trạng và nghiên cứu về gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực đô thị
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Gánh nặng tài chính cho y tế
Trang 8Bệnh tật gây ra những gánh nặng về tài chính cho người bệnh thông qua cácchi phí họ phải chi trả trực tiếp như chi phí khám chữa bệnh, mua thuốc men, vànhững chi phí gián tiếp như mất sức lao động hay mất thu nhập do ốm đau [4] Đặcbiệt, đối với người dân ở thành thị, khi các chi phí trực tiếp và gián tiếp trong chămsóc sức khỏe luôn cao hơn so với nông thôn Một số nghiên cứu trên thế giới đãđưa ra tỷ lệ hộ gia đình ở đô thị phải chịu chi phí thảm họa, tình trạng nghèo hóacũng như phải chịu nhiều chi phí lớn trong chăm sóc sức khỏe.
Nghiên cứu do Ye Li và cộng sự (2012) tiến hành nhằm đánh giá tỷ lệ ngườidân chịu chi phí thảm họa và nghèo hóa do chi tiêu y tế tại Trung Quốc Kết quảcho thấy, tỷ lệ người dân ở thành thị bị tình trạng nghèo hóa do chi tiêu y tế chiếm3,3% Tỷ lệ này bằng một phần ba so với tỷ lệ người dân ở các vùng nông thôn bịnghèo hóa do chi phí y tế [8] Nghiên cứu của Yardim và cộng sự (2010) tại ThổNhĩ Kỳ cho thấy, tỷ lệ hộ gia đình ở đô thị chịu chi phí y tế thảm họa là 0,4%; thấphơn so với ở nông thôn (1,0%) [9] Nghiên cứu khác của Sulku và Bernard cũng tạiThổ Nhĩ Kỳ sử dụng số liệu Cuộc điều tra Chi tiêu cho Y tế Quốc gia cho thấy, tỷ
lệ người dân ở thành thị chi trả cho y tế quá 10% tổng thu nhập của hộ gia đình là17,2%; quá 20% là 12,8% [10] Tại Mỹ, nghiên cứu của Bennett, Dismuke vàPumkam (2010) cho thấy, một cá nhân ở đô thị chi trả trung bình cho y tế mỗi năm
593 USD, chiếm 1,38% so với tổng thu nhập của cá nhân đó [11]
Một báo cáo về gánh nặng tài chính cho chăm sóc sức khỏe ở nhóm ngườithuộc khu vực phi chính thức ở đô thị do Samik thực hiện tại Delhi, Ấn Độ Kếtquả cho thấy, tỷ lệ hộ gia đình phải chi trả quá 10%, 15%, 20% và 40% tổng thunhập của hộ trong năm lần lượt là 7,9%; 5,6%; 3,9% và 0,9% Trong đó, các vấn
đề về tai nạn giao thông, thương tích, sản phụ khoa và đường tiêu hóa là nhữngbệnh làm cho các hộ gia đình chịu chi phí thảm họa cao nhất Kết quả cũng chothấy, tỷ lệ hộ gia đình chịu chi phí thảm họa khi sử dụng dịch vụ y tế tư nhân cóđăng kí cao hơn so với dịch vụ y tế công [12]
Trang 9Nghiên cứu của Obinna và cộng sự (2011) tại Nigeria cho thấy, tổng chi phícho y tế của người dân thành thị hàng tháng là 15,5 USD; cao hơn một chút so vớinông thôn (14,4 USD) [13] Một nghiên cứu khác cùng tác giả thực hiện tạiNigeria năm 2013, đo lường chi tiêu trực tiếp từ hộ gia đình cho y tế Nghiên cứucho thấy người dân ở đô thị chi tiêu trực tiếp cho y tế hàng tháng là 22,9 USD, caogần gấp 2 lần so với chi tiêu trực tiếp cho y tế háng tháng của các hộ gia đình vùngnông thôn (13,9 USD) [14]
Nghiên cứu của Chuma và cộng sự (2007) tại Kenya về gánh nặng chi phí chochăm sóc sức khỏe của người dân ở vùng nông thôn và thành thị [15] Kết quảnghiên cứu cho thấy, chi phí trung bình cho chăm sóc y tế trong 1 tháng của ngườidân đô thị cao hơn rất nhiều so với người dân nông thôn Đối với các bệnh cấptính, người dân ở đô thị chi trả trung bình cao gấp gần 4 lần so với nông thôn (12,8USD so với 3,8 USD); trong khi đối với các bệnh mạn tính là 3 lần (7,0 USD sovới 2,2 USD) và đối với chi phí nhập viện, người dân thành thị chi trả trung bìnhmột tháng cao gấp 4,5 lần so với người dân vùng nông thôn (8,2 USD so với 1,8USD) Điều này các tác giả giải thích do việc người dân vùng đô thị sử dụng cácdịch vụ y tế tốt hơn với giá tiền đắt hơn so với nông thôn, do đó chi phí cũng bịtăng lên nhiều hơn đáng kể[15]
Một nghiên cứu khác do Mondal và cộng sự (2010) tiến hành tại Ấn Độ cũngcho thấy, chi phí trung bình dành cho y tế hàng năm của người dân vùng đô thị ởcác dịch vụ (nội trú, ngoại trú, điều trị bệnh mạn tính, sinh đẻ) đều cao hơn đáng kể
so với người dân vùng nông thôn (tương ứng 95,2 USD so với 80,4 USD cho việcđiều trị nội trú; 22,8 USD so với 21,7 USD cho việc điều trị ngoại trú; 56,1 USD
so với 48,9 USD cho việc điều trị bệnh mạn tính và 21,7 USD so với 11 USD choviệc sinh nở) Tuy nhiên, tỷ lệ chi tiêu cho y tế trên tổng chi tiêu hàng năm củangười dân đô thị thấp hơn so với người dân nông thôn, do người dân đô thị có thunhập và chi tiêu cao hơn so với người dân nông thôn [16]
Trang 102.1.2 Gánh nặng tài chính y tế cho các bệnh cụ thể
Ngoài các nghiên cứu về chi tiêu y tế nói chung, các nghiên cứu về chi tiêu y
tế cho từng trường hợp bệnh cụ thể cũng được thực hiện, cung cấp những thông tin
về gánh nặng tài chính của từng bệnh với người dân khu vực đô thị
2.1.2.1 Các bệnh lây nhiễm
Bệnh lây nhiễm bản chất là các bệnh nhiễm khuẩn nhưng có đặc điểm lây truyền nhanh sang các cá thể xung quanh và có xu hướng gây dịch bệnh, đe dọa sức khỏe và làm ảnh hưởng tới kinh tế cộng đồng
Nghiên cứu của Philip Ayeko và cộng sự (2005) về Gánh nặng kinh tế của chăm sóc nhi khoa điều trị nội trú tại Kenya trên 572 trẻ em và chi tiêu 390 hộ gia đình, cho thấy tổng chi phí trung bình điều trị sốt rét, viêm phổi, viêm màng não tạibệnh viện huyện công lần lượt là 75,21; 74,64; 189,41 USD và 89,59; 135,26; 201,59 USD khi điều trị tại bệnh viện nhiệm vụ[17]
Một nghiên cứu khác ở Colombia của Calderón C và cộng sự (2014) cũng đưa
ra những con số ước tính về chi phí trực tiếp trung bình chi trả cho điều trị nhiễm phế cầu khuẩn là 6,283; 3,886 và 4,768 USD lần lượt đối với bệnh viêm phổi, viêmmàng não và nhiễm trùng máu Chi phí ngoại trú của viêm phối cộng đồng vào khoảng 82,2 USD ở người lớn, tăng 142 USD với mỗi trường hợp đặc biệt[18].Rekol Huy và cộng sự (2006) thực hiện nghiên cứu bệnh chứng ở Campuchia đưa ra các số liệu về tổng chi phí trung bình hộ gia đình phải chi cho một căn bệnh sốt xuất huyết là 31,5 USD, trong đó trung bình chi phí y tế trực tiếp cho điều trị nội trú và ngoại trú là 19 và 6.6 USD Nghiên cứu cũng chỉ ra 67% hộ gia đình phải gánh chịu một khoản nợ trung bình 23,5USD chi cho điều trị sốt xuất huyết,
Trang 11cho thấy sốt xuất huyết thực sự là gánh nặng tài chính đối với các hộ gia đình ở đây[19]
Castro Rodriguez R và công sự, trong nghiên cứu “Chi phí của bệnh sốt xuấthuyết cho hệ thống y tế và các cá nhân tại Colobia 2010 – 2012” cũng làm nổi bậtnhững gánh nặng kinh tế cao của bệnh Uớc tính chi phí trực tiếp cho hệ thống y tếtrung bình mỗi trường hợp cấp cứu, nhập viện sốt Dangue và sốt xuất huyết là 52,8; 235,8; và 1512,2 USD (chi phí y tế không chính thức là 29,7; 46,7 và 62,6USD), lớn hơn chi phí y tế trực tiếp chi trả từ hộ gia đình (3,3; 34,8; và 57,3 USD)[20]
Nghiên cứu của Obinna và cộng sự (2010) tại Nigeria về gánh nặng chi phítrong điều trị sốt rét Các tác giả cho thấy, trung bình 1 hộ gia đình tại thành thị chitrả 7,62 USD một tháng cho điều trị sốt rét Tổng số tiền chi trả cho việc điều trịsốt rét trong một năm chiếm 24,1% tổng chi cho y tế và 8,4% tổng chi cho các vấn
đề không phải lương thực thực phẩm [21]
Nghiên cứu của Sarker AR và cộng sự (2011) phân tích chi phí cho bệnh dịch
tả ở bang Bangladesh từ góc độ gia đình cho thấy, tổng chi phí cho một ca bệnh là30,4 USD, tổng chi phí trực tiếp và gián tiếp lần lượt chiếm 24,6% và 75,4% (7,4
và 23 USD)[22]
Sinha và cộng sự (2012) nghiên cứu gánh nặng kinh tế trong việc điều trịnhiễm khuẩn đường hô hấp dưới cấp ở trẻ em vùng đô thị Nam Phi Kết quả chothấy, trung bình mỗi đợt trẻ em nhập viện do mắc bệnh, hộ gia đình phải chi trả
266 USD và đối với trẻ em bị nhiễm HIV là 1287 USD Đối với điều trị trong đơn
vị điều trị tích cực (ICU), hộ gia đình phải chi trả chi phí y tế trực tiếp là 5968USD đối với trẻ bình thường và đối với trẻ bị nhiễm HIV là 7849 USD Đây lànhững chi phí rất lớn đối với hộ gia đình ở khu vực đô thị ở Nam Phi [23]
Trang 12Guo và cộng sự (2012) đánh giá chi phí điều trị bệnh cúm ở Trung Quốc chothấy, các hộ gia đình ở đô thị chi trả trung bình 38,3 USD một năm cho điều trịbệnh cúm; cao nhất là 80,2 USD Chi phí trung bình ở thành thị cao hơn ở nôngthôn (28,6 USD) [24]
2.1.2.2 Các bệnh không lây nhiễm
Các bệnh không lây nhiễm là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới
và đang có xu hướng gia tăng Gánh nặng chi phí y tế hằng năm của hộ gia đình cóbệnh nhân ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình rất cao, đặc biệt là những nơiphổ biến hình thức tự chi trả tiền túi cho chi phí dịch vụ y tế[25]
Yang và cộng sự (2008) đánh giá gánh nặng kinh tế cho điều trị bệnh timmạch tại Trung Quốc Kết quả cho thấy, chi phí trực tiếp và gián tiếp trung bìnhcủa các hộ gia đình ở vùng đô thị trong việc điều trị bệnh tim mạch tương ứng là529,8 USD và 19,2 USD [26]
Nghiên cứu của Murphy và cộng sự (2013) về các gánh nặng kinh tế hộ giađình phải đối mặt trong việc chăm sóc bệnh nhân đau thắt ngực tại Ukraine chothấy bình quân hàng tháng hộ gia đình có bệnh nhân phải chi trả tăng thêm chonhững khoản chi phí về sức khỏe và thuốc tương ứng là 5,24 USD và 3,9 USD sovới các hộ gia đình khác Gia đình có bệnh nhân bị đau thắt ngực có khả năng phảibán tài sản để chi trả cao gấp 6,23 lần, và bệnh nhân có đau thắt ngực có nguy cơ
bỏ lỡ công việc nhiều gấp 4 lần do sức khỏe yếu hơn do với người không có đauthắt ngực[27]
Nhằm xác định gánh nặng kinh tế từ bệnh tiểu đường và tăng huyết áp ở mộtquận có thu nhập trung bình, Armando và cộng sự (2015) đã thực hiện nghiên cứuchỉ ra chi phí trung bình hằng năm cho quản lý trường hợp là 707 USD và 544USD lần lượt cho mỗi bệnh nhân tiểu đường và tăng huyết áp [28]
Elrayah và cộng sự (2005) nghiên cứu gánh nặng tài chính ở hộ gia đình có trẻ
em bị đái tháo đường type 1 ở Sudan Tổng chí phí trực tiếp trong một năm cho