Cuộc sống của họ vẫn phải dựa vào rừng thông qua hoạt động khai thác trái phép gỗ và các lâm sản ngoài gỗ để cải thiện đời sống và các chương trình giao khoán bảo vệ rừng như chương trìn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN ANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TA ̣O SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP - NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN ANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ SỰ PHỤ THUỘC VÀO RỪNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TA ̣O SINH KẾ BỀN VỮNG CHO NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP - NÚI BÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS PHẠM XUÂN HOÀN
Hà Nôi, 2012
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 4Mặc dầu đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 7
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 2.1 Mục tiêu: 17
2.1.1 Mục tiêu tổng thể: 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể: 17
2.2 Giới hạn đề tài 17
2.2.1 Về nội dung 17
2.2.2 Về Thời gian 17
2.2.3 Về đối tượng nghiên cứu 17
2.3 Nội dung nghiên cứu: 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 22
3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên 22
3.2 Điều kiện kinh tế xã hô ̣i 23
3.3 Sự phụ thuộc vào rừng 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Phân tích hiện trạng tài nguyên phục vụ sinh kế của cộng đồng 27
4.1.1 Tài sản tự nhiên 27
4.1.2 Tài sản vâ ̣t chất 35
4.1.3 Tài sản tài chính 41
4.1.4 Tài sản con người 46
4.1.5 Tài sản xã hội 49
Trang 6iv
4.2 Sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng 51
4.2.1 Các hình thức phụ thuộc vào rừng 51
4.2.2 Các vấn đề cộng đồng quan tâm để giảm thiểu sự phụ thuộc vào rừng
58
4.2.3 Tương tác của các yếu tố ảnh hưởng đến hiện trạng sinh kế và sự phụ thuộc vào rừng của người dân 63
4.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao sinh kế cho cộng đồng 67
4.3.1 Những tiềm năng cho phát triển sinh kế 67
4.3.2 Một số đề xuất để nâng cao sinh kế cộng đồng 70
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 74
5.1.Kết luận 74
5.2 Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO viii
PHỤ LỤC xi
Trang 7IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
PES/PFES Chi trả dịch vụ môi trường/ Chi trả dịch vụ môi trường rừng PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia
REDD Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Đất canh tác trong các thôn điều tra 28
Bảng 4.2 Nguồn nước sử du ̣ng cho sinh hoa ̣t 31
Bảng 4.3 Diện tích giao khoán bảo vệ rừng ở các thôn 32
Bảng 4.4 Nhà ở của các hộ ở ba thôn 36
Bảng 4.6 Tài sản sản xuất 37
Bảng 4.7 Vâ ̣t nuôi 39
Bảng 4.8 Hệ thống giao thông 40
Bảng 4.9 Các nguồn vay vốn 42
Bảng 4.10 Nguồn thu của cô ̣ng đồng 46
Bảng 4.11 Cơ cấu đô ̣ tuổi 47
Bảng 4.12 Số liê ̣u ho ̣c sinh các cấp ho ̣c 48
Bảng 4.13 Tổng hợp số vụ lấn chiếm đất đai 52
Bảng 4.14 Tổng hợp hộ gia đình có tham gia khai thác lâm sản 53
Bảng 4.15a: Số lần và khối lượng khai thác gỗ của các hộ điều tra 54
Bảng 4.15b: Số lần và khối lượng khai thác củi của các hộ điều tra 54
Bảng 4.15c: Số lần và khối lượng khai thác lâm sản làm thực phẩm 55
Bảng 4.15d: Số lần và khối lượng khai thác cây thuốc, sâm đất 55
Bảng 4.15e: Số lần và khối lượng săn bắt động vật của các hộ điều tra 55
Bảng 4.16 Phân tích SWOT về thực trạng sinh kế 63
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các nguồn tài sản tạo sinh kế 5
Hình 4.1 Phân bố các loa ̣i đất nông nghiê ̣p của ba thôn 29
Hình 4.2 So sánh tài sản tiêu dùng và tài sản sản xuất 38
Hình 4.3 Sơ đồ VENN về quan hệ giữa các tổ chức trong xã với người dân 50
Hình 4.4 Tổng hợp số vụ lấn chiếm đất đai 52
Hình 4.5 Lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy 53
Hình 4.6 Khai thác mây 56
Hình 4.7 Chăn thả gia súc 56
Hình 4.8 Nhận khoán bảo vệ rừng 57
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng có hoàn cảnh giống đa số các cộng đồng sống gần rừng khác ở Việt Nam, cộng đồng các dân tộc sống ở vùng đệm Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà (VQG Bidoup-Núi Bà) có cuộc sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên Họ vừa
là tác nhân, vừa là nạn nhân của sự xuống cấp cơ sở tài nguyên mà họ phụ thuộc, nhất là ở khu vực đang có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang nền kinh
tế hàng hóa Sự nghèo đói của họ không chỉ là do việc thiếu nguồn tài chính mà còn
do nhiều nguyên nhân khác như rào cản ngôn ngữ, thiếu thông tin – kỹ thuật, bệnh tật, bùng nổ dân số Ngoài ra, việc thiếu đất sản xuất và quyền sở hữu đất cũng là nguyên nhân gây ra sự bấp bênh về sinh kế
Việc tìm hiểu sinh kế của người dân dựa vào tài nguyên thiên nhiên là tiền đề
để thực hiện các nỗ lực quản lý tài nguyên bền vững Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh các nỗ lực cải thiện sinh kế của người nghèo trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác (Đă ̣ng Kim Sơn, 2001) [7] Chính phủ đã ban hành một số chính sách về tài chính và tín dụng; về khuyến khích đầu tư; về định canh định cư; về y tế giáo dục nhằm giúp đỡ,
hỗ trợ người dân địa phương có được những nguồn lực để tạo ra sinh kế bền vững1
Theo Báo cáo sàng lọc xã hội VQG Bidoup-Núi Bà năm 2009, các xã nằm trong vùng lõi và vùng đệm của VQG Bidoup-Núi Bà có 78,8 % dân số là đồng bào dân tộc bản địa Trong đó dân tộc K’ho chiếm ưu thế nhất với gần 74,3% tổng dân
số Nguồn thu nhập chính của các hộ chủ yếu là từ nông nghiệp với cà phê và bắp (ngô) là hai nguồn thu nhập chính, nhưng hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít nên đã mở rộng đất canh tác trên diện tích đất lâm nghiệp Cuộc sống của các hộ phụ thuộc khá lớn vào tài nguyên thiên nhiên [26]
Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp, khả năng nói tiếng phổ thông kém, ít khi tiếp xúc với người ngoài nên người dân bản địa ít khi tham gia các chương trình tập huấn, khuyến nông, khuyến lâm để nắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường và
1 Phát triển bền vững là phát triển bao gồm hai mục tiêu: cải thiện lâu dài đời sống của người dân và bảo vệ & duy trì năng lực của các hệ thống tài nguyên thiên nhiên
Trang 112
cuộc sống chính trị xã hội Cuộc sống của họ vẫn phải dựa vào rừng thông qua hoạt động khai thác trái phép gỗ và các lâm sản ngoài gỗ để cải thiện đời sống và các chương trình giao khoán bảo vệ rừng như chương trình trồng mới năm triệu ha rừng, Chương trình 30A2, chi trả dịch vụ môi trường rừng…
Đề tài “ Đánh giá sự phụ thuộc vào rừng và đề xuất giải pháp tạo sinh kế
bê ̀n vững cho người dân vùng đệm VQG Bidoup - Núi Bà” nhằm nghiên cứu mối
quan hệ tương tác giữa các hoạt động sinh sống của người dân và hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng Từ đó, làm cơ sở để đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn hệ sinh thái rừng, môi trường và hướng tới mục tiêu phát triển sinh kế bền vững tại VQG Bidoup-Núi Bà
2 Giảm nghèo nhanh và bền vững
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Những nghiên cứu có liên quan đến sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên rừng và những xung đột lợi ích giữa các mục tiêu kinh tế
và mục tiêu sinh thái, bảo tồn tài nguyên rừng nói chung trong những thập kỷ gần đây đã thu được nhiều kết quả ở nhiều mức độ khác nhau Có thể điểm lại một số nguồn thông tin chính, chủ yếu gần đây nhất có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
1.1 Trên thế giới
Nghiên cứ u sử du ̣ng tài nguyên giữa người dân và chính quyền ta ̣i Papua New Guinea cho thấy người dân sống phu ̣ thuô ̣c vào nguồn tài nguyên cùng với tăng trưởng kinh tế kém trong hai thập niên qua mà nguyên nhân do hê ̣ thống quản
lý kém, chính sách không phù hợp với thực tiễn nên đã ta ̣o ra xung đột trong phát triển tài nguyên ở nước này Có rất nhiều xung đô ̣t giữa người dân và các công ty tư nhân trong sở hữu đất đai dẫn đến biểu tình Rõ ràng là nhà nước Papua New Guinea có nhiểu điểm yếu trong quá trình thực thi pháp luâ ̣t của mình trong viê ̣c trung gian hòa giải các xung đột và phân chia công bằng (Glenn Banks, 2008) [18] Qua nghiên cứu này cho thấy cần phải hiểu biết về bản chất các tranh chấp và quy trình giải quyết tranh chấp trong xã hội Khi người dân bi ̣ mất đất sản xuất dưới nhiều hình thức khác nhau thì sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của ho ̣ và hình thức đền bù chính là ta ̣o ra sự cân bằng nhằm duy trì mối quan hê ̣ giữa các cá nhân và các nhóm
lợi ích
Theo kết quả nghiên cứu của Midori Yajima (2010) [21] ta ̣i Malawi là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới với mật độ dân số cao cho thấy phần lớn dân số sống ở vùng nông thôn và bắp (ngô) là cây lương thực chính Nghiên cứu được tiến hành ở vùng Chilumba, huyện Karonga nằm ở phía Bắc Malawi là vùng nông thôn có mức đói nghèo và tỉ lệ người lây nhiễm HIV cao Sản lượng bắp phụ
Trang 134
thuộc vào nước trời và phân vô cơ do đó nạn thiếu lương thực xảy ra phổ biến ở nước này Từ thập niên 1970 của thế kỷ XX, cây khoai mì (sắn) trở thành cây lương thực quan trọng vì chất lượng nguồn lao động giảm do bị AIDS Sự lây nhiễm HIV trở nên phổ biến làm ảnh hưởng đến kinh tế xã hội và là thách thức chính đến an ninh lương thực ở một phần châu Phi bởi không có công lao động nên người ta chuyển việc trồng bắp sang trồng cây khoai mì mặc dù khoai mì có nguồn dinh dưỡng thấp hơn Chính quyền sở ta ̣i đã tổ chức nhiều lớp học đồng ruộng (Farmer Field Schools- FFS), quản lý di ̣ch bê ̣nh tổng hợp, phân tích và đánh giá hệ thống nông nghiệp Mặc dù có một số thành công trong biện pháp sinh học để phòng trừ sâu bệnh hại như sử dụng thiên địch nhưng người dân vẫn không chọn nó
để làm giải pháp ưu tiên trong quản lý dịch bệnh hại Đây cũng là lý do cần phải điều chỉnh các chương trình đào tạo tập huấn cho người dân vì nó chưa thực sự phù hợp Khi thực hiện các chương trình quản lý dịch bện tổng hợp và lớp học đồng ruộng thì có hai việc cần làm Đó là tập huấn cho các cán bộ khuyến nông lẫn người dân và cải thiện giống cây trồng chứ không phải tập trung chính vào sản lượng thấp
và quản lý sâu bệnh hại Qua nghiên cứu này cho thấy ảnh hưởng của xã hô ̣i (lây nhiễm HIV) có tác đô ̣ng rất lớn đến sinh kế của người dân nên khi phân tích các chương trình kinh tế xã hô ̣i thì không thể không đề câ ̣p đến các yếu tố chính sách,
an sinh xã hô ̣i cũng như phương pháp tiếp câ ̣n trong quản lý, thực hiê ̣n các dự án/chương trình Trước khi đưa ra chiến lược hay kế hoa ̣ch hoa ̣t đô ̣ng cho mô ̣t chương trình thì nên tham vấn cô ̣ng đồng với phương pháp tiếp câ ̣n có sự tham gia
củ a người dân để chương trình/ dự án có tính khả thi cao và phù hợp với cô ̣ng đồng tiếp nhâ ̣n dự án/ chương trình có liên quan
Trong nghiên cứu về thể chế và phân tích sinh kế, FAO [17] đã xây dựng khung chương trình gồm có năng lực, tài sản (bao gồm cả tài nguyên vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết mà con người dùng để kiếm sống Sinh kế của người dân được chia thành năm loại tài sản
Thứ nhất là tài sản tự nhiên gồm đất đai, rừng cây, nguồn nước và đồng cỏ
Trang 145
Thứ hai là tài sản vật chất gồm (i) tài sản tư nhân được sử dụng để gia tăng
sức sản xuất của lao động và đất đai như gia súc, công cụ, máy móc; (ii) tài sản công cộng như cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế (như đường sá, nguồn điện)
và xã hội (như trường học, trạm y tế)
Thứ ba là tài sản bằng tiền gồm nguồn tài chính mà con người có được như
tiền tiết kiệm, nguồn tín dụng và vốn có thể chuyển thành tiền
Thứ tư là nguồn nhân lực gồm tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục và
kỹ năng làm việc
Thứ năm là tài sản xã hội gồm tập hợp các mối quan hệ xã hội mà người dân
có thể dựa vào đó để mở rộng các phương thức sinh sống như quan hệ dòng tộc, thân hữu, quan hệ chủ và người làm công, quan hệ tương hỗ, thành viên của các tổ chức quần chúng có thể hỗ trợ cho việc vay mượn và các đảm bảo khác (Norman Messer & Philip Townsley, 2003) Để giải quyết các mục tiêu đề ra thì đề tài tập trung vào năm thứ “tài sản” như là phương tiê ̣n để ta ̣o ra sinh kế như hình dưới đây:
Hình 1.1 Các nguồn tài sản tạo sinh kế (nguồn: Norman Messer & Philip
Townsley, 2003)
Sự phân chia thành năm loại tài sản cho sinh kế là một cách thức thuận tiện để phân tích các tài sản cho sinh kế vì bao gồm tất cả các yếu tố tài sản khác nhau
Trang 15 Cơ sở để tìm hiểu các chiến lược sinh kế và phát triển các ưu tiên thông qua tìm hiểu về giới, mức sống, dân tộc, đẳng cấp và những sự khác biệt về xã hội khác trong các cộng đồng
Sử du ̣ng mô ̣t số công cu ̣ như công cụ đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) để hỗ trợ tiến trình có sự tham gia nhằm tập trung phân tích tình hình hiện tại và lập kế hoạch cho sự phát triển trong tương lai Ngoài ra, các công cu ̣ điều tra đánh giá như phân tích SWOT, sơ đồ Venn, lát cắt, bảng phỏng vấn, lâ ̣p bảng ma trâ ̣n cũng là phần không thể thiếu trong điều tra
Điều này đặc biệt đúng đối với những người thiếu tiếp cận các tài nguyên then chốt vì các yếu tố liên quan đến giới, dân tộc hay đẳng cấp của họ Cách thức duy nhất để đảm bảo tránh được các sai lầm, hay các tác động tiêu cực, là thông qua một tiến trình có sự tham gia trong đó phụ nữ và nam giới nông thôn được tạo điều kiện để làm sáng tỏ các nhu cầu và tài nguyên cũng như các hạn chế và cơ hội của
họ Nhưng muốn cho các nỗ lực phát triển dài hạn nhằm mang lại lợi ích thực sự trong tương lai thì các nhu cầu và ưu tiên của người dân địa phương cũng phải được xem xét trong toàn bộ bối cảnh phát triển, nhiều yếu tố của nó xuất phát từ bên ngoài cộng đồng (Vicki Wilde, 2001)
Chính sách có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà các hộ gia đình thực hiện khi sử dụng hoặc tiếp câ ̣n các loa ̣i tài sản của họ vì chính sách thường được quyết định ở các cấp khác nhau của chính phủ Nó sẽ ảnh hưởng lên cách thức mà các hộ
Trang 167
gia đình có thể đưa ra các quyết định hay sử dụng của các tài sản họ có được cho sinh kế Ví dụ các chính sách trao nhiều trách nhiệm cho các định chế ở cấp thôn có thể giúp người dân địa phương có ảnh hưởng lớn hơn lên các quyết định ảnh hưởng trực tiếp lên họ Các chính sách bảo vệ môi trường bằng cách kiểm soát việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho người nghèo gặp khó khăn hơn trong việc đạt được sự tiếp cận các tài nguyên mà họ thường sử dụng để hỗ trợ các sinh kế của họ Xét đến các tài sản cho sinh kế nằm trong kiểm soát của các hộ gia đình, bối cảnh dễ bị tổn thương trong đó các hộ gia đình tồn tại và vận hành, và các chính sách, định chế và tiến trình chung quanh họ, các hộ gia đình có xu hướng phát triển chiến lược sinh kế phù hợp nhất có thể được (Vicki Wilde, 2001)
Nhìn chung, các nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy rằng người dân, đặc biệt
là người nghèo đều có cuộc sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên nên cần phải tìm các giải pháp sinh kế thay thế cho họ nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của họ vào nguồn tài nguyên để phát triển bền vững Đồng thời, khi nghiên cứu cần tâ ̣p trung phân tích nhiều khía ca ̣nh khác nhau về loa ̣i tài sản, chính sách, phương pháp tiếp câ ̣n, đảm bảo sự cân bằng giới cũng như sử du ̣ng nhiều công cu ̣ khác nhau nhằm đảm bảo kết quả phân tích mang tính toàn diê ̣n và thực tiễn
1.2 Ở Việt Nam
Sinh kế, dưới góc độ cách tiếp cận của người nghèo luôn đa dạng và phức tạp Thường những gia đình khác nhau sẽ thực hiện phương thức sinh kế khác nhau
để tăng thu nhập, giảm nghèo và tăng chất lượng cuộc sống Các phương thức sinh
kế của người dân thường bao gồm một lượng thay đổi các hoạt động khác nhau như làm vườn, khai thác tài nguyên, chăn nuôi… vốn thường khó phát hiê ̣n ra nếu dùng các nghiên cứu truyền thống
William D Sunderline và Huỳnh Thu Ba (2005) cho rằng các nguyên nhân chính của nạn phá rừng ở Việt Nam là do sức ép dân số đã làm gia tăng nhu cầu về các sản phẩm rừng, đất nông nghiệp và do việc các Lâm trường Quốc doanh khai thác gỗ từ các diện tích rừng lớn Bốn yếu tố cơ bản gây ra nạn phá rừng của Việt Nam: (1) việc một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư; (2) mở
Trang 17tự nhiên vì không có nhiều cơ hô ̣i sinh sống ở các vùng đồng bằng đông đúc Những người này không chỉ là những người dân tộc thiểu số mà còn có cả người Kinh (Sunderlin and Thu-Ba-Huynh, 2005) [14]
Theo nghiên cứu của FAO, có mô ̣t số phương thức giảm nghèo dựa vào tài nguyên rừng là: chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiê ̣p, khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ, viê ̣c làm từ các hoa ̣t đô ̣ng lâm nghiê ̣p và chi trả di ̣ch vu ̣ môi trường (FAO, 2003) Tuy nhiên, có mô ̣t số hoa ̣t đô ̣ng giảm nghèo bền vững và tuân theo pháp luâ ̣t là thu nhâ ̣p từ các hoa ̣t đô ̣ng lâm nghiê ̣p và chi trả di ̣ch vu ̣ môi trường rừng Nhà nước không khuyến khích viê ̣c chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiê ̣p cũng như các hoa ̣t đô ̣ng khai thác gỗ& lâm sản ngoài gỗ của người dân Để giải quyết vấn đề giảm nghèo bền vững theo hướng thân thiê ̣n với môi trường thì các giải pháp trong đề tài cần hướng đến viê ̣c ha ̣n chế tình tra ̣ng vi pha ̣m lâm luâ ̣t, tăng cường hỗ trợ cho cô ̣ng đồng tiếp câ ̣n với thi ̣ trường ,cải thiê ̣n cơ sở ha ̣
tầng và phát triển đồng bô ̣ các di ̣ch vu ̣ chi trả môi trường rừng như đang thực hiê ̣n
tại tỉnh Lâm Đồng
Nghiên cứu về nạn phá rừng ở Việt Nam đã chỉ ra nguyên dân là do sự gia tăng dân số; tăng trưởng kinh tế và nhu cầu ngày càng gia tăng về lương thực và gỗ Đồng thời, chỉ ra bốn “yếu tố cơ bản” gây ra nạn phá rừng của Việt Nam: (1) việc một số dân tộc thiểu số dựa quá nhiều vào du canh du cư; (2) mở rộng đất làm nông
Trang 189
nghiệp; (3) khai thác gỗ, cả hợp pháp lẫn không hợp pháp; và (4) thu hoạch các loại sản phẩm rừng phục vụ cho nhu cầu sinh sống (De Koninck, 1999) [22]
Khi nghiên cứ u các vấn đề liên quan đến lâm nghiê ̣p và đói nghèo đã chỉ ra
một số bất câ ̣p hiê ̣n nay là chính sách lâm nghiê ̣p chưa rõ ràng đối với người dân, người nghèo ít nhâ ̣n được các lợi ích từng nghiên cứu và công tác khuyến nông-khuyến lâm, thu nhâ ̣p từ lâm sản ngày càng giảm, có sự mâu thuẫn giữa bảo tồn &
bảo vê ̣ rừng với cải thiê ̣n sinh kế của người dân sống phu ̣ thuô ̣c vào rừng Các giải pháp chiến lược trong viê ̣c giảm nghèo và cải thiê ̣n sinh kế tâ ̣p trung vào thực hiê ̣n quản lý rừng đa mu ̣c đích dựa vào cô ̣ng đồng, phát triển khuyến lâm có sự tham gia
củ a người dân, xây dựng cơ chế chi trả di ̣ch vu ̣ môi trường (Đinh Đức Thuâ ̣n và các
cộng sự, 2005)[8] Các kết quả nghiên cứu này sẽ đi ̣nh hướng trong viê ̣c xây dựng giải pháp giảm nghèo cho cô ̣ng đồng sống phu ̣ thuô ̣c vào tài nguyên rừng tại xã Đa Nhim, VQG Bidoup Nú i Bà
Trần Đức Viên (2005) cho rằng, sinh kế của hầu hết người nghèo phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, nước và đất đai Sự sống của con người phụ thuộc vào việc quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên này Thật vậy, tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng vì ngoài việc cung cấp đất sản xuất thì rừng cũng là nơi cung cấp các nguồn năng lượng, lương thực, thuốc chữa bệnh cũng như các vật liệu xây dựng Người dân sống dựa vào rừng ở hai khía cạnh: Thứ nhất là phụ thuộc vào thu nhập, liên quan đến tổng thu nhập và thu nhập họ có được từ bán các sản phẩm từ rừng; và thứ hai là sự phụ thuộc về sinh kế, được tính toán bằng các loại sản phẩm rừng sử dụng hàng ngày Cũng theo tác giả này thì tài nguyên rừng là một trong những nguồn thu nhập và sinh kế của cộng đồng sống gần rừng Ngoài ra, rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân
vì thông qua tôn giáo, văn hóa và truyền thống, các cộng đồng bản địa đã tạo ra một vành đai bảo vệ xung quanh rừng nhằm duy trì sự ổn định và thịnh vượng cho cộng đồng [13] Như vậy, việc thừa nhận và hiểu rõ giá trị của tài nguyên rừng có thể giúp mang lại các cơ hội kiếm sống, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, sức khỏe và nước sinh hoạt cho người nghèo Nhìn chung, giá trị của tài nguyên rừng được đánh
Trang 1910
giá thông qua các chức năng mà chúng cung cấp Chức năng của môi trường nói chung và tài nguyên rừng nói riêng được chia thành các nhóm sau: (1) chức năng sản xuất; (2) chức năng tải; (3) chức năng điều hòa; và (4) chức năng văn hóa và thông tin (Tran, 2005)
Trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của khả năng tiếp cận đến sự lựa chọn sinh kế đối với các nông hộ ở miền núi phía Bắc Việt Nam” Alther và các cộng sự (2002) kết luận: hệ thống giao thông thuận tiện cùng với việc tiếp cận thị trường dễ dàng
có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế nông hộ Nông dân ở những nơi tiếp cận tốt sẽ có nhiều khả năng tăng thu nhập hơn là ở những vùng hẻo lánh, và theo đó có chiều hướng giàu hơn Tuy nhiên, đường giao thông đem lại nhiều lợi ích cho người dân nhưng cũng có cái giá của nó Người dân có cảm giác là khi ở gần đường, sự tự chủ của họ bị đe dọa vì chính quyền có thể giám sát họ chặt chẽ hơn Họ có thể không thấy việc ở gần đường có lợi ích gì nếu như họ cảm thấy lối sống và hệ thống sản xuất truyền thống của mình đang bị đe dọa [1] Như vậy, việc tiếp cận tốt đến chợ, thông tin và các cơ quan nhà nước có thể là những lợi ích rất lớn cho nông dân, nhưng cần phải làm cho họ tin tưởng vào chính sách
Tuy nhiên, không phải tất cả các chương trình hay dự án liên quan đến sự tham gia đều thành công, và lâm nghiệp xã hội nói chung hay lâm nghiệp cộng đồng nói riêng không phải là một thứ thuốc bách bệnh (Bùi Việt Hải, 2007)
Trong nghiên cứu giao rừng ta ̣i Việt Nam, Nguyễn Quang Tân (2006) đã nghiên cứu về phân phối lợi ích tài nguyên rừng Qua nghiên cứu cho thấy người dân sống gần rừng có 2 nguồn thu từ rừng là tiền giao khoán quản lý bảo vệ và từ việc khai thác lâm sản Đắc Lắc với lợi thế là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất Tây Nguyên với khoảng 40 dân tộc sinh sống đã được chọn làm nơi thí điểm giao rừng cho cộng đồng địa phương trước khi nhân rộng mô hình theo 2 mục tiêu chính là duy trì & nâng cao độ che phủ rừng và cải thiện sinh kế cho người dân Theo chương trình giao khoán rừng thì người nhận khoán có quyền sử dụng một phần nhỏ diện tích được giao để canh tác và có thể sử dụng một số lâm sản ngoài gỗ trong khu vực rừng mình quản lý Phương thức giao khoán quản lý bảo vệ rừng có
Trang 2011
thể giao cho hộ gia đình, tập thể hay một đơn vị nhà nước nhằm đảm bảo về mặt kinh tế và an sinh xã hội Trong nghiên cứu này, cho ̣n hô ̣ phỏng vấn bằng phương pháp phân tầng ngẫu nhiên kết hợp với thu thâ ̣p số liê ̣u thứ cấp về tình tra ̣ng rừng, diện tích rừng, thể tích cây đứng mà mỗi hô ̣ được sử du ̣ng để câ ̣p nhâ ̣t vào trong hồ
sơ giao khoán quản lý bảo vê ̣ rừng Qua nghiên cứu cho thấy vai trò của hộ gia đình
về quyền sở hữu và khả năng hưởng lợi từ tài nguyên Bằng chứng thực nghiệm từ công tác giao khoán rừng cho thấy các hộ giàu và những người có vị trí chính trị có khả năng nắm hầu hết các lợi ích Nhân lực lao động của hộ cũng đóng vai trò quan trọng trong phân phối quyền hưởng lợi từ rừng Bốn yếu tố quan trọng trong phân phối lợi ích là khả năng lao động, sự giàu có, vị trí chính trị và quyền sở hữu hợp pháp rừng của các hộ Đồng thời, cũng có sự khác biệt giữa người dân bản xứ và người nhập cư vì người dân bản địa phụ thuộc nhiều hơn vào tài nguyên rừng, đặc biệt là lâm sản ngoài gỗ và đất trồng trọt Ngoài các yếu tố gia đình, lý thuyết cũng cho thấy lợi ích từ giao quyền sử dụng rừng có xu hướng thay đổi theo ranh giới địa
lý và các hình thức quản lý rừng ở cấp địa phương có thể có tác động về lợi ích mà
hộ gia đình địa phương có thể lấy được trong thực tế [25]
Quyết đi ̣nh số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng chính phủ về viê ̣c “Phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II) với mục tiêu tổng quát là tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn một cách bền vững, giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong cả nước Phấn đấu đến năm 2010, trên địa bàn cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm
2005 của Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu cụ thể củ a chương trình này là:
- Về phát triển sản xuất: nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản xuất mới cho đồng bào các dân tộc, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
Trang 21có đường giao thông cho xe cơ giới (từ xe máy trở lên) từ trung tâm xã đến tất cả thôn, bản; trên 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất cho trên 85% diện tích đất trồng lúa nước; 100% xã có đủ trường, lớp học kiên
cố, có lớp bán trú ở nơi cần thiết; 80% số thôn, bản có điện ở cụm dân cư; giải quyết và đáp ứng yêu cầu cơ bản về nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% xã có trạm y tế đúng tiêu chuẩn
- Về nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân ở các xã đặc biệt khó khăn thì phấn đấu trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trên 80% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh dịch nguy hiểm; tăng tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên trên 50%; trên 95% số học sinh tiểu học, 75% học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường; trên 95% người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn phí
- Về phát triển nâng cao năng lực: trang bị, bổ sung những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao nhận thức pháp luật, nâng cao kiến thức quản lý đầu tư và kỹ năng quản lý điều hành để hoàn thành nhiệm vụ cho cán bộ, công chức cấp xã và trưởng thôn, bản Nâng cao năng lực của cộng đồng, tạo điều kiện cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc giám sát hoạt động về đầu tư và các hoạt động khác trên địa bàn
Trong Báo cáo phân tích điều tra đường cơ sở của chương trình 135 giai đoa ̣n 2 (CT135-II) là cơ sở dữ liệu tốt nhất về dân tộc thiểu số và trên các xã nghèo nhất của đất nước Khi điều tra thì cho ̣n phương pháp rút mẫu ngẫu nhiên và phân tích thành 2 cấp độ cộng đồng và cấp hộ Đối với điều tra hộ thì các câu hỏi tập trung vào chi tiêu, thu nhập, tiết kiệm, nhà ở, nhưng đối với cấp độ điều tra cộng đồng thì nên chú trọng vào các cơ sở hạ tầng, quỹ đất, dịch vụ công cộng (trường
Trang 2213
học, bệnh xá), thu nhập ngoài canh tác Chất lượng và kết quả phân tích phụ thuộc vào chất lượng bảng câu hỏi, phương pháp điều tra, trình độ học thuật của chuyên gia và khi phân tích thì các số liệu điều tra sẽ đáng tin cậy hơn số liệu thứ cấp trong một số lĩnh vực Trong phân tích đói nghèo thì chỉ số chi tiêu có ý nghĩa hơn là thu nhập nhưng phân tích thịnh vượng thì chỉ số thu nhập quan trọng hơn Sự chọn lựa này dựa trên nền tảng nắm bắt được chi tiêu là nhiệm vụ nặng nề và là nhu cầu trong trường hợp sản xuất nông nghiệp là tính được hiệu quả mùa vụ thông qua khảo sát cả năm Thu nhập thường được xem xét thông qua mức tiêu dùng, khả năng tạo thu nhập và thu nhập thường gắn với thị trường lao động Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển là nguồn thu nhập từ công lao động chiếm phần chính trong tổng thu nhập hộ nên ta có thể dự đoán được thu nhập của họ trong giai đoạn ngắn vì đây là nguồn thu nhập thường xuyên của họ Tuy nhiên, do phỏng vấn
về thu nhập thường không chính xác nên sẽ làm nhiễu số liệu nên cần phải xác định tất cả các nguồn thu của hộ mới có thể giảm thiểu được sai số trong phân tích và báo cáo Một số chỉ số khác ngoài thu nhập như lương thực, nước sạch, thuốc men
và học phí cũng là những chỉ số để đánh giá đói nghèo Sản phẩm nông nghiệp phụ thuộc vào 3 nhân tố: sở hữu đất, sử dụng đất và thu nhập từ nông sản Trong tài sản đất thường được phân thành 3 loại đất khác nhau là đất trồng cây ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm/cây công nghiệp và đất rừng trong tổng quỹ đất của nông hộ Thu nhập từ nông sản phụ thuộc vào khả năng thị trường hóa sản phẩm đồng thời cũng phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng giao thông nông thôn vì hệ thống giao thông khác nhau dẫn đến ảnh hưởng khả năng tiếp cận thị trường của người dân Nước sạch và nước tưới tiêu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân Điện có liên quan đến cơ giới hóa trong nông nghiệp và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của cộng đồng thông qua đài báo và Nhà văn hóa- bưu điện cấp xã (Pha ̣m Thái Hưng và cô ̣ng sự, 2008)
Theo Bảo Huy (2002), Quản lý dự án lâm nghiệp xã hội và quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững là một yêu cầu quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển bền vững, hướng đến quản lý phát triển tài nguyên thiên nhiên và sinh kế cho người dân [4]
Trang 23tư kinh doanh Chỉ khi nào nhận thức được rõ nét tính chất biến đổi này cũng những hạn chế và khó khăn nó gây ra, lúc đấy “sinh kế thay thế” mới thực sự tạo ra sự khích lệ để người dân ngừng các hoạt động sinh kế không bền vững của mình và chuyển sang các hoạt động khác bền vững hơn
Theo Rodolphe De Koninck (2000) trong “Lý thuyết và thực hành biên giới phát triển với đóng góp của Việt Nam” đã trình bày một số ý tưởng chủ yếu và các giải thích liên quan đến cơ sở, quy trình và hậu quả của phát triển biên giới và viê ̣c
mở rô ̣ng đất nông nghiê ̣p liên quan đến đi ̣a chính tri ̣, nhân văn và dân tô ̣c ho ̣c Có nhiều ảnh hưởng đến mở rô ̣ng đất nông nghiê ̣p của người dân di cư ở cao nguyên Việt Nam trong đó nông nghiê ̣p gắn với mở rô ̣ng thương ma ̣i và lợi ích về thương
mại được thiết lâ ̣p bởi chính sách tái phân bố dân số hình thành các khu đi ̣nh cư Một đặc tính chung của biên giới nông nghiệp là vai trò làm giảm áp lực dân số nghĩa là diê ̣n tích đất canh tác suy giảm so với dân số nhưng nó cũng có thể xuất phát từ đă ̣c thù xã hội và các yếu tố chính trị hoặc thảm họa môi trường liên kết với cuộc khủng hoảng nông nghiệp, dẫn đến tình trạng bất ổn dân sự, chiến tranh hoặc nạn đói và ta ̣o ra tình tra ̣ng di cư tự do Các gia đình nghèo nhất và những nông dân
Trang 2415
trẻ thường đi tiên phong đến các vùng đất mới để thoát cảnh đói nghèo làm tác đô ̣ng đến dân số bản đi ̣a và môi trường đã làm ảnh hưởng đến đời sống chính tri ̣ xã hô ̣i ở khu đi ̣nh cư Thay đổi phương thức canh tác nương rẫy du canh bằng phương thức
đi ̣nh canh với những loài cây trồng phù hợp với thi ̣ trường đã ta ̣o ra xung đô ̣t lợi ích giữa các nông hô ̣ nhỏ và các doanh nghiê ̣p thu mua đồng thời xung đô ̣t giữa lợi ích
cá nhân với pháp lý nhà nước và nhà quản lý lâm nghiê ̣p do đó phải giải quyết theo hướng cung cấp cơ sở ha ̣ tầng như trường ho ̣c, tra ̣m y tế, hê ̣ thống giao thông… đã
tạo ra cơ hô ̣i mới nhưng không có triển vo ̣ng bền vững kinh tế Viê ̣c mở đường giao thông cũng là mô ̣t nguyên nhân dẫn đến mất rừng bởi canh tác nông nghiê ̣p [22&23]
Lịch sử Việt Nam cho thấy việc mở rộng bờ cõi cùng với phát triển đất nông nghiệp, từ chỗ dân cư tập trung ở đồng bằng sông Hồng đã tiến vào đồng bằng châu thổ sông Mê Công để trồng lúa Trong thập niên 1990 của thế kỷ trước, tại Việt Nam, việc mở rộng đất nông nghiệp ở Tây Nguyên diễn ra mạnh mẽ bởi nhiều nguyên nhân như gia tăng dân số và ảnh hưởng của kinh tế xã hội, địa chính trị và
mở rộng đất canh tác của người dân tộc thiểu số làm môi trường bị suy thoái Cũng trong tài liệu này đã cho thấy gia tăng dân số tại Lâm Đồng trong những năm vừa qua là động lực mở rộng đất canh tác trồng Cà phê nhưng một số hộ thuộc dân tộc K’ Ho đã không thích ứng với phương thức canh tác này nên quay lại phương thức hái lượm thực phẩm từ rừng Môi trường bị ảnh hưởng và suy thoái bởi việc mở rộng đất canh tác là nguyên nhân của hạn hán, lũ lụt
Thảo luận chung:
Xóa đói giảm nghèo, tìm kiếm sinh kế bền vững cho cộng đồng ở các khu vực nghèo đói, nhất là ở vùng đệm các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia là vấn đề được đặc biệt quan tâm không những ở Việt Nam mà ở trên toàn thế giới Có thể thấy đã
có rất nhiều công trình, chương trình nghiên cứu về chủ đề này Căn cứ trên kết quả nghiên cứu, các công trình đã đưa ra những giải pháp rất thiết thực để góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng sinh kế cho các cộng đồng địa phương nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Tuy nhiên, có một thực tế là vấn đề đói nghèo và xung đột
Trang 2516
trong sử dụng tài nguyên thường mang tính đặc thù và các khu vực khác nhau có những đặc điểm khác nhau, nên không thể áp dụng kết quả nghiên cứu ở khu vực này cho khu vực khác Việc nghiên cứu sự phụ thuộc vào rừng để tìm giải pháp tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ở vùng đệm VQG Bidoup-Núi Bà đã được tiến hành kết hợp trong một số nghiên cứu về xã hội học khác, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá chung mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm ra những giải pháp dài hạn và bền vững
Trang 2617
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu:
2.1.1 Mục tiêu tổng thể:
Đánh giá thực trạng kinh tế xã hội và sinh kế của người dân phụ thuộc vào tài nguyên rừng và tìm ra giải pháp chia sẻ lợi ích cho cộng đồng
2.1.2 Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích xung đột lợi ích giữa bảo tồn và phát triển
- Đánh giá thực trạng của các hộ gia đình và sự phụ thuộc của họ vào tài
nguyên rừng để đề xuất giải pháp
2.2 Giới hạn đề tài
2.2.1 Về nội dung
Do thời gian và kinh phí có hạn nên Đề tài chỉ tập trung vào điều tra tại hai thôn của xã Lát (thôn Đankia và thôn B’nơ B) và một thôn của thị trấn Lạc Dương
(thôn Bon Dơng 1) (sau đây gọi tắt là ba thôn) nằm trên đi ̣a bàn quản lý của VQG
Bidoup-Nú i Bà về sự phụ thuộc của người dân địa phương vào các nguồn tài nguyên rừng thuộc VQG quản lý và những xung đột lợi ích giữa sinh kế của họ với mục tiêu bảo tồn của VQG
2.2.2 Về Thời gian :
Thời gian: từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 5 năm 2012
2.2.3 Về đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến sinh kế và quản lý rừng
tự nhiên để tạo sinh kế bền vững của người dân ở một phần thuộc xã Lát và thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng - thuộc vùng đệm VQG Bidoup-Núi
Bà
Trang 2718
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Phân tích hiện trạng tài nguyên phục vụ sinh kế của cộng đồng;
- Đánh giá sự phụ thuộc vào rừng của cộng đồng dân cư bản địa ;
- Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết các xung đột lợi ích giữa người dân với mục tiêu bảo tồn của VQG
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm nghiên cứu
Để đạt được yêu cầu, nghiên cứu đặt ra có 4 bước chính là chuẩn bị, thu thập
số liệu, xử lý số liệu và báo cáo Đầu tiên, tiến hành tìm kiếm và nghiên cứu tất cả các tài liệu thứ cấp có liên quan để nắm rõ bối cảnh chung và tránh điều tra lặp lại các số liệu đã có Sau đó tiến hành thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn phù hợp
Kiểm tra bảng câu hỏi là công việc không thể thiếu khi điều tra Trước khi chính thức điều tra chính thức, cần kiểm tra phỏng vấn 10 hộ, sau đó phân tích bảng câu hỏi xem có gỉ cần chỉnh sửa, bổ sung không dựa theo kết quả phân tích bảng này
Chỉ phỏng vấn khi người dân sẵn sàng hợp tác và trả lời trung thực các câu hỏi nêu ra Cần tập trung vào những người có thu nhập ngoài việc việc sở hữu đất nông nghiệp nhưng có ảnh hưởng từ ngành nông nghiệp ví dụ như những người đi làm thuê, buôn bán, và một số người không chuyển quyền sử dụng đất để tránh thuế chuyển quyền sử dụng đất và thuế thu nhập
2.4 2 Phương pháp nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu hiện có
Thu thập các tài liệu báo cáo từ chính quyền địa phương, báo đài, tạp chí và các kết quả điều tra trước đây của các chương trình dự án có liên quan đến vùng nghiên cứu Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và tình hình hiện trạng các nguồn tài nguyên trong phạm vi quản lý của VQG…
- Điều tra ngoại nghiệp: Các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự
Trang 2819
tham gia (PRA) được sử dụng để thu thập số liệu Cụ thể:
+ Điều tra sơ lược về thôn: phỏng vấn một số nhân vật chủ chốt như trưởng thôn, già làng cùng với vợ của họ để biết tình hình chung về cơ sở hạ tầng, giao thông, y tế, giáo dục, lịch sử thôn buôn, sản phẩm và cây trồng chính, cơ cấu tổ chức của thôn, sự phu ̣ thuô ̣c vào tài nguyên, …bằng cách sử dụng các bảng câu hỏi đơn giản
+ Điều tra phỏng vấn hộ: Các phần chính trong điều tra là kết cấu hộ, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng cơ sở hạ tầng trong khu vực Điều tra kết cấu hộ nhằm nắm vững hộ về giới tính, tuổi, cũng như nghề nghiệp Đối với nghề nghiệp, tìm hiểu rõ về các hoạt động sinh kế, nơi làm việc, thời gian làm việc và mức thu nhập của từng thành viên trong hộ Các câu hỏi và trình tự hỏi được gắn kết với nhau theo chuỗi logic vấn đề để người phỏng vấn tránh bỏ sót thông tin và người được hỏi dễ trả lời Khi điều tra hộ được hiểu là những người chung sống và ăn uống cùng nhau dưới một mái nhà Điều tra thu nhập là vấn đề quan trọng nên cần thiết
kế nhiều câu hỏi tập trung chủ đề này và cần phân tích cẩn thận các thu nhập đột xuất của các khẩu trong hộ hoặc thu nhập theo mùa vụ vì sẽ làm tăng mức thu nhập bình quân của hộ trên mức bình thường Đồng thời, phân tích thu nhập trong năm
để tìm hiểu tổng thu nông nghiệp, đối với các phương thức canh tác các loài cây ngắn ngày thì phải tổng hợp các vụ thu hoạch trong năm để tính mức tổng thu nhập nông nghiệp Các thu nhập ngoài nông nghiệp cũng phải được điều tra và tính toán trong tổng thu của hộ
- Quan sát trực tiếp giúp thu thập thông tin và kiểm chứng một số thông tin thu thập được liên quan đến hiện trạng sử dụng đất và cách thức quản lý tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu
- Kết hợp phỏng vấn chuyên sâu để thu thập thông tin từ những người đưa tin then chốt như: chủ tịch xã, các trưởng thôn, già làng, … và các cá nhân khác ở địa phương Thiết kế một bảng câu hỏi về các vấn đề nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc phỏng vấn bán cấu trúc Đơn vị hỏi là hộ gia đình Các câu hỏi phần lớn được thiết kế ở dạng đóng (xem phần phụ lục)
Trang 29 Phân loại hộ gia đình (có thể phân chia theo cách sử dụng tài nguyên thiên nhiên hoặc theo mức sống hoặc theo giới) để từ đó xác định những nhóm liên quan khác nhau
Họp dân (theo nhóm quan tâm) để tổng kết và kiểm chứng các thông tin và công cụ đã thu thập được
- Dung lượng mẫu tùy thuộc vào đòi hỏi độ chính xác của đề tài và sự khác nhau trong các vấn đề điều tra Trong đề tài này do điều kiện về kinh phí và thời gian nên chúng tôi chỉ tiến hành phỏng vấn mỗi thôn 40 hộ gia đình Tổng số hộ gia đình được phỏng vấn ở 3 thôn là 120 hộ
- Xử lý nội nghiệp
Công cụ hỗ trợ cho xử lý và phân tích dữ liệu là phần mềm Excell và/hoặc
SPSS Số liệu nhập vào bảng tính theo các hàng và các cột, ở đó hàng là hộ gia đình
và cột là biến chỉ tiêu Dữ liệu nhập vào là các mã ứng với các mức đã xác định ở
bảng câu hỏi Xác định tỷ lệ hay tần số cho từng vấn đề theo nguyên tắc số đông (tức tần số gặp nhiều hơn), xác định mối quan hệ phụ thuộc giữa các biến định tính bằng trắc nghiệm thống kê (qua số liệu đã được mã hoá) Ngoài ra:
Phân tích nguồn sinh kế (các loại sinh kế, nguồn tài sản tạo sinh kế, nguyên nhân của vấn đề)
Trang 3021
Họp riêng các nhóm liên quan khác nhau để xác định, thảo luận các cách thức sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm hay cách nhìn của họ
Phân tích SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên cho sinh kế của các nhóm liên quan
Trang 3122
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiê ̣n tự nhiên
Ba thôn nghiên cứu nằm trên địa bàn huyện Lạc Dương là nơi có tỉ lệ rừng che phủ lớn ở phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, có độ cao bình quân khoảng 1.500 m so với mực nước biển Địa hình đồi núi chia cắt bởi nhiều sông suối Vùng này có khí hậu
ôn hòa với nhiệt độ trung bình hàng năm từ 160C đến 200C Đặc tính quan trọng nhất của chế độ nhiệt là biến động nhiệt giữa ngày và đêm lớn từ 6oC đến 13oC nên gây một số khó khăn cho các hoạt động nông nghiệp Một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân 1.800 mm/năm Mặc dù mùa khô khá dài nhưng tác động của hạn hán không đáng kể đối với sản xuất nông nghiệp vì mưa cũng thường xuất hiện rải rác trong mùa khô
Hai nhóm đất chính là đất Feralit chiếm khoảng 78 % diện tích và nhóm đất
đỏ vàng chiếm 18 % Trong khi nhóm đầu có hiện trạng và tiềm năng cho phát triển rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, nhóm sau phù hợp cho các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, tiêu, cây ăn quả và rau màu Đứng về góc độ phát triển nông nghiệp, do
bị ảnh hưởng bởi địa hình dốc và bị chia cắt mạnh nên làm cho canh tác nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do xói mòn đất, khó cơ giới hóa và chi phí đầu tư cao
VQG Bidoup Núi Bà có khí hậu giao thoa giữa vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng ven biển Nam Trung Bộ nên sở hữu các vùng sinh thái đa dạng với tính đa dạng sinh học cao Các nhà khoa học đã ghi nhận 1.923 loài thực vật có mạch, trong đó 96 loài đặc hữu và 62 loài quý hiếm nằm trong danh lục của IUCN Với 14 loài cây lá kim trên tổng số 20 loài có mặt ở Việt Nam, trong đó có những loài đặc hữu, quý hiếm như Thông hai lá dẹt, Thông năm lá đà lạt, Thông đỏ… Nơi đây cũng là vương quốc các loài lan Việt Nam với trên 297 loài mà du khách có thể bắt gặp nhiều loài nở hoa ở bất cứ mùa nào trong năm Là nơi sinh sống của hơn
422 loài động vật có xương sống thuộc 98 họ, 30 bộ Có 32 loài nằm trong sách đỏ
Trang 323.2 Điều kiện kinh tế xa ̃ hô ̣i
Các thôn nằm trong địa giới hành chính huyện Lạc Dương là một huyện của người dân tộc bản địa với hơn 83% là người K’Ho Tỉ lệ người các dân tộc khác là không đáng kể Người Kinh sinh sống chủ yếu ở thị trấn Lạc Dương và người bản địa chiếm đại đa số ở các xã như Lát, Đưng K’Nớ, Đa Sar, Đa Nhim, và Đa Chais Chỉ nhóm dân cư sinh sống ở thị trấn Lạc Dương được gọi là dân thành thị, tất cả người dân cư ngụ ở các xã đều được xếp vào nhóm dân cư nông thôn chiếm đến
76% tổng dân số [4]
Sự phát triển kinh tế của huyện Lạc Dương rất ấn tượng với GDP tăng hơn 22% trong ba năm vừa qua Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao nhưng theo quyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 08 tháng 7 năm 2005
về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 thì Lạc Dương vẫn là một huyện nghèo Theo quyết định này, những hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và ở khu vực thành thị dưới 260.000 đồng/người/tháng Đa số các hộ nghèo là người dân tộc thiểu số Vào năm 2010, huyện Lạc Dương có 907 hộ sống dưới mức nghèo, trong đó 879 hộ là người dân tộc thiểu số tương ứng 97%
Việc dân số tăng nhanh được cho là một trong số các nguyên nhân mất rừng đặc biệt ở các vùng đệm và dọc theo các con đường mới mở nối Đà Lạt với Đăk Lăk và Khánh Hòa Mặt khác, cà phê là nguồn thu nhập chính của nông hộ được xem là nguyên nhân của việc lấn chiếm đất rừng và các xung đột tài nguyên diễn ra
ngày càng nghiêm trọng hơn giữa người dân và chính quyền địa phương
Trang 3324
Một trong những thách thức lớn nhất của VQG là phương án quản lý bảo vệ trước những áp lực lên tài nguyên thiên nhiên hiện nay do cháy rừng và lấn chiếm đất rừng cũng giống như các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ [26] Với tốc độ tăng dân số nhanh và sự phát triển thị trường cà phê không thể kiểm soát được như hiện nay áp lực vào đất rừng và tài nguyên rừng là khó tránh khỏi Trong 2.840 hộ sống gần VQG thì có 30% số hộ nghèo và mỗi năm bị thiếu ăn từ một đến hai tháng nên đời sống của họ vẫn phải dựa vào rừng [26] Tình trạng thiếu đất là một vấn đề chung của gần 1.000 hộ nghèo nên áp lực lên tài nguyên thiên nhiên ở địa phương là rất đáng quan ngại
Mật độ dân số bình quân trong vùng là 11,2 người/km2 Trong đó, có những xã
có mật độ dân số thấp như Đa Chais (3,9 người/km2), Xã Lát (6 người/km2) Tại Đa Chais do trước đây chưa có đường nên số dân cư ngụ và sinh sống tại đây thấp vì rất khó tiếp cận được với thị trường bên ngoài Xã Lát là một xã có diện tích theo ranh giới hành chính khá lớn do vậy khi tính mật độ thì tỉ số giữa dân số và diện tích là nhỏ so với các xã còn lại Tuy vậy, dân số không phân bố đều mà thường phân bố theo cụm nên khi cụm dân cư đông thường kéo theo hệ lụy phá rừng nhiều hơn bởi nhiều tác nhân khác nhau
Theo kết quả tổng điều tra dân số huyện Lạc Dương tháng 4 năm 2009, trên toàn huyện có 99,5% dân số đã học đến cấp I; 96,8 % đã học đến cấp II và 9,1 % học đến cấp III [11] Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn kết quả cho thấy rằng có rất nhiều người không biết đọc, biết viết thậm chí là không biết nói tiếng phổ thông nên họ khó tiếp cận được với các kiến thức, thông tin
Nguồn lao động là khá lớn (có 8.900 lao động chiếm 62,49% dân số đang trong tuổi lao động), trong đó có 4.313 nam và 4.587 nữ Số người ngoài độ tuổi lao động là 5.342 người chiếm 37,51% Tuy nhiên, hầu hết lao động đều là lao động phổ thông chưa được đào tạo nghề, công việc chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đánh bắt cá, tham gia tổ giao khoán quản lý bảo vệ rừng, làm thuê theo thời vụ
Người K’Ho theo chế độ mẫu hệ Phụ nữ thường sinh rất nhiều con và làm chủ gia đình Họ có quyền kiểm soát các nguồn lực của gia đình như đất đai, vật
Trang 3425
nuôi, tiền bạc nhưng trên thực tế việc quyết định sử dụng mua bán tài sản trong gia đình lại do người đàn ông quyết định Người vợ tham gia hầu hết các hoạt động kinh tế bao gồm cả các công việc nặng nhọc cần nhiều cơ bắp như làm rẫy, lấy củi
và họ cũng là người chăm lo con cái, chăm lo bữa cơm trong gia đình Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp hơn, khả năng nói tiếng phổ thông kém, ít khi được đi chợ huyện, chợ tỉnh nên phụ nữ K’Ho thường ngại tiếp xúc với người ngoài Do đó, họ hầu như không tham gia các chương trình tập huấn, khuyến nông, khuyến lâm để
nắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường, cuộc sống chính trị xã hội
Nguồn thu nhập chính của các hộ trong vùng chủ yếu từ nông nghiệp (chiếm khoảng 3/4 tổng thu nhập) Trong đó cà phê và bắp là hai loài cây trồng chính Song hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít, nhập lượng cho nông nghiệp thấp (phân bón, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật), kỹ thuật canh tác yếu, nguồn giống không đảm bảo dẫn đến năng suất cây trồng thấp, cộng với chi phí sản xuất cao nên tiền lãi hàng năm rất thấp, thậm chí còn bị lỗ [26]
3.3 Sự phụ thuộc vào rừng
Với gần 30% số hộ nghèo (có thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng) có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Gia đình thường đông con, trình độ học vấn thấp nên khi thiếu ăn thì cuộc sống của ho ̣ phụ thuộc vào rừng thông qua việc khai thác gỗ, củi, nấm, hạt dẻ, dớn, lan, măng, rau rừng và đốt than Trong đó được xếp quan trọng nhất là củi, kế đến là gỗ và thực phẩm như măng, rau rừng Ngoài ra, họ còn săn bẫy chim thú để làm thực phẩm và bán lấy tiền [26]
Ngoài nguồn thu từ sản xuất nông nghiệp thì nguồn thu từ nhận khoán quản
lý bảo vê ̣ rừng cũng là nguồn thu quan trọng của các hộ Các hộ nhâ ̣n khoán theo chương trình chi trả dich vụ môi trường với mức 350.000 đồng/ha/năm thì bình quân hàng quý có thể được nhận tới 10 triệu đồng Đối với các vùng không được chi trả dịch vụ môi trường thì hưởng theo chương trình 30A là chương trình theo Nghị quyết số 30ª/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về
“Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyê ̣n nghèo”; trong đó tiền khoán quản lý bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha/năm; hô ̣ nghèo được
Trang 3526
trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng Tổng kinh phí chi trả cho người dân để quản lý bảo
vệ rừng của VQG Bidoup Núi Bà lên đến hơn 10 tỉ trong năm 2011
Nhận xét
Đề tài nhận ra rằng quản lý diện tích rừng đặc dụng có tính đa dạng sinh học cao và thực trạng kinh tế xã hội trong khu vực như đã nêu thì áp lực của cộng đồng lên tài nguyên rừng là rất lớn và lựa chọn phương án phát triển kinh tế xã hội nhưng không làm mất đi tính đa dạng sinh học và tài nguyên rừng là rất cần thiết
Trang 3627
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Phân tích hiện trạng tài nguyên phục vụ sinh kế của cộng đồng
Bằng phương pháp tiếp cận các nguồn tài sản tạo sinh kế của Norman Messer và Philip Townsley (2003) như đã trình bày tại Hình 1.1, kết quả phân tích hiện trạng tài nguyên phục vụ cho sinh kế của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu thu được như sau:
4.1.1 Ta ̀i sản tự nhiên
a) Đâ ́t canh tác nông nghiê ̣p
Người dân ba thôn có cuô ̣c sống dựa vào nông nghiê ̣p và tài nguyên thiên nhiên nên đất đai là nguồn tư liệu sản xuất quan trọng đối với sinh kế và ổn định quyền sử dụng đất là yếu tố then chốt Căn cứ vào kết quả khảo sát sơ bộ đề tài tiến hành thống kê đất đai của các hộ theo các 11 nhóm, gồm: Đất vườn và đất ở; Ruộng lúa nước; Đất cây đa niên; Đất cây hàng năm; Đất nương rẫy sử dụng; Đất nương rẫy bỏ hóa; Đất được giao trồng rừng; Đất được khoán bảo vệ; Mặt nước; Đất chưa sử dụng và đất khác
Các loại đất đó được theo hai nhóm: đất ở trong thôn và đất ở ngoài thôn Đất ngoài thôn thường là những vùng đất mà tổ tiên của người K’ho đã sinh sống và canh tác trước đây Khi nghiên cứu về lịch sử di cư của người K’ho đã thấy rõ nguồn gốc lịch sử của loại đất này
Một vấn đề khác mà quá trình điều tra ghi nhận được liên quan đến đất ngoài thôn đó là đất được giao khoán quản lý bảo vệ rừng Nhiều hộ được nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng tại vùng đất thuộc thôn khác hoặc xã khác đã vô tình gây nên sự mâu thuẫn giữa họ với người dân tại thôn, xã đó Họ cũng thừa nhận việc nhận khoán bảo vệ rừng ở đất ngoài thôn làm họ thấy khó xử trong việc tham gia bảo vệ rừng
Trang 37thôn
Trong thôn
Ng
Thôn
Trong thôn
Ng
thôn
Trong thôn
Ng thôn
3 Đất cây đa niên 14,3 8 107 0 61,0 57,4 182,3 65,4
3 Ngoài thôn
Trang 3829
Hình 4.1 Phân bố các loa ̣i đất nông nghiê ̣p của ba thôn Qua bảng 4.1.và hình 4.1, ta thấy rằng đất vườn và đất ở và đất trồng cây đa niên chiếm diê ̣n tích lớn nhất và nằm ở trong thôn Ngược la ̣i, đất nương rẫy đa phần ở ngoài thôn và thường là đất nông nghiê ̣p nằm trên đất lâm nghiê ̣p nên thường không có quyền sử du ̣ng đất và người dân ngại đầu tư trên những diện tích này do họ mất quyền sở hữu nên họ chỉ trồng cây ngắn ngày như bắp, đậu phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong gia đình
Diện tích đất nương rẫy (đang sử du ̣ng và bỏ hóa) của cô ̣ng đồng góp phần không nhỏ trong tổng quỹ đất của nông hô ̣ nhưng đây thường là đất xa nhà Các loại đất này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm sinh kế và bảo tồn đời sống tâm linh của người dân địa phương Tuy nhiên, có mô ̣t số diê ̣n tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nên có các tác đô ̣ng bất lợi đến công tác quản lý bảo vệ rừng vì người dân thường hay mở rộng đất canh tác ở trên diện tích này
Ở các thôn điều tra, diện tích đất nông nghiệp bình quân tính từ cao đến thấp
Trang 3930
lần lượt là thôn Đankia (1,1 ha/hộ), Bnơ B (0,75 ha/hô ̣) và Bon đơng 1 (0,56 ha/hô ̣) Điều đáng quan nga ̣i ở đây là đất dành cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn các thôn đã ổn định và gần như không có khả năng mở rộng, trong khi đó dân số tăng
và việc tách hộ khẩu làm cho diện tích đất sản xuất trung bình của hộ giảm xuống theo thời gian cùng với viê ̣c mua bán, sang nhượng, cho thuê đất Ngoài ra, cuộc sống của người dân gắn liền với cây cà phê nên khi thiếu đất sản xuất thì người dân
lấn chiếm đất rừng để canh tác và loa ̣i đất này chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng đất nông nghiệp
+ Quyền sử du ̣ng đất:
Đất vườn và thổ cư phần lớn nằm trong khu vực hành chính của thôn nên hầu hết đã cấp sổ đỏ, các diện tích đất khác thì tùy theo hiê ̣n tra ̣ng và tùy từng thôn để chính quyền xã cấp Giấy chứng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất Đa phần đất cây đa niên (cà phê, hồng), đất cây hàng năm và các loại đất rẫy đều là đất truyền thống được cộng đồng sử dụng lâu đời mà chưa có sổ đỏ
Quyền sở hữu đất đang diễn ra khá phức tạp ta ̣i khu vực nghiên cứu vì đất có thể sử dụng chính thức hoặc chỉ tạm thời do các nguyên nhân mua bán, cầm cố, cho thuê đất hoă ̣c tự khai phá, lấn chiếm đất rừng Qua khảo sát đã phát hiê ̣n nhiều vấn đề liên quan đến quyền sử du ̣ng đất thực tế Một số hộ đã bán đất vì làm ăn không hiệu quả hoă ̣c gặp các rủi ro, thiên tai Tuy vậy, việc mua bán đất đai của người dân rất khó thống kê trên thực tế vì người dân có thể giao sổ đỏ cho người mua mà không cần sang tên; thêm vào đó một phần lớn diện tích đất, đặc biệt đất ở ngoài thôn thì đều chưa có sổ đỏ và việc chuyển nhượng đất của người dân đa phần chỉ thực hiện bằng hợp đồng viết tay hay chỉ nói miệng mà không cần phải qua chứng thực của cơ quan nhà nước và việc bán đất đã biến họ từ người chủ đất trở thành người làm thuê trên đất của mình
Tha ̉ o luâ ̣n:
- Đất là mô ̣t loa ̣i tài sản-đứng trên góc độ sinh kế- để sản xuất nông nghiê ̣p
và thu nhâ ̣p của người dân phu ̣ thuô ̣c vào diê ̣n tích canh tác Người dân đang đứng
Trang 40- Quy hoạch sử du ̣ng đất phù hợp để tránh xung đô ̣t giữa bảo tồn và phát triển Các dự án xây dựng thủy điện hay các dự án đầu tư phải có đánh giá tác động môi trường và tác động xã hội trước khi phê duyệt
b) Nguô ̀n nước
+ Nước sinh hoa ̣t
Trước đây người dân sử dụng nước tự chảy qua đường ống được tài trợ bởi một dự án của Pháp dẫn từ núi Langbian Tuy nhiên, do không được duy tu bảo dưỡng nên hệ thống này đã không còn sử dụng được nữa
Hiện nay có 349 hộ trong ba thôn được tiếp cận nguồn nước sạch từ nhà máy Một số hộ khác sử dụng nước từ giếng đào và nước mưa Nước từ sông suối,
ao hồ chỉ được dùng để tưới tiêu, không còn hộ gia đình nào sử dụng trong sinh hoạt nguồn nước này Kết quả sử dụng nguồn nước cho sinh hoạt được tổng hợp ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Nguồn nước sử du ̣ng cho sinh hoa ̣t
Nguồn nươ ́ c Bon Dơng I Bnor B Dankia Bình quân Tỷ lệ