1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số cơ sở khoa học nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật gây trồng rừng mắm trắng (avicennia alba) cho vùng bãi bồi ven biển xã vĩnh hải, thị xã vĩnh châu, tỉnh sóc trăng

86 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ lâu các ngành khoa học đã quan tâm nghiên cứu về đất ngập mặn cũng như rừng ngập mặn trên nhiều lĩnh vực vì những giá trị to lớn về sinh học, sinh thái và kinh tế xã hội của vùng ven

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn có nguồn gốc đầy đủ, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Sóc Trăng, tháng 4 năm 2016

Tác giả

Mai Đức Duy

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều người.Đến nay, đề tài của tôi đã hoàn thành Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:

PGS - TS Phạm Xuân Hoàn đã giúp đỡ tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài;

Cán bộ Công ty CP Đầu tư và Ứng dụng Công nghệ xanh, đã giúp tôi trong quá trình lấy mẫu, phân tích mẫu thực hiện đề tài;

Ban giám đốc nơi tôi công tác; đã tạo mọi điều kiện về thời gian, hỗ trợ tôi về mặt chuyên môn;

BQL các dự án Lâm nghiệp tỉnh Sóc Trăng, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hải và các chủ hộ nhận khóan trồng rừng đã giúp tôi trong quá trình thu thập

số liệu và thực hiện ngoài thực địa;

Đồng thời tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi trong suốt quá trình học tập và xây dựng luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó

Sóc Trăng, tháng 4 năm 2016

Mai Đức Duy

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.2 Trong nước 8

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 12

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 12

2.2.Mục tiêu nghiên cứu 12

2.2.1 Mục tiêu chung 12

2.2.2 Mục tiêu cụ thể 12

2.3 Nội dung nghiên cứu 12

2.3.1 Hiện trạng rừng Mấm trắng trồng tại địa phương 12

2.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của Mấm trắng 12

2.3.3 Một số đề xuất gây trồng rừng Mấm trắng ở các điều kiện lập địa 13

2.4 Phương pháp nghiên cứu 13

2.4.1 Phương pháp chung 13

Trang 4

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 14

2.4.3 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật về gây trồng rừng Mấm trắng ở các điều kiện lập địa khác nhau 15

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 16

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16

3.1 Đặc điểm tự nhiên 16

3.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình 16

3.1.2 Tình hình khí tượng 18

3.1.3 Tài nguyên động, thực vật rừng 19

3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 21

3.1.5 Hiện trạng rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu 22

3.2 Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 23

3.2.1 Tình hình dân số, điều kiện xã hội 23

3.2.2 Cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân, mức độ tăng trưởng 24

3.3 Tình hình cơ sở vật chất, hạ tầng 25

3.3.1 Giao thông 25

3.3.2 Cơ sở phúc lợi 25

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 Hiện trạng đất ngập mặn ven biển 26

4.2 Sinh trưởng của rừng Mấm trắng trồng tại xã Vĩnh Hải 29

4.3.Một số đặc điểm đất ngập mặn 31

4.3.1 Độ thành thục của đất 31

4.4 Đặc điểm một số chỉ tiêu lý, hóa tính đất 37

4.4.1 Thành phần cơ giới của đất 38

4.4.2 Độ chua của đất 41

4.4.3 Chất hữu cơ (OM) 42

4.4.4 Đạm 46

Trang 5

4.5 Xây dựng bản đồ lập địa 49

4.5.1 Các yếu tố phân chia lập địa 49

4.5.2 Kết quả xây dựng bản đồ lập địa 53

4.6 Đề xuất giải pháp kỹ thuật gây trồng rừng ngập mặn 57

4.6.1 Lựa chọn cây trồng 57

4.6.2 Phương pháp trồng 57

4.6.3 Chăm sóc và bảo vệ rừng trồng 58

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59

1 Kết luận 59

2 Khuyến nghị 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Hiện trạng động vật rừng ngập mặn Sóc Trăng 19 4.1 Hiện trạng sử dụng đất thị xã Vĩnh Châu 26

4.3 Phân bố một số loài cây ngập mặn vùng bãi bồi ven biển xã

4.4 Độ thành thục của đất và hóa tính đất bị thay đổi 34

4.5 Sinh trưởng của rừng Mấm trắng trên đất ngập mặn có độ

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Hiện trạng rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu 22

4.2 Hiện trạng rừng ngập mặn tại xã Vĩnh Hải, năm 2015 29

4.5 Sự biến đổi pH của đất dưới rừng Mấm trắng ở các độ khác nhau 42

4.6 Sự biến đổi chất hữu cơ theo độ sâu tầng đất tại các tuổi rừng

4.7 Mối quan hệ D00 với hàm lượng OM tại tuổi 4 44 4.8 Mối quan hệ D00 với hàm lượng OM tại tuổi 8 45 4.9 Mối quan hệ D00 với hàm lượng OM tại tuổi 12 45 4.10 Đồ thị hiển thị hàm lượng đạm theo độ sáu tầng đất và tuổi rừng 46

4.11 Mối quan hệ giữa sinh trưởng D00 với hàm lượng N% của rừng

Trang 9

MỞ ĐẦU

Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 32.894.398 ha với chiều dài bờ biển 3.260 km; có 606.792 ha đất ngập mặn ven biển, trong đó có 209.741 ha diện tích rừng ngập mặn ven biển.Diện tích rừng ngập mặn tuy không lớn nhưng có vai trò rất lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường

Rừng ngập mặn có vai trò hết sức to lớn nhưng diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, môi trường rừng bị đe dọa Mặc dù diện tích rừng ngập mặn trong những năm gần đây được gia tăng đáng kể; nhưng chất lượng rừng ngập mặn trên toàn quốc bị suy giảm một cách rõ rệt

Năm 1943 cả nước có 408.500 ha rừng ngập mặn (100%); đến năm

2007 diện tích còn lại 209.741 ha (51,34%) Như vậy, sau hơn 60 năm, rừng ngập mặn nước ta đã bị suy giảm gần 1/2 diện tích.Bình quân mỗi năm mất khoảng 3.105,6 ha rừng ngập mặn

Cả nước nói chung và Sóc Trăng nói riêng sự biến động về diện tích đất ngập mặn cùng với nguy cơ bị thu hẹp dần về diện tích rừng ngập mặn do nhiều nguyên nhân khác nhau như: sự huỷ diệt của chất độc hóa học trong chiến tranh, chuyển đất rừng ngập mặn sang sản xuất nông nghiệp, việc quai

đê lấn biển, đô thị hóa; đặc biệt là việc phát triển nuôi tôm, của xuất khẩu đã làm cho việc quản lý rừng ngập mặn gặp nhiều khó khăn Việc phá rừng là nguyên nhân chính gây ra một số hậu quả như: làm mất đi nguồn lợi thuỷ sản,

đa dạng sinh học, sự phong phú của hệ sinh thái trong rừng ngập mặn, làm mất nơi cư trú, sinh đẻ của nhiều loài thuỷ sản, chim, thú… làm giảm chức năng phòng hộ chắn sóng, phòng hộ đê biển, chống xói lở, lưu trữ nước ngầm…

Đứng trước tình hình trên Nhà nước và ngành lâm nghiệp đã có rất nhiều cố gắng để khôi phục, phát triển rừng ngập mặn và đã đạt được nhiều

Trang 10

thành tựu đáng kể trong công tác nghiên cứu gây trồng và phục hồi rừng ở Việt Nam: trồng cây trên lập địa khó, triển khai các mô hình nông lâm thuỷ sản, suất đầu tư trồng rừng ngập mặn luôn được nâng lên

Tỉnh Sóc Trăng gần đây đã trồng được một diện tích rừng ngập mặn khá lớn nhưng tỷ lệ thành rừng còn thấp do nhiều nguyên nhân: thiên tai, sâu bệnh hại, trồng và chăm sóc chưa đúng thời vụ, trong đó có một nguyên nhân quan trọng, đó là do chưa bố trí loài cây trồng phù hợp với từng dạng lập địa

Để nâng cao hiệu quả của việc trồng rừng cũng như phát triển bền vững rừng ngập mặn vùng bãi bồi ven biển thị xã Vĩnh Châu – tỉnh Sóc Trăng, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số cơ sở khoa học nhằm đề xuất

các giải pháp kỹ thuật gây trồng rừng Mấm trắng (Avicennia alba) cho

vùng bãi bồi ven biển xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng ”

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Đến nay rừng ngập mặn xuất hiện trên 75% bờ biển nhiệt đới và á nhiệt đới trong khoảng từ 300 vĩ tuyến Nam đến 300 vĩ tuyến Bắc Rừng ngập mặn

có diện tích lớn nhất nằm trong vùng từ 100 vĩ độ Bắc đến 100 vĩ độ Nam (Twilley và cộng sự 1992)

Diện tích rừng ngập mặn trên toàn thế giới ước tính khoảng 18 triệu ha, phân bố tại 82 nước Trong đó, ở khu vực Châu Á, rừng ngập mặn có khoảng 8,4 triệu ha, chiếm tới 46% tổng diện tích rừng ngập mặn thế giới; riêng 07 nước Đông Nam Á, diện tích rừng ngập mặn chiếm tới 36% tổng diện tích rừng ngập mặn thế giới (Mark Spalding và cộng sự, 1997)

Từ lâu các ngành khoa học đã quan tâm nghiên cứu về đất ngập mặn cũng như rừng ngập mặn trên nhiều lĩnh vực vì những giá trị to lớn về sinh học, sinh thái và kinh tế xã hội của vùng ven biển

+ Nghiên cứu về giải phẫu, phân loại, phân bố:

Lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là phân loại thực vật, thảm thực vật

và phân bố Có 2 công trình nổi tiếng là Mangrove vegetation của V.J Chapman (1975) và The botany of mangroves của P.B Tomlinson (1986) đã nghiên cứu về giải phẫu, phân loại, phân bố, sinh thái một số loài cây ngập mặn trên thế giới [36], [45]

+ Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái:

Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển rừng ngập mặn có nhiều tác giả đề cập đến Theo V.J Chapman (1975)

có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển rừng ngập mặn là: Nhiệt độ, thể nền đất bùn, sự bảo vệ, độ mặn, thủy triều, dòng chảy hải lưu, biển nông [36]

Trang 12

Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập mặn ở vùng châu Á Thái Bình Dương cho rằng: Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việc khai thác tài nguyên rừng, đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêu cực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất ngập mặn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này bằng các giải pháp như: xây dựng các hệ thống chính sách,văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn và nghiên cứu cácbiện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xây dựngcác mô hình lâm ngư kết hợp [1]

Có một số công trình nghiên cứu về lượng mưa, nhiệt độ ảnh hưởng đếnsự sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn V.J Chapman (1975), P.B.Tomlinson (1986) cho rằng nhiệt độ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sựsinh trưởng và phân bố rừng ngập mặn Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môitrường có nhiệt độ ấm, nhiệt độ của tháng lạnh nhất không dưới 20oC, biên độnhiệt theo mùa không vượt quá 10oC P Saenger và cộng sự (1983) (Trích dẫntừ Nguyễn Hoàng Trí, 1999) đã giải thích sự có mặt của rừng ngập mặn ở mộtvùng nào đó tùy thuộc nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước A.N Rao (1986)nhận định rằng trong các nhân tố khí hậu thì lượng mưa là nhân tố quan trọngvới vai trò cung cấp nguồn nước ngọt cho cây ngập mặn tăng trưởng và pháttriển, rừng ngập mặn sinh trưởng tốt nhất ở nơi có lượng mưa đầy đủ [26], [36], [42], [45]

Trong các nhân tố sinh thái thì độ mặn là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỷ lệ sống, phân bố các loài De Hann (1931) (Trích dẫn từ Aksornkoae, 1993) cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, phát triển ở nơi có

độ mặn từ 10-30‰ và các tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành hai nhóm;

Trang 13

nhóm phát triển ở độ mặn từ 10-30‰ và nhóm phát triển ở độ mặn từ 0-10‰ [34]

Yếu tố giới hạn sự phân bố của rừng ngập mặn là sự thiếu vắng muối trong đất và nước.Mỗi loại cây ngập mặn chịu đựng một độ mặn nhất định Khi độ mặn trong đất tăng và tầng bùn giảm thì cây còi cọc, cành ngắn, lá nhỏ

và dày hơn (A.N Rao, 1986) Nhiều nghiên cứu cho thấy, cây ngập mặn cóthể tồn tại được trong nước ngọt một thời gian nào đó, nhưng sinh trưởng của cây giảm dần, sau vài tháng nếu không được cung cấp một lượng muối thích hợp thì cây sinh trưởng rất kém, lá cây có nhiều chấm đen và vàng do sắc tố bị phân hủy, lá sớm rụng Hầu hết các cây ngập mặn đều sinh trưởng tốt ở môi trường nước có độ mặn từ 25-50% độ mặn nước biển.Khi độ mặn càng cao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinh khối của rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [26], [42]

Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn, 1967; S Aksornkoae và cộng sự, 1985) (Trích dẫn Aksornkoae, 1993) Đất rừng ngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O2, giàu H2S, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèo chất dinh dưỡng A Karim và cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngập mặn liên quan đến số lượng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở nơi có lớp đất phù sa dày

S Aksornkoae (1993) nghiên cứu đất ngập mặn ở Thái Lan, còn A Karim (1983, 1988) nghiên cứu đất ngập mặn ở Sundarbans – Banglades có

độ pH từ 6,5-8; độ mặn của đất từ 3,3-17,3‰ và ông chia đất ra làm 3 loại: loại có độ mặn thấp dưới 5‰, loại có độ mặn trung bình từ 5-10‰ và loại có

độ mặn cao trên 15‰ J.K Choudhury (1994) nghiên cứu tính chất lý hóa của

Trang 14

đất rừng ngập mặn ở Sundarbans – Ấn Độ cho thấy đất ở tầng 0-15cm có tỷ lệ cát từ 15,25-49,25%, độ pH: 7-8, N: 0,02-0,09%, P: 0,1-0,2%, CaO: 0-6%, C: 0,5-1,0%

+ Nghiên cứu về sinh trưởng của cây ngập mặn:

S Soemodiharjo và cộng sự (1994) nghiên cứu về tăng trưởng chiều cao và đường kính thân của loài Đưng được trồng ở Inđônêxia theo các tuổi 6,

11, 14, 18 và cho biết sự tăng trưởng hàng năm tương ứng là 0,7; 0,5; 0,6; 0,6cm [44]

Ở Phangnga (Thái Lan) (J Kongsanchai, 1984) nghiên cứu sự tăng trưởng của Đước đôi đôi trồng tại vùng khai thác mỏ thiếc ở các giai đoạn 1, 2, 3, 4, 5, 6 năm tuổi và cây đạt chiều cao tương ứng là 0,71; 0,74; 1,23; 1,25; 1,27 và 1,93 m [41]

+ Nghiên cứu về trồng rừng:

Về lĩnh vực trồng và phục hồi rừng ngập mặn đã có nhiều tổ chức quốc

tế tham gia như: Chương trình hợp tác Liên hợp quốc (UNDP), chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO), chương trình nghiên cứu và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực châu Á và Thái Bình Dương của UNDP/UNESCO (RAS/79/002) đã cung cấp tài chính cho những tổ chức chuyên môn của các nước để nghiên cứu quản lý rừng ngập mặn Chính phủ của nhiều nước đã ban hành các chính sách về rừng ngập mặn, khuyến khích trồng lại rừng

Ở Thái Lan, Đước đôi đôi và Đưng được coi là đối tượng chính để trồngrừng ngập mặn vì cho than tốt, có nhiệt lượng cao Đước đôi đôi được trồng bằnghai phương pháp: Bằng trụ mầm và bằng cây con trong túi bầu đạt

tỷ lệ sốngtrên 80% (Aksornkoea, 1996) Còn Đưng trồng từ trụ mầm có tỷ lệ sống trên94% (S Havannond, 1994) [34], [39]

Trang 15

Cho đến nay những nghiên cứu ở nhiều nước đã xác định được phân

bố, đặc điểm sinh thái các loại thực vật rừng ngập mặn, đa dạng của hệ sinh thái rừng ngập mặn.Số liệu nghiên cứu cho thấy rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông, ven biển, vùng nước lợ, nước mặn và ảnh hưởng bởi thuỷ triều Đến nay, hệ thực vật rừng ngập mặn đã phát triển 100 loài, trong

đó có những loài phân bố rất hạn chế nhưng nhiều loài phân bố ở nhiều vùng sinh thái (Tomlinson, 1986; Mark Spalding và cộng sự 1997; Rao 1987; Mepham 1985; Duke 1992) Châu Á là nơi có sự đa dạng nhất về số loài cây ngập mặn, với khoảng 70 loài, tiếp đến là châu Phi khoảng 30 loài; châu Mỹ

và vùng Caribean khoảng 11 loài Các loài cây ngập mặn phổ biến ở hầu khắp các vùng sinh thái là các loài thuộc chi Đước đôi (Rhizophora), Vẹt (Bruguiera) và Trang (Kandelia)

Fran cois Blasco (1983), khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến phân bố và sinh trưởng của các loài cây ngập mặn, cho rằng: ở vùng xích đạo hoặc gần xích đạo, nơi có nhiệt độ không khí trung bình năm 26 – 270C, trong một năm không có tháng nào nhiệt độ của nước biển ven bờ < 200C, là những điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của rừng ngập mặn Nếu trong năm

có nhiều tháng nhiệt độ của nước biển < 160C thì sẽ không xuất hiện rừng ngập mặn

Theo đánh giá của Hiệp hội nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn quốc tế (ISME) thì việc trồng, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng ngập mặn mới chỉ được thực hiện ở một số nước; đây cũng

là một trong những nguyên nhân gây cản trở công tác bảo vệ và khôi phục các

hệ sinh thải rừng ngập mặn trên thế giới

Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập mặn ở vùng Châu Á Thái Bình Dương cho rằng: Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi

Trang 16

nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việc khai thác tài nguyên rừng và đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêu cực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất rừng ngập mặn, cần phải có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này bằng các giải pháp như: Xây dựng các hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn; nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ kết hợp xây dựng các mô hình lâm ngư kết hợp [1]

1.2 Trong nước

Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên trên phần đất liền là 32.894.398 ha, với bờ biển dài 3.260 km, hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo nên sự phong phú và đa dạng về hệ sinh thái rừng ngập mặn Vùng rừng ngập mặn được phân chia thành 4 khu vực lớn gồm:

-Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

-Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc bộ từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch trường

-Khu vực III: Ven biển Trung bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu -Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải - Hà Tiên

Và trong mỗi vùng chia ra các tiểu vùng (Phan Nguyên Hồng, Rừng ngập mặn Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội năm 1999) [11] + Nghiên cứu về phân loại, phân bố:

Công trình nghiên cứu có hệ thống về rừng ngập mặn đầu tiên ở Việt Nam là luận văn tiến sỹ của Vũ Văn Cương (1964) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn – Vũng Tàu Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước lợ Đưng phân bố ven sông Soài Rạp, Đông Tranh và một số cửa sông nhỏ; Cóc trắng gặp rải rác ở những nơi đất cao, Vẹt đen gặp ở vùng nước lợ

Trang 17

Lê Công Khanh (1986) mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong rừng ngập mặn Tác giả đã xếp 57 loài cây ngập mặn vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước: Nhóm mọc trên đất bồi ngập nước mặn (độ mặn của nước từ 15-32‰) có 25 loài, trong

đó có Đưng, Cóc trắng; nhóm sống trên đất bồi thường ngập nước lợ (độ mặn 0,5- 15‰) có 9 loài, trong đó có Vẹt đen và nhóm sống trên đất bồi ít ngập nước lợ có 12 loài [12]

Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểu thảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừng Đước đôi đơn thuần, rừng Dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừngVẹt – Giá vùng đất cao, Rừng Chà là - Ráng đại và trảng thoái hóa [18]

Ở Việt Nam khoảng 73% tổng diện tích đất ngập mặn ven biển tập trung ở miền Nam Việt Nam (từ đèo Hải Vân vào tới mũi Cà Mau) với diện tích rừng ngập mặn chiếm khoảng 70% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam

+ Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố, sinh trưởng rừng ngập mặn:

Trong luận án tiến sỹ khoa học “Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam” của Phan Nguyên Hồng (1991) đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh lý sinh khối … rừng ngập mặn Việt Nam [10]

- Số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và có kích thước cây bé hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông

- Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây giảm

- Khi điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt nhau lớn thì vùng

có chế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng có chế độ nhật triều

Nguyễn Hoàng Trí (1999), Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ Quần xã Đưng tiên phong ở phía Tây bán đảo Cam Ranh, gặp ở phía

Trang 18

trong quần xã Mấm trắng, Bần trắng trên đất ngập triều trung bình Cóc trắng gặp cả ở ba miền, trên vùng đất cao ngập triều không thường xuyên, nền đất tương đối chặt.Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùng nước lợ ở miềnNam.Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệt khá khắc nghiệt, hiện được trồng nhiều ở miền Bắc

Theo Thái Văn Trừng (1998) có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh rừng ngập mặn: Thứ nhất là tính chất lý hóa của đất, thứ hai là cường độ và thời gian ngập của thủy triều, thứ ba là độ mặn của nước [29]

Nguyễn Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng (1995) đã tìm hiểu về ảnh hưởng nhiệt độ thấp đến sự sinh trưởng của Trang, Đâng, Đước đôi đôi, Đưng

ở miền Bắc Việt Nam Kết quả thí nghiệm cho thấy Đưng và Đước đôi đôi sinh trưởng bình thường vào mùa hè và mùa thu, nhưng đến mùa đông (t

<11oC) thì loài này chết đi; trong khi đó Trang và Đâng vẫn vượt qua mùa đông giá rét [8]

+ Nghiên cứu về đất rừng ngập mặn:

Lê Văn Tự (1994) đã thiết lập bản đồ thổ nhưỡng hai huyện Nhà Bè và Cần Giờ Tác giả căn cứ vào tình trạng ngập mặn (thường xuyên hay theo con nước) và tầng sinh phèn nông (0 - 50cm) hay sâu (trên 50cm) đã chia nhóm đất mặn chủ yếu ở Cần Giờ thành 7 loại, trong đó loại đất ngập mặn phèn tiềm tàng tầng sinh phèn nông nhiều bã hữu cơ ngập mặn thường xuyên chiếm 27.280ha

Nguyễn Ngọc Bình (1996) đã nghiên cứu các loại đất ở rừng ngập mặn

Cà Mau, đất ngập mặn mùn rất loãng không có cây ngập mặn, đất ngập mặn mùn loãng có Mấm trắng tiên phong cố định bãi bồi, đất ngập mặn dạng sét, đất ngập mặn phèn tiềm tàng sét mềm có Đước đôi, đất ngập mặn phèn tiềm tàng cứng có Đước đôi, Đà, Cóc trắng [2]

Trang 19

Đối với đất ngập mặn, Ngô Đình Quế (2003) và các cộng sự cho rằng: Chất hữu cơ là một trong những nhân tố quyết định đến sinh trưởng của rừng ngập mặn, nếu hàm lượng chất hữu cơ trong đất ngập mặn thấp hơn 1% thì sinh trưởng xấu, nhưng nếu quá cao, lớn hơn 15% thì cũng kìm hãm sinh trưởng của 5 cây và cũng có thể làm cây trồng bị chết do môi trường đất bị ô nhiễm [20]

Năm 2003, Ngô Đình Quế đã phân chia lập địa cho vùng ngập mặn ven biển Việt Nam và phân chia lập địa ứng dụng cho vùng ngập mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long Trên cơ sở kết quả khảo sát nghiên cứu, phân tích

kế thừa các thành quả về đất rừng ngập mặn với các thảm thực vật và diễn biến của chúng phân chia các cấp phân vị đối với đất vùng ven biển ngập mặnở Việt Nam theo hệ thống Miền – Vùng – Tiểu vùng

Với rừng ngập mặn việc nghiên cứu về đất và đánh giá về đất chưa mangtính hệ thống, các văn bản kỹ thuật về phục hồi rừng còn rất ít và được xâydựng dựa trên kinh nghiệm của địa phương Do vậy, các cơ sở khoa học chocông tác gây trồng rừng ngập mặn còn rất hạn chế và là nguyên nhân dẫn đếnsự thất bại trong công tác gây trồng rừng ngập mặn

Vấn đề nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp thiết thực vào việc đưa ra các cơ sở khoa học để xây dựng các giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm phát triển rừng ngập mặn ven biển xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu – tỉnh Sóc Trăng ngày một hiệu quả và bền vững

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:là câyMấm trắng

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: Vùng đất bãi bồi ven biển xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu – tỉnh Sóc Trăng

2.2.Mục tiêu nghiên cứu

2.2.1 Mục tiêu chung

Bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn ven biển thị xã Vĩnh Châu với quy

mô và chất lượng đảm bảo phòng chống thiên tai cho hệ thống đê điều, cơ sở

hạ tầng kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, góp phần ổn định phát triển bền vững kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng vùng ven biển

2.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được hiện trạng rừng Mấm trắng trồng tại địa phương

- Xác định được một số nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến sinh trưởng của cây Mấm trắng trồng tại khu vực nghiên cứu làm cơ sở đề xuất kỹ thuật trồng rừng Mấm trắng tại địa phương

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:

2.3.1 Hiện trạng rừng Mấm trắng trồng tại địa phương

- Lịch sử rừng trồng: Kỹ thuật trồng, năm trồng, mật độ trồng

- Xây dựng bản đồ hiện trạng rừng trồng

- Sinh trưởng của rừng trồng ở các tuổi/lập địa khác nhau

2.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của Mấm trắng

- Lập địa

- Mật độ trồng ban đầu

Trang 21

- Kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ

- Các nhân tố khác (kinh tế-xã hội; sinh vật gây hại, biến đổi khí hậu…)

2.3.3 Một số đề xuất gây trồng rừng Mấm trắng ở các điều kiện lập địa

- Phân chia lập địa vùng đất ngập mặn tại xã Vĩnh Hải

- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật trồng Mấm trắng trên các ĐKLĐ

- Giải pháp về cơ cấu cây trồng và tiêu chuẩn cây giống

- Giải pháp về kỹ thuật gây trồng

- Phương thức trồng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp chung

- Kế thừa và vận dụng kết quả nghiên cứu đã có

- Tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực (lâm nghiệp, thủy sản, nông nghiệp)

- Các bước tiến hành của đề tài được thể hiện theo sơ đồ sau:

Thu thập tài liệu, số liệu

Mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài

Điều tra khảo sát thu thập số liệu

Trang 22

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất

Bằng phương pháp kế thừasố liệu Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Phòng kinh

tế biển thị xã Vĩnh Châu và Sở Nôngnghiệp & PTNT Sóc Trăng

Phỏng vấn người dân sống gần rừng và tham gia trồng, bảo vệ rừng

2.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm thể nền rừng ngập mặn ven biển

- Lập ô tiêu chuẩn điển hình theo các 3 tuổi rừng trồng khác nhau, mỗi tuổi lập

5 ô tiêu chuẩn

Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn 100 m2 Đo đếm toàn bộ Doo, Dt, Hvn, Hdc của cây Mấm trắng trong mỗi tuổi đào 1 phẫu diện, mô tả xác định loại đất, độ sâu tầng đất, độ thành thục

+ Độ thành thục của đất được xác định ngoài thực địa theo (QPN7-84) ban hành kèm theoquyết định số: 975-QĐ ngày 29/10/1984 như sau:

1 Bùn loãng: khi đi trên bùn, độ ngập sâu của chân từ 30 – 40 cm

2 Bùn chặt: khi đi trên bùn, độ ngập sâu của chân từ 20 – 30 cm

3 Sét mềm: khi đi chân bị lún sâu vào đất từ 10 – 20 cm

4 Sét chặt: khi đi chân bị lún sâu vào đất từ < 10 cm

+ Lấy mẫu phân tích đất: Dùng khoan bậc thang của Mỹ, lấy đất các độ sâu 0 – 10 cm; 20 – 40 cm và 40 – 60 cm

Các chỉ tiêu đất được phân tích đánh giá:

+ P2O5 %: Dùng phương pháp Oniami

+ K2O %: Dùng phương pháp Matslova

Trang 23

+ PH: Dùng máy đo PH metter

+ Độ mặn (S‰): Kế thừa số liệu của Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn tỉnh Sóc Trăng

Phân tích các chỉ tiêu lý hóa tính của đất: Các mẫu đất được phân tích tạiphòng thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng –Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

+ Sử dụng các phần mềm Excell và SPSS để xử lý số liệu thống kê + Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng: Doo, Dt, Hvn, Hdc bằng thước kẹp kính và thước dây, theo các mẫu biểu định sẵn

Mẫu biểu 01: Phiếu Điều tra sinh trưởng rừng trồng

ÔTC: ………… Ngày điều tra: ….…… ……

Độ dốc: ………… Người điều tra: ……… Hướng phơi: …… Năm trồng: ……… Loài cây: ……… Địa điểm: ………

STT

Hvn (m)

Hdc (m)

Chất lượng

Ghi chú

Trang 24

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Vĩnh Châu giáp với huyện Trần Đề và Mỹ Xuyên ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Đông và Đông Nam, giáp với Bạc Liêu ở phía Tây và Tây Nam Thị xã Vĩnh Châu có 4 phường và 6 xã với tổng diện tích tự nhiên khoảng 47.340 ha

Vĩnh Hải là 1 trong 7xã, phường ven biển, có rừng của thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; có diện tích tự nhiên 7.844,1ha.Tọa độ: 9°21'3"B, 106° 6'42"Đ

+ Đông Bắc giáp: Biển Đông

+ Tây Nam giáp: xã Lạc Hòa

+ Đông Nam giáp: Biển Đông

+ Tây Bắc giáp: xã Hòa Đông và huyện Trần Đề

Khu Bắc giáp: xã Hòa Đông và huyện Trần Đề Xuyên ở phía Bắc, giáp biển Đông ở phía Đông và Đông Nam, giáp với Bạc Liêu ở phía Tây và Tây Nam Thị xã Vĩnh Châu có 4 phường

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Khu vực nghiên cứu là vùng bãi bồi phù sa ven sông, ven biển nên có địa hình tương đối thấp, xen lẫn là những giồng cát có địa hình cao hơn (cao

độ bình quân +1,2 -:- +2m) cao độ mặt đất tự nhiên trong khu vực bình quân phổ biến là 0,6 -:- 0,9m

Hướng địa hình dốc từ Bắc xuống Nam và từ các bờ sông, rạch nghiêng vào trong nội đồng kết thúc bằng những giồng cát xen lẫn trong vùng dự

Trang 25

án.Nhìn chung địa hình cao hơn so với đỉnh triều trung bình hàng năm, có nơi trũng thấp hoặc trung bình xen lẫn là những diện tích giồng cát cao Vùng ven biển có nơi bờ biển bị xói lở (Từ ấp Huỳnh Kỳ đến một phần của ấp Mỹ Thanh, dài 1520 m), có nơi đang được phù sa bồi tụ, bãi bồi ngày một cao thêm và lấn dần ra biển Đông (Bãi biển ấp Trà Sết, Âu Thọ A và Âu Thọ B)

3.1.1.3 Địa chất thổ nhưỡng

Khu vực nghiên cứu có 2 đơn vị đất chính: Đất cát và đất ngập mặn ven biển (Đất mặn dưới tán rừng, đất bãi bồi ven biển), đặc điểm các loại đất này như sau:

- Đất giồng cát: Phân bố ven bờ biển, nơi tích tụ nước ngọt trong mùa

khô trong các giồng cát, địa hình cao 2 -:- 4m, tuy nhiên bị nhiễm mặn bên dưới Đất có thành phần cơ giới thuộc cát dính hoặc pha thịt nhẹ, nghèo dinh dưỡng, rời rạc, không có cấu trúc hoặc có cấu trúc giả Vùng này tập trung dân cư trồng hoa màu và cây ăn trái khác

- Đất mặn dưới rừng ngập mặn: Là loại đất phổ biến trong khu vực

nghiên cứu, tạo thành những dãy song song bờ biển, có địa hình thấp trũng hoặc ngập trũng khi triều lên Là loại đất phù sa mới bồi, thực vật thường xuất hiện các loài cây của rừng ngập mặn như: Mấm, Bần, Đưng, Đước đôi Trong phẫu diện đất tầng Glây thường xuất hiện sâu > 50cm đất có mùi SH2 và CH4, lượng muối clorua cao Hiện nay phần lớn diện tích loại đất này đã được cải tạo để sản xuất Lâm – Ngư kết hợp, đã làm thay đổi cấu trúc địa hình và tính chất đất đai

- Đất bãi bồi ven biển: Có nền địa hình thấp, thường bị ngập triều

quanh năm, khi nước triều rút còn lại dãy đất cát bùn chạy dài theo bờ biển, thực vật chưa phát triển hoặc rãi rác những cây Mấm tiên phong, nhiều bãi bồi được khoanh vùng để khai thác nghêu con giống hay nuôi nghêu thịt

Trang 26

3.1.2 Tình hình khí tượng

- Khu vực nghiên cứu cũng như thị xã Vĩnh Châu đều chịu ảnh hưởng bởi chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa đại dương Hàng năm phân biệt rõ giữa mùa mưa với hướng gió mùa Tây - Tây Nam (tháng 5 - 11) thịnh hành và mùa khô với hướng gió Đông – Đông Bắc (gió Chướng, tháng 12 – 4).Trong mùa mưa (tháng 5 – 11) có độ ẩm cao, mây nhiều và bốc hơi ít.Mùa khô (tháng 12 đến tháng 4 năm sau) mây ít, nắng nhiều, bốc hơi cao.Lượng mưa bình quân năm là 1.750,6 mm Nhiệt độ bình quân năm 27,0c.Độ ẩm tương đối cao trong khoảng

75 – 89%, bình quân năm là 85%.Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 2.292,7 – 2.488,4 giờ, cao nhất thường vào tháng 3 và thấp nhất thường tháng 9 hàng năm Bình quân cả năm 6,8 – 7,5 giờ/ngày Tháng 2 – 4 có số giờ nắng cao nhất (8 –

10 giờ/ngày),tháng 7 – 9 số giờ nắng thấp nhất (5 – 6 giờ/ngày)

- Chế độ thủy văn trong khu vực nghiên cứu thuộc vùng cửa sông ven biển nên phụ thuộc chính vào chế độ thủy triều biển Đông và lưu lượng nước của sông Mỹ Thanh Diễn biến mực nước trong khu vực theo chế độ bán nhật triều không đều, trong tháng có 2 kỳ triều cường (Ngày 03 và 17 âm lịch) và 2

kỳ triều kém (Ngày 10 và 25 âm lịch) Hàng năm, mùa triều cường bắt đầu từ tháng 7 âm lịch và đạt cực đại vào tháng 10 âm lịch.Biên độ triều bình quân trên dưới 3m

- Tại khu vực còn có các rạch, xẻo nhỏ như: Rạch Giồng Chùa, rạch Hồ

bể, rạch Hồ Lạng là ranh giới tự nhiên của xã Vĩnh Hải

- Khu vực nghiên cứu nói riêng và thị xã Vĩnh Châu nói chung chịu ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn biến thiên theo từng tháng, do sự phối hợp của thủy triều và lưu lượng nước thượng nguồn đổ về Độ mặn của sông Mỹ Thanh là 5‰ – 15‰ vào mùa lũ và 20‰ – 30‰ vào mùa kiệt Vào thời kỳ khô nhất trong năm khoảng tháng 3, nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa từ 10 – 25 km và đến mùa mưa độ mặn lại giảm dần từ thượng nguồn đến cửa sông

Trang 27

trong phụ lục IB của Nghị định 32/2006 là loài dơi ngựa lớn (Rousettus amplexicaudatus); Chim có 77 loài thuộc 32 họ, 13 bộ; Trong đó, có 1 loài chim được ghi nhận nằm trong danh mục sách đỏ Việt Nam là Phalacrocorax carbo sinensis (Cốc đế), bậc R (RARE) thuộc loài hiếm (có thể nguy cấp), là

loài có số lượng ít, tuy hiện tại chưa phải là đối tượng đang hoặc sẽ bị đe doạ, nhưng sự tồn tại lâu dài của chúng mỏng manh và cần có kế hoạch bảo vệ

Bảng 3.1 Hiện trạng động vật rừng ngập mặn Sóc Trăng

(Tên VN/KH)

Sách đỏ Việt Nam

2007

Nghị định 32/2006/NĐ-

CP

1 Rái cá lông mượt /Lutra perspicillata EN IB

5 Chích chòe lửa /Copsychus malabaricus IIB

7 Giang sen / Mycteria leucocephala NT

8 Rẽ mỏ thìa / Euryrnorhynchus pygmaeus VU

9 Choi choi lưng đen / Charadrius peronei NT

10 Cò trắng Trung Quốc /Egretta eulophotes VU

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng, 2012)

Trang 28

Ghi chú:

- EN: Nguy cấp; - NT: Sắp bị đe dọa; - T: Bị đe dọa

- VU: Sắp nguy cấp; - R: Hiếm;

* Thủy sinh vật rừng ngập mặn:

Vùng bãi bồi có nhiều loài thủy sản có giá trị cao về kinh tế và sinh thái như: Tôm, cua, nghêu và sò huyết Trong đó, nhuyễn thể 2 mảnh vỏ là nhóm loài được khai thác lớn nhất

(Pluchea indica)

Thời kỳ chiến tranh, rừng ngập mặn tại Vĩnh Châu bị tàn phá rất nhiều bởi bom đạn, chất độc hóa học Sau chiến tranh, rừng dần được phục hồi; từ năm 1980 đến nay, Nhà nước đã quan tâm, đầu tư phục hồi diện tích rừng tự nhiên, phát triển diện tích rừng trồng với loài cây có giá trị kinh tế cao đồng thời phát huy tốt chức năng phòng hộ (Đước đôi, Mấm, Bần,… ), hình thành được một đai rừng phòng hộ ven biển

Theo kết quả nghiên cứu về Đa dạng sinh học tại tỉnh Sóc Trăng của Sở Tài nguyên và Môi trường (Năm 2012): Hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Sóc Trăng có tính đa dạng sinh học rất cao, phân bố khắp 3 huyện, thị ven biển là thị xã Vĩnh Châu, huyện Trần Đề và huyện Cù Lao Dung Về tiềm năng thực vật có 145 loài; Trong đó, có 30 loài thuộc cây rừng ngập mặn, 76 loài tham gia vào rừng ngập mặn và 39 loài du nhập từ nơi khác Các loài đặc trưng cho rừng ngập mặn ven biển ở Sóc Trăng là: Mẩm biển, Mấm trắng, Đước đôi, Đưng, Dà, Vẹt, Bần chua, Bần đắng, Giá và Su ổi,

Trang 29

Riêng tại thị xã Vĩnh Châu có khoảng 25loài thực vật RNM thuộc 19

họ đã được ghi nhận Các loài phổ biến nhất là: Mấm (Avicennia sp), Đước đôi (Rhizophora apiculata), Đưng (Rhizophora mucronata), Bần chua (Sonneratia caseolaris), Chà là (Phoenix palydosa), Lức cây (Pluchea indica), Ô rô (Acanthus ebrateatus), Cóc kèn (Derris trifoliata) Ngày nay, sự

phân bố của các loài thực vật đã có những biến đổi đáng kể do tác động của con người, những quần xã thực vật hiện nay có sự thay đổi lớn, gồm các quần

xã tự nhiên và gây trồng, bao gồm các quần xã chính:

- Quần xã Mấm biển (Avicennia marina) – Rừng tự nhiên: phân bố trên

đất mới bồi, bùng lỏng Chúng mọc thuần loài hoặc hỗn giao với Mấm đen, Mấm quăn

- Quần xã Mấm trắng (Avicennia alba) – Rừng trồng: phân bố trên đất

mới bồi, bùng lỏng, được gây trồng thuần loài, diện tích lớn, với nhiều năm trồng khi đất mới bồi đã ổn định

- Quần xã Đước đôi đôi (Rhizophora apiculata) – Rừng trồng: Phân bố

trên vùng đất đã ổn định hoàn toàn, có diện tích lớn, trở thành kiểu rừng quan trọng và chiếm ưu thế cho hệ sinh thái toàn khu vực, có lợi cho kinh doanh và phòng hộ

- Quần xã Đưng (Rhizophora mucronata): Được gây trồng trên đất bãi

bồi khá cao, có diện tích nhỏ, mục đích hướng tới làm rừng giống

3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

- Do địa hình thấp trũng, xen kẽ các cửa sông, rạch, tốc độ bồi lắng với lượng phù sa lớn tạo ra vùng đất thích nghi cho các loài cây rừng ngập mặn, cũng như các loài chim biển Các ấp Trà Sết, Âu Thọ A, Âu Thọ B bãi biển hiện đang bồi tụ, cao trình ngày nâng cao, khả năng khoanh nuôi và trồng rừng tại diện tích này là khả thi

- Tuy nhiên, vùng bãi biển ở ấp Huỳnh Kỳ và Mỹ Thanh đang bị xói lở

Trang 30

mạnh làm thiệt hại diện tích rừng, cần thiết phải có giải pháp kỹ thuật phù hợp Nơi đây lại là địa điểm cho phong trào phát triển du lịch tự phát

- Với hệ thống đê biển đi qua (Phía trong) rừng phòng hộ xã Vĩnh Hải

và các đường giao thông được xây dựng rất thuận lợi cho việc sản xuất Lâm - Ngư kết hợp, trồng hoa màu của nhân dân trong vùng đồng thời thuận lợi cho công tác tuần tra, bảo vệ rừng

- Tài nguyên động vật rừng khá phong phú Qua khảo sát, điều tra và phỏng vấn cán bộ kiểm lâm, các hộ dân thì các loài động vật hiện thường thấy

xuất hiện gồm: Kỳ đà hoa (Varanus salvator), Rái cá lông mượt (Lutra perspicillata), Chồn đèn, Cò trắng Trung Quốc (Egretta eulophotes), Giang sen (Mycteria leucocephala)

3.1.5 Hiện trạng rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu

Hình 3.1: Hiện trạng rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu

Rừng ngập mặn ven biển tỉnh Sóc Trăng được quản lý và bảo vệ bởi Chi cục Kiểm lâm và chính quyền địa phương Tổng diện tích rừng ngập mặn phòng hộ là 5.300ha trong đó Vĩnh Châu: 3.500hatrong đó xã Vĩnh Hải chiếm 2/3 tổng diện tích rừng ngập mặn của thị xã Vĩnh Châu Với sự phân bố cây rừng như vậy, có thể thấy hệ sinh thái rừng ngập mặn trong Vùng biển rất

Trang 31

phong phú về chủng loại thực vật và động vật Đây là nơi có sản lượng sinh khối động thực vật lớn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng và cung cấp thức ăn quan trọng cho các loài cua, cá, tôm biển và nhiều loại khác có giá trị kinh tế lớn; bồi đắp đất đai, bảo vệ vùng ven biển; tạo ra nơi cư trú cho nhiều loại động vật hoang dã

Với sự phân bố cây rừng như vậy, có thể thấy hệ sinh thái (HST) RNM trong vùng ven biển rất phong phú về chủng loại thực vật và động vật Đây là nơi có sản lượng sinh khối động thực vật lớn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng và cung cấp thức ăn quan trọng cho các loài cua, cá, tôm biển và nhiều loại khác có giá trị kinh tế lớn; bồi đắp đất đai, bảo vệ vùng ven biển; tạo ra nơi cư trú cho nhiều loại động vật hoang dã

3.2 Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

3.2.1 Tình hình dân số, điều kiện xã hội

* Tình hình dân số

Toàn xã có 4.454 hộ với 21.024 khẩu; có 03 đồng bào dân tộc cùng sinh sống chung là dân tộc Kinh 5.306 người, chiếm 25,24%; Hoa 5.738 người, chiếm 27,29%; Khmer 9.980 người, chiếm 47,47% Tỷ lệ tăng dân số hàng năm của xã là 1,8%; số lượng lao động trong độ tuổi là 13.326 người, trong

đó, nam là 6.763 người và nữ là 6.563 người; lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm khoảng 70,3 % và lao động phi nông nghiệp chiếm 29,7%

* Tình hình xã hội

- Giáo dục:

Các trường học thực hiện đầy đủ chương trình dạy và học đúng quy định, công tác xã hội hóa giáo dục được thực hiện tốt, trường học được xây dựng đạt chuẩn từ 3/5 – 4/5 tiêu chí, gồm trường mẫu giáo, tiểu học và THCS Năm 2014,

tỷ lệ học sinh giỏi đạt 45,2%, khá 34,5%, trung bình 19,3%, yếu 1%

Trang 32

- Y tế:

Trạm y tế xã được xây dựng kiên cố, nhân lực gồm 1 bác sĩ, 4 y sĩ và y

tá Hoạt động khám và chữa bệnh của trạm ngày càng hiệu quả, các hoạt động khác như tuyên truyền về sức khỏe, sinh sản, an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêm ngừa phòng bệnh được thực hiện tốt

3.2.2 Cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân, mức độ tăng trưởng

3.2.2.1.Thuỷ sản

- Nuôi tôm: Tổng diện tích thả nuôi là 3.019 ha, trong đó: tôm sú: 1643 ha; tôm thẻ chân trắng: 928 ha; nuôi cua, cá: 448 ha Sản lượng thu hoạch: tôm sú 1,5 tấn/ha; thẻ chân trắng 3,5 tấn/ha; cua, cá 1,2 tấn/ha

3.2.2.2 Nông nghiệp

- Diện tích trồng lúa là 1.163 ha, năng suất đạt 4 tấn/ha, sản lượng 4.652 tấn Diện tích trồng hoa màuvà cây công nghiệp ngắn ngày 3.473 ha gồm các loài như hành tím, củ cải trắng, ớt sừng trâu, theo từng vụ trong năm cho năng suất khá cao

- Cây màu: Diện tích canh tác ổn định là 120 ha, tổng sản lượng thu hoạch là 65.399 tấn

- Chăn nuôi: Toàn xã có 362 con bò, 1028 con heo , 25.624 con gia cầm, 55 con Trâu, 156 con dê

3.2.2.3.Tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ

Tổng số cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ trên địa bàn xã là 556 cơ sở, gồm: Công nghiệp là 149 (sản xuất muối), vận tải là

151 (ghe tải và xe tải), thương mại dịch vụ là 238 (mua bán), trong đó có 10 doanh nghiệp

Trang 33

3.3 Tình hình cơ sở vật chất, hạ tầng

3.3.1 Giao thông

3.3.2 Cơ sở phúc lợi

- Cơ sở hạ tầng cơ bản hoàn chỉnh, xã có đường vành đai liên xã đi qua

đã được nhựa hoá

- Tại xã Vĩnh Hải được đầu tư xây dựng Nhà văn hoá để cộng đồng dân

cư sinh hoạt vui chơi giải trí

-Cấp điện: Hiện tại xã đều đã có điện sinh hoạt Số hộ đăng ký sử dụng điện khoảng 90%

- Cấp nước sinh hoạt: Do điều kiện địa chất thủy văn thuận lợi, Vĩnh Hải là vùng có thể khai thác nước ngầm bằng giếng khoan nhỏ cho chất lượng tốt Hiện nay đã có khoảng 55-60% dân số sử dụng nước sinh hoạt đảm bảo hợp vệ sinh

- Nhà ở: Đời sống nhân dân trong vùng được nâng cao, nhà ở của nhân dân đã được xây dựng hầu hết là kiên cố và bán kiên cố Đại bộ phận là nhà xây lợp ngói, có nhiều gia đình xây dựng nhà kiên cố (mái bằng bê tông thép)

- Trường học, trạm y tế, trụ sở UBND các xã đều được chú ý đầu tư xây dựng nhằm nâng cao chất lượng học tập, chất lượng khám chữa bệnh

Trang 34

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Hiện trạng đất ngập mặn ven biển

Thị xã Vĩnh Châu có tổng diện tích tự nhiên là 7844,1 ha trong đó tổng diện tích đất rừng ngập mặn thị xã Vĩnh Châu là 3569,1 ha chiếm 45% diện tích tự nhiên

Diện tích đất rừng và rừng ngập mặn được giao cho ba đơn vị tổ chức quản lý: Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) thị xã Vĩnh Châu, Ban chỉ huy quân

sự (BCHQS) tỉnh Sóc Trăng và Hội Chữ thập đỏ (Hội CTĐ) tỉnh Sóc Trăng

BCHQS tỉnh Sóc Trăng

Hội CTĐ tỉnh Sóc Trăng

Ban quản lý rừng phòng hộ của thị xã Vĩnh Châu được giao quản lý phần lớn diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn huyện với diện tích 1765,5 ha, hầu hết các vị trí của ban quản lý rừng đang theo dõi là các vị trí có vai trò xung yếu trong công tác phòng chống thiên tai và xói lở bờ biển, ngoài ra các đơn vị quản lý khác như hội Chữ thập đỏ và ban chỉ huy quân sự cũng quản lý

Trang 35

diện tích khá lớn lần lư

chữ thập đỏ quản lý hầu h

được

Loại đất sử dụng đ

đất chưa và đất khác trong nông nhi

biểu đồ dưới đây

Hình 4.1: Cơ c

Qua biểu đồ trên ta th

với 48,9% đây là diện tích đ

ng đất nông nghiệp: có ba loại hình sử dụng đ

t khác trong nông nhiệp diện tích sử dụng được th

Cơ cấu sử dụng đất của thị xã Vĩnh Châutrên ta thấy diện tích đất chưa có rừng chiếm tỷ

n tích đất lâm nghiệp nhưng không có kh

u những khó khăn hay do độ ngập còn sâu quá và th

p dài nên không có khả năng trồng rừng cho nên dẫn đ

n định Trong những năm gần đây được sự

p các ngành, các tổ chức phi chính phủ đầu tư cho vệc phát tri

xã Vĩnh Châu tiến hành trồng rừng nhưng vẫ

t Vì trong quá trình phát triển rừng thì có rất nhiều nguyên nhân

45.5 5.6

Đất có rừng Đất chưa có rừng Đất nông nghiệp khác

p nhưng không có khả năng trồng

p còn sâu quá và thời

Trang 36

- Nguyên nhân khách quan:

+ Bất lợi của điều kiện thời tiết: trồng rừng ven biển chịu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố bão, gió, nước chiều và sóng biển dâng điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả trồng rừng Các nguyên nhân đó sẽ làm cho cây rừng mới trồng bị lung lay, lay gốc, trốc gốc, vùi lấp

+ Sinh vật gây hại: rừng ngập mặn mới trồng thường hay bị cua, còng và đặc biệt rất hay bị con hà phá hại Đã nhiều năm qua các ngành

và các nhà khoa học luôn chăn trở và chưa tìm ra các biện pháp hạn chế

sự phá hại của các con hà lên cây rừng

+ Ảnh hưởng sinh kế người dân sống gần rừng: Bãi bồi ven biển là nới kiếm kế sinh nhai của người dân, nên họ thường vào nơi rừng mới để bắt cua, bắt ngao…

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Chưa có quy hoạch cụ thể cho từng dạng lập địa nên việc trồng rừng mang tính chủ quan nhiều hơn

+ Xác định thời vụ, chuẩn bị cây giống, cơ cấu cây trồng còn chưa chủ động do chưa tạo được cây giống tại chỗ

Đất đai khác trong nông nghiệp không thể sử dụng vào trong công tác phát triển rừng,bởi những dện tích này thường là kênh lấy nước tưới và các nhánh nước thường là nằm xen kẽ với đất rừng

Đất bãi bồi ven biển thị xã Vĩnh Châu hàng năm mở rộng lên do sự bồi đắp phù xa, nên đất lâm nghiệp luôn được tăng lên kèm theo đó là diện tích rừng cũng được tăng lên thông qua vệc trồng rừng hàng năm Bên cạnh sự tăng lên thì đất lâm nghiệp và rừng luôn có sự biến động: lấy đất lâm nghiệp làm đê và các công trình dân sinh

Trang 37

Hình 4.2: Hiện trạng rừng ngập mặn tại xã Vĩnh Hải, năm 2015 4.2 Sinh trưởng của rừng Mấm trắng trồng tại xã Vĩnh Hải

a Một số đặc điểm hình thái và sinh thái học của cây Mấm trắng

Mấm trắng là cây thân gỗ, đôi khi bắt gặp cây cao tới 25m, đường kính thân đến 1m.Có nhiều rễ thở mọc lên khỏi mặt đất từ rễ ngang nông và dài.Vỏ thân cây ban đầu có màu xám nâu, mỏng, sau trở nên ráp và có màu xám trắng, hoặc bên ngoài vỏ có màu xanh vàng, bên trong có màu trắng Lá mọc đối, hình thuôn, dài 4-12cm, rộng 2-6cm, đầu lá tròn, mép lá hơi cuốn vào, mặt trên lá có màu xanh sáng

và nhẵn, mặt dưới lá có lông màu xanh xám, có chấm nhựa Hoa không có cuống, dài 7-10mm, bề ngang 12-15mm Tràng hoa hình chuông, màu vàng hoặc nâu

Trang 38

vàng, có 4 thùy không đều nhau, có 4 nhị, 4 tế bào noãn trong 4 noãn, chỉ nhị dài Hạt to, dẹt, không có vỏ hạt, nảy mầm trong nước Sinh trưởng tốt ở vùng có lượng mưa trung bình năm tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm 20 – 26oC, pH từ 6 - 8,5, thường gặp ở vùng đất sét kiềm ở bờ biển hoặc đầm lầy

b Đặc điểm sinh trưởng rừng Mấm trắng tại xã Vĩnh Hải

Kết quả bảng 4.2 cho thấy

Số cây Mấm trắng giảm dần theotuổi, với mật độ trồng ban đầu là 5000 cây/ha, thì số cây giảm còn ở mức 3610 cây/ha ở tuổi 4 và còn 1990 cây/ha ở tuổi 12

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến giảm mật độ cây Mấm trắng trồng trên bãi bồi ven biển như sóng biển, triều cường và các loài sinh vật phá hại gây tổn thương tới cây trồng trong những năm đầu mới trồng cây, nhưng tại bãi bồi ven biển xã Vĩnh Hải nguyên nhân gây mất rừng chủ yếu được xác định là sự xói lở bờ biển, gây thiệt hại nghiêm trọng đến rừng ngập mặn đặc biệt là các khu rừng nằm trong ranh giới giữa bãi triều và rừng ngập mặn, hơn nữa sự bồi lấp cục bộ tại một số chỗ dẫn tới việc cây rừng bị vùi lấp trong cát

và bùn cũng làm cho mật độ rừng giảm đi đáng kể

Trang 39

Hình 4.3 Phân bố số cây theotuổi 4.3.Một số đặc điểm đất ngập mặn

Để đánh giá độ thành thục của đất ngập mặn và mối quan hệ giữa độ thành thục của đất với rừng ngập mặn, chúng tôi tiến hành điều tra đất đai và loại rừng trên lát cắt điển hình

Theo Phạm Quang Sơn (2005) Tốc độ phát triển bãi bồi thị xã Vĩnh Châu, đạt 110 – 170 m/năm (giai đoạn 1998 – 2005) và trung bình là 120 m/năm [33] Có thể nhận thấy tốc độ lấn biển ở Vĩnh Châu điển hình là vùng bãi bồi ven biển thuộc xã Vĩnh Hải Thị xã Vĩnh Châu diễn ra rất mạnh; với chiều dài bờ biển 15,5 km, thì mỗi năm xã Vĩnh Hải có thêm mới khoảng vài chục hecta đất ngập mặn Diện tích đất mới nằm giữa các tuyến đê của xã có cao độ rất thấp, vì thế độ thành thục của đất ở đây phổ biến ở mức thấp

Số cây (N)

Cấp tuổi (A)

Trang 40

Dựa vào độ thành thục của đất để phân chia đất ngập mặn thì vùng ven

biển xã Vĩnh Hải có các dạng đất chính sau:

- Đất ngập mặn dạng bùn rất loãng:

Loại đất này nằm ở vùng bãi bồi non, bùn rất loãng, chân đi lún sâu vào bùn từ 40 – 60 cm Đây là vùng ngập nước khi triều rất thấp, ngập nước thường xuyên 30 ngày/tháng, trên dạng đất này chưa xuất hiện rừng ngập mặn

- Đất ngập mặn dạng bùn loãng:

Loại đất này phân bố ở các bãi bồi nông ven bờ biển, chân đi lún sâu từ 30

- 40 cm, khó đi lại Đây là vùng bị ngập nước khi triều trung bình, số ngày bị ngập từ 20 – 30 ngày/tháng, với độ ngập nước sâu trung bình 40 – 60 cm Trên dạng đất này, bắt đầu xuất hiện rừng Mấm trắng tiên phong cố định bãi bồi

- Đất ngập mặn dạng bùn chặt:

Loại đất này thường phân bố trên các bãi bồi gần cửa sông, ở vùng ngập nước khi triều trung bình, số ngày ngập từ 9 – 10 ngày/tháng, độ lún của chân đi từ 20 – 30 cm Tổ thành rừng ngập mặn ở đây phổ biến là Bần chua

và Mấm trắng và một số Mấm đen

- Đất ngập mặn dạng sét mềm:

Loại đất này phân bố ở vị trí sâu trong đất liền hoặc ven sông, có chế

độ ngập nước khi triều trung bình, độ lún của chân khi đi từ 10 – 20 cm Các loại rừng ngập mặn chủ yếu ở đây là Mấm trắng và Đước đôi

- Đất ngập mặn dạng sét cứng:

Đất này được hình thành trên các bãi bồi chỉ ngập nước khi triều cao,

số ngày ngập triều < 9 ngày/ tháng, độ lún của chân đi < 10 cm Rừng ngập mặn chủ yếu là Đước đôi và Mấm trắng

4.3.1.1 Độ thành thục của đất và phân bố của rừng

Do đặc tính sinh vật học, sinh thái học của mỗi loài cây khác nhau; nên chúng chỉ phân bố tự nhiên, sống trên các bãi bồi có độ thành thục và chế độ ngập triều nhất định Kết quả điều tra về phân bố của loài cây của rừng ngập mặn xã Vĩnh Hải thị xã Vĩnh Châu.Thể hiện ở biểu 4.3 dưới đây

Ngày đăng: 31/08/2017, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô An và Võ Đại Hải (2001), Một số đề xuất các tiêu chuẩn phân chia rừng sản xuất ở vùng ngập mặn cửa sông ven biển Việt Nam, Báo cáo chuyên đề, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề xuất các tiêu chuẩn phân chia rừng sản xuất ở vùng ngập mặn cửa sông ven biển Việt Nam
Tác giả: Ngô An, Võ Đại Hải
Nhà XB: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Năm: 2001
3. Đặng Công Bửu (2006), Đặc điểm sinh trưởng và các biện pháp kỹ thuật gây trồng rừng các loài Dà Vôi, Vẹt Tách, Su MeKong và Mấm Trắng.Nhà xuất bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh trưởng và các biện pháp kỹ thuật gây trồng rừng các loài Dà Vôi, Vẹt Tách, Su MeKong và Mấm Trắng
Tác giả: Đặng Công Bửu
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
Năm: 2006
4. Bộ Nông nghiệp &amp;PTNT (2006), Hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm trồng rừng một số loài cây ngập mặn ven biển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm trồng rừng một số loài cây ngập mặn ven biển
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp;PTNT
Năm: 2006
5. Nguyễn Đức Cự và Nguyễn Phương Hoa (1990), Môi trường đất và nước ở các đầm nước lợ dọc ven biển phía Bắc. Tập báo cáo chuyên đề đề tài nhà nước 8B.05.01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường đất và nước ở các đầm nước lợ dọc ven biển phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Đức Cự và Nguyễn Phương Hoa
Năm: 1990
6. Hoàng Công Đăng (1995), “Kết quả gieo ươm một số loại cây nước mặn ở Quảng Ninh” Hội thảo quốc gia: Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả gieo ươm một số loại cây nước mặn ở Quảng Ninh
Tác giả: Hoàng Công Đăng
Nhà XB: Hội thảo quốc gia: Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam
Năm: 1995
7. Đinh Thanh Giang, Luận văn thạc sĩ - Nghiên cứu đặc điểm lý hóa tính đất dưới rừng ngập mặn và một số mô hình lâm ngư kết hợp làm cơ sở đề xuất phương hướng sử dụng đất hợp lý tại vùng ven biển huyện Thái Thụy – Tỉnh Thái Bình. Hà Tây 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lý hóa tính đất dưới rừng ngập mặn và một số mô hình lâm ngư kết hợp làm cơ sở đề xuất phương hướng sử dụng đất hợp lý tại vùng ven biển huyện Thái Thụy – Tỉnh Thái Bình
8. Lê Hương Giang, Luận văn thạc sĩ - Bước đầu đánh giá năng suất, ảnh hưởng độ cao tầng đáy tới sự phân hủy của lượng rơi và sự phân bố của một số loại động vật đáy trong rừng Trang (Kandelia candel (L.) Druce) trồng tại xã Thụy Hải, Thái Thụy, Thái Bình 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ - Bước đầu đánh giá năng suất, ảnh hưởng độ cao tầng đáy tới sự phân hủy của lượng rơi và sự phân bố của một số loại động vật đáy trong rừng Trang (Kandelia candel (L.) Druce) trồng tại xã Thụy Hải, Thái Thụy, Thái Bình
Tác giả: Lê Hương Giang
Năm: 1999
9. Hội khoa học đất (2000), Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội khoa học đất
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
10. Nguyễn Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng (1995), “Tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự sinh trưởng của một số loài trong họ Đước đôi (Rhizophraceae) trồng thí nghiệm”, Hội thảo quốc gia phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự sinh trưởng của một số loài trong họ Đước đôi (Rhizophraceae) trồng thí nghiệm”
Tác giả: Nguyễn Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng
Năm: 1995
11. Nguyễn Thị Thu Hoàn (2006), Bài giảng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp – Khoa lâm nghiệp – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hoàn
Nhà XB: Khoa lâm nghiệp
Năm: 2006
12. Phan Nguyên Hồng (1991), Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam, Luận án Tiến sỹ khoa học sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: Luận án Tiến sỹ khoa học sinh học
Năm: 1991
13. Phan Nguyên Hồng (1999), Rừng ngập mặn Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp – Hà Nội
Năm: 1999
14. Lê Công Khanh (1986), Rừng nước mặn và rừng nhiệt đới trên đất chua phèn, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng nước mặn và rừng nhiệt đới trên đất chua phèn
Tác giả: Lê Công Khanh
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1986
15. Lê Văn Khoa (2000), Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón và cây trồng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích đất, nước, phân bón và cây trồng
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
16. Kogo, M. (1995) “Vài nhận xét quan sát sự sinh trưởng, tái sinh và phát triển của cây Trang trồng tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”, Hội thảo quốc gia phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét quan sát sự sinh trưởng, tái sinh và phát triển của cây Trang trồng tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Tác giả: Kogo, M
Nhà XB: Hội thảo quốc gia phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam
Năm: 1995
17. Lê Thị Vu Lan (1998), Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, tái sinh và phát tán của cây Trang trồng tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.Luận văn thạc sỹ sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, tái sinh và phát tán của cây Trang trồng tại xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Tác giả: Lê Thị Vu Lan
Năm: 1998
18. Cao Thị Phương Ly, Luận văn thạc sỹ – Nghiên cứu tính chất đất dưới một số loại rừng ngập mặn làm cơ sở đề xuất hướng sử dụng đất hợp lý tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình, Hà Nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ – Nghiên cứu tính chất đất dưới một số loại rừng ngập mặn làm cơ sở đề xuất hướng sử dụng đất hợp lý tại vùng ven biển tỉnh Thái Bình
Tác giả: Cao Thị Phương Ly
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
19. Đặng Văn Minh (2006), Giáo trình đất lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên, Nhà Xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đất lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên
Tác giả: Đặng Văn Minh
Nhà XB: Nhà Xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
20. Phùng Trung Ngân, Châu Quang Hiền (1987), Rừng ngập nước Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập nước Việt Nam
Tác giả: Phùng Trung Ngân, Châu Quang Hiền
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
21. Ngô Đình Quế, Ngô An (2001), Tiêu chuẩn phân chia lập địa cho vùng ngập mặn ven biển Việt Nam và thuyết minh xây dựng bản đồ lập địa vùng ngập mặn ven biển huyện Thạch Phú tỉnh Bến Tre, Báo cáo chuyên đề, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn phân chia lập địa cho vùng ngập mặn ven biển Việt Nam và thuyết minh xây dựng bản đồ lập địa vùng ngập mặn ven biển huyện Thạch Phú tỉnh Bến Tre
Tác giả: Ngô Đình Quế, Ngô An
Nhà XB: Báo cáo chuyên đề
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm