LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy khoá học 2014-2016, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và khoa Sau Đại học - trường Đại học Lâm nghiệp, tôi thực hi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
HOÀNG THỊ KHÁNH LINH
ĐÁNH GIÁ VÀ LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ RỪNG
THEO NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ RỪNG THẾ GIỚI (FSC) CHO CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM SƠN, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy khoá học
2014-2016, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và khoa Sau Đại học - trường Đại
học Lâm nghiệp, tôi thực hiện bảo vệ luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp “Đánh
giá và Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của Hội
đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cho Công ty lâm nghiệp Tam Sơn, huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ”
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Vũ Nhâm đã
hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo phòng Đào tạo Sau đại học
trường Đại học Lâm nghiệp, Ban lãnh đạo và cán bộ Công ty lâm nghiệp Tam Sơn
cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn
Do còn hạn chế về nhiều mặt nên luận văn sẽ có nhiều thiếu sót Tôi rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến và thảo luận
Tôi xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả
Hoàng Thị Khánh Linh
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn……….i
Mục lục……….….ii
Danh mục các từ viết tắt……… ……….….v
Danh mục các bảng……… ………vi
Danh mục các hình……….….vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và các tiêu chuẩn QLRBV 4 1.1.2 Các loại chứng chỉ của FSC 7
1.1.3 Ðánh giá quản lý rừng bền vững ðể cấp CCR 13
1.1.4 Các tổ chức cấp chứng chỉ rừng khác 15
1.2 Tại Việt Nam 16
1.2.1 Tổ công tác quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) 16
1.2.2 Các chính sách chính liên quan QLRBV 17
1.2.3 Một số hoạt động QLRBV 18
1.3 Thảo luận 22
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Mục tiêu 24
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3 Phạm vi nghiên cứu 24
2.4 Nội dung nghiên cứu 24
2.4.1 Đánh giá tình hình quản lý rừng của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn theo nguyên tắc QLRBV của Hội đồng quản trị Thế giới (FSC) 24
2.4.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Thế giới 24
Trang 42.4.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và lập kế hoạch quản lý rừng cho Công
ty lâm nghiệp Tam Sơn 25
2.5 Phương pháp nghiên cứu 26
2.5.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu 26
2.5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 26
Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM SƠN 36
3.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.1 Vị trí, ranh giới, diện tích đất đai 36
3.1.2 Địa hình 36
3.1.3 Điều kiện và khí hậu, thuỷ văn 37
3.1.4 Đặc điểm đất đai 38
3.1.5 Rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác 38
3.2 Điều kiện kinh tế và xã hội 41
3.2.1 Điều kiện kinh tế 41
3.2.2 Đặc điểm xã hội, dân trí: 41
3.2.3 Kết cấu hạ tầng, mạng lưới đường sá, thông tin 42
3.3 Tình hình quản lý rừng 5 năm qua 42
3.3 1 Quản lý rừng và tổ chức quản lý 42
3.3.2 Công nghệ áp dụng 43
3.3.3 Về sử dụng đất rừng, hạ tầng, vốn 43
3.3.4 Thiết bị khai thác, vận chuyển, chế biến(thuê khoán, sở hữu) 44
3.3.5 Hiệu quả sản xuất kinh doanh 44
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53
4.1 Đánh giá nguyên tắc, tiêu chí và các chỉ số quản lý rừng bền vững (FSC) 53 4.1.1 Đánh giá theo tài liệu quản lý (đánh giá trong phòng) 53
4.1.2 Khảo sát hiện trường 53
4.2 Đánh giá Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 69
4.3 Lập kế hoạch quản lý rừng 72
4.3.1 Những căn cứ lập KHQLR của Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn 72
4.3.2 Mục tiêu quản lý rừng của Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn 73
Trang 54.3.3 Đánh giá tác động môi trường và tác động xã hội của Công ty lâm
nghiệp Tam Sơn 74
4.3.4 Bố trí sử dụng đất đai theo mục đích sử dụng và chức năng 75
4.3.5 Kế hoạch sản xuất kinh doanh 77
4.4 Phân tích hiệu quả quản lý kinh doanh 105
4.4.1.Về kinh tế 105
4.4.2 Hiệu quả xã hội 106
4.4.3 Hiệu quả môi trường 106
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp diện tích rừng trồng trên đất công ty, đất dân
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp thiết bị khai thác, vận chuyển, chế biến 44
Bảng 4.1 Tổng hợp các khiếm khuyết trong quản lý rừng và khuyến
Bảng 4.9 Kế hoạch cấp phát dụng cụ phòng cháy
Bảng 4.12 Dự kiến nhân lực cần dùng của Công ty Lâm nghiệp Tam
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Chuỗi hành trình sản phẩm chính (cây nguyên liệu giấy) của
Hình 4.3 Điều chỉnh diện tích khai thác rừng trồng Keo giai đoạn
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống của toàn nhân loại, điều hòa khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, hấp thụ carbon và bảo vệ chống sa mạc hóa Rừng được bảo vệ bền vững có thể tăng cường nguồn cung cấp các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ cho khoảng 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào rừng Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con người tại các nước đang phát triển thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu Tìm kiếm và áp dụng các giải pháp quản lý rừng bền vững (QLRBV) là một trong những biện pháp được cộng đồng quốc tế quan tâm nhất hiện nay trong bảo vệ, duy trì và phát triển rừng
QLRBV phải đạt được sự bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, môi trường và xã hội Đối với mỗi quốc gia, đó là nhận thức về các giải pháp bảo vệ mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng Đối với chủ rừng đó còn là nhận thức về quyền xuất khẩu lâm sản của mình vào mọi thị trường quốc tế với giá bán cao CCR chính là sự xác nhận bằng văn bản cho chủ rừng đáp ứng được các tiêu chuẩn và tiêu chí QLRBV Chứng chỉ do Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cấp là một trong những CCR rất được quan tâm hiện nay
Sử dụng các sản phẩm từ gỗ có CCR và tẩy chay các mặt hàng không có nguồn gốc xuất xứ là cách để người tiêu dùng thể hiện thái độ tích cực với rừng Ở một số quốc gia, các hệ thống bán lẻ đang gia tăng yêu cầu cung cấp gỗ đã được chứng chỉ, bắt buộc nhiều tổ chức và Công ty trong mạng lưới lâm sản toàn cầu cam kết sản xuất và buôn bán gỗ Kiểm chứng từng bước trong chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) sẽ giúp cho đơn vị chứng minh được với người tiêu dùng về nguồn gốc thực sự của sản phẩm của mình có chứng chỉ hay không Đánh giá hệ thống CoC bao gồm từ khâu khai thác, chế biến, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, là yêu cầu bắt buộc với việc dãn nhãn và bán sản phẩm từ gỗ có chứng chỉ FSC, đặc biệt khi đơn
vị xuất khẩu gỗ sang các thị trường Châu Âu, Anh và các quốc gia khác
Công ty lâm nghiệp Tam Sơn thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam Hiện tại Tổng công ty đã kết nạp được 07 Công ty trực thuộc vào nhóm FSC, năm 2016 Tổng công ty sễ kết nạp thêm 04 Công ty vào nhóm, trong đó có Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn Công ty lâm nghiệp Tam Sơn là doanh nghiệp đặc thù, hoạt động trong lĩnh vực quản lý sử dụng rừng và trồng cây nguyên liệu giấy là sản phẩm chính của Công ty để
Trang 10cung cấp trực tiếp cho nhà máy giấy Bãi Bằng Công ty có trụ sở đóng tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Trong tiến trình hội nhập và phát triển doanh nghiệp, Công ty lâm nghiệp Tam Sơn chưa có phương án quản lý, kinh doanh rừng theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC và các mục tiêu chiến lược phát triển ngành Lâm nghiệp Việc lập kế hoạch quản lý rừng, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật đồng bộ trong quản lý, sử dụng và kinh doanh rừng theo hướng bền vững và đa chức năng tại Công ty lâm nghiệp Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ là việc làm cần thiết Thông qua kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp về kỹ thuật và kinh doanh tổng hợp tài nguyên rừng của Công ty Để nâng cao hiệu quả kinh doanh lâm nghiệp theo hướng đa mục đích, nâng cao năng lực quản lý
và tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá và Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cho Công ty lâm nghiệp Tam Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” nhằm hỗ trợ Công ty tự đánh giá công tác quản lý rừng của mình để thay đổi phương thức quản lý theo hướng bền vững và đủ điều kiện được nhận được CCR
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Phát triển bền vững không chỉ là sự phát triển trên các mặt kinh tế xã hội (KTXH) mà còn phải đặc biệt chú trọng đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trong đó tài nguyên rừng - nguồn tài nguyên có tác động to lớn với đời sống con người - cần được áp dụng các giải pháp để quản lý tốt nhằm cung cấp ổn định và lâu dài các lợi ích cho con người
Các cuộc tranh luận lớn giữa các bên đấu tranh cho lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nổ ra đầu những năm 1980 thể hiện mối quan tâm về tình trạng rừng trên thế giới Các sáng kiến để giảm diện tích phá rừng khi đó không có hiệu quả Vào cuối những năm 1980, việc tẩy chay gỗ nhiệt đới gặp thất bại, trong một số trường hợp lại gây ra hiệu ứng ngược Hội nghị Thượng đỉnh thế giới tại Rio de Janerio năm 1992 đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có một cơ chế hiệu quả quản lý rừng Thay
vì việc tẩy chay trước đó, họ đã muốn sử dụng thị trường để thúc đẩy lợi ích xã hội, môi trường và hiệu quả kinh tế trong quản lý [25] Lần đầu tiên, những nhà môi trường,
xã hội và kinh tế đã cùng nhau tham gia một chương trình quốc tế bình đẳng và thành lập Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) Cho đến nay, FSC vẫn là một môi trường bình đẳng, thống nhất ý kiến chung cho các nhóm lợi ích khác nhau
Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập: PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (tổ chức quốc tế
về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển
Trang 12(UNCED, Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES); Công ước đa dạng sinh học (CBD) Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa
ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO
và trong tiến trình Hensinki
Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội” Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia
và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”
Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn đề chính là: quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững
về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV là:
- Có khuôn khổ chính sách và pháp lý
- Sản xuất lâm sản bền vững
- Bảo vệ được môi trường
- Đảm bảo lợi ích con người
- Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp
Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia (Canada, Malaysia, Indonexia ) và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal FSC và ITTO đã có bộ tiêu của quản lý rừng được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước
1.1.1 Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và các tiêu chuẩn QLRBV
FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng lớn trên toàn thế giới FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto – Canada bởi một nhóm gồm 130
Trang 13thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các
cơ quan cấp chứng chỉ Năm 1994 các thành viên sáng lập đã thông qua các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC, cùng với Quy chế FSC (ngày nay gọi là By-Laws) áp dụng đánh giá cho rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn – Đức Cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng
FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm
xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC
FSC ủy quyền cho 10 cơ quan trên thế giới cấp chứng chỉ có trụ sở tại Anh,
Mỹ, Hà Lan, Đức, Canada, Nam Phi, Thụy Sĩ Tại Châu Á – Thái Bình Dương, Công ty SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp CCR
Các lợi ích FSC tạo ra:
- Lợi ích về môi trường: Đảm bảo cho tất cả mọi người tham gia vào thương
mại lâm sản rằng các đóng góp của họ sẽ giúp đỡ việc bảo tồn hơn là hủy diệt rừng, con người và cuộc sống thông qua các hoạt động
1 Bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất…
2 Duy trì các chức năng sinh thái và thể thống nhất của rừng
3 Bảo vệ các loại động, thực vật quý hiếm và môi trường sống của chúng
- Lợi ích về xã hội: Đảm bảo quyền con người được tôn trọng Nhiệm vụ
chính là yêu cầu có sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan khi xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia hay khu vực
- Lợi ích về kinh tế: Đó là chủ rừng cần phải cố gắng đạt được cách sử dụng
tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến
FSC xây dựng 10 tiêu chuẩn cho QLRBV Từ các tiêu chuẩn đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các bộ tiêu chuẩn
Trang 14quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình Các bộ tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó
CCR được áp dụng cho tất cả các đơn vị quản lý rừng với các quy mô lớn nhỏ bất kể là sở hữu nhà nước hay tư nhân Đây là một quá trình hoàn toàn tự nguyện của các chủ rừng Tuy nhiên, đánh giá cấp CCR chỉ được áp dụng cho các đơn vị đang quản lý rừng sản xuất và đang hoạt động quản lý kinh doanh Để được cấp CCR của FSC, chủ rừng phải chứng minh họ đã đáp ứng tất cả các quy tắc, tiêu chuẩn trên Thực chất CCR chính là chứng chỉ chất lượng ISO, là hiệu quả cuối
cùng của QLRBV, được FSC đề cập như là một “công cụ hữu hiệu, giúp cải thiện quản lý rừng của thế giới” và “là công cụ chính sách mạnh mẽ nhất” trong quản lý
rừng Khi được cấp CCR, chủ rừng sẽ được:
- Xuất khẩu lâm sản vào mọi thị trường khắt khe trên thế giới kể cả Tây Âu
và Bắc Mỹ với giá bán cao hơn
- Rừng cùng với môi trường sinh thái và xã hội có liên quan đến rừng sẽ được giữ gìn, bảo vệ và phát triển tốt hơn
Bên cạnh đó, các đánh giá định kỳ của cơ quan cấp chứng chỉ sẽ giúp chủ rừng tìm ra các điểm mạnh, yếu trong hoạt động kinh doanh của mình
- CCR của FSC giúp bảo vệ thương hiệu và uy tín của chủ rừng với đối tác kinh doanh, các tổ chức tài chính và các tổ chức cơ quan giám sát Các tiêu chuẩn FSC hợp lệ trên toàn thế giới, là tiêu chuẩn duy nhất không có rào cản đối với tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
FSC có hệ thống chứng nhận duy nhất được hỗ trợ bởi tất cả các nhóm môi trường Các nước Mỹ, Úc chỉ chấp nhận CCR của FSC bởi chỉ có FSC quy định:
* Cấm chuyển đổi rừng tự nhiên hoặc môi trường sống khác
* Nghiêm cấm việc sử dụng thuốc trừ sâu rất độc hại trên toàn thế giới
* Nghiêm cấm việc trồng cây biến đổi gen
* Tôn trọng quyền của người dân bản địa trên khắp thế giới
* Kiểm soát từng hoạt động chứng nhận ít nhất một năm một lần - và nếu bị được phát hiện là không phù hợp thì giấy chứng nhận bị thu hồi
Trang 151.1.2 Các loại chứng chỉ của FSC
Có hai loại chứng chỉ do FSC cấp:
- Chứng chỉ quản lý rừng FSC/FM (FSC forest management certification)
- Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC (FSCchain of custody certification )
Trong quá trình đánh giá cấp chứng chỉ sẽ có hoạt động kiểm soát gỗ (FSC Controlled Wood)
1.1.2.1 Chứng chỉ quản lý rừng FSC/FM
FSC không đánh giá cấp chứng chỉ Quá trình đánh giá được thực hiện bởi
tổ chức độc lập gọi là cơ quan đánh giá quản lý rừng Họ đánh giá quản lý rừng đối với các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC cũng như các tiêu chuẩn quốc gia Điều này cho phép FSC vẫn độc lập với quá trình đánh giá và hỗ trợ tính toàn vẹn của hệ thống chứng nhận FSC
Các tiêu chuẩn của FSC:
Tiêu chuẩn 1: Phù hợp với tất cả điều luật và công ước quốc tế
Tiêu chuẩn 2: Quyền và trách nhiệm sử dụng đất
Tiêu chuẩn 3: Quyền người dân sở tại
Tiêu chuẩn 4: Quan hệ công đồng và quyền của công nhân
Tiêu chuẩn 5: Những lợi ích từ rừng
Tiêu chuẩn 6: Tác động môi trường
Tiêu chuẩn 7: Kế hoạch quản lý
Tiêu chuẩn 8: Giám sát và đánh giá
Tiêu chuẩn 9: Duy trì những rừng có giá trị bảo tồn cao
Tiêu chuẩn 10: Rừng trồng
Các tiêu chuẩn về xã hội là tiêu chuẩn 2, 3, 4, 5
Các tiêu chuẩn về môi trường là tiêu chuẩn 6, 7, 9
Các tiêu chuẩn về tuân thủ luật pháp là tiêu chuẩn 1 và 2
Các quá trình giám sát và quản lý là tiêu chuẩn 8, nguyên tắc này cũng liên quan đến chuỗi hành trình sản phẩm
Các khu rừng trồng: tiêu chuẩn 10
Trang 16Các tiêu chuẩn liên quan đến kinh tế: tiêu chí và chỉ số của tiêu chuẩn được thể hiện rõ ở hai nội dung đầu nhưng tiêu chuẩn kinh tế của nó lại không được thể hiện rõ: giá chuyển đổi, giá cố định, hoạt động xã hội và môi trường có thể bị ảnh hưởng bởi giá chuyển đổi trong ngành Các tiêu chuẩn có liên quan: 5, 7 và 8
Nếu chủ rừng tuân thủ đầy đủ các yêu cầu FSC, FSC sẽ trao chứng chỉ Nếu chủ rừng còn thiếu một số điều kiện, chủ rừng phải hoàn thành chúng trong một thời gian cụ thể trước khi nhận chứng chỉ
FM cũng được cấp cho rừng trồng thể hiện ở tiêu chuẩn 10
Để thương mại lâm sản với logo FSC và yêu cầu bồi thường, người quản lý rừng phải có chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm Nó đảm bảo rằng sản phẩm có nguồn gốc từ một khu rừng đã được cấp chứng chỉ cho người tiêu dùng
1.1.2.2 Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC
Với bất kỳ một chương trình cấp CCR nào việc xem xét mối liên hệ của một sản phẩm gỗ từ một khu rừng được cấp chứng chỉ đến khi được chế biến thành sản phẩm cuối cùng và được đem tiêu thụ tại thị trường là một việc rất cần thiết vì nó
cung cấp các cơ sở cho việc dán nhãn sản phẩm Khái niệm này được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody) - CoC
Theo quy định của đánh giá CoC thì việc kiểm soát nguồn gốc gỗ phải thông suốt liên kết nhau thành một chuỗi thành các công đoạn cơ bản: từ rừng, đến vận chuyển gỗ về nhà máy, cưa xẻ, sấy, lắp ráp, lưu kho và phân phối Hệ thống CoC sẽ
hỗ trợ đơn vị kinh doanh lâm nghiệp:
- Bảo đảm về các sản phẩm gỗ bán ra và nguồn gốc của gỗ
- Cải thiện các hệ thống tài liệu nội bộ của đơn vị và giúp đơn vị chuẩn bị để đạt được chứng chỉ ISO hoặc chứng nhận khác
- Nếu là Công ty chế biến gỗ, hệ thống CoC có thể giúp cải thiện hiệu quả sản xuất của nhà máy và giúp cho việc sử dụng số vốn đầu tư vào gỗ nguyên liệu hiệu quả hơn
- Đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về hệ thống CoC
- Hệ thống CoC đã hoặc sẽ là yêu cầu bắt buộc ðối với các sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Châu Âu, Anh và các quốc gia khác
Trang 17- Hệ thống CoC là yêu cầu cần thiết đối với việc dán nhãn và bán sản phẩm làm từ gỗ được chứng chỉ
Có thể nói chứng chỉ CoC được coi là công cụ chủ yếu đấu tranh với việc khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu
Các tiêu chuẩn FSC áp dụng chứng nhận FSC-CoC hiện đang áp dụng:
Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-004 (Ver 02) - Tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm đối với các Công ty cung cấp và chế biến sản phẩm có chứng nhận FSC
Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-005 (Ver 02) - Tiêu chuẩn FSC dành cho các Công ty đánh giá nguồn gỗ có kiểm soát FSC
Tiêu chuẩn: FSC-STD-30-010 (Ver 02) - Tiêu chuẩn gỗ có kiểm soát FSC dành cho các tổ chức quản lý rừng
Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-201(Ver 02) - Các yêu cầu dán nhãn FSC trên sản phẩm
Liên minh Châu Âu EU gần đây giới thiệu 1 hệ thống giấy phép là một phần của công tác tăng cường hiệu lực luật rừng Dây chuyền cung cấp sản phẩm gỗ từ rừng thông qua việc vận chuyển, lưu kho và chế biến được công khai và kiểm tra tới tận biên giới của EU Còn với các nước nhiệt đới, hệ thống theo dõi hành trình dựa trên giấy tờ thông thường với các nhãn vật lý trên sản phầm gỗ, gần đây các hệ thống thuận lợi hơn đã được phát triển chứng tỏ tính hiệu quả và đáng tin cậy của dây chuyền cung cấp
Một hệ thống CoC được cấp chứng chỉ của FSC phải đáp ứng 5 yêu cầu:
1) Yêu cầu về hệ thống chất lượng
2) Yêu cầu về nguồn cung cấp nguyên liệu
3) Yêu cầu về kiểm tra sản xuất nội bộ; và ghi chép tư liệu
4) Yêu cầu về sản phẩm và dán nhãn sản phẩm
5) Yêu cầu về lưu trữ tài liệu thông tin
Trên thị trường có một số hình thức CoC, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu
mà doanh nghiệp sở hữu (mua vào và xuất ra) Hình thức CoC được lựa chọn sẽ quyết định việc xây dựng và thực hiện hệ thống CoC cho doanh nghiệp đó Quy trình FSC có hai hình thức chính là:
Trang 18- Doanh nghiệp sử dụng 100 % nguyên liệu có đã được chứng chỉ
- Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có sử dụng một tỷ lệ % nguyên liệu chưa có chứng chỉ FSC trộn lẫn với nguyên liệu đã có chứng chỉ
Tuy nhiên, cho dù đơn vị sản xuất 100% gỗ đã được chứng chỉ và sản xuất
riêng gỗ chưa có chứng chỉ thì việc xác nhận và truy tìm nguồn gốc (identification and traceability) vẫn phải bắt buộc được thực hiện
Ở Brazil hệ thống kiểm tra của Chính phủ sử dụng để thầm tra tính hợp pháp và
nguồn gốc gỗ, sản phẩm gỗ dựa 2 văn bản chính thức và bắt buộc sau: + Giấy phép của Cơ quan khai thác (AUTEX): Văn bản này xác định thể tích gỗ tròn, theo loại cây mà một doanh nghiệp khai thác gỗ được phép lấy ra từ 1 đơn vị sản xuất [24]
+ Giấy phép của cơ quan vận chuyển lâm sản (ATPF): ATPF được phát hành từng kỳ có đánh số để cấp cho việc vận chuyển gỗ và sản phẩm gỗ Mỗi chuyến hàng phải được kèm theo 1 ATPF, được áp dụng cho gỗ sơ chế được vận chuyển tới nơi tinh chế hoặc tới người tiêu thụ cuối cùng
Ở Cameroon việc kiểm tra trước khi khai thác là nền tảng thành lập hệ thống
chuỗi hành trình của Chính phủ Công ty khai thác hoàn thành bản đăng ký khai thác DF10 nêu tên Công ty, đơn vị quản lý rừng và dữ liệu về gỗ riêng lẻ như loại cây, đường kính (ngọn, gốc, trung bình), chiều dài, thể tích và giá trị
Ở Malaysia: Tất cả các rừng bảo tồn ở Peninsular Malaysia và một vài khu
rừng trồng ở Sabah và Sarawak đã được cấp chứng chỉ, chủ yếu bởi Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia Với các khu vực được chứng chỉ, rất dễ theo dõi gỗ tròn tới tận gốc đốn, ở các rừng khác, gỗ tròn có thể được theo dõi tới vùng được chứng chỉ, tại đó gỗ đã được khai thác
Các vùng được cấp chứng chỉ để khai thác đều được phân ranh giới rõ ràng trên mặt đất (để tránh khai thác vượt phạm vi) và đã tiến hành kiểm tra để xác định trữ lượng và sự phân bố loài cây Cây bị đổ và để lại được đánh dấu và gắn thẻ để cung cấp các phương thức khác kiểm tra đầu ra Ở vùng được cấp chứng chỉ, gốc cây được đánh
số vì vậy gỗ tròn có thể theo dõi đến tận gốc
Trang 19Hiện nay, ITTO đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương pháp cải tiến phù hợp luật pháp Các Công ty gỗ được khuyến khích giới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều này còn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát
1.1.2.3 Kiểm soát gỗ (FSC Controlled Wood)
Mặc dù thị phần sản phẩm FSC liên tục tăng trưởng, nhưng nguồn nguyên liệu có chứng chỉ cung cấp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu Tạo điều kiện cho các nhà sản xuất cung cấp các sản phẩm có gắn nhãn FSC, FSC đã giới thiệu loại nhãn
“FSC Mixed Sources”, cho phép doanh nghiệp sản xuất được pha trộn nguyên liệu
được chứng chỉ FSC với nguyên liệu không có chứng chỉ Phần nguyên liệu không
có chứng chỉ phải thực hiện đúng theo các tiêu chuẩn kiểm soát được gọi là FSC Controlled Wood, phải tránh năm nguồn gốc sau:
- Gỗ khai thác trái phép
- Gỗ khai thác vi phạm các quyền truyền thống
- Gỗ khai thác trong rừng được chứng nhận có giá trị bảo tồn cao (đặc biệt có giá trị cần bảo vệ) và đang bị đe dọa
- Gỗ khai thác từ rừng tự nhiên chuyển đổi
- Gỗ khai thác từ những cây biến đổi gen
Trang 20Hình 1.1: Biểu đồ cơ cấu chứng chỉ FSC/FM trên thế giới
(Nguồn: Global forest and forest certifical short overview and forest
certification in Vietnam, Lê khắc Côi, 2008) [3]
Diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ chủ yếu tại Châu Âu (47%), Bắc Mỹ (35%), sau đó là Nam Mỹ (11%), trong đó Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương tổng chỉ được 7% Tuy nhiên trong tương lai, Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương sẽ là khu vực rộng lớn đề FSC đánh giá cấp CCR
Hình 1.2: Biểu đồ số lượng chứng chỉ CoC từ năm 2007 đến nay
(Nguồn: Global FSC Certificates 2010-01-15,2010) [22]
Trang 21Hội nghị thượng đỉnh về trái đất của UNICED năm 1992 nhận định “nguồn tài nguyên rừng và đất rừng chỉ được quản lý bền vững khi đáp ứng được nhu cầu
về kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần của loài người trong thời điểm hiện tại và cho cả các thế hệ mai sau” QLRBV đòi hỏi một phương pháp lập kế hoạch quản lý
rừng lồng ghép và việc giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp với các nhiệm
vụ chính là:
+ Đánh giá tiềm năng nguồn rừng
+ Khảo sát chuyên đề: đa dạng sinh học và đánh giá tác động xã hội để xác định vùng có giá trị bảo tồn cao
+ Lập bản đồ chức năng rừng
+ Khoanh vùng rừng thành khu vực sản xuất và khu bảo vệ
+ Điều tra quản lý rừng và tính khối lượng được phép khai thác hàng năm + Viết kế hoạch điều chế rừng trung hạn
+ Lập kế hoạch triển khai
+ Thực hiện và giám sát kế hoạch từng lô
+ Đánh giá nội bộ các hoạt động lâm nghiệp và tiến độ thực hiện giữa kỳ + Đánh giá độc lập về tính bền vững
1.1.3 Ðánh giá quản lý rừng bền vững ðể cấp CCR
Tổ chức FSC đã ủy quyền cho 24 tổ chức thực hiện đánh giá QLRBV và cấp CCR, nhý Rainforest Aliance, GFA, Woodmark Mặc dù các tổ chức này khi đánh giá đều tiến hành theo quy trình riêng, nhýng điều kiện tiên quyết là đều phải
cãn cứ vào 10 tiêu chuẩn (nguyên tắc-Priciple) của FSC để đánh giá
1) Mục tiêu đánh giá: Ðánh giá chính thức tiến hành cho một tổ chức xin chứng chỉ rừngđể quyết định liệu họ đáp ứng được các yêu cầu chứng chỉ quản lý rừng của FSC không? Theo FSC, việc cấp một chứng chỉ quản lý rừng là đưa ra một đảm bảo tin cậy rằng không có những lỗi chính trong việc tuân thủ các yêu cầu của quản trị rừng đượcxác định rõ ở mức các nguyên tắc và tiêu chí ở trong bất kỳ đơn
vị quản lý rừng nằm trong phạm vi của chứng chỉ
2) Khung cõ bản tiến hành đánh giá:
- Nộp hồ sõ - tiếp xúc lần ðầu tiên
Trang 22- Tổ chức tiền đánh giá
- Ðánh giá chính – chứng chỉ 5 nãm, sau 5 nãm lại đánh giá lại
- Giám sát hàng năm (thường xuyên)
3) Phương pháp tiếp cận đánh giá cơ bản:
- Các nguyên tắc và tiêu chí Danh sách kiểm tra; Các chỉ số nguồn kiểm chứng
- Ðiểm chính của quả trình là đánh giá xem đã đạt được tiêu chuẩn dựa trên
cơ sở thiết lập một danh sách kiểm tra
- Ðánh giá về:
+ Các hệ thống quản lý và thủ tục
+ Các hoạt ðộng và kết quả thực hiện
+ Kết quả tham vấn bên thứ 3
Bước3 – Lập kế hoạch để đánhgiá: người quản lý công việc của tổ chức đánh giá vài công ty của khách hàng xem thỏa thuận chung về kế hoạchcuối cùngđể đánh giá hiện trạng, nhằmđánh giávào các chi phí
Bước 4 – Đánh giá hiện trạng: theo yêu cầu của FSC , ít nhất 30 ngày trước khi bắt đầu công việchiện trạng , tổ chức đánh giá thông báo với các bên liên quan
về việcđánh giaì vài yêu cầu coi như cáchoạt độngcủa người làm đơn
Bước 5 – Xây dựng dự thảo báo cáo: nhóm đánh giá sẽ xây dựng một dự thảo báo cáo, mà sẽ được người của tổ chức đánh giá xem xét Báo cáo đánh giá này sẽ được trình bày cho khách hàng khoảng 30 ngày sau khi hoàn thành công việc hiện trường
Býớc 6 – Xem xét bản thảo này là bên xin chứng chỉ rừng: báo cáo này sẽ được xem xét bởi bên xin chứng chỉ rừng ðể có ý kiến Báo cáo này sẽ trình lên cho
Trang 23các chuyên gia được lập xem xét sõ bộ Việc xem xét sõ bộ là một bước theo yêu cầu của FSC
Bước 7 – Xây dựng báo cáo cuối : trước khi quyết định cấp chứng chỉ, nhân viên chương trình sẽ cập nhật báo cáo chứng chỉ kết hợp với kết quả xem xét của người xin chứng chỉ và xem xét sõ bộ Bất kỳ những thay đổi nào trong các hoạt động khắc phục có thể ðýợc áp dụng sẽ thông báo và thảo luận với người xin chứng chỉ
Bước 8 – Quyết đượcchứng chỉ: dựa vào việc phát hiện và đề xuất của nhóm đánh giá và ý kiến của những người xem xét sõ bộ, Ủy ban quyết định chứng chỉ của tổ chức đánh giá sẽ ra quyết định cuối cùng về chứng chỉ
Bước 9 – Ký hợp đồng chứng chỉ và trao chứng chỉ: nếu chương trìnhđược phê duyệt Ủy ban quyết định chứng chỉ và người xin chứng chỉ đồng ý các yêu cầu của các hoạt động khắc phục chứng chỉ và các quan saìt thì một hợp đồng chứng chỉ gia hạn 5 năm đựơc ký giữa tổ chức cấp chứng chỉ với người xin chứng chỉ
1.1.4 Các tổ chức cấp chứng chỉ rừng khác
Bên cạnh CCR do FSC cấp, cũng có nhiều quy trình CCR được khởi thảo
như quy trình CCR như PEFC (Chương trình chứng nhận các tổ chức CCR) Ở Châu Á cũng có các Chương trình chứng chỉ quốc gia như Hội đồng chứng chỉ gỗ(MTCS) ở Malaysia, Viện dán nhãn sinh tháiLambaga (LEI) ở Indonesia
PEFC là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận được thành lập vào năm
1999, khuyến khích QLRBV thông qua chứng chỉ độc lập của bên thứ ba PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV
Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS) bắt đầu hoạt động vào tháng 10 năm 2001, sử dụng phương pháp theo từng giai đoạn khi ngày càng nhiều thách thức lớn trong quản lý các khu rừng nhiệt đới phức tạp MTCS sử dụng tiêu chuẩn của Malaysia và các tiêu chí bao gồm 9 quy tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu chí MTCS
có 10 thành viên, chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Malaysia với diện tích rừng được chứng nhận là 4,8 triệu ha
Trang 24Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indonesia (LEI) được thành lập năm 1994 là một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không phải là cơ quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan thừa nhận một cách chính thức các cơ quan cấp chứng chỉ ở Indonesia Hiện tại LEI đã cấp 5 giấy chứng nhận cho rừng tự nhiên gồm 885.000 ha và một cho rừng trồng với 159.000 ha
Như vậy, rõ ràng CCR ở khu vực Nam Mỹ, Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Phi tiến rất chậm, diện tích được chứng chỉ chiếm diện tích rất nhỏ, chủ yếu là chứng chỉ FSC Phần lớn các nước trong các khu vực này kém phát triển, quản lý rừng còn ở trình độ thấp, các chủ rừng không có đủ nguồn lực cải thiện quản lý rừng để đạt tiêu chuẩn CCR, chi phí cho CCR cũng là một yếu tố hạn chế
1.2 Tại Việt Nam
Khái niệm “bền vững” được thế giới sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 18 là
tiền đề cho QLRBV sau này, thì đến mãi cuối thế kỷ 20 Việt Nam mới dùng khái
niệm “điều chế rừng” để quản lý, kinh doanh lâm nghiệp Đến nay, khái niệm này
vẫn được coi là công cụ truyền thống để quản lý rừng theo phương án điều chế thực hiện theo những quy định trong Quyết định 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác
1.2.1 Tổ công tác quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG)
Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức quốc
tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh Tổ Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng)
Các hoạt động chủ yếu của NWG là:
Trang 25- Dựa trên cơ sở 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần 9 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang
dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dân cứ sống trong rừng, gần rừng
- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp
- Đánh giá chất lượng quản lý rừng khu rừng
- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện
1.2.2 Các chính sách chính liên quan QLRBV
Năm 2001, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (NFS) giai đoạn 2001-2010 đã xác định quản lý và phát triển rừng theo hướng bền vững là hướng đi chủ chốt Vào đầu năm 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 30% (8,4 triệu ha) diện tích rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ
Như vậy, các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Điều này được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây:
+ Luật Đất đai, năm 2003 quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng các
nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Điều 11)
+ Luật Bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004: Điều 9 đã quy định các hoạt
động để đảm bảo QLRBV: Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo PTBV về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển KTXH, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo
Trang 26vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định
+ Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005; trong Chương IV: Bảo tồn và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những quy định liên quan tới QLRBV thuộc các lĩnh vực: điều tra, đánh giá, lập quy hoạch
sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ
và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch
+ Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính
phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý và
phát triển rừng bền vững” với mục tiêu “đến năm 2020, thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu hecta đất qui hoạch cho Lâm nghiệp ”
Đây là một mục tiêu đầy tham vọng và để đạt được mục tiêu này cần thiết phải xác lập được những định hướng mới trong phát triển nguồn lực trong QLRBV thông qua các chương trình đào tạo, hợp tác và nghiên cứu 5 chương trình trọng điểm của Chiến lược là:
(1) Quản lý và phát triển rừng bền vững (QLRBV)
(2) Bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH và phát triển dịch vụ môi trường
(3) Chế biến thương mại lâm sản
(4) Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm
(5) Đổi mới thể chế chính sách, kế hoạch, giám sát ngành
1.2.3 Một số hoạt động QLRBV
1.2.3.1 Ở cấp trung ương
-Tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự hỗ trợ Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG Đông Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh
- Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010
Trang 27- Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau năm 2010
- Xây dựng các điều kiện QLRBV và CCR với các hoạt động trong giai đoạn 2006-2010 gồm: tiếp tục dự án 661; ra soát và quy hoạch lại 3 loại rừng; quy hoạch
sử dụng đất vĩ mô
1.2.3.2 Ở địa phương
Dựa trên thực tiễn, NWG tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình độ quản lý của các đơn vị Hiện nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện:
+ Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum) 2000- 2002 do JICA tài trợ
+ Dự án hỗ trợ lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Sơ pai (Gia Lai) do WWF Đông Dương tài trợ
+ Chương trình lâm nghiệp của GTZ, hợp phần QLRBV đang hỗ trợ 5 lâm trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là Ma-Drak và Nam Nung (Đắc Lắk) đã
mở rộng ra 3 lâm trường khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái từ 2007-2009
+ Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của TFT tại Việt Nam không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị quản lý rừng như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương sơn (Hà Tĩnh), hành lang vùng đệm 2 VQG Kông Ka Kinh và Kông Cha Răng
+ Tổ chức QLRBV và CCR theo nhóm hộ gia đình thuộc dự án trồng rừng WB3 tại 4 tỉnh miền Trung, từ năm 2008
Đặc biệt đối với vùng trọng điểm 4 tỉnh Tây Nguyên, nơi còn khai thác nhiều
gỗ nhất từ rừng tự nhiên, cũng là nơi diện tích và chất lượng rừng bị suy giảm nhiều nhất ở Việt nam, NWG, Cục Lâm nghiệp cùng WWF và Vụ chính sách đã có các hội thảo để từng tỉnh tự đánh giá hiện trạng quản lý rừng của các lâm trường theo các tiêu chí của bộ tiêu chuẩn QLRBV (Buôn Ma Thuột 2001), và hội thảo xây dựng chương trình cải cách tổ chức quản lý lâm trường theo Quyết định 187/TTg của Thủ Tướng Chính phủ (Pleiku 2002) và chọn ra 4 Công ty lâm nghiệp quản lý
Trang 28tốt từ mỗi tỉnh đưa vào mạng lưới mô hình QLRBV là CTLN Kong Plong, Lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Dak N’tao, Lâm trường Bảo Lâm
CCR đang là cơ hội và thách thức cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ Gần đây, hàng loạt đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất nhiều Công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang
có nhu cầu tự thân tham gia quá trěnh QLRBV cần hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh giá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song mới chỉ nhận được 1 chứng chỉ FSC về QLR Đó là Công ty TNHH trồng rừng Quy Nhơn (QPFT) với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình Định Hiện tại Công ty QPFL khai thác gỗ từ rừng trồng mỗi năm 60.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo
lá tràm, Keo tai tượng, Keo lai và Bạch đàn trắng Trong tương lai, dự kiến khối lượng gỗ khai thác ổn định vào khoảng 120.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo lai QPFL đồng sở hữu Nhà máy dăm gỗ quy mô trung bình (Tập đoàn dăm gỗ Bình Định - BDC) đặt tại thành phố Quy Nhơn Sản lượng khai thác gỗ hàng năm như trên được cung cấp cho BDC để chế biến thành dăm gỗ và xuất khẩu dựa trên kế hoạch quản
lý rừng được lập Bên cạnh việc bán gỗ với giá cao doanh nghiệp cũng đã thay đổi thái độ với rừng và môi trường
Năm 2008, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng cũng thực hiện
đánh giá rừng độc lập về quản lý rừng trồng của mô hình chứng chỉ rừng “theo nhóm” của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp
chung diện tích rừng trồng hợp thành Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp CCR Qua đánh giá, kết quả cho thấy: các hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam ở các mức độ khác nhau Các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắc phục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp, nên việc sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch [6]
Để lấy được chứng chỉ FSC cần một quá trình lâu dài Việc kiểm soát gỗ của FSC được coi là một giải pháp để hộ trỡ các chủ rừng, đặc biệt là CTLN, các đơn vị sản xuất kinh doanh nhỏ đạt được một phần kết quả của quá trình cấp chứng chỉ trong thời gian ngắn Đối chiếu với tình hình thực tiễn của Việt Nam, chủ rừng cần thực hiện 9 yêu cầu để được xem xét cấp chứng chỉ CoC:
Trang 291) Các quy định về duy trì riêng rẽ gỗ tròn có chứng chỉ FSC
2) Quy định về ghi chép, theo dõi khối lượng gỗ có FSC và bán hàng
3) Quy định về viết hóa đơn xuất gỗ FSC
4) Các thông tin trên hóa đơn
5) Nhân viên phụ trách quản lý và bán gỗ FSC
6) Biểu mẫu sử dụng theo dõi và bán gỗ FSC
7) Các quy định về duy trì chứng từ liên quan đến CCR
8) Các tài liệu cần lưu trữ
9) Tập huấn
Tính đến ngày 14/5/2010, số doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ FSC/CoC tăng dần, cả nước đã có 205 doanh nghiệp, đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của FSC/CoC và đang chủ động thích ứng với những đạo luật mới về xuất khẩu gỗ vào thị trường Mỹ và EU
Kế hoạch quản lý rừng bao gồm nhiều nội dung nhưng vấn đề quản lý khai thác giữ vai trò quan trọng nhất Tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủ rừng phải xây dựng KHQLR và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính sau:
+ Sự an toàn môi trường trên cơ sở những đánh giá về môi trường
+ Những kế hoạch bảo vệ các loài quý hiếm đang có nguy cơ
+ Những bản đồ mô tả tài nguyên rừng kể cả rừng bảo vệ, những hoạt động trong kế hoạch, và sở hữu đất
+ Mô tả và biện luận về kỹ thuật khai thác và những thiết bị sử dụng
Trang 301.3 Thảo luận
Kế hoạch quản lý rừng thuộc Tiêu chuẩn 7 trong 10 tiêu chuẩn QLRBV của FSC Để QLRBV yêu cầu chủ rừng phải xây dựng KHQLR và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính trong tiêu chuẩn 7 Nó là tiêu chuẩn có liên quan gần như xuyên suốt tất cả các hoạt động QLR của đơn vị xin cấp CCR
Trên thế giới, QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến và hàng loạt quốc gia đang phát triển có rừng tự nguyện tham gia Trong khi phần lớn diện tích rừng được cấp ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ thì CCR ở khu vực Nam Mỹ, Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Phi tiến rất chậm Trình độ quản lý rừng thấp, nguồn lực cải thiện quản lý, thêm đó là chi phí cho CCR khá cao là một trong những hạn chế để các chủ rừng ở các lục địa này tiến tới cấp chứng chỉ
Ở Việt Nam, khi chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường sang phương thức QLRBV đòi hỏi sẽ phải thay đổi một loạt khuôn khổ chính sách ở cấp trung ương; thái độ, quan điểm và sự đồng thuận của các sơ sở sản xuất kinh doanh lâm nghiệp và ngay cả người dân địa phương Việc xác định các tiêu chuẩn QLRBV cho mỗi hệ sinh thái của Việt Nam gặp khó khăn do tính đa dạng phức tạp của nó Các lợi ích từ quản lý và bảo vệ rừng chưa hấp dẫn người dân sống trong vùng rừng nên sự tham gia của họ còn rất hạn chế Nguồn vốn cho các hoạt động còn thiếu, thiếu cả cơ chế đảm bảo tham gia của các đối tượng hữu quan vào quản lý rừng Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hoá đem lợi ích đến không chỉ cho doanh nghiệp chế biến lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng nhiều quyền lợi khi có được chứng nhận này Những khó khăn trở ngại nêu trở thành những thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch QLRBV là bước ban đầu rất quan trọng
Dựa trên cơ sở 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí của FSC, Viện QLRBV và CCR
đã hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần
Trang 319 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định
Đánh giá quản lý rừng phải căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV, nhưng vận dụng các tiêu chuẩn này cho các đơn vị cần linh hoạt, theo điều kiện thực tế đang
có Mục tiêu của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn là quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Công ty chưa có đánh giá nào về quản lý rừng của mình theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, cũng như chưa có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá nào của các chuyên gia Đề tài “Đánh giá và Lập kế hoạch quản lý rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững của Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cho Công ty lâm nghiệp Tam Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” nhằm hỗ trợ Công ty tự đánh giá công tác quản lý rừng của mình để thay đổi phương thức quản lý theo hướng bền vững
Tiến trình QLRBV tại Việt nam đang trong giai đoạn đầu, Doanh nghiệp lâm nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang tự nguyện và hào hứng tham gia tiến trình QLRBV mặc dù biết rằng còn cần phấn đấu nhiều mới đạt được tiêu chuẩn, khó khăn chủ yếu của doanh nghiệp lâm nghiệp không chỉ là ở chỗ tự nâng cao năng lực quản
lý rừng mà còn phải chuyển đổi mạnh mẽ từ hệ thống chức năng dịch vụ công ích sang doanh nghiệp kinh doanh Ngoài ra, giai đoạn hạn chế khai thác gỗ rừng tự nhiên để phục hồi rừng nghèo cũng ảnh hưởng tới khả năng khai thác gỗ một cách khách quan của từng doanh nghiệp
Trang 32Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu rừng trồng Keo tai tượng từ tuổi 1 đến tuổi 8 2.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu rừng trồng keo tai tượng thuộc phạm vi quản lý của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Đánh giá tình hình quản lý rừng của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn theo nguyên tắc QLRBV của Hội đồng quản trị Thế giới (FSC)
- Đánh giá quản lý rừng theo 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí của FSC
- Xác định được các khiếm khuyết trong quản lý rừng của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.4.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Thế giới
- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo yêu cầu, các chỉ số và nguồn kiểm chứng của Thế giới
- Xác định các khiếm khuyết trong chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
Trang 332.4.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và lập kế hoạch quản lý rừng cho Công ty lâm nghiệp Tam Sơn
2.4.3.1 Đánh giá các điều kiện cơ bản quản lý rừng của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế xã hội
+ Kết quả quản lý rừng của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn
+ Đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản tới việc quản lý rừng
2.4.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm:
1) Căn cứ lập kế hoạch:
- Chức năng, nhiệm vụ của Tổng công ty giấy Việt Nam giao cho Công ty lâm nghiệp Tam Sơn
- Yếu tố thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Tân Sơn
- Kết quả phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản của Công ty lâm nghiệp Tam Sơn 2) Xác định mục tiêu quản lý rừng
* Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học
* Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường
* Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội
* Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
* Kế hoạch nguồn nhân lực
* Kế hoạch đánh giá, giám sát
* Kế hoạch huy động nguồn vốn
5) Hiệu quả thực hiện kế hoạch quản lý rừng
Trang 342.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu
- QLRBV là phương thức quản lý rừng tiên tiến là mục tiêu chính, CCR là kết quả của QLRBV
- Đánh giá quản lý rừng căn cứ vào nguyên tắc QLRBV, nhưng có vận dụng vào điều kiện thực tế
- Công ty tự đánh giá có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giácủa chuyên gia
- Công ty phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR
- Lập KHQLR có tham gia (tư vấn và chủ rừng)
2.5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
+ Đánh giá nội bộđược thực hiện bằng cách lập một tổ chuyên gia nội bộ lớn
nhỏ tuỳ theo tầm cỡ (quy mô) của đơn vị để thực hiện việc xác định những khiếm
khuyết, trong chứng chỉ rừng, còn gọi là lỗi không tuân thủ (LKTT) nguyên tắc
+ Đánh giá nội bộ có ưu điểm là ít tốn kém, chủ động về nhân sự và thời gian, ít phải hội họp tham khảo ý kiến, nhưng nhược điểm là dễ bỏ xót khiếm khuyết hoặc nặng về nhận xét chủ quan, nhất là khi các kiểm tra viên chưa hoàn toàn hiểu bộ nguyên tắc
Trang 35- Các lỗi không tuân thủ được xác định bằng cách so sánh trực diện những nội dung trong các văn bản liên quan quản lý rừng của đơn vị và việc thực hiện những nội dung đó ngoài hiện trường với bộ nguyên tắc, và được trình bày trong báo cáo kết quả kiểm tra
2) Lập kế hoạch đánh giá
- Bản kế hoạch đánh giá bao gồm:
+ Những hoạt động cụ thể của tổ đánh giá
+ Thời gian thực hiện
+ Người chịu trách nhiệm thực hiện
+ Danh mục những tài liệu hay văn bản cần kiểm tra
+ Những hiện trường cần đến khảo sát đánh giá
+ Dự kiến sẽ làm việc hoặc phỏng vấn với ai, ở đâu?
+ Phương tiện và kinh phí cần thiết trong đợt đánh giá
a, Hiểu bộ nguyên tắc của Thế giới
Để thực hiện được nguyên tắc thì trước hết và rất quan trọng là phải hiểu chính xác nguyên tắc Nhưng nhiều khi đây là công việc không phải dễ, vì vậy chủ rừng nên dành một khoảng thời gian nhất định để tìm hiểu nguyên tắc Dưới đây là một số cách để hiểu nguyên tắc :
- Cùng đọc và thảo luận giải thích cho nhau có thể giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề
- Hỏi các chủ rừng lân cận đã được chứng chỉ hoặc đang thực hiện nguyên tắc
để được chứng chỉ theo quy trình FSC Cách này nhanh gọn dễ hiểu và rất hiệu quả
Ở Việt Nam có các Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng, Xuân Đài, Sông Thao, Thanh
Hòa, Yên Lập thuộc Tổng Công ty Giấy; Lâm trường Sơ Pai, Hà Nừng (Gia Lai), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Long Đại (Quảng Bình) đang thực hiện nguyên tắc FSC
- Đề nghị Viện QLRBV và CCR (ISFMC) giải thích Đây là cách tốt nhất, nhưng có thể mất nhiều thời gian nếu không có liên lạc bằng thư điện tử (email)
- Hỏi các chuyên gia của các tổ chức đang thực hiện các chương trình hay dự án
về thực hiện tiêu chuẩn chứng chỉ rừng FSC ở địa phương (như WWF, TFT, ISFMI)
- Tra cứu tài liệu, sách chuyên môn
Trang 36b, Thực hiện đánh giá
Thực hiện đánh giá quản lý rừng bao gồm:
- Đánh giá trong phòng
- Đánh giá ngoài hiện trường
- Tham vấn các cơ quan hữu quan
Các chỉ số của mỗi tiêu chí cần được phân làm 4 loại theo phương pháp đánh giá:
- Loại 1: Những chỉ số chỉ có thể đánh giá trong phòng
Ví dụ chỉ số 5.1.2 – Có tài liệu lưu trữ về đầu tư và tái đầu tư cho các hoạt động về kinh tế, xã hội, và môi trường;
- Loại 2: Những chỉ số chỉ có thể đánh giá ngoài hiện trường
Ví dụ chỉ số 3.1.2 – Chủ rừng không thực hiện bất kỳ hoạt động gì trên đất rừng do người dân sở tại quản lý hợp pháp hoặc theo phong tục nếu không đýợc họ
tự nguyện đồng ý;
- Loại 3: Những chỉ số cần kết hợp đánh giá trong phòng và ngoài hiện trường
Ví dụ chỉ số 3.3.1 - Những địa danh có ý nghĩa văn hoá, lịch sử, sinh thái… được xác định rõ ràng trên bản đồ và trên thực địa, có biển hiệu và quy ước bảo vệ những địa danh đó và có sự nhất trí của người dân sở tại
- Loại 4: Những chỉ số cần tham khảo ý kiến các quan quản lý để đánh giá
Ví dụ chỉ số: 1.5.2 Không có những vi phạm nghiêm trọng như khai thác và vận chuyển gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép xảy ra trong 3 năm vừa qua mà ở cấp
ủy ban nhân dân xã hoặc cấp cao hơn xử lý theo luật quốc gia hiện hành
Ngoài ra, tổ đánh giá cũng cần chọn ra những tiêu chí hoặc chỉ số không áp dụng (hay không liên quan) đối với đơn vị Những tiêu chí hoặc chỉ số này sẽ không
được xem xét trong quá trình khảo sát đánh giá
- Đánh giá trong phòng
+ Khi thực hiện đánh giá trong phòng làm việc, tổ đánh giá mời những người
có liên quan đến quản lý rừng cung cấp thêm thông tin và trả lời những câu hỏi liên quan đến công việc do họ phụ trách hay thực hiện
+ Nhiệm vụ của đánh giá trong phòng làm việc là khảo sát các văn bản, tài liệu, sổ sách liên quan đến quản lý rừng như kế hoạch sản xuất kinh doanh, các bản
Trang 37hướng dẫn, quy trình, các bản báo cáo định kỳ và hàng năm, các báo cáo về kết quả giám sát đánh giá, các hợp đồng khai thác v.v.,
So sánh nội dung các văn bản tài liệu đó với yêu cầu của bộ nguyên tắc của Thế giới để có thể thấy những văn bản nào phù hợp hoặc chưa phù hợp, những nguyên tắc, tiêu chí nào đã được thực hiện tốt hoặc chưa tốt và ở mức độ nào Cách làm tốt nhất là đối chiếu từng nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số với các tài liệu liên quan và phỏng vấn trực tiếp cán bộ phụ trách việc thực hiện các nguyên tắc, tiêu chí đó
- Đánh giá ngoài hiện trường
Hoạt động này là để đoàn đánh giá kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như trong kế hoạch, quy trình, hướng dẫn và các báo cáo v.v đã công bố hay không
+ Thường thì tổ đánh giá sẽ chọn ngẫu nhiên một số địa điểm để khảo sát sao cho có thể nắm được đầy đủ nhất về các hoạt động quản lý rừng ngoài hiện trường như bài cây khai thác, làm đường vận chuyển gỗ, chăm sóc rừng sau khai thác, cắm mốc các khu bảo tồn, các biện pháp phòng chống tác động xấu đối với môi trường + Cần có cán bộ chuyên môn phụ trách công việc được đánh giá đi theo để giải thích hoặc trả lời các câu hỏi của tổ đánh giá
+ Một phần quan trọng của đánh giá ngoài hiện trường là phỏng vấn những người có liên quan đến quản lý rừng như cán bộ công nhân của chủ rừng làm việc tại hiện trường, chính quyền địa phương, các tổ chức có các hoạt động trong vùng,
và người dân sở tại Nhiều khi những người được hỏi có thể cảm thấy khó nói ra sự thật hay suy nghĩ của mình trước mặt cán bộ quản lý của chủ rừng, vì vậy tổ đánh giá có thể đề nghị cán bộ đó lánh ra chỗ khác để cuộc phỏng vấn được hoàn toàn tự nhiên thoải mái
+ Để đạt được kết quả tốt tổ đánh giá thường phải có phương pháp khuyến khích người được phỏng vấn trả lời một cách cởi mở chân thành
Mỗi nhóm đánh giá cử một người ghi Phiếu đánh giá Phiếu chỉ được ghi sau khi đã thống nhất trong cả nhóm
Trang 38* Đánh giá sự tuân thủ các nguyên tắc quản lý rừng bền vững
- Xác định sơ bộ cho mỗi nguyên tắc, từ các bằng chứng với những phát hiện trong quá trình tìm hiểu, phỏng vẩn xem chỉ số nào có thực hiện, chỉ số nào không thực hiện và chỉ số nào vừa không có và vừa có thể có thì tích vào cột tuân thủ các chỉ số
* Xác định các lỗi không tuân thủ và khuyến nghị khắc phục
- Sau khi đã thực hiện đánh giá trong phòng và đánh giá ngoài hiện trường
Tổ đánh giá sẽ họp để các nhóm trình bày kết quả đánh giá những nguyên tắc được phân công, thảo luận chung và đi đến kết luận có những nội dung nào của nguyên tắc chưa được chủ rừng thực hiện, tức là những lỗi không tuân thủ, và đưa ra các khuyến nghị khắc phục những lỗi đó
- Việc này được thực hiện trên cơ sở tổ đánh giá so sánh những thông tin tư liệu đã thu nhận được trong quá trình đánh giá với bộ nguyên tắc của Thế giới Những lỗi không tuân thủ được chia làm 2 loại là lỗi không tuân thủ lớn và lỗi không tuân thủ nhỏ
+ Lỗi không tuân thủ lớn được xác định khi cả một nội dung của nguyên tắc, thường là phần lớn các tiêu chí không được thực hiện
Ví dụ nguyên tắc yêu cầu chủ rừng phải xác định những khu rừng có giá trị bảo tồn cao và có các giải pháp hữu hiệu để duy trì và bảo vệ các khu rừng đó, nhưng việc này hoàn toàn chưa được thực hiện, và đây là một lỗi không tuân thủ lớn, hậu quả là có một khuyến nghị khắc phục lớn được đề nghị
+ Lỗi không tuân thủ nhỏ được xác định khi có một phần của một nội dung nào đó của nguyên tắc, chẳng hạn như một số chỉ số (thích hợp đối với chủ rừng) chưa được thực hiện
Trong ví dụ trên, nếu chủ rừng đã tiến hành xác định các khu rừng có giá trị bảo tồn cao nhưng chưa có các giải pháp thực sự hữu hiệu để bảo vệ các khu rừng
đó, thì đây là một lỗi không tuân thủ nhỏ, và một khuyến nghị khắc phục nhỏ sẽ được nêu ra Những chủ rừng có những lỗi không tuân thủ nhỏ có thể vừa đồng thời tiến hành khắc phục những lỗi đó vừa đề nghị được cấp chứng chỉ rừng
- Từ bảng đánh giá sự tuân thủ theo nguyên tắc kết luận những nội dung của từng nguyên tắc nào chưa làm được, hoặc còn yếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục
Trang 39* Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm
Phương pháp đánh giá và hệ thông cho điểm của đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm tương tự với phương pháp đánh giá quản lý rừng
c) Họp kết thúc đánh giá
- Kết quả đánh giá quản lý rừng sẽ được Tổ đánh giá viết thành báo cáo sơ
bộ sau khi tiến hành họp tổ để thống nhất những nội dung của bản báo cáo
- Trong cuộc họp kết thúc, nếu chủ rừng thấy có những phát hiện lỗi không tuân thủ và khuyến nghị khắc phục của tổ đánh giá không chính xác do tổ đã nhận được những thông tin sai lệch hoặc chưa tiếp cận được thông tin, thì chủ rừng đưa
ra bằng chứng và cung cấp thêm thông tin để tổ đánh giá xác minh lại để sửa lại báo cáo sơ bộ, loại bỏ lỗi không tuân thủ và khuyến nghị khắc phục sai đó
- Sau khi đã xác minh lại những điểm nêu trên, tổ đánh giá viết báo cáo chính thức về tình hình quản lý rừng của đơn vị và kết thúc nhiệm vụ
- Báo cáo chính thức của tổ đánh giá sẽ là cơ sở để chủ rừng lập kế hoạch khắc phục những lỗi không tuân thủ nhằm đáp ứng yêu cầu của Thế giới
e, Lập kế hoạch khắc phục lỗi không tuân thủ
- Sau khi nhận được báo cáo chính thức của tổ đánh giá, chủ rừng tiến hành họp cán bộ chủ chốt của đơn vị để phổ biến những phát hiện và khuyến nghị của tổ đánh giá, đồng thời xây dựng kế hoạch khắc phục những lỗi không tuân thủ ghi trong báo cáo
- Bản kế hoạch phải đủ chi tiết, bao gồm các mục: những việc làm cụ thể, thời gian thực hiện, người chịu trách nhiệm thực hiện, và nguồn kinh phí vật tư cần thiết Một điểm quan trọng cần đặc biệt lưu ý là cần mời những người sẽ trực tiếp thực hiện
kế hoạch tham gia xây dựng kế hoạch khắc phục lỗi không tuân thủ để đảm bảo rằng
kế hoạch sẽ sát với tình hình thực tế, có tính khả thi cao
- Xác định những việc cần làm
- Kế hoạch thời gian
- Người chịu trách nhiệm thực hiện, kinh phí, đầu tư
- Thực hiện kế hoạch
- Giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch
Trang 40* Xác định những việc cần làm: Chỉ khi xác định được thật cụ thể cần phải
làm gì để khắc phục những lỗi không tuân thủ thì mới có thể lên kế hoạch thực hiện
những công việc đó
* Kế hoạch thời gian
+ Cố gắng tối đa định lượng công việc để trên cơ cở đó có kế hoạch thời gian hợp lý khi nào bắt đầu khi nào kết thúc
+ Trường hợp có các lỗi không tuân thủ lớn thì phải xác định các ưu tiên và phân thành các giai đoạn thực hiện
* Người chịu trách nhiệm thực hiện, kinh phí, vật tư
+ Mỗi công việc đều phải có người chịu trách nhiệm thực hiện Nếu là công việc liên quan đến nhiều bộ phận, cần nhiều người thực hiện, thì phải có người cầm đầu, chịu trách nhiệm chính
+ Đối với mỗi công việc cần xác định rõ cần bao nhiêu người làm, bao nhiêu kinh phí, vật tư, lấy từ nguồn nào, vào thời gian nào, và ai chịu trách nhiệm cung ứng
* Thực hiện kế hoạch
+ Kế hoạch đã lập xong phải gửi cho các bộ phận liên quan và các cá nhân được giao trách nhiệm thực hiện kế hoạch Khi bắt đầu thực hiện kế hoạch người chịu trách nhiệm chính của những công việc lớn nên gặp thủ trưởng các bộ phận để được cam kết là sẽ được đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về nhân lực, vật tư, kinh phí… + Một điểm quan trọng là những người thực hiện kế hoạch phải hiểu thật tốt họ phải làm những việc gì và làm như thế nào, trong thời gian bao lâu Những công việc cần làm hàng ngày hay hàng tuần và ai làm cần được ghi lên bảng treo trong phòng làm việc, và đánh dấu theo dõi việc gì đã làm việc gì chưa
- Giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch
+ Giám sát đánh giá rất quan trọng để đảm bảo việc thực hiện kế hoạch đạt được mục tiêu trong khuôn khổ thời gian đã định
+ Trong mọi trường hợp đều cần có một kế hoạch giám sát đánh giá phù hợp với phạm vi và cường độ hoạt động thực hiện kế hoạch khắc phục những lỗi không tuân thủ