1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu nghiên cứu khả năng phòng hộ cải tạo đất và nước của rừng tràm ở vùng lũ khu bảo tồn đất ngập nước láng sen tỉnh long an

90 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Suy giảm diện tích và chất lượng rừng trong những thập kỷ qua đã được coi là một trong những nguyên nhân chính của sự gia tăng lũ lụt, hạn hán, suy thoái đất đai, suy thoái nguồn nước, g

Trang 1

HUỲNH VĂN LÂM

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÒNG HỘ CẢI TẠO ĐẤT

VÀ NƯỚC CỦA RỪNG TRÀM Ở VÙNG LŨ KHU BẢO TỒN

ĐẤT NGẬP NƯỚC LÁNG SEN TỈNH LONG AN

CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC

MÃ SỐ: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN QUANG BẢO

Đồng Nai, 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này mà tôi sử dụng chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Huỳnh Văn Lâm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã

nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy giáo, cô giáo,

các tổ chức, cá nhân, bạn bè, đồng nghiệp trong và ngoài trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Trần Quang Bảo -

người thầy đã định hướng, khuyến khích và chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt

quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa đào tạo Sau đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp, Ban Giám đốc, ban Khoa học công nghệ Cơ sở 2

Trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận

văn này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tập thể lãnh đạo, cán bộ Viện Sinh thái

rừng và Môi trường – Trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ

tôi trong quá trình thu thập số liệu, thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các bạn bè, đồng nghiệp và

người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Dù đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót Kính mong

được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn

thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đồng Nai, tháng 04 năm 2012

Tác giả Huỳnh Văn Lâm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN……… …i

LỜI CẢM ƠN……… …ii

MỤC LỤC……….… iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ……….v

DANH MỤC CÁC BẢNG……… …….vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ ……… … vii

ĐẶT VẤN ĐỀ.……… ……… ……….1

Chương 1 3

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1.1 Nghiên cứu về rừng Tràm 3

1.1.2 Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng 5

1.2.1 Một số nghiên cứu về cây Tràm 8

1.2.2 Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng 12

Chương 2 14

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14

2.1.2 Vị trí địa lý 14

2.1.3 Địa hình, thủy văn 14

2.1.4 Đất đai 17

2.1.5 Khí hậu 17

2.1.6 Tính đa dạng sinh học 17

Chương 3 23

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 23

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 23

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

3.2.1 Nghiên cứu đă ̣c điểm cấu trúc rừng Tràm 23

3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thổ nhưỡng và đặc điểm môi trường nước 23 3.2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng 23

Trang 5

3.2.2.2 Nghiên cứu đặc điểm môi trường nước 24

3.2.3 Nghiên cứu khả năng ngăn lũ của rừng Tràm 24

3.2.4 Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng phòng hộ của rừng Tràm 24

3.3 Phương pháp nghiên cứu 24

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 24

3.3.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 24

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 28

Chương 4 30

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Đặc điểm cấu trúc rừng rừng Tràm 30

4.1.1 Đặc điểm hình thái cây Tràm 30

4.1.3 Đặc điểm cấu trúc rừng Tràm 32

4.1.4 Cấu trúc tuổi rừng 37

4.2 Đặc điểm của thổ nhưỡng và đặc điểm môi trường nước 39

4.2.1 Đặc điểm thổ nhưỡng 39

4.2.1.1 Đặc điểm tính chất đất phèn tại khu bảo tồn ngập nước Láng Sen 39

4.2.1.2 Khả năng cải tạo đất của rừng tràm 47

4.2.1.3 Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng cải tạo đất của rừng tràm 48

Giải pháp cụ thể 49

4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm môi trường nước 49

4.2.2.1 Diễn biến mực nước lũ 49

4.2.2.2 Vận tốc dòng chảy lũ 55

4.2.2.3 Đặc điểm tính chất nước tại khu vực nghiên cứu 58

4.3 Nghiên cứu khả năng ngăn lũ của rừng Tràm 64

4.3.1 Ảnh hưởng của cấu trúc rừng Tràm tới diễn biến mực nước lũ 64

4.3.2.Ảnh hưởng của tuổi từng đến diễn biến mực nước lũ 66

4.3.3 Ảnh hưởng của bề rộng đai rừng Tràm tới vận tốc dòng chảy lũ 67

4.3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng phòng hộ của rừng Tràm 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

5.1 Kết luận 72

5.2 Tồn tại 74

5.3 Kiến nghị 74

Trang 6

IUCN Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tổng hợp kết quả tính toán các đặc trưng mẫu

của các ô tiêu chuẩn nghiên cứu 35 Bảng 4.2 Bảng tổng hợp giải tích thân cây 38

Bảng 4.3 Bảng 4.4: Kết quả phân tích đất tại khu bảo tồn

Bảng 4.4 Hàm lượng các chất trong đất tại khu bảo tồn

Bảng 4.5 Diễn biến mực nước lũ ở đầu nguồn 51

Bảng 4.6 Giá trị đỉnh lũ trong 10 năm quan trắc 52

Bảng 4.7 Mực nước lũ trung bình 10 năm và các tháng

Trang 8

Biểu đồ 4.7 Biểu đồ biến động mực nước lũ trung bình năm

Biểu đồ 4.8 Biểu đồ hàm lượng Al trong nước tại một số trạng thái 62 Biểu đồ 4.9 Biểu đồ chỉ số pH trong nước tại một số trạng thái 63 Biểu đồ 4.10 Biểu đồ hàm lượng Fe trong nước tại một số

Biểu đồ 4.11 Biểu đồ tương quan giữa D1.3 & DBL 65 Biểu đồ 4.12 Biểu đồ tương quan giữa Hvn & DBL 66 Biểu đồ 4.13 Biểu đồ tương quan giữa tuổi rừng & DBL 67 Biểu đồ 4.14 Biểu đồ tương quan giữa bề rộng đai rừng và VL 68

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam, rừng không chỉ là nguồn cung cấp những sản phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày, phục vụ nhu cầu công nghiệp, thủ công nghiệp và xuất khẩu, mà còn là yếu tố phòng hộ không thể thay thế được nhờ tác dụng giữ nước, bảo vệ đất, chắn gió, chắn sóng, chắn cát bay, ngăn chặn các quá trình

sa mạc hoá, mặn hoá, phèn hoá, điều hoà khí hậu, cải thiện môi trường và phòng tránh thiên tai Suy giảm diện tích và chất lượng rừng trong những thập

kỷ qua đã được coi là một trong những nguyên nhân chính của sự gia tăng lũ lụt, hạn hán, suy thoái đất đai, suy thoái nguồn nước, gây nên đói nghèo và bất ổn ở nhiều vùng của đất nước Bảo vệ và phát triển rừng đã được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên, diện tích rừng thực sự cần thiết là bao nhiêu, phân bố cụ thể ở những địa điểm nào để đảm bảo an toàn về môi trường hiện còn là câu hỏi chưa được giải đáp thoả đáng Vì vậy, trong một số trường hợp này người ta tăng diện tích rừng bảo vệ lên một cách quá mức cần thiết làm hạn chế phát triển các hoạt động sử dụng đất khác Ngược lại, trong một số trường hợp khác người ta lại giảm diện tích rừng xuống quá thấp, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, gia tăng những thiên tai như hạn hán và lũ lụt, hoang hoá đất đai v.v gây tổn hại đến đời sống của con người và thiên nhiên Vì thiếu những nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng đến các thành phần môi trường mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa có được cơ sở khoa học đầy đủ cho việc xác định diện tích tối thiểu và phân bố cần thiết của rừng phòng hộ

Vì vậy, việc quy hoạch diện tích rừng của chúng ta vẫn phần nào mang tính tuỳ tiện, làm giảm hiệu quả của quy hoạch lâm nghiệp Thực tiễn đã cho thấy

để xác định được diện tích và phân bố rừng phòng hộ cần nghiên cứu quy luật tác động của nó đến đến các thành phần môi trường, đặc biệt là ảnh hưởng đến đất và nước Từ đó, xác định được những ngưỡng về tỷ lệ che phủ để

Trang 11

rừng phát huy những tác dụng sinh thái của nó cho bảo vệ môi trường và phát triển bền vững nói chung

Đồng bằng sông Cửu Long là phần đất cuối cùng của lưu vực sông Mê kông trước khi đổ ra biển Vùng đồng bằng có một hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú và nhạy cảm Đây là nơi sản xuất nông sản và thuỷ sản cho cả nước Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 75% dân số trong 18 triệu người đang sinh sống ở vùng nông thôn, canh tác trên 2,4 triệu ha đất nông nghiệp, gần 700 ngàn ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản và đang ngày đêm phải đối mặt thường xuyên với những điều kiện bất lợi về môi trường do điều kiện tự nhiên mang lại như: lũ lụt, hạn hán, đất phèn, nhiễm mặn Rừng tràm là một bộ phận hợp thành của hệ sinh thái nông nghiệp nơi đây, nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đất, nước, khí hậu và đa dạng sinh học đồng thời thông qua các yếu tố cấu trúc lớp thảm thực vật của mình, bao gồm: kích thước, sinh khối, mật độ, phân bố của quần xã từ đó cũng ảnh hưởng đến những yếu tố môi trường như: dòng chảy lũ, tính chất nước, tính chất đất, đặc điểm tiểu khí hậu, đặc điểm đa dạng sinh học của khu vực Vì vậy, diện tích và phân bố rừng tràm cần thiết là bao nhiêu tại vùng lũ đồng bằng sông Cửu Long để đảm bảo ổn định được hoàn cảnh môi trường và duy trì được năng suất các hệ sinh thái xung quanh ở mức cao là một câu hỏi lớn cần có lời giải trong thời gian

tới Để góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn trên, đề tài: “Bước đầu nghiên

cứu khả phòng hộ cải tạo đất và nước của rừng tràm ở vùng lũ Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An” được thực hiện

Trang 12

Okubo et al [21] đã tiến hành so sánh sinh trưởng của Tràm M cajuputi trên 3 lập địa: tầng than bùn dày (>1m), than bùn mỏng (<1m) và đất cát podzol Kết quả cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng của Tràm trên cả ba lập địa, tuy nhiên năng suất tiềm năng của lâm phần tốt nhất nhất trên các vùng có than bùn dày và đất chua ngập nước (axit sulfate) Yamanoshita et al [22], [19] đã kết luận, mặc dù có tốc độ sinh trưởng bằng nhau, nhưng năng suất tiềm năng của Tràm trên đất than bùn dày không cao bằng các loài ưu thế khác ở rừng mưa nhiệt đới Osaki et al [19] đã tiến hành nghiên cứu sinh trưởng của nhiều loài bản địa, trong đó có Tràm M cajuputi, trên đất than bùn có nồng độ nhôm (Al) và pH khác nhau Nghiên cứu của Yamanoshita et al [22], [19] cho thấy Tràm có thể sinh trưởng tốt trong điều kiện ngập nước kéo dài

Nghiên cứu của Crase et al [15] về khả năng tái sinh sau lửa của Tràm (Melaleuca triumphalis) ở vùng phía Bắc của Úc Tràm là một loài cây có khả năng chịu lửa, khả năng tái sinh sau lửa rất mạnh thể hiện mật độ quần thể ở những nơi bị cháy lớn hơn rất nhiều so với các quần thể đối chứng (không cháy sau một thời gian dài) Khả năng chống chịu lửa của rừng Tràm phụ

Trang 13

thuộc rất lớn và kích thước và quy mô đám cháy và được xác định thông qua khối lượng vật liệu cháy, cường độ đám cháy và mùa cháy [20] Lửa xuất hiện thường xuyên với cường độ lớn sẽ đốt cháy hoặc làm triệt tiêu khả năng nảy mầm của hạt [13] Nghiên cứu của Yates and Russell-Smith [20] đã cho thấy rừng Tràm có khả năng chịu đựng được tổn thương do lửa thường xuyên, tuy nhiên, khoảng cách giữa hai lần cháy phải đủ dài để cây lớn lên đạt kích thước tối thiểu để ra hoa và kết quả trở lại và tồn tại sau lửa

Franklin et al [17] đã tiến hành điều tra 340 ô tiêu chuẩn phân bố trên vùng diện tích rộng 450,000 km2 ở phía bắc Úc để nghiên cứu quy luật phân

bố và tái sinh của rừng Tràm Kết quả cho thấy của Tràm Melaleuca argentea thích hợp với nền đất cát và phân bố chúng bị giới hạn bởi các dòng sông Trong khi đó Tràm Melaleuca cajuputi lại thích hợp với đất thịt và xuất hiện ở các vùng đất thấp ven biển Các loài Tràm Melaleuca dealbata, M viridiflora and M leucadendra có phân bố trên nhiều loại đất khác nhau phụ thuộc vào tình trạng ngập lụt Tràm M argentea and M leucadendra phân bố ở các vùng ngập dọc sông Ngược lại M leucadendra và M cajuputi lại xuất hiện ở vùng đầm lầy ở cửa sông Các tác giả đã đi đến kết luận, ở các vùng nhiệt đới phía bắc nước Úc, rừng Tràm thay thế rừng mưa nhiệt đới ở những nơi có lửa cháy hoặc ngập lụt mạnh Franklin & Bowman [17] Tuy nhiên, ở các khu vực cao hơn, sự xuất hiện của lửa thường xuyên đã hạn chế sự xâm lấn của Tràm với thảm thực vật khác như savan, trảng cỏ Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu đốt thử của Crowley et al [15] trong vòng 3 năm liên tục và so sánh với khu vực không có lửa cháy trong vòng 20 năm đã làm tăng mật độ Tràm Melaleuca viridiflora lên 7 lần

Bowman và Rainey [12] đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ cao địa hình đến cấu trúc đường kính của Tràm Melaleuca cajuputi trên các vùng bán ngập

ở phía bắc Úc Kết quả cho thấy Tràm M cajuputi phân bố ở độ cao từ 1 -

Trang 14

6m, không có biến động lớn về cỡ kính trong các độ cao này Phân bố số cây của Tràm M cajuputi theo cấp kính là gián đoạn không liên tục, nguyên nhân chính là do tác động của cháy rừng

Theo Dr Jon Davies năm 2008, mực nước ở rừng trên than bùn vùng Pekan của Malaixia rất it khi xuống dưới 20cm và đây cũng là điều kiện thủy văn của hầu hết các vùng rừng than bùn nhiệt đới Nó đảm bảo điều kiện yếm khí để tốc độ oxy hoá và phân huỷ than bùn chậm hơn hơn tốc độ hình thành luỹ chúng, lớp than bùn sẽ ổn định và cao dần lên Trước đây, với quy mô diện tích hàng trăm nghìn hecta và không có kênh rạch rừng Tràm trên than bùn của Việt Nam cũng đã có phần lớn thời gian trong năm ngập nước và mực nước không nằm thấp hơn mặt than bùn quá 20cm Chỉ như vậy, than bùn mới có thể tồn tại lâu dài trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm

1.1.2 Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng

Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng đã được thực hiện từ những đầu thế kỉ trước Người ta tập trung chủ yếu vào vai trò của rừng trong việc ngăn cản xói mòn và phục hồi đất, vai trò bảo vệ nguồn nước, chắn gió và chắn cát

Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất có ý nghĩa quan trọng nhất trong lĩnh vực xói mòn đất đã được thực hiện bởi Volli từ năm 1844 Tác giả khẳng định xói mòn được thực hiện qua hai pha chủ yếu là bắn phá làm tơi rời các hạt đất và cuốn trôi chúng, trong đó pha đầu là quan trọng nhất Để bảo vệ đất cần giảm được động năng mưa làm sự bắn phá tơi rời đất của các hạt mưa là có ý nghĩa quyết định trong chống xói mòn bảo vệ đất Về sau nghiên cứu định lượng về xói mòn đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới Phương trình xói mòn đất được áp dụng rộng rãi nhất cho đến nay là phương trình của Wischmeier, được tác giả và các công sự xây dựng từ năm

Trang 15

1956 Trong đó thể hiện được liên hệ của xói mòn đất với 6 nhân tố ảnh hưởng là chế độ mưa, tính chất đất, độ dốc, chiều dài sườn dốc, kiểu trồng cây

và biện pháp bảo vệ đất Phương trình của Wischmeier đã gợi ý về các biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất Đó là tất cả những giải pháp nhằm giảm thiểu một hoặc một nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn đất trong các phương trình của wischmeier Tuy nhiên, việc áp dụng phương trình này cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong điều kiện thiếu dữ liệu nghiên cứu cơ bản để xác định các thông số cần thiết, chẳng hạn thiếu dữ liệu về mưa, thiếu dữ liệu

về khả năng chống xói mòn của đất, hay dữ liệu về ảnh hưởng của các kiểu trồng cây đến xói mòn v.v

Những nghiên cức về ảnh hưởng của rừng đến các quá trình tích luỹ và vận chuyển nước, hay các quá trình thuỷ văn, cũng được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 19 Công trình nghiên cứu đầu tiên về thuỷ văn rừng được ghi nhận là công trình của A A Monchanop (1860) Ông đã xác lập được phương trình cân bằng nước và vai trò của rừng với các thành phần cân bằng nước ở miền nam nước Nga ý nghĩa quan trọng của công trình này là hình thành phương pháp nghiên cứu về thuỷ văn rừng, trong đó công cụ quan trọng để nghiên cứu là phương trình cân bằng nước

Đến nay, trong quan điểm chung, vai trò giữ nước của rừng được hiểu

là giữ và tích luỹ nước ở bất kỳ dạng nào - làm tăng lượng nước trong đất, giảm bốc thoát hơi nước, tăng mực nước ngầm, giảm dòng chảy bề mặt, hạn chế xói mòn đất, qua đó làm tăng và ổn định lượng nước sông suối, cũng như làm sạch nước (Monchanop, 1960, 1973; Khanbecop, 1984; Whitehead và Robinson, 1993; Bonell, 1993)

Khả năng giữ nước của rừng được phản ánh thông qua ảnh hưởng của

nó đến hiệu ích của nguồn nước, nên về nguyên tắc có thể sử dụng nhiều chỉ

Trang 16

tiêu khác nhau để đánh giá khả năng giữ nước của rừng như: mức thay đổi của hàm lượng các chất hoá học, các chất hoà tan trong nước sau khi đã dịch chuyển qua hệ sinh thái rừng, hệ số dòng chảy bề mặt, mực nước ngầm, tần suất lũ hoặc dùng các chỉ tiêu trực tiếp có ảnh hưởng đến nguồn nước như các nhân tố cấu trúc rừng, các tính chất vật lý của đất rừng, v.v Tuy nhiên, xét

về tính đại diện và khả năng dễ xác định thì hệ số dòng chảy bề mặt, lượng nước giữ lại trong đất là những chỉ tiêu tốt nhất phản ánh khả năng giữ nước của rừng Dòng chảy mặt càng thấp, lượng nước giữ lại trong đất càng nhiều, khả năng giữ nước của rừng sẽ càng tốt

G.Fiebiger đã dùng khái niệm “Dung tích giữ nước của rừng” để phản ánh khả năng giữ nước của nó và được xác định bằng tổng lượng nước giữ lại trên tán, lượng nước giữ lại bởi vật rơi rụng và lượng nước tích giữ trong đất Quan điểm này được các nhà thuỷ văn rừng chấp nhận một cách rộng rãi (Trần Huệ Tuyền, 1994; Vu Chí Dân và Vương Lễ Tiên, 2001)

Về mặt lý thuyết khả năng giữ nước của rừng được hiểu là khả năng làm tăng hiệu ích kinh tế của nguồn nước Song hiệu quả kinh tế của nước liên quan đến hiệu quả của nhiều ngành kinh tế, thường rất khó xác định Vì vậy, trong thực tế người ta thường xác định khả năng giữ nước của rừng là khả năng làm tăng tính hiệu ích của nước Đó là tính sạch, tính ngọt, tính ổn định và tính tại chỗ của nguồn nước

Khả năng giữ nước của rừng có giới hạn và phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của đất rừng như: cấu trúc rừng, độ xốp và kết cấu đất, độ dày tầng đất v.v , trong đó đặc biệt quan trọng là độ xốp và bề dày tầng đất Chúng quyết định dung tích chứa nước của đất rừng (Vu Chí Dân và Vương Lễ Tiên, 2001) Vai trò của rừng trong bảo vệ nguồn nước quan trọng nhất là vai trò bảo vệ và cải thiện những tính thuỷ văn của đất

Trang 17

Khi nghiên cứu về vai trò của rừng với nguồn nước, các tác giả đã cố gắng xác định những quan hệ định lượng của rừng với đặc điểm của nguồn nước (các tính hiệu ích của nước) Tuy nhiên, vì tính phức tạp của các quá trình thuỷ văn mà cho đến nay vẫn chưa có những công thức cho phép định lượng khả năng giữ nước của rừng có thể áp dụng chung cho cả thế giới Trong những năm gần đây xuất hiện một số mô hình dự báo thủy văn, trong

đó có tính ảnh hưởng thảm rừng Tuy nhiên, sai số của chúng còn lớn do không tính đến được đầy đủ những nhân tố ảnh hưởng cụ thể của các nước, các vùng khác nhau

Trên thế giới cũng đã có những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng đến gió hại, đến điều kiện nói chung đến cát bay, đến sóng biển v.v , trong đó có những công trình nghiên cứu ở Trung quốc và những nước châu

âu Đây sẽ là những tư liệu tham khảo quan trọng cho nghiên cứu về vai trò của rừng đến tiểu khí hậu và sản xuất nông nghiệp ở khu vực đồng bằng sông

Cửu Long trong đề tài này

1.2 Ở Viê ̣t Nam

1.2.1 Một số nghiên cứu về cây Tràm

Lê Đình Khả, Hoàng Chương, Nguyễn Trần Nguyên [10] đã nghiên cứu

về xuất xứ và khảo nghiệm giống Tràm cho trồng rừng ở đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã khẳng định một số loài và xuất

xứ có nhiều triển vọng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long (M leucadendra – xuất xứ Weipa, Rifle Creek, Lawrence và keru; M cajuputi xuất xứ Tịnh Biên – An Giang)

Thái Thành Lượm [5] nghiên cứu về nhân giống vô tính cây Tràm và

kỹ thuật lâm sinh để nâng cao sản lượng rừng Tràm

Dự án JICA (2002) đã xây dựng mô hình trồng Tràm trên đất phèn Kết

Trang 18

quả nghiên cứu đã xác định các biện pháp kỹ thụât cho gây trồng và đặc biệt

là mật độ gây trồng nên từ 10,000 – 15,000 c/ha Tuy nhiên vẫn còn những bàn cãi xung quanh vấn đề mật độ gây trồng

Nguyễn Việt Cường [1] nghiên cứu trồng thử nghịêm Tràm lai và khảo nghiệm một số xuất xứ Tràm ở đất bán ngập vùng núi đá vôi ở Ninh Bình và

Hà Tây Tác giả đã nghiên cứu trồng 2 mật độ là 4,500c/ha (1.5 x 1.5m) và 6,600c/ha (1 x 1.5m) Kết quả bước đầu cho thấy Tràm sinh trưởng tốt và có nhiều triển vọng cho gây trồng ở miền Bắc

Ngô Đình Quế [7] đã nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật và xây dựng một số mô hình trồng rừng Tràm, mô hình nông-lâm – ngư kết hợp ở vùng đất phèn đồng bằng sông Cửu Long, cũng theo tác giả thì Tràm ở Việt nam có ít nhất 4 chủng, hoặc dạng khác nhau phân bố ở những lập địa khác nhau là: Tràm cừ có tầm vóc cao, mọc tự nhiên trên đất phèn ở vùng đồng bằng sông Cửu long, Tràm lùn hay Tràm gió tầm cóc nhỏ, dạng cây bụi cũng mọc ở vùng trên Tràm bụi, có tầm vóc nhỏ bé cây cao không quá 2 mét, mọc tự nhiên ở đồi trọc sim, thanh hao ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Tràm bưng, thấp chỉ cao có 1 mét, mọc tự nhiên ở bãi cát rời rạc, ven biển, hơi ẩm tại Quảng Bình, Quảng Trị Cũng theo tác giả thì: Sinh trưởng của rừng Tràm có liên quan chặt chẽ với các yếu tố dinh dưỡng trong đất: Hàm lượng chất hữu cơ trong đất < 8% rừng Tràm sinh trưởng rất thuận lợi Hữu

cơ từ 8 - 15% rừng Tràm sinh trưởng thuận lợi và hữu cơ > 15% (dày 40cm) rừng Tràm sinh trưởng bị hạn chế

Từ năm 1994, qua chương trình hợp tác với ACIAR, 26 xuất xứ của Tràm lá dài (M.Leucadendra), cùng với Tràm gió (M.cajuputi) đã được khảo nghiệm tại 4 điểm của đồng bằng sông Cửu long, cho thấy Tràm lá dài có sinh trưởng nhanh nhất trong các loài Tràm đã khảo nghiệm Các xuất xứ của

Trang 19

Tràm gió Việt nam đều có sinh trưởng kém hơn so với Austraylia

Theo Nguyễn Việt Cường, và cộng sự [1] thì: Tràm phân bố ở nước ta được giới hạn trong 3 kinh độ, từ 103058’-107005 đông, gần như chạy theo rìa ven biển phía Đông, nhưng lại trải dài trên gần 12 vĩ độ, từ 9010 -21035 B, chứng tỏ có phân bố tự nhiên tuy không rộng, nhưng kéo dài ra từ Nam ra Bắc

Nghiên cứu về các loài Tràm có triển vọng cho sản xuất tinh dầu có công trình của tác giả Phùng Cẩm Thạch, đã giới thiệu 2 loài Tràm Úc và Tràm Trà và phương pháp thu hoạch, chưng cất tinh dầu

Nghiên cứu về Hệ sinh thái rừng Tràm và một số biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng Tràm có công trình của tác giả Phạm Ngọc Hưng – Trung tâm phát triển nông lâm nghiệp bền vững

Tác giả Đào Vũ cùng các cộng tác viên đã có công trình nghiên cứu: Xác định và đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của các biện pháp làm đất phèn hiện có để trồng rừng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long” Tác giả đã mô

tả khá chi tiết về các biện pháp làm đất, đạc biệt là phương pháp lên líp và đã

so sánh sinh trưởng của rừng Tràm trên các biện pháp lên líp khác nhau

Năm 1998, Đặng Trung Tấn- Trung tâm rừng ngập Minh hải đã có nghiên cứu “Thiết kế mô hình trồng Tràm thâm canh trên vùng đất phèn ngập sâu bằng phương pháp đắp mố” Theo tính toán của tác giả thì cùng với khối lượng đào đắp là 833m3 đất, thì phương án đắp mố có thể nâng cao được mặt bằng trồng rừng lên 50cm, trong khi nếu lên líp chỉ cao được 10cm

Tác giả Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình sử dụng 5 yếu tố để đánh giá tiềm năng sử dụng đất phèn trong lâm nghiệp ở ĐBSCL là: Loại đất, hàm lượng chất hữu cơ trong đất, thời gian ngập nước, độ sâu ngập nước và khả năng cung cấp nước ngọt để rửa phèn, trong đó có 2 yếu tố chủ đạo là: độ sâu

Trang 20

ngập nước và và khả năng cung cấp nước ngọt để rửa phèn là các yếu tố quyết định tiềm năng sử dụng đất đai Vì vậy lên líp và xây dựng hệ thống kênh mương có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp trên đất phèn ở Đồng Bằng sông Cửu Long

Từ năm 2001 nhóm đề tài của trường Đại học lâm nghiệp do Lê Sĩ Việt [9] làm chủ nhiệm đã nghiên cứu xây dựng mô hình phục hồi rừng trên vùng bán ngập hồ Hoà Bình Kết quả đề tài đã đề xuất được các loài cây có triển vọng trồng ở vùng bán ngập là Tràm úc, Vậy nước, Dâu da xoan, Sấu, Vông nước, Nhội, Chẹo

Trung tâm Ứng dụng KHKT Lâm nghiệp – Viện KHLN Việt nam [10]

đã thử nghiệm mô hình trồng cây nông lâm nghiệp trên vùng đất bán ngập tại

hồ Thác Bà và hồ Suối Hai cho thấy các loài cây lâm nghiệp dự án đã thử nghiệm trồng như: Tràm úc, Bạch đàn GU8, Tre gai với môi trường ngập nước cục bộ trong năm cây có sinh trưởng cả về đường kính, chiều cao cũng như tỷ lệ sống là tương đối cao: Tràm úc có tỷ lệ sống cao nhất từ 76- 90% , tiếp đến Bạch đàn Gu8 có tỷ lệ sống 70-85% ; Tre gai có tỷ lệ sống từ 45 -62%; Dành dành 40% và Vậy nước là 35% khi trồng tại các mức nước ngập khác nhau Cùng loài cây trồng thì ở mức nước ngập dưới 2 tháng có tỷ lệ sống cao hơn khi trồng tại mức nước ngập 2-4 tháng Tại mức nước ngập trên

4 tháng cây có tỷ lệ sống thấp nhất

Lý Thọ (1981), Nguyễn Huỳnh Châu (1982), Nguyễn Hiếu Liêm (1983), Lê Văn Sáng (1984), Tạ Văn Thuỵ (1985), Phạm Ngọc Cơ (1994) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và năng suất rừng Tràm, về trồng xen loài khác với Tràm trên đất phèn và áp dụng mô hình nông lâm kết hợp ở vùng đầm lầy đồng bằng sông Cửu Long, về kỹ thuật trồng và bảo vệ rừng Tràm Các kết quả chủ yếu nghiên cứu về trồng và bảo vệ rừng ở giai đoạn đầu nhưng chưa

Trang 21

chú trọng đến kỹ thuật chăm sóc rừng

1.2.2 Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng

Đến nay đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của rừng chống xói mòn bảo vệ đất, trong đó có công trình của Nguyễn Ngọc Lung [4] về tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính ở Tây Nguyên và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước, của Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên [6] về xói mòn đất dưới điều kiện hoạt động canh tác nông nghiệp và một số rừng trồng, Vương Văn Quỳnh [8] về xói mòn đất ở vùng nguyên liệu giấy Các công trình nghiên cứu về tác dụng của rừng chắn cát bay được nghiên cứu bởi viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, trong đó phải kể đến công trình luận án của Đặng Văn Thuyết Tuy nhiên hiện còn ít nghiên cứu về tác dụng của rừng trong việc chống lại các quá trình thoái hoá đất như quá trình mặn hoá, phèn hoá, giảm lũ vùng đồng bằng v.v

Để xác định, diện tích và phân bố rừng Tràm ở vùng lũ đồng bằng sông cửu long, đề tài này sẽ phải kế thừa những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về vai trò phòng hộ của rừng, đồng thời tổ chức những nghiên cứu bổ sung, đặc biệt về những vấn đề còn chưa được làm sáng tỏ ở Việt Nam như ảnh hưởng của rừng đến quá trình giảm lũ, ngăn chặn mặn hoá và phèn hoá

Cho đến nay việc xác định diện tích rừng phòng hộ được thực hiện bởi viện điều tra quy hoạch rừng Người ta đã căn cứ vào những nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng xói mòn và khô hạn để đánh giá sự cần thiết phải có rừng và từ đó quy hoạch ba loại rừng Phương pháp xác định chủ yếu là chồng xếp bản đồ Các bản đồ chuyên đề được thiết lập trên cơ sở phân vùng riêng

rẽ từng nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn và khô hạn như độ cao, độ dốc, loại đất, và lượng mưa Việc chồng xếp các bản đồ chuyên đề sẽ hình thành những vùng trong đó tương đối đồng nhất về điều kiện ảnh hưởng đến xói mòn và

Trang 22

khô hạn Trên cơ sở phân tích biến động của các nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn và khô hạn người ta phân chia ra các vùng ít xung yếu, xung yếu và rất xung yếu Từ đây sử dụng một số thông tin bổ sung về điều kiện kinh tế xã hội người ta tiến hành quy hoạch 3 loại rừng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng

Mặc dù tốn nhiều công sức nhưng việc xác định diện tích rừng và mức

độ phòng hộ xung yếu vẫn chưa có sức thuyết phục cao Nguyên nhân chủ yếu do thiếu cơ sơ của việc phân cấp các nhân tố ảnh hưởng đến nguy cơ xói mòn và khô hạn cũng như phương pháp tích hợp chúng trong đánh giá sự cần thiết phải bảo vệ và phát triển rừng Vì vậy, quy hoạch 3 loại rừng có cơ sở pháp lý nhưng vẫn thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn để áp dụng

Nhìn chung, cho đến nay các công trình nghiên cứu về hiệu quả chống xói mòn đất, chắn gió, chắn cát của rừng ở Việt Nam và thế giới là tương đối phong phú Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về hiệu quả phòng hộ và giảm lũ vùng đồng bằng còn ít được thực hiện ở nước ta Những thông tin thu được còn tản mạn chưa đủ làm cơ sở khoa học cho xác định diện tích và phân

bố rừng cần thiết Đề tài này tập trung vào nghiên cứu hiệu quả phòng hộ cải

tạo đất và nước của rừng tràm và khả năng giảm lũ của rừng Tràm nhằm có

thêm cơ sở khoa học cho việc xác định diện tích và phân bố rừng Tràm cần thiết cho vùng lũ của Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen

Trang 23

Chương 2 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.2 Vị trí địa lý

Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen nằm trong phạm vi tọa độ địa lý: 10°45’ - 11°50’ vĩ độ bắc và 105°45’ - 105°50’ kinh độ đông

Diện tích tự nhiên của Láng Sen là 5.030 ha, phần lớn nằm trên địa bàn

xã Vĩnh Lợi và một phần thuộc xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng tỉnh Long An Trong đó có một giới hạn tự nhiên khá đặc biệt là một "cù lao" diện tích khoảng 1.500 ha là một vùng đầm lầy có nhiều sinh cảnh thích hợp cho động thực vật ưa nước và nơi dễ khôi phục các hệ sinh thái đồng cỏ, bải ăn của nhiều loài chim nước, được bao bọc bởi sông Vàm Cỏ Tây

2.1.3 Địa hình, thủy văn

Địa hình khu vực Láng Sen được xem như một bồn trũng có cao độ từ 0.42 – 1.8 m (so với mực nước chuẩn tại mũi Nai – Hà Tiên) Với địa hình như thế, khu vực nầy được xem như một vùng đầm lầy ngập nước chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long, và chịu ngập lũ hàng năm

Chế độ thủy văn tại đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Cửu Long

và thay đổi do ảnh hưởng biến đổi về chế độ dòng chảy trong toàn vùng Tân Hưng – Vĩnh Hưng Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Láng Sen và vùng lân cận khá dày, tuy nhiên lưu lượng lưu thông không lớn do lưu vực nhỏ Láng Sen được tiếp nước chủ yếu do các kinh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long, như: kinh Hồng Ngự – Long An, kinh 79, kinh 28 và sông Lò Gạch Nguồn nước trực tiếp tới khu vực Láng Sen đi qua 2 tuyến dẫn nước chính là

Trang 24

kinh 79 và rạch Bông Súng Mặc dù nằm trong nội địa, nhưng ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều, và lớn nhất vào mùa kiệt (mùa khô) Tuy nhiên biên độ dao động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng < 0.5 m Biên độ này giảm dần tới khi đỉnh lũ xuất hiện

Ngập lũ: vùng ngập sâu trung bình ở vùng từ 2.5 đến 3,5 mét trong các năm lũ lớn (tương đương lũ 1996, 2000) Thời gian ngập từ 3 đến 4 tháng Do mạng lưới kinh mương được phát triển và mỏ rộng nên thời gian ngập hiện nay là ngắn hơn khoảng 1 tháng so với trước đây Vùng ngập sâu và lâu nhất vẫn là những nơi lung bàu trũng như Láng Sen, rạch Cá He, rạch Cái Nổ Chất lượng nguồn nước thay đổi theo mùa và có sự khác biệt trong từng khu vực Tuyến kinh 79 đi qua vùng đất phèn nặng nên nước bị chua phèn và độ đục thấp, độ pH thường thấp dưới 4,5 Chất lượng nước chỉ được cải thiện vào mùa mùa lũ, đồng thời độ đục cũng tăng lên ít nhiều Tuyến sông Bông Súng có chất lượng nước tốt hơn, lượng phù sa tương đối ổn định và cao hơn Bồi lắng phù sa trong nội đồng chỉ xảy ra khi lượng phù sa theo dòng nước lũ đưa về Một lượng lớn phù sa phủ trên đồng ruộng đã được ghi nhận vào cuối trận lũ năm 2000 Với lớp trầm tích phù sa khá dầy đã gây ra hiện tượng những cánh đồng năng bị chết hàng loạt

Trang 25

Dòng chảy lũ được hiểu là quá trình không ngừng tăng lên hoặc giảm đi của lưu lượng Trong quá trình thay đổi đó lưu lượng đạt một vài trị số cực đại Nếu có một giá trị cực đại gọi là quá trình lũ đơn Nếu có hai giá trị cực đại trở lên gọi là quá trình lũ kép

Lưu lượng đỉnh lũ Qmax (m3/s): là giá trị lớn nhất của lưu lượng trong một trận lũ

* Đặc điểm lũ của khu vực Đồng Tháp Mười

Vùng Đồng Tháp Mười là phần dưới của vùng ngập lũ kéo dài dọc bờ trái sông Tiền từ Kongpongcham trở xuống QL1A - phía Nam và sông Vàm

Cỏ Đông - phía Đông Diện tích toàn vùng trũng là 991.000 ha, trong đó phần thượng lưu nằm trên đất CamPu Chia là 288.000 ha, phần Đồng Tháp Mười chiếm 703.000 ha

Vùng trũng đuợc ngăn cách với sông chính bởi các giồng ven sông (giải đất cao ven sông tự nhiên) kéo dài từ Kongpongcham - nơi địa hình cao từ 10

- 15 m và thấp dần về phía hạ lưu, đến Tứ Thường cao trình giồng khoảng 4,5

- 5,0 m, đến Cao Lãnh còn lại khoảng 2,5 - 3,0 m Mặt giồng phía thượng lưu rộng hàng ngàn mét và thu hẹp dần về phía hạ lưu có nơi chỉ còn vài trăm mét Sau giồng là những vùng trũng

Đồng Tháp Mười từ biên giới trở về xuôi có dạng hình lòng máng với các thành cao 3 phía: Vùng phù sa cổ Hồng Ngự - Tân Hồng (phía Bắc); các giải đất cao ven sông (phía Tây) và vùng đất xám Vĩnh Hưng - Mộc Hoá (phía Đông) Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nơi thấp nhất là vùng Bắc Đông - BoBo

Trước đây khu vực giữa Đồng Tháp Mười là vùng ngập nước quanh năm, trong mùa lũ nhiều nơi ngập sâu tới 3 - 4,5 m, khả năng thoát lũ chậm, không bị ảnh hưởng nhiều nước mặn Lũ chủ yếu từ thượng nguồn sông Mê

Trang 26

Kông đổ về và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều kết hợp với khả năng điều tiết của Biển Hồ Lũ diễn biến chậm, kéo dài suốt khoảng thời gian từ 4 đến 5 tháng trong năm làm ngập hầu hết toàn bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long

2.1.4 Đất đai

Địa chất khu vực phần lớn thuộc trầm tích Holocen và những gò Pleistocen (hoặc Pleistocen muộn) nổi lên ở một số nơi trong vùng Ngoài ra, vài vạt trũng thấp là lòng sông cổ với lớp đất mặt tích tụ nhiều chất hữu cơ Các nhóm đất hiện diện trong vùng là kết quả từ những tiến trình và yếu tố hình thành đất, trong đó tính đa dạng của vật liệu trầm tích đóng vai trò quan

trọng Các nhóm đất chính: Đất xám (Aeric Paleaquults, Aquic Arenic

Paleustults, Typic Plinthaquults), đất phèn hoạt động (Typic Sulfaquepts, Umbric Sulfaquepts, Hydraquentic Sulfaquepts), đất phù sa có tầng sinh phèn

trung bình (Aquic sulfic Tropaquepts), đất phù sa có tầng phèn trung bình (Sulfic Tropaquepts), đất phù sa phát triển (Typic Tropaquepts)

2.1.5 Khí hậu

Khí hậu ở khu vực nghiên cứu được chia làm 2 mùa: mùa mưa kéo dài

từ tháng 5 đến hết tháng 10, còn tháng khô thì từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng khô và nóng nh ất Nhiệt độ trung bình năm là 24.50 C, nhiệt độ tháng cao nhất vào tháng 4 là 26.60 C, nhiệt độ tháng thấp nhất vào tháng 12 là 21.70 C Lượng mưa trung bình năm là 1846mm

2.1.6 Tính đa dạng sinh học

Trong khu vực Láng Sen được ghi nhận với sự hiện diện của nhiều loài động thực vật đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười

Trang 27

Các họ có số loài nhiều nhất là Poaceae (24 loài), Cyperaceae (19 loài),

Rubiaceae (6 loài) và Papilionoideae (6 loài) Trong đó có 4 loài chưa xác

định được tên Căn cứ vào dạng sinh trưởng, 152 loài thực vật hoang dã ở Láng Sen được chia ra:

 Cây thân gỗ: 26 loài

 Cây bụi: 15 loài

 Cây thân thảo: 101 loài

 Dây leo hoặc dây bò: 8 loài

 Ký sinh: 2 loài

Phiêu sinh vật

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần phiêu sinh trong vùng không nhiều với Cyanophyta: 2 loài, Chlorophyta: 14 loài, Bacillariophyta: 8 loài Có thể việc giới hạn về thời gian và số mẫu nghiên cứu nên chưa thể hiện được số liệu chính xác thành phần phiêu sinh vật đang hiện diện trong vùng

Thủy sản

Do trong đợt khảo sát mực nước trên đồng khá cao nên chưa thể tiến hành thu mẫu, kết quả thu được do điều tra các hộ tại địa phương Các loài

Trang 28

điều tra được gồm có: cá trạch, thát lát, cá rô, cá linh, cá mè, lóc, lia thia đồng, cá chốt, cá lìm kìm, cá trê, lươn, ếch, rắn (3 loài), rùa, tôm

Ngoài ra, một số loài thực vật thủy sinh khác đã phát hiện như: Marsilea

quadrifolia, Ceratopteris siliquosa, Salvinia cucullata, Lemna tenera, Eriocaulon sp., Limnophylla heterophylla, Najas sp., Blyxa sp., Valisneria gigantia, Rotala wallichii, Myriophyllum tetandrum, Hydrilla verticilata

Động vật

Để có thể ghi nhận được nhiều thông tin về động vật, nhóm nghiên cứu đã dùng phương pháp phỏng vấn dân địa phương kết hợp với khảo sát thực tế (đối với lớp Chim, phỏng vấn thông qua hình ảnh), có 128 loài động vật có xương sống (không kể lớp Cá) được ghi nhận có mặt ở Láng Sen; trong đó:

 Lớp Lưỡng thê: 4 loài

Láng Sen là một vùng đất ngập nước với hệ thống sông rạch tự nhiên và

sự đa dạng về địa mạo so với các vùng ngập nước khác của Đồng Tháp Mười

Trang 29

Đây là một trong những yếu tố tự nhiên góp phần cho sự đa dạng về nơi sống,

về loài và về cảnh quan tự nhiên Nếu được quản lý và bảo vệ tốt thì Láng Sen

sẽ góp phần đáng kể vào việc bảo tồn sự đa dạng sinh học của vùng nội địa hạ lưu sông Mekong.

Do đó, sự tồn tại của Khu Bảo Tồn Đất Ngập Nước láng Sen sẽ góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của vùng Đồng Tháp Mười, bảo vệ nguồn gen của các động thực vật quý hiếm, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, hoạt động du lịch sinh thái…

Hình 2.1 : Bản đồ Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Long An.

Trang 30

2.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

Dân số: Dân cư sinh sống trong Khu bảo tồn và khu vực vùng đệm có

10.893 khẩu (số liệu điều tra dân sinh kinh tế năm 2008)thuộc xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại và xã Vĩnh Châu A huyện Tân Hưng tỉnh Long An Với tổng diện tích của 3 xã trên là: 15.168 ha trong đó diện tích đất nằm trong khu bảo tồn là

4.723 ha

Tỷ lệ tăng dân số của 3 xã khảo sát (năm 2007-2008) bình quân là 1,4

%/năm (theo báo cáo của dân số xã hàng năm)

Khu bảo tồn Đất Ngập Nước láng Sen chỉ có dân tộc Kinh

Các hoạt động kinh tế: Kết quả khảo sát 3 xã trên cho thấy có 23 %

hộ nghèo, 48 % hộ trung bình và 29 % hộ khá/giàu

Các hoạt động kinh tế chính là: Làm nông, làm thuê, công nhân, buôn bán, trồng trọt

Cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại: Việc đi lại của người dân còn rất kho khăn chủ yếu đi lại bằng xuồng bơi, xuồng máy

Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và phát triển kinh tế xã hội còn thấp như trường học, trạm xá, điện và nước sạch dùng cho sinh hoạt và sản xuất là một trong những yếu tố hạng chế phát triển kinh tế xã hội cho cộng đồng khu vục này

Trình độ học vấn: Chỉ có 5% hộ nghèo mù chữ, trình độ văn hóa

bình quân khoảng hết cấp 1, Tỷ lệ biết đọc và viết ở nhóm trung bình và giàu lần lượt là 95 % và 97 % Những người mù chữ thuộc hai nhóm này thường là những người già

Tình trạng phụ thuộc vào rừng: Các hộ nghèo thường gặp nhiều khó

khăn để vượt qua họ phải vào rừng đánh bắt cá, cài bẩy các loài động vật

Trang 31

hoang dã như: (chim, cò, ong), đánh bắt cá bằng xung điện, giăng lưới bắt các loài bò sát như Trăn, Rắn, hoặc khai thác lâm sản ngòai gỗ như mật ong Sản phẩm thu được nếu thừa đem bán Đối tượng này chiếm khoảng 50% trong số

hổ trợ vốn, nguồn giống và kỹ thuật nuôi trồng phù hợp địa phương để có năng suất cao, mở nhiều lớp tập huấn các kỹ năng giám sát về quản lý bảo vệ rừng nhằm nâng cao trình độ để đủ điều kiện cộng sự với KBT thực hiện tốt

công tác bảo tồn

Những hoạt động của con người đe dọa đến KBT: Những hoạt động

của con người đe dọa đến KBT bao gồm các hoạt động sau: Cháy rừng do đốt lửa khai thác mật ong; Săn bắn và bẫy bắt thú hoang dã; Khai thác lâm sản

ngoài gỗ như cá, mật ong, củi, chim

Trang 32

3.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được khả năng phòng hô ̣, cải tạo đất và nước của rừng Tràm ở Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, huyệnTân Hưng – tỉnh Long An

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng phòng hô ̣ của

rừ ng Tràm ở huyê ̣n Tân Hưng – tỉnh Long An

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu đă ̣c điểm cấu trúc rừng Tràm

- Đặc điểm phân bố của rừng Tràm và các thảm thực vâ ̣t xung quanh

- Nghiên cứ u đặc điểm cấu trúc rừng Tràm

3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thổ nhưỡng và đặc điểm môi trường nước

3.2.2.1 Nghiên cư ́ u đặc điểm thổ nhưỡng

- Đặc điểm tính chất đất tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng cải tạo đất của rừng Tràm

Trang 33

3.2.2.2 Nghiên cư ́ u đặc điểm môi trường nước

- Diễn biến mực nước lũ

- Vận tốc dòng chảy lũ

- Đặc điểm tính chất nước tại khu vực nghiên cứu

3.2.3 Nghiên cứu khả năng ngăn lũ của rừng Tràm

- Ảnh hưởng của cấu trúc rừng Tràm tới diễn biến mực nước lũ

- Ảnh hưởng của tuổi rừng đến diễn biến mực nước lũ

- Ảnh hưởng của bề rộng đai rừng Tràm tới vận tốc dòng chảy lũ

3.2.4 Đề xuất gia ̉ i pháp nâng cao khả năng phòng hộ của rừng Tràm 3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu thủy văn, tài nguyên rừng

- Kết quả của những công trình nghiên cứu liên quan

- Số liệu mực nước lũ của trạm đo Tân Hưng

3.3.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

a Phương pháp điều tra cấu trúc rừng

Lập các OTC điển hình với diện tích là 500m2 trên đó đo đếm các chỉ tiêu D1.3, Dt, Hvn, Hdc

- Đo D1.3 bằng thước vanh ta được C1.3 D1.3 = C1.3/π

- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước

đo cao Blummleiss

Trang 34

- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây, Nam Bắc

Kết quả điều tra ghi vào mẫu biểu 01

Mẫu biểu 01: Phiếu điều tra tầng cây cao trên OTC

b Phương pháp điều tra giải tích

- Chọn cây lấy mẫu: Cây lấy mẫu là những cây sinh trưởng và phát triển bình thường được chọn theo cách rút mẫu điển hình, hệ thống hoặc ngẫu nhiên Cũng có thể chọn cây giải tích là cây lớn nhất trong lâm phần vì nó chứa đựng lịch sử dài nhất trong rừng

- Thu thập mẫu:

+ Đánh dấu trên cây giải tích

Để thống nhất việc đo tính sau này cần dùng sơn hoặc phấn đánh dấu trên thân cây giải tích như sau: Khoanh vị trí cổ rễ cây, vị trí 1.3 m và vạch hướng Bắc trên thân cây

+ Chặt cây giải tích: Khi chặt tránh dập, vỡ xước râu tôm

Trang 35

+ Cưa thớt trên thân cây giải tích: Sau khi ngả cây, phát hết cành nhánh

và vạch tiếp hướng Bắc lên ngọn cây Đánh dấu những vị trí cần cưa thớt Cưa cẩn thận những vị trí đã đánh dấu để lấy ra các thớt gỗ nguyên vẹn

+ Đánh dấu trên thớt gỗ: Trên mỗi cây giải tích phải cưa nhiều thớt gỗ,

để tránh nhầm lẫn cần đánh dấu từng thớt theo nguyên tắc; Mặt trên của thớt

là mặt cưa đúng vị trí đã vạch sẵn trên thân cây phải giữ nguyên Theo hướng Bắc đã vạch sẵn kẻ hướng Đông - Tây, Nam - Bắc ở bề mặt dưới thớt ghi ký hiệu

- Xử lý mẫu:

Sau khi cưa, thớt giải tích được phơi khô ở nhiệt độ trong phòng để không làm nứt nẻ mặt thớt

Để ranh giới vòng năm thể hiện rõ, Xác định tuổi và đo đạc chính xác

bề rộng vòng năm, chúng tôi tiến hành dùng bào và giấy giáp làm phẳng và nhẵn bề mặt của thớt, sau đó dùng vecni quét lên bề mặt đã làm nhẵn, khi cần thiết có thể ngâm nước hoặc xoa một số hoá chất khác lên thớt cho vòng năm hiện rõ ràng hơn

- Xác định tuổi vòng năm:

Việc xác định tuổi vòng năm là một công việc có tính chất quyết định đến kết quả nghiên cứu Xác định chính xác được tuổi vòng năm sẽ đảm bảo cho việc phân tích quy luật biến động vòng năm không bị nhiễu loạn, đảm bảo tính chính xác của các kết quả nghiên cứu

Mi = 2010 – Ki

Trong đó, Mi: năm hình thành vòng năm thứ i

Ki: số vòng năm nằm ngoài vòng năm thứ i

- Đo bề rộng vòng năm:

Trang 36

Bề rộng vòng năm là tổng bề dày các lớp gỗ trong một năm được xác định theo chiều vuông góc với đường ranh giới giữa chúng Việc đo vòng năm được đo từ ngoài vào đến tâm thớt, vòng ngoài cùng là được tính là thời điểm hiện tại Số liệu đo đếm được ghi vào mẫu biểu 02:

Mẫu biểu 02: Biểu ghi bề rộng vòng năm

c Phương pháp khảo sát tốc độ dòng chảy

Khảo sát 55 điểm điều tra trước, trong và sau các khu rừng Tràm bằng phương pháp quan sát tốc độ di động của các phao nổi

Cùng với cán bộ thủy lợi huyện Tân Hưng quan trắc diễn biến lũ qua các năm

d Phương pháp nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng

Tại mỗi OTC lấy 01 mẫu đất ở tầng mặt (độ sâu 0 - 10cm) và 01 mẫu đất

ở tầng thứ 2 (độ sâu 20 - 40cm) Mẫu đất phải để trong túi Polyetylen 02 lớp

và ghi số hiệu đầy đủ

Trang 37

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi thu thập số liệu ngoại nghiệp, tiến hành xử lý số liệu và tính các chỉ tiêu cần thiết, từ đó đưa ra các phân tích và nhận định về chỉ tiêu nghiên cứu Trong quá trình xử lý số liệu tôi sử dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp với phần mềm Microsoft Excel 2010 cài đặt trên máy vi tính

Xtb: là trị số trung bình của chỉ tiêu điều tra X

Xi: là trị số quan sát thứ của X

P = RDmax- RDmin = -

Trang 38

Trong đó:

RDmin = và RDmax =

- Vẽ biểu đồ phân bố số cây theo cỡ đường kính Ni – D i

c Nghiên cứu quy luật phân bố N/H

+ Sai tiêu chuẩn về chiều cao: SH = H g2H2

+ Phạm vi biến động về chiều cao:

- Vẽ biểu đồ phân bố số cây theo cỡ chiều cao Ni – Hi

d Nghiên cứu quy luật phân bố H/D

Nghiên cứu mối quan hệ giữa đường kính và chiều cao bằng phương pháp biểu đồ Sử dụng phần mềm vẽ biểu đồ tự động trong Microsoft Excel

2010 để vẽ biểu đồ tương quan H/D Dựa vào biểu đồ và hệ số tương quan nhận xét về tương quan giữa chiều cao và đường kính Áp dụng phương trình

Hvn = a + b*D1.3 Từ hệ số tương quan r của phương trình nhận xét về mức độ tương quan giữa 2 nhân tố D1.3 và Hvn

Trang 39

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUÂ ̣N 4.1 Đặc điểm cấu tru ́ c rừng rừng Tràm

4.1.1 Đặc điểm hình thái cây Tràm

Tràm (Melaleuca cajuputi) là loài cây gỗ lớn, vỏ xốp gồm nhiều lớp

nhỏ xếp chồng lên nhau, cành nhỏ, lá có tinh dầu thơm, phiến thon, không lông, có từ 3 - 7 gân phụ Hoa hình gié ở đầu cành, màu trắng, dài từ 3 - 7 cm trên chót gié có chùm lá nhỏ; lá hoa hình giáo dài 5 - 20 mm Hoa không cuống, tụ thành 2 - 3 hoa chụm trong rõ rệt Đài hoa hình trụ, có lông mềm, có

5 thuỳ, dài 0.6 mm , 5 cánh hoa tròn lõm vào trong đài 2 - 2.5 mm, tiểu nhuỵ nhiều, trắng, dài 10 - 12 mm, quả nang gần tròn, đường kính khoảng 4 mm, khai thành 3 lỗ trên 3 buồng, có nhiều hạt tròn hay nhọn dài 1mm, tử điệp dày Cây Tràm thường trổ hoa vào tháng 5 và kết trái vào tháng 11 Theo nhiều ý kiến khác nhau thì cây Tràm là loài cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, tuy

nhiên nhóm loài Melaleuca leucadendron trong đó có những loài Tràm (M.cajuputi) và Tràm lá dài (M leucadendra) là những loài mà cây trưởng

thành có kích cỡ lớn, có thể cao đựoc tới 30m hoặc hơn

Căn cứ vào hình thái vỏ thân cây người ta chia các loài Tràm thành nhiều nhóm, trong đó quan trọng hơn cả là nhóm loài có vỏ dầy gồm nhiều lớp xốp xếp trồng lên nhau giống như xấp giấy mà cây Tràm ở Việt Nam là một điển hình của nhóm này Nhóm này có một đặc điểm sinh thái khá đặc biệt, khác với các nhóm Tràm khác, đó là hầu hết các loài thuộc nhóm này thường gặp trên lập địa đất tốt, ẩm mọc trong loại rừng thưa hỗn loại với các loài cây khác mà thường là với các loài bạch đàn như bạch đàn vỏ trắng

(Eucalyptus alba), bạch đàn têrê (E tereticornis) Chỉ ở các lập địa đầm lầy nước ngập theo mùa các loài Tràm này mới mọc thuần loại Melaleuca

Trang 40

cajuputi là loài Tràm bản địa duy nhất của nước ta và là loài có vùng phân bố

tự nhiên rộng nhất của chi Tràm Theo các tài liệu khoa học mới được công

bố gần đây thì loài Tràm có thể gặp trên nhiều loại đất khác nhau ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, miền Nam Trung Quốc (đảo Hải Nam, Hồng Kông), Malaysia, Tây nam Papua New Ghine, miền duyên hải Bắc nước Úc, Ghine và Nigieria ở châu Phi và Brazil ở Nam

Mỹ Vùng phân bố tự nhiên của Tràm tập trung nhất là từ 18o vĩ Nam đến

Rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) là thảm thực vật thân gỗ có diện tích lớn

nhất và là hệ sinh thái lớn nhất trong vùng Do tác động của con người, hầu hết những cánh rừng Tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là

những cánh rừng Tràm trồng, thuộc loài Melaleuca cajuputi (họ Myrtaceae),

nhưng do được bảo tồn nhiều năm nên có những cụm Tràm phân bố theo kiểu

tự nhiên Hai kiểu phân bố được ghi nhận: tập trung (khoảng 1.826 ha) và Tràm phân tán Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các loài Năng Ống, cỏ Mồm và Hoàng đầu Ấn… Rừng Tràm ta ̣i khu vực nghiên

cứ u có phân bố theo kiểu tập trung là đa số , phân bố phân tán theo đám chiếm

tỷ lê ̣ nhỏ Ở các ao, đìa và đầm lầy ngập nước xuất hiện đa phần là các loài

Ngày đăng: 31/08/2017, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Việt Cường, Phạm Đức Tuấn, 2006. Khả năng phát triển một số giống Tràm (Melaleuca sp) ở các tỉnh miền Bắc và tiềm năng bột giấy của gỗ Tràm. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 1/2006. -16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng phát triển một số giống Tràm (Melaleuca sp) ở các tỉnh miền Bắc và tiềm năng bột giấy của gỗ Tràm
2. Nguyễn Việt Cường, Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Xuân Quát, “Cây Tràm Việt Nam từ nghiên cứu đến sản xuất – sinh thái-chọn giống-lai tạo giống và kỹ thuật gây trồng”, NXB Nông nghiệp 2008.-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cây Tràm Việt Nam từ nghiên cứu đến sản xuất – sinh thái-chọn giống-lai tạo giống và kỹ thuật gây trồng”
Nhà XB: NXB Nông nghiệp 2008.-17
3. Lê Đình Khả, Hoàng Chương, Nguyễn Trần Nguyên, K. Pinyopusarerk, 1999. Chọn giống Tràm cho trồng rừng ở đồng bằng Sông Cửu Long. Hội thảo "Kỹ thuật trồng rừng trên đất phèn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long", Hồ Chí Minh, trang 243 - 266. 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng rừng trên đất phèn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
5. Thái Thành Lượm, 1996. Một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh làm cơ sở đề xuất biện pháp nâng cao sản lượng rừng Tràm vùng tứ giác Long Xuyên. Luận án Tiến sĩ nông nghiệp. Viện KHLN Việt Nam.- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh làm cơ sở đề xuất biện pháp nâng cao sản lượng rừng Tràm vùng tứ giác Long Xuyên
7. Ngô Đình Quế và cộng sự (2003), “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn và tràm ở Việt Nam”. NXB Nông nghiệp. -18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn và tràm ở Việt Nam”
Tác giả: Ngô Đình Quế và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. -18
Năm: 2003
9. Lê Sỹ Việt (2001), “Nghiên cứu thử nghiệm phục hồi rừng trên đất bán ngập ven hồ Hòa Bình”. Trường Đại học Lâm nghiệp.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu thử nghiệm phục hồi rừng trên đất bán ngập ven hồ Hòa Bình”. "Trường Đại học Lâm nghiệp
Tác giả: Lê Sỹ Việt
Năm: 2001
10. Thông tin KHKT Lâm nghiệp (2/2002) “Chuyên đề về cây Tràm”. Viện Khoa học lâm nghiệp Việt nam 2002. 20 Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuyên đề về cây Tràm”
11. Beth Crase, Ian D. Cowie and Carrie R. Michell, 2006. Distribution and conservation status of the rare plants Melaleuca triumphalis and Stenostegia congesta (Myrtaceae), Victoria River district, northern Australia. Australian Journal of Botany, 2006, 54, 641–653 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Distribution and conservation status of the rare plants Melaleuca triumphalis and Stenostegia congesta (Myrtaceae), Victoria River district, northern Australia
12. Bowman D.M.J.S and Rainey I., 1996. Tropical tree stand structures on a seasonally flooded elevation gradien in Northern Australia.Australian Geographer, Vol. 27, No. 1, 1996. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tropical tree stand structures on a seasonally flooded elevation gradien in Northern Australia
13. Bradstock RA, Tozer MG, Keith DA, 1997. Effects of high frequency fire on floristic composition and abundance in a fire-prone heathland near Sydney. Australian Journal of Botany 45, 641–655. 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of high frequency fire on floristic composition and abundance in a fire-prone heathland near Sydney
14. Brinkman, W.J., Xuan, V.T., 1991. Melaleuca leucadendron, a useful and versatile tree for acid sulphate soils and some other poor environments. Int. Tree Crops J. 6, 261–274. 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Melaleuca leucadendron, a useful and versatile tree for acid sulphate soils and some other poor environments
15. Crowley G., et al, 2009. Impact of storm-burning on Melaleuca viridiflora invasion of grasslands and grassy woodlands on CapeYork Peninsula, Australia. Austral Ecology 34, 196–209. 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of storm-burning on Melaleuca viridiflora invasion of grasslands and grassy woodlands on CapeYork Peninsula, Australia
16. Donald C. Franklin, Peter S. Brocklehurst, Dominique Lynch and David M. J. S. Bowman, 2007. Niche differentiation and regeneration in the seasonally flooded Melaleuca forests of northern Australia.Journal of Tropical Ecology 23:457–467 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niche differentiation and regeneration in the seasonally flooded Melaleuca forests of northern Australia
19. Osaki, M. Watanabe, T. Ishizawa, T. Nilnond, C. Nuyim, T. Sittibush, C. Tadano, 1998. Nutritional characteristics in leaves of native plants grown in acid sulphate, peat, sandy podzolic, and saline soils distributed in Peninsular Thailand. Plant Soil 201, 175–182. 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutritional characteristics in leaves of native plants grown in acid sulphate, peat, sandy podzolic, and saline soils distributed in Peninsular Thailand
22. Yamanoshita, T. Nuyim, T. Masumori, M. Tange, T. Kojima, K. Yagi, H. Sasaki, 2001. Growth response of Melaleuca cajuputi to flooding in a tropical peat swamp. J. For. Res. 6, 217–219. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth response of Melaleuca cajuputi to flooding in a tropical peat swamp
23. Yates C, Russell-Smith J, 2003. Fire regimes and vegetation sensitivity analysis: an example from Bradshaw Station, monsoonal northern Australia. International Journal of Wildland Fire 12, 349–358. 39 24. Yoda, K. Kira, T. Ogawa, H. Hozumi, 1963. Self-thinning inovercrowded pure stands under cultivated and natural conditions. J Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fire regimes and vegetation sensitivity analysis: an example from Bradshaw Station, monsoonal northern Australia". International Journal of Wildland Fire 12, 349–358. 39 24. Yoda, K. Kira, T. Ogawa, H. Hozumi, 1963. "Self-thinning in "overcrowded pure stands under cultivated and natural conditions
4. Nguyễn Ngọc Lung, Võ Đại Hải, 1997. Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước.-13 Khác
17. Franklin D.C., and Bowman, D.M.J.S., 2004. A multi-scale biogeographic analysis of Bambusa arnhemica, a bamboo from Khác
18. Kazuo Tanaka, Masaya Masumori, Takashi Yamanoshita, Takeshi Tange, 2001. Morphological and anatomical changes of Melaleuca cajuputi under submergence 42 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w