Mi mắt là một bộ phận rất nhỏ của cơ thể nhưng lại có chức năng bảo vệ đôi mắt, là một trong những giác quan quan trọng nhất của con người. Nhờ cấu tạo đặc biệt, mi mắt có chức năng nhắm mở mắt, bảo vệ nhãn cầu chống lại tác động của các yếu tố bên ngoài, ngoài ra nó còn tham gia thể hiện tình cảm cùng với toàn bộ khuôn mặt. Sụp mi bẩm sinh là một trong những bệnh thường gặp ở trẻ em. Trong một công trình nghiên cứu về tình hình các bệnh mắt và mù lòa ở trẻ em dưới 5 tuổi ở miền bắc Việt Nam (1985-1986) cho thấy tỉ lệ sụp mi bẩm sinh là 0,18% tương đương với lác và cao hơn nhiều so với các bệnh khác như: sẹo giác mạc 0,14%, viêm màng bồ đào 0,03%, bệnh hắc võng mạc và thị thần kinh 0,1%, đục thể thủy tinh bẩm sinh và glô-côm bẩm sinh 0,03% [4]. Sụp mi bẩm sinh có ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng thị giác. Theo Hornblass A, Kass LG và Ziffer AJ có 19% bệnh nhân sụp mi bẩm sinh bị nhược thị [36]. Anderson RL và Baumgartner SA nghiên cứu trên 123 bệnh nhân sụp mi (bao gồm cả sụp mi mắc phải và sụp mi bẩm sinh) cho thấy tỉ lệ nhược thị là 20% [14]. Ngoài ra theo một công trình nghiên cứu khác các tác giả nhận thấy có 3,5% bệnh nhân bị lác là do sụp mi [13]. Vì vậy vấn đề điều trị sụp mi bẩm sinh sớm là rất cần thiết vì nó giải quyết được vấn đề thẩm mỹ, duy trì chức năng thị giác và còn phòng ngừa nhược thị hay lác thứ phát. Tuy nhiên việc quyết định tuổi bắt đầu điều trị là vấn đề cần được quan tâm. Điều trị sụp mi bẩm sinh chủ yếu là bằng phẫu thuật, có rất nhiều phương pháp phẫu thuật đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến [3], [37], [49], [56]. Tại Việt Nam việc nghiên cứu điều trị sụp mi bẩm sinh chưa có nhiều. Tại viện Mắt việc điều trị sụp mi đã thực hiện từ lâu, bằng các phương pháp: Hervouet, Motais hoặc Dickey [12]. Đến năm 1982 Hà Huy Tiến ứng dụng phương pháp Faden trong điều trị sụp mi bẩm sinh một mắt [11]. Từ năm 1988 phương pháp rút ngắn cơ nâng mi trên được áp dụng để điều trị sụp mi và đã được báo cáo tổng kết vào năm 1991 [9]. Năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Minh Thông nghiên cứu điều trị sụp mi bẩm sinh có chức năng cơ nâng mi kém bằng phương pháp Berke cải tiến [10]. Tuy nhiên phẫu thuật sụp mi là một loại phẫu thuật khó thực hiện chính xác vì việc định lượng chưa được quy định rõ ràng, mặc dù có đến hàng trăm phương pháp khác nhau nhưng chưa có phương pháp nào hoàn chỉnh được mọi người nhất trí. Vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Góp phần nghiên cứu điều trị sụp mi bẩm sinh bằng phương pháp rút ngắn cơ nâng mi trên " nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả của phương pháp phẫu thuật rút ngắn cơ nâng mi trên đối với sụp mi bẩm sinh. 2. Bước đầu tìm hiểu mối liên quan giữa mức độ sụp mi, tình trạng chức năng cơ và lứa tuổi đối với kết quả của phẫu thuật
Trang 1Đặt vấn đề
Mi mắt là một bộ phận rất nhỏ của cơ thể nhưng lại cú chức năng bảo vệđụi mắt, là một trong những giỏc quan quan trọng nhất của con người Nhờcấu tạo đặc biệt, mi mắt cú chức năng nhắm mở mắt, bảo vệ nhón cầu chốnglại tỏc động của cỏc yếu tố bờn ngoài, ngoài ra nú cũn tham gia thể hiện tỡnhcảm cựng với toàn bộ khuụn mặt Sụp mi bẩm sinh là một trong những bệnhthường gặp ở trẻ em Trong một cụng trỡnh nghiờn cứu về tỡnh hỡnh cỏc bệnhmắt và mự lũa ở trẻ em dưới 5 tuổi ở miền bắc Việt Nam (1985-1986) chothấy tỉ lệ sụp mi bẩm sinh là 0,18% tương đương với lỏc và cao hơn nhiều sovới cỏc bệnh khỏc như: sẹo giỏc mạc 0,14%, viờm màng bồ đào 0,03%, bệnhhắc vừng mạc và thị thần kinh 0,1%, đục thể thủy tinh bẩm sinh và glụ-cụmbẩm sinh 0,03% [4]
Sụp mi bẩm sinh cú ảnh hưởng rừ rệt đến chức năng thị giỏc TheoHornblass A, Kass LG và Ziffer AJ cú 19% bệnh nhõn sụp mi bẩm sinh bịnhược thị [36] Anderson RL và Baumgartner SA nghiờn cứu trờn 123 bệnhnhõn sụp mi (bao gồm cả sụp mi mắc phải và sụp mi bẩm sinh) cho thấy tỉ lệnhược thị là 20% [14] Ngoài ra theo một cụng trỡnh nghiờn cứu khỏc cỏc tỏcgiả nhận thấy cú 3,5% bệnh nhõn bị lỏc là do sụp mi [13]
Vỡ vậy vấn đề điều trị sụp mi bẩm sinh sớm là rất cần thiết vỡ nú giảiquyết được vấn đề thẩm mỹ, duy trỡ chức năng thị giỏc và cũn phũng ngừanhược thị hay lỏc thứ phỏt Tuy nhiờn việc quyết định tuổi bắt đầu điều trị làvấn đề cần được quan tõm Điều trị sụp mi bẩm sinh chủ yếu là bằng phẫuthuật, cú rất nhiều phương phỏp phẫu thuật đó được cỏc tỏc giả trong và ngoàinước đề cập đến [3], [37], [49], [56] Tại Việt Nam việc nghiờn cứu điều trịsụp mi bẩm sinh chưa cú nhiều Tại viện Mắt việc điều trị sụp mi đó thực hiện
từ lõu, bằng cỏc phương phỏp: Hervouet, Motais hoặc Dickey [12] Đến năm
1982 Hà Huy Tiến ứng dụng phương phỏp Faden trong điều trị sụp mi bẩm
Trang 2sinh một mắt [11] Từ năm 1988 phương pháp rút ngắn cơ nâng mi trên được
áp dụng để điều trị sụp mi và đã được báo cáo tổng kết vào năm 1991 [9].Năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Minh Thông nghiên cứu điều trịsụp mi bẩm sinh có chức năng cơ nâng mi kém bằng phương pháp Berke cảitiến [10] Tuy nhiên phẫu thuật sụp mi là một loại phẫu thuật khó thực hiệnchính xác vì việc định lượng chưa được quy định rõ ràng, mặc dù có đến hàngtrăm phương pháp khác nhau nhưng chưa có phương pháp nào hoàn chỉnhđược mọi người nhất trí
Vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Góp phần nghiên cứu điều trị sụp mi bẩm sinh bằng phương pháp rút ngắn cơ nâng mi trên " nhằm
Trang 3Ch¬ng 1
Tæng quan1.1 CÊu t¹o Gi¶i phÉu vµ sinh lý häc mi m¾t
1.1.1 CÊu t¹o gi¶i phÉu häc cña mi m¾t
M« díi da: Nh·o, kh«ng chøa m« mì [5], [7].
Líp c¬
Mi m¾t cã 2 c¬ chÝnh: C¬ n©ng mi trªn vµ c¬ vßng cung
mi, nhiÖm vô chñ yÕu cña hai c¬ nµy lµ më vµ nh¾m m¾t,ngoµi ra cßn cã ba c¬ n÷a Ýt quan träng h¬n lµ: c¬ Muller, c¬Riolan vµ c¬ Horner [6]
Trang 4• Cơ nâng mi trên
Hình 2: Cơ nâng mi (nhìn từ trên)
*Phôi thai học: cơ nâng mi trên có nguồn gốc từ trung bì
cùng với cơ trực trên và cơ chéo trên (vì vậy bệnh lý của cơnâng mi thờng phối hợp với 2 cơ này) Trong thời kỳ phôi thaicơ trực trên xuất hiện trớc, rồi đến cơ chéo và sau cùng là cơnâng mi trên Từ tháng thứ 2 của bào thai, phần cuối cùng củacơ nâng mi ra khỏi bờ trên của sụn và tiến ra mặt trớc củasụn mi trên Đến tháng thứ t cơ nâng mi mới phát triển hoànchỉnh và gắn vào nửa dới mặt trớc của sụn bởi những dải môliên kết
*Giải phẫu học cơ nâng mi trên:
Cơ nâng mi trên là một cơ dài xuất phát từ gân Zinn, đithẳng ra trớc, sát thành trên hốc mắt và đi phía trên cơ trựctrên Khi ra phía trớc cơ xoè ra nh hình nan quạt, đến bờ trên
Trang 5hốc mắt thì dẹt dần và bám tận vào mi trên ở 2 phần: phầntrên, các thớ cơ xuyên qua các bó sợi cơ vòng cung mi và bámtận vào lớp sau da mi trên, phần dới dính vào nửa dới mặt trớcsụn
- Mạch máu của cơ nâng mi:
+ Động mạch: các nhánh của động mạch mắt đi vào cơnâng mi theo bờ trong của cơ, đôi khi còn có một nhánh của
động mạch trên hốc đến nuôi vùng này Ngoài ra ở phía trớccơ nâng mi còn nhận nhánh của động mạch lệ đi vào theo
bờ ngoài của cơ
+ Tĩnh mạch: Tập trung ở phần trớc của cơ
ở phần hốc mắt của cơ, máu chảy về phía trong thì theotĩnh mạch mắt hay rễ trên của tĩnh mạch này, phía ngoàithì theo tĩnh mạch lệ
ở phần mi, các tĩnh mạch của cơ nâng mi đổ cả vào cungtĩnh mạch trên sụn
- Thần kinh chi phối: cơ nâng mi do thần kinh III chi phối
• Cơ vòng cung mi: là một cơ vân, mỏng, dẹt gồm nhiều
bó sợi tròn đồng tâm, có nhiệm vụ nhắm kín mắt Cơ gồm 2phần:
- Phần mi: ở ngay trên mặt sụn mi, gồm nhiều bó sợi:
Một bó nhỏ sát ngay bờ mi
Một bó ở ngay trớc mặt sụn
Một bó ở cao hơn, ngay trớc vách ngăn
- Phần hốc mắt: phần cơ này rải rộng: trên xơng tránphần trớc của hố thái dơng, phần trên xơng gò má và cành trêncủa xơng hàm trên
Trang 6- Thần kinh chi phối: do thần kinh VII.
• Cơ Muller: Là một cơ trơn, bé đi từ mặt dới cơ nâng mi
đến phần trên của sụn mi trên Chiều rộng của cơ phía trênkhoảng 15mm, phía dới khoảng 10mm
Cơ Muller do thần kinh giao cảm chi phối
• Cơ riolan: là một cơ bé, kích thớc rộng khoảng 1mm, dày
1mm nằm trong khoảng giữa hàng chân lông mi và kết mạc.Cơ đi từ mào lệ lợn qua 2 lệ quản rồi đến góc ngoài khe mi
và dính vào giữa 2 phần của dây chằng mi ngoài
bờ xa các sụn mi trên và dới có cơ sụn mi trên và cơ sụn mi dới
ở hai đầu ngoài và trong các sụn mi có dây chằng mi ngoài
và dây chằng mi trong [5], [7]
Vách ổ mắt là một màng xơ đàn hồi ngăn cách mi mắtvới các tổ chức trong hốc mắt, đi từ bờ xơng hốc mắt, nối vớisụn mi và các dây chằng mi Khi phẫu thuật ở mi nếu làmrách nó, mỡ trong hốc mắt sẽ phòi ra
Lớp kết mạc: Là lớp trong cùng của mi mắt, nó là
phần mi của kết mạc mắt [5], [7]
Trang 71.1.2 Sinh lý ứng dụng lâm sàng của mi mắt
Mi mắt có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nhãn cầuchống lại các yếu tố bên ngoài nh: ánh sáng, sức nóng, bụibặm và các dị vật khác, nhờ động tác nhắm mắt do cơvòng cung mi thực hiện dới sự điều khiển của thần kinh VII.Ngoài ra nhờ động tác chớp mắt, mi mắt dàn đều nớc mắtlên giác mạc và kết mạc, đảm bảo độ ớt cần thiết cho các tổchức này Bình thờng mi trên đợc nâng lên trong động tác mởmắt nhờ sự hợp lực của 3 cơ: cơ Muller, cơ trán và đặc biệt
là cơ nâng mi trên Cơ Muller tham gia nâng mi khoảng2mm, cơ trán nâng mi khoảng 3mm Riêng cơ nâng mi trên
đóng vai trò quan trọng nhất vì nó có thể nâng mi lên đợc10-12mm [6]
Trang 81.2 Bệnh học sụp mi
1.2.1 Định nghĩa
Sụp mi là sự sa của mi mắt trên xuống thấp hơn vị tríbình thờng của nó (bình thờng mi trên phủ rìa giác mạc cựctrên khoảng 1 - 2mm) [17], [28], [54]
1.2.2 Phân loại
Vấn đề xác định loại của sụp mi thì rất quan trọng vì
nó hớng chúng ta đến việc điều trị thích hợp Có nhiều cáchphân loại sụp mi, tuy nhiên đa số các tác giả đều chia thành
2 nhóm chính là sụp mi bẩm sinh và sụp mi mắc phải [32],[51], [55], [57], [58], [59]
1.2.2.1 Sụp mi bẩm sinh: chiếm 75% trờng hợp sụp mi,
xuất hiện sớm ngay từ lúc mới sinh, mức độ từ nhẹ đến trungbình, độ sụp không thay đổi trong ngày và có thể bị cả haimắt
a Sụp mi bẩm sinh đơn thuần:
- Thờng gặp nhất, 1 hoặc 2 bên
- Có thể kết hợp với tật khúc xạ
- ít gây nhợc thị
b.Sụp mi phối hợp với những bất thờng bẩm sinh khác:
* Sụp mi bẩm sinh phối hợp với bất thờng vận nhãn:
Trang 9- Sụp mi phối hợp với yếu cơ thẳng trên (5 đến 10%),
do mối liên hệ giữa cơ nâng mi trên và cơ thẳng trên trong
thời kỳ bào thai [38], [54]
Trang 10ảnh 1.2.A ảnh 1.2.B
ảnh 1.2.A, 1.2.B: bệnh nhân sụp mi MT trong hội chứngMarcus-Gunn
Hội chứng này bao gồm:
Sụp mi, thờng là sụp mi một bên và hay gặp bên mắttrái [15]
Đồng động tác hàm - mi (mi trên bị kéo lên cùng với sựchuyển động của hàm dới) Mi mắt nâng lên khi bệnh nhânhá miệng hoặc xơng hàm dới chuyển động sang bên đốidiện với mắt sụp mi Điều này đợc giải thích do một vài sợithần kinh V bị dẫn truyền sai vào nhánh của thần kinh III
điều khiển cơ nâng mi trên [15]
Thờng có rối loạn vận nhãn (liệt cơ trực trên)
* Sụp mi bẩm sinh kết hợp với những dị dạng ở mặt:
Trang 11Lộn mi dới bẩm sinh.
1.2.2.2 Sụp mi mắc phải: chiếm 25% trờng hợp [56].
Sụp mi mắc phải có thể xuất hiện lúc sinh và do đó cóthể bị nhầm với sụp mi bẩm sinh, đợc chia thành 4 nhóm [26],[31], [51]
a Sụp mi do thần kinh (nguồn gốc trung tâm hoặc ngoại
b Sụp mi do cơ: bao gồm những trờng hợp sụp mi do bất
thờng của cơ hoặc cân cơ nâng mi
- Nhợc cơ: do giảm số lợng các thụ thể acetylcholin ở chỗnối thần kinh cơ, do một kháng thể trung gian tự miễn pháhuỷ đợc gọi là kháng thể chống thụ thể acetylcholin, dẫn đếnhậu quả là sợi cơ không đáp ứng với kích thích thần kinh
Sụp mi một bên thờng là dấu hiệu đầu tiên của bệnh Độ sụp mi thay đổi trong ngày, buổi chiều sụp nhiềuhơn buổi sáng hoặc tăng lên khi mệt mỏi
Rối loạn vận nhãn (song thị) và một vài dấu hiệu khácnh: nói khó, nuốt khó, khó thở
Trang 12Bệnh nhân nhợc cơ có phì đại tuyến ức do cơ chế tựmiễn.
Test prostigmine hoặc tensilon(+)
- Sụp mi do cân:
Thờng gặp ở ngời lớn tuổi
Nguyên nhân thờng do chấn thơng
Sụp mi mức độ trung bình hoặc nhẹ, chức năng cơnâng mi trên thờng còn tốt
Nếp mi nằm ở vị trí cao, mi mỏng
c Sụp mi do chấn thơng:
Có thể phối hợp với nhiều yếu tố nh thần kinh, cơ, cơ học,
do đó thờng khó điều trị [51] Thờng gặp trong những trờnghợp chấn thơng đầu và hốc mắt làm tổn thơng thần kinhvận nhãn
Đứt mi trên cùng với đứt cơ nâng mi có thể phối hợp với
d Sụp mi do yếu tố cơ học: là những trờng hợp mi mắt
sụp xuống do sức nặng của những khối u lành tính hoặc áctính ở mi trên hoặc phần trớc của hốc mắt, nó cũng bao gồmnhững trờng hợp sẹo gây cản trở sự nâng mi
Trang 13Do u: những u lành tính hoặc ác tính làm tăng sứcnặng của mi trên là u sợi thần kinh (neurofibroma), u mạchmáu (hemangioma), carcinoma tế bào đáy, carcinoma tế bàovẫy
Sa da mi : thờng gặp ở ngời già
Bệnh lý sẹo (rách cân, xơ hóa cơ, bọng pemphigus,mắt hột, bỏng )
Cần phải phân biệt sụp mi thực sự với giả sụp mi
1.2.2.3 Giả sụp mi: Là tình trạng mi mắt trông có vẻ
thấp hơn bình thờng, nguyên nhân gồm:
- Epicanthus và sự không cân đối của khuôn mặt
- Thừa da mi trên quá mức
- Rộng khe mi bên đối diện
- Hẹp khe mi phối hợp với hội chứng Duane's
- Lác lên hoặc lác xuống đối bên
- Lõm mắt hoặc lồi mắt bên đối diện
1.2.3 Cơ chế bệnh sinh của sụp mi bẩm sinh
Có nhiều ý kiến khác nhau về bệnh sinh của sụp mi bẩmsinh
- Berke và Wadsworth nghiên cứu trên 82 tiêu bản GPB củacơ nâng mi đợc lấy từ phẫu thuật và quan sát bằng kính hiển
vi thu đợc kết quả nh sau:
Trong sụp mi mắc phải thì tất cả các mẩu cơ làm xétnghiệm đều tìm thấy sợi cơ vân
ở nhóm sụp mi bẩm sinh nhẹ tất cả các tiêu bản GPB
đều có sợi cơ vân, mặc dù đôi khi tha thớt
Trang 14Trong khi ở nhóm sụp mi bẩm sinh trung bình chỉ có54% số tiêu bản làm xét nghiệm có sợi cơ vân nhng tha thớt
- Theo Sullivan JH (1995) trong sụp mi bẩm sinh sợi cơ vâncủa cơ nâng mi bị thay thế bởi mô sợi và mô mỡ [49], [50]
- Clark BJ, Kemp EG, Behan WMH và Lee WR (1995) quansát 15 mẩu cơ nâng mi lấy từ bệnh nhân sụp mi bẩm sinh đ-
ợc mổ rút ngắn cơ nâng mi Kết quả nh sau: tất cả các mẩucơ đều có sự giảm số lợng sợi cơ Ngoài ra 4 trong số 15 mẩu
có sự hiện diện của chất bất thờng ở ngoài tế bào Khi xemxét dới kính hiển vi quang học thì những chất này có hìnhdạng không cố định và sắp xếp thành từng đám hoặc từngdải, dới kính hiển vi điện tử thì nó sắp xếp thành những bósợi song song Collagen type III và fibronectin đợc tìm thấytrong những chất này bằng phản ứng miễn dịch tế bào Tácgiả cho rằng những chất này là nguyên nhân gây loạn dỡng
Trang 15mô cơ nâng mi Tuy nhiên nguồn gốc và thành phần củanhững chất này còn đang đợc nghiên cứu [25].
1.2.4 Thăm khám và đánh giá
Trong sụp mi bẩm sinh cần xác định tiền sử gia đình, dịdạng mi và hốc mắt, chấn thơng sản khoa Khi thăm khám cầnxem sụp mi ở một hay hai bên, mức độ sụp mi, chức năng cơnâng mi và các dấu hiệu khác kèm theo [3]
Theo Buerger DH [23] khi khám bệnh nhân sụp mi cầnphải tiến hành theo 7 bớc đợc viết tắt thành từ DESTINY,trong đó:
- D (droop): độ sụp mi
- E (excursion): biên độ hoạt động của cơ nâng mi
- S (Superior rectus function): chức năng cơ thẳngtrên
- T (tearing): khảo sát chế tiết nớc mắt bằng testschirmer
- I (Iliff test): xác định chức năng cơ nâng mi ở trẻnhỏ
- N (nerves): đánh giá sự nhạy cảm của giác mạc vàtrình trạng nhợc cơ
- Y (yawn): dấu hiệu Bell và Jaw- Wink
Theo Hội nhãn khoa Mỹ ở mỗi bệnh nhân sụp mi cần đo 4yếu tố lâm sàng: độ cao khe mi, khoảng cách bờ mi-tâm
đồng tử, vị trí nếp gấp da mi trên, và chức năng cơ nâng mi.Những dữ liệu này đợc ghi lại bằng hình vẽ: bao gồm giácmạc, kích thớc đồng tử, và vị trí của mi trên và mi dới đối vớicấu trúc này [1]
Trang 16Có nhiều cách đánh giá mức độ sụp mi.
* Theo Phan Dẫn dựa vào 2 yếu tố:
- Đo độ rộng của khe mi khi mắt ở t thế nhìn thẳng(bình thờng khoảng 9 - 10mm) [24]
- Vị trí bờ tự do mi so với vùng rìa và đồng tử, bình ờng bờ tự do mi trên nằm ở điểm giữa khoảng cách nối giữavùng rìa mi trên với bờ trên của đồng tử
th-Sụp mi có thể phân độ nh sau:
+ Nhẹ: Khi bờ tự do ở trên đồng tử (2 mm)
+ Vừa: Khi bờ tự do ở sát ngay bờ trên đồng tử (3 mm)+ Nặng: Khi bờ tự do phủ lên đồng tử một phần haytoàn bộ đồng tử (4mm hay hơn nữa)
* Theo Beard: đánh giá mức độ sụp mi bằng việc xác
định khoảng cách của bờ tự do mi trên so với rìa giác mạc cựctrên bằng thớc đo milimét Cho bệnh nhân nhìn thẳng, xác
Trang 17định vị trí cực trên rìa giác mạc ở thớc đo milimet, sau đóxác định vị trí của bờ tự do Khoảng cách của 2 điểm trên
đợc coi là mức độ che phủ mi trên với giác mạc
Sụp mi có thể phân độ nh sau:
+ Nhẹ: khi bờ mi trên phủ rìa giác mạc 4mm
+ Trung bình: khi bờ mi trên phủ rìa giác mạc 5mm + Nặng: khi bờ mi trên phủ rìa giác mạc 6mm hoặchơn
* Theo một số tác giả khác [1], [37].
Xác định mức độ sụp mi bằng cách đo khoảng cách bờmi-tâm đồng tử: là khoảng cách từ bờ mi trên đến điểmphản quang trên giác mạc ở t thế nguyên phát Điểm phảnquang có thể bị mi che lấp trong những trờng hợp sụp minặng, do đó có giá trị âm Giác mạc có đờng kính trungbình là 11mm, nếu bờ mi ngang tâm giác mạc thì mi mắttrên sẽ phủ rìa giác mạc 5,5mm Sụp mi đợc phân độ nh sau:
+ Nhẹ : khi bờ mi trên phủ rìa giác mạc 4mm + Trung bình : khi bờ mi trên phủ rìa giác mạc5mm
+ Nặng : khi bờ mi trên phủ rìa giác mạc ≥
Trang 18Bình thờng khoảng cách này từ 12 - 15mm, chức năng cơnâng mi đợc chia thành 3 mức độ nh sau:
b Tình trạng giác mạc
- Đánh giá cảm giác giác mạc (tăng hay giảm cảm giác) haychế tiết nớc mắt (có khô mắt không) , nếu có thì nguy cơ bịviêm giác mạc sau mổ cao
Trang 19c Dấu hiệu đồng vận mi - xơng hàm dới trong hội chứng Marcus -Gunn
+ Lật mi dới phía ngoài
+ Thiếu hụt da mi hay còn gọi mi nhỏ blepharie)
1.2.4.5.Các xét nghiệm để chẩn đoán sụp mi do nhợc cơ
a.Test prostigmine
Tiêm bắp 1-1.5mg prostigmine, trớc đó 10 phút, tiêm0,5mg atropin để chống tác dụng phụ của prostigmine.Nghiệm pháp prostigmine(+) khi: sụp mi mất đi sau 30 phút
và kéo dài 2 giờ
b.Test tensilon
Tổng liều là 10mg, chia liều nhỏ để tiêm dần, đầu tiêntiêm 2mg tĩnh mạch, 1 phút sau nếu sụp mi không giảm thìtiêm thêm 4mg, 1-2 phút sau không giảm lại thêm 4mg nữa
1.2.5 Sự liên quan giữa sụp mi và nhợc thị
- Theo Anderson (1980) trớc đây ngời ta cho rằng nhợc thị
là hậu quả của lác, lệch khúc xạ và những rối loạn bẩm sinhkhác nh: rung giật nhãn cầu, sụp mi phức tạp (sụp mi phối hợpvới u sợi thần kinh hoặc u mạch máu) Nhng qua nghiên cứu của
Trang 20tác giả trên 123 bệnh nhân sụp mi đơn thuần cho thấy tỉ lệnhợc thị 20%, và đề nghị khám cẩn thận những trờng hợp sụp
mi bẩm sinh để phát hiện và điều trị nhợc thị [14]
- Merriam, Ellis và Helveston (1980) theo dõi 65 bệnhnhân sụp mi bẩm sinh thấy có 19 bệnh nhân có bất thờng vềchức năng (lệch khúc xạ, lác và nhợc thị) chiếm tỉ lệ 29%[44]
- Hornblass (1995) thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống
mi có tỉ lệ cận thị cao hơn so với ngời không sụp mi và tỉ lệcận ở mắt sụp mi cao hơn mắt bên kia (15% so với 4,4%)[33],[34]
1.2.6 Vấn đề tuổi bắt đầu điều trị
- Theo Anderson và Baumgartner thì phẫu thuật sụp mi
có thể thực hiện ở bất cứ tuổi nào mà trẻ có thể hợp tác khi
Trang 21khám để đánh giá mức độ sụp mi và chức năng cơ nâng mi,thờng là từ 3-5 tuổi Tuy nhiên nếu không có nhợc thị thì cóthể chờ trẻ lớn hơn để cho cấu trúc ổ mắt phát triển hoànchỉnh và giảm nguy cơ của tai biến gây mê [14].
- Theo Beard và một số tác giả khác thì trẻ từ 3 hoặc 4tuổi là thời điểm có thể khám và đánh giá, tuy mức độchính xác phụ thuộc vào khả năng hợp tác của trẻ [16]
- Spaeth EB (1971) hầu hết các trờng hợp đều có thể mổtrớc tuổi đi học [48]
- Tuy nhiên theo nghiên cứu của Merrian (1980) theo dõitrong 3 năm của 65 trờng hợp mổ sụp mi thấy có 10 bệnhnhân có sự xuất hiện hoặc tăng mức độ loạn thị ở mắt mổ,trong đó có 4 bệnh nhân nhợc thị do loạn thị Tác giả chorằng mổ sụp mi ở trẻ nhỏ có thể là nguyên nhân góp phầnvào sự phát triển của loạn thị và nhợc thị [44]
1.3 Các phơng pháp điều trị sụp mi bẩm sinh
Sụp mi bẩm sinh chủ yếu đợc điều trị bằng phẫu thuật
Có rất nhiều phơng pháp phẫu thuật để điều trị sụp mi
và Tessier(1956) kết hợp cắt bỏ một phần da và phần giữa
Trang 22của cơ vòng cung mi đờng trớc, cắt bỏ một phần sụn và kếtmạc đờng phía sau [2], [10].
- Dickey (1936), Stallard (1965) dùng một dải cân cơ đùi
để nối cơ trực trên vào sụn [32], [37]
b Dùng cơ trán để hỗ trợ sự nâng mi [28], [29], [49], [52]
Nhiều tác giả dựa vào hoạt động của cơ trán để hỗ trợ sựnâng mi bằng các phẫu thuật treo mi trên lên cơ trán Nguyênliệu sử dụng cho phẫu thuật này rất phong phú
Dransart (1880) dùng chỉ catgut để treo mi trên lên cơtrán, trong khi các tác giả khác: Pagenstecher (1881), Wecker(1882), Hess (1894), Friedenwald và Guyton (1948) thì dùngchỉ silk Mules (1895) và Harman (1903) thì dùng các kim loạinh: vàng, bạc, platin
Trang 23Sau đó một số tác giả dùng chính mô của cơ thể làmnguyên liệu để treo mi:
Panas (1886), Tansley (1895) dùng vạt da mi làm nguyênliệu để treo vào cơ trán Wright (1922), Derby (1928),Gutman (1965), Falls (1967) và Billet (1968) dùng cân cơ đùi
để treo mi Neuhaus và Shorr (1983), Fan (2001) thì dùngcân cơ thái dơng làm chất liệu treo mi vào cơ trán
Năm 1972 Callahan đề nghị treo mi trên lên cơ trán chocả 2 mi trong trờng hợp sụp mi một bên để tạo sự cân đối Năm 1995 Sullivan JH giới thiệu phơng pháp treo mi vàocơ trán bằng silicon
Wasserman BN, Sprunger DT và Helveston EM (2001) sosánh những nguyên liệu đợc sử dụng trong phẫu thuật treo cơtrán
- Blascovics (1923) cắt cơ nâng mi qua đờng từ phía saungang qua kết mạc
- Cắt ngắn cơ nâng mi bằng đờng qua da đợc giới thiệubởi Eversbusch (1883) và đợc hoàn thiện bởi nhiều tác giảkhác nh Bodian (1953), Leahey (1953), Johnson (1954) [28]
Trang 24- Cắt ngắn cơ nâng mi và sụn từ đờng kết mạc, cắt dahình ellip đợc thực hiện bởi Hervouet và Tessier (1956) [28].
- Berke (1959) [19] so sánh kết quả phẫu thuật rút ngắncơ nâng mi của 108 mắt đợc mổ đờng phía trớc qua da và
78 mắt từ đờng phía sau qua kết mạc, thấy rằng đờng phíatrớc qua da cho kết quả tốt hơn Tác giả cũng đa ra công thức
điều chỉnh bờ tự do mi mắt trong phẫu thuật nh sau:
Bảng 1.1: Điều chỉnh độ cao bờ tự do trong phẫu thuật theo
3 - 4
mm dớirìa
2 - 3
mm dớirìa
1 - 2
mm dớirìa
Sátrìa
- Năm 1966 Beard [Tr.d.56] đề nghị mức độ cắt cơ dựatheo độ sụp mi và chức năng cơ nâng mi trên nh sau:
Trung bình (5 - 7 mm)
Yếu (≤ 4 mm)Nhẹ (≤ 2mm) 10 - 13
Trang 25mmTrung bình
mi
≥ 23mm kết hợpvới chuyển cơ ratrớc sụn và cắtbớt da
- Smith (1969) phẫu thuật 148 bệnh nhân sụp mi bẩmsinh đạt tỉ lệ thành công là 73% [47]
- Mauriello JA (1986) điều trị sụp mi bẩm sinh bằng cáchcắt ngắn cơ nâng mi tối đa ở những bệnh nhân sụp minặng cho thấy kết quả tốt hơn là treo cơ nâng mi lên cơ trán[42]
- Blomgren và Holmstrom (1986) phẫu thuật 55 mắt bịsụp mi bẩm sinh bằng phơng pháp rút ngắn cơ nâng mi trên
đạt đợc kết quả rất khả quan Tác giả khẳng định rằng
ph-ơng pháp này có thể áp dụng cho tất cả những trờng hợp sụp
mi bẩm sinh, ngay cả những trờng hợp sụp mi nặng [22]
- Berlin (1989) phẫu thuật 58 mắt sụp mi bẩm sinh thấy
tỉ lệ thành công giảm đi sau thời gian theo dõi (69% ở thời
điểm 6 tuần và chỉ còn 52% sau thời gian theo dõi từ 4 đến
7 tháng) [21]
- Whitehouse, Grigg và Martin (1995) phẫu thuật 80 mắtcủa 65 bệnh nhân trong đó có 30 mắt đợc mổ bằng phơngrút ngắn cơ nâng mi trên cho thấy tỉ lệ thành công là 75,3%[53]
- Signorini (2000) phẫu thuật 131 mắt sụp mi bẩm sinhbằng 2 phơng pháp: rút ngắn cơ nâng mi đối với chức năng
Trang 26cơ tốt và trung bình, treo mi lên cơ trán đối với những trờnghợp chức năng cơ yếu [46].
- Tại Việt Nam vào năm 1991 Hà Huy Tài báo cáo tổng kếtbớc đầu điều trị sụp mi bẩm sinh cho 103 bệnh nhân thu đ-
ợc kết quả đáng khích lệ Tác giả cho rằng phơng pháp rútngắn cơ nâng mi trên có nhiều u điểm hơn các phơng phápkhác [9]
- Lê Minh Thông (1996) nghiên cứu cải tiến phơng phápBerke trong điều trị sụp mi bẩm sinh có chức năng cơ kém.Cho kết quả nh sau: thành công là 84% ( tốt chiếm tỉ lệ 27%
và trung bình là 57%) và thất bại 16% [10]
Trang 271.4 Các biến chứng thờng gặp sau mổ sụp mi
Theo Beard [15] kết quả hoàn hảo sau phẫu thuật sụp mibao gồm những tiêu chuẩn sau:
(1)- Bờ mi ở vị trí bình thờng, không bị biến dạng vàcân xứng hoàn toàn ở tất cả các hớng nhìn
(2)- Có sự đồng bộ trong cử động chớp mi giữa hai mắt.(3)- Nếp mi có độ cong bình thờng và cân xứng hai bên.(4)- Không hở mắt khi ngủ
(5)- Không bị loét giác mạc do hở
Theo tác giả chỉ đạt đợc kết quả hoàn hảo ở những bệnhnhân sụp mi nhẹ và chức năng cơ nâng mi tốt Nếu kết quảkhông hoàn hảo đợc xem là biến chứng thì sẽ có 1 số lợng lớnbệnh nhân bị biến chứng trong phẫu thuật sụp mi Do đó taphải chấp nhận 1 kết quả ít mỹ mãn hơn, chúng ta chỉ xembiến chứng ở những điều mà ta có thể tránh đợc trong lúc
mổ hoặc trong thời gian theo dõi hậu phẫu
Theo Berke [Tr.d.10] một kết quả hoàn hảo phải hội đủcác tiêu chuẩn sau:
(1)- Độ sụp mi phải đợc điều chỉnh đúng ở mọi hớngnhìn so với rìa giác mạc cực trên
(2)- Độ cong bờ mi trên phải đều đặn, không có sự biếndạng nào
(3)- Nếp mi đôi đều hai bên
(4)- Mi mắt nhắm mở bình thờng
Trang 28(5)- Sự chớp nháy bình thờng của mi phải đợc bảo tồn.(6)- Không hở mi khi ngủ.
(7)- Không có sự tham gia nâng mi bằng cơ trán khi nhìnthẳng
(8)- Không có song thị và lác xảy ra sau mổ
Berke cũng cho rằng một kết quả hoàn hảo nh vậy cũngkhông thể đạt đợc bởi bất kỳ phơng pháp phẫu thuật nào Do
đó phẫu thuật viên phải chọn tiêu chuẩn nào trong số đó làquan trọng nhất và bỏ qua những tiêu chuẩn khác
Các biến chứng thờng gặp sau mổ sụp mi là:
1-Chỉnh quá mức:
Biến chứng này ít gặp trong phẫu thuật sụp mi bẩm sinh
và thờng gặp trong sụp mi mắc phải Trong sụp mi bẩm sinhbiến chứng này hay gặp ở những trờng hợp mổ lại lần 2 [15],[23], [26], [47]
Khi chỉnh quá mức xảy ra trên bệnh nhân có chức năngcơ kém thì có thể theo dõi và chờ đợi trong vài tuần vì mimắt có xu hớng hạ xuống trong trờng hợp này Trong thời giannày có thể dùng phơng pháp massge Khi chỉnh quá mức ởbệnh nhân có chức năng cơ trung bình hoặc tốt thì có chỉ
định điều trị sớm [15] Các phơng pháp điều chỉnh nh sau:
- Massage mi trên, thực hiện trong 2 hoặc 3 ngày đầusau mổ [15], [37]
Trang 29- Chỉnh quá mức nếu kéo dài sau 2 tuần có thể đợc điềuchỉnh bằng cách rạch cân cơ nâng mi theo phuơng pháp củaBerke: mi mắt đợc lật lên và rạch cách bờ trên sụn 2mm quahết các tổ chức trừ da, sau đó đặt chỉ khâu mi trên kéoxuống gò má và dán trong 7-10 ngày Nếu phơng pháp nàykhông mang lại hiệu quả thì áp dụng phơng pháp lùi cơ nâng
mi [15], [26]
- Lùi cơ nâng mi: mở vết mổ và khâu lùi cơ nâng mi vềphía trên của sụn mi
- Nếu mức độ trầm trọng hơn thì cần một chất liệu đặt
ở giữa bờ dới của cơ nâng mi và bờ trên của sụn Chất liệu tốtnhất là củng mạc tơi, tuy nhiên củng mạc dự trữ cũng cho kếtquả tơng đơng [26]
2-Chỉnh non:
Chỉnh non trong phẫu thuật rút ngắn cơ nâng mi xảy rakhi cắt cơ không đủ, nó thờng gặp trong nhóm sụp mi cóchức năng cơ kém [15], [20], [26], [37], [56]
Theo Iliff [37] điều này có thể tránh đợc nếu khám cẩnthận trớc khi mổ và thận trọng trong lúc mổ Tuy nhiên dùphẫu thuật viên có đánh giá trớc mổ và kỹ thuật mổ hoàn hảo
đến đâu, thì cũng có 10 đến 20% trờng hợp chỉnh non cầnphải mổ lại Có thể mổ lại sớm trong 48 đến 72 giờ sau mổtrớc khi sự lành vết thơng xảy ra Tuy nhiên đa số các tác giảkhuyên nên chờ ít nhất 2 tháng mới đánh giá lại mức độ sụp mi
và chức năng cơ nâng mi [15], [26]
Trang 30Tỉ lệ chỉnh non cần phải mổ lại cũng khác nhau tùy từngtác giả: theo Trần Thiết Sơn [8] là 18%, theo Hà Huy Tài là1,94%, Lê Minh Thông tỉ lệ này là 9,67%, Berke là 40,7% [19].3-Viêm loét giác mạc do hở mi:
Đây là biến chứng đáng sợ nhất vì có thể dẫn đến mùloà, nguyên nhân là do cắt cơ quá nhiều ở những bệnhnhân có chức năng cơ yếu, khi đó mi mắt có thể nâng lên
đợc nhng không thể hạ xuống khi nhắm Do đó trong thờigian hậu phẫu phải tra dung dịch methylcellulose 1% vào banngày và dùng băng dán để kéo mi dới lên che giác mạc vào ban
đêm khi ngủ Những trờng hợp hở mi nghiêm trọng thì phải
điều chỉnh sớm bằng các thủ thuật hạ mi [15], [26] Biếnchứng này chiếm tỉ lệ 3% [10]
4-Xuất huyết:
Xuất huyết trong phẫu thuật thờng xảy ra tuy nhiên dễkiểm soát Nếu chảy máu gây tụ máu sau phẫu thuật thìphải mở dẫn lu khối máu tụ và thực hiện sự cầm máu Hầu hếtcác trờng hợp không ảnh hởng kết quả [10], [15]
5-Quặm mi trên
Mi trên bị cụp vào xảy ra khi cắt cơ quá nhiều, nó làmcho những lớp sâu phía sau của mi mắt ngắn lại trong khiphần da và lớp cơ phía trớc vẫn không thay đổi Quặm minày có thể tự điều chỉnh, nhng nếu không thì phải cắt bớt
da và khâu da vào sụn [15], [26]
Trang 31Ngoµi ra cßn mét sè biÕn chøng kh¸c Ýt gÆp h¬n nh:vÓnh mi, mÊt hoÆc xiªu vÑo hµng l«ng mi, bÊt thêng chiÒucao nÕp mi, biÕn d¹ng mi m¾t, sa kÕt m¹c
Trang 32Chơng 2
Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
Là những bệnh nhân sụp mi bẩm sinh đến khám, điềutrị tại khoa nhãn nhi Viện Mắt trung ơng từ 10/2001 đến6/2002, có chỉ định phẫu thuật kể cả những bệnh nhân
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân sụp mi bẩm sinh đang có bệnh lý nhiễmtrùng ở mắt: viêm loét giác mạc, viêm túi lệ
- Bệnh nhân sụp mi bẩm sinh có kèm liệt cơ thẳng trên,hội chứng Marcus-Gunn
- Bệnh nhân sụp mi do nguyên nhân khác nh: chấn
th-ơng, tuổi già, nhợc cơ
2.2 Phơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Kiểu nghiên cứu
Đây là loại nghiên cứu can thiệp thử nghiệm lâm sàngkhông có đối chứng, tiến cứu
Bệnh nhân đợc nghiên cứu, theo dõi từ khi đến nhậpviện, sau khi ra viện 1 tuần, 1, 3, 6 tháng Các dữ kiện đợc ghichép vào mẫu bệnh án nghiên cứu, có số bệnh án sao từ bệnh
án lu tại viện
Trang 33- Xác định mức độ sụp mi: chúng tôi đánh giá mức độsụp mi bằng cách đo khoảng cách bờ mi - tâm đồng tử vàchia sụp mi thành 3 mức độ:
2d
q.p
2α/21Z
n= −
Trang 34Sụp mi nhẹ: khi bờ tự do mi mắt trên phủ rìa giác mạc4mm
Sụp mi trung bình: khi bờ tự do mi mắt trên phủ rìagiác mạc 5mm
Sụp mi nặng: khi bờ tự do mi trên phủ rìa giác mạc
≥6mm
- Đo chức năng cơ nâng mi trên: dùng thớc milimet đo độ
di động của bờ mi từ vị trí nhìn xuống dới hết mức và nhìnlên trên hết mức, cùng lúc dùng ngón cái chặn lên lông mày đểloại trừ sự tham gia hoạt động của cơ trán Chúng tôi chia chứcnăng cơ nâng mi thành 3 mức độ: tốt (≥8mm), trung bình
(5-7mm), yếu (≤4mm)
Hình 4: minh hoạ cách đánh giá chức năng cơ nâng mi.
- Khám nhãn cầu và các bộ phận phụ thuộc nh: tình trạnggiác mạc, tiền phòng, phản xạ đồng tử, soi đáy mắt, tìnhtrạng lệ đạo
- Soi bóng đồng tử và điều chỉnh kính đối với các trờnghợp có tật khúc xạ
Trang 35- Đánh giá và phân loại nhợc thị: tất cả bệnh nhân trongnhóm nghiên cứu đều đợc chúng tôi đo thị lực và khám khúcxạ để xác định mức độ nhợc thị Chúng tôi chẩn đoán là nhợcthị khi thị lực <8/10 mặc dù đã đợc chỉnh kính và không cótổn thơng nào khác ở mắt Chúng tôi chia nhợc thị thành 3mức độ: nhợc thị nhẹ khi thị lực từ 5/10-7/10, nhợc thị trungbình khi thị lực 2/10-4/10, nhợc thị nặng khi thị lực ≤1/10.
- Khám toàn thân
- Làm các xét nghiệm cơ bản, test prostigmine để loại trừnhợc cơ
2.2.4.2 Chuẩn bị bệnh nhân trớc phẫu thuật
- Giải thích cho bệnh nhân để họ hiểu và cùng hợp táctrong phẫu thuật
- Giải thích cho bệnh nhân và ngời nhà những nguy cơ
có thể xảy ra trong và sau phẫu thuật nh: tai biến gây mê,nguy cơ hở mi sau mổ, hở giác mạc, loét giác mạc
- Cho bệnh nhân hoặc ngời nhà ký giấy chấp nhận phẫuthuật
2.2.4.3 Kỹ thuật mổ
Tất cả bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều đợc thựchiện theo phơng pháp mổ rút ngắn cơ nâng mi trên củaBerke Các thì cơ bản của phẫu thuật nh sau:
- Vô cảm: tê mi trên bằng 2ml dung dịch xylocain 2% đốivới trẻ em lớn và ngời lớn hoặc gây mê toàn thân đối với trẻ emnhỏ
- Rạch da tại nếp mi trên, nếu sụp mi một mắt thì đờngrạch tơng ứng với nếp gấp da bên mi lành Nếu sụp mi cả hai
Trang 36bên thì đờng rạch cách bờ mi 4 - 5mm ở phần giữa và cách
bờ mi 2mm ở đầu đờng rạch (ảnh 2.A)
- Bóc tách cơ vòng cung mi, bộc lộ cơ nâng mi trên (ảnh2.B)
Sụp mi nặng: thì điểm đặt chỉ cách đầu cơ
>23mm
- Trong trờng hợp vô cảm bằng phơng pháp gây tê, trớc khithắt chỉ chúng tôi bảo bệnh nhân nhìn thẳng và điềuchỉnh sao cho bờ tự do mi mắt ở ngay rìa hoặc dới rìa giácmạc tùy theo tình trạng chức năng cơ nâng mi đo đợc trớc
mổ (khi chức năng cơ tốt thì bờ tự do mi mắt phủ rìa giácmạc 3mm, khi chức năng cơ trung bình thì bờ tự do mi mắtphủ rìa giác mạc 1-2mm và khi chức năng cơ yếu thì bờ mi ở
vị trí ngay rìa giác mạc) (ảnh 2.J)
Trang 37- Cắt phần cơ thừa (cặp cơ nâng mi và cắt bỏ phần
tr-ớc, cách đờng chỉ khâu 2mm) (ảnh 2.K) và cho vào dungdịch Bomin sau đó gửi khoa giải phẫu bệnh lý để đánh giátình trạng cơ
- Khâu da bằng chỉ nylon 5-0, tạo nếp gấp da mi trênbằng cách khâu 2 mép da vào cân cơ nâng mi trên (ảnh 2.L,2.M)
- Đặt chỉ kéo mi dới để bảo vệ giác mạc sau mổ
2.2.4.4 Ghi nhận các diễn biến trong lúc mổ
Các biến chứng nh: chảy máu nhiều trong mổ, rách kếtmạc, đứt cơ, phòi mỡ hốc mắt
2.2.4.5 Theo dõi và chăm sóc hậu phẫu
- Thay băng lần đầu sau 24 giờ
- Theo dõi tình trạng hở mi (bảo bệnh nhân nhắm mắt
và dùng thớc milimet để đo mức độ hở mi) Chúng tôi chia hở
Trang 38- Theo dõi các biến chứng sau mổ nh: mất đồng bộ nhãn cầu, biến dạng chân lông mi, biến dạng độ cong bờ mi,vểnh mi, sa kết mạc, loét giác mạc do hở
Chúng tôi đánh giá kết quả dựa trên 3 mức độ:
+ Tốt: bờ mi che giác mạc 1 - 2mm và bề cao khe mi 2 bênkhác biệt dới 1mm
+ Trung bình: bờ mi che giác mạc 2 - 2,5mm và bề caokhe mi 2 bên khác biệt trong khoảng 1 - 2mm
+ Kém:
Chỉnh quá mức: bờ mi vợt khỏi rìa giác cũng mạc
≥1mm ở vị trí 12 giờ
Chỉnh non: bờ mi che rìa giác mạc ≥ 3mm
Tốt và trung bình xem nh thành công, kém xem nh thấtbại
Trờng hợp bệnh nhân sụp mi 2 mắt mà chỉ đợc mổ 1mắt chúng tôi đánh giá kết quả dựa trên tiêu chuẩn của mắtngời bình thờng (tốt khi bờ mi phủ rìa giác mạc 1-2 mm,trung bình khi bờ mi phủ rìa giác mạc 2 - 2,5 mm và kết quả
đợc đánh giá là kém cũng chia 2 trờng hợp chỉnh non vàchỉnh quá mức nh trên)
Trang 392.2.4.7 Xử lý kết quả
Các số liệu, nhận xét đợc ghi chép chi tiết vào mẫu bệnh
án, sau đó đợc tập hợp và xử lý theo thuật toán thống kê y họcvới sự trợ giúp của phần mềm Epi-info 6.04, test χ2 để so sánhcác tỉ lệ
Trang 40Chơng 3
kết quả
Chúng tôi tiến hành phẫu thuật sụp mi bằng phơng pháprút ngắn cơ nâng mi trên cho 69 bệnh nhân (40 nam và 29nữ) trên 79 mắt (có 10 trờng hợp mổ 2 mắt) thời gian theodõi trung bình 6 tháng Các vấn đề nghiên cứu sẽ đợc trìnhbày nh sau:
3.1 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
3.1.1 Nhóm bệnh nhân nghiên cứu đợc phân bố theo
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất trong nhóm nghiên cứu củachúng tôi là 5, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 40; tuổi trungbình trong nhóm nghiên cứu 14,130 ± 7,288 Nhóm tuổi từ 5-
36.2%
23.2%
11-15 Tuổi Trên 15 Tuổi