1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các giải pháp tăng thu nhập cho nông dân ở trung quốc từ khi cải cách mở của đến nay

89 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 781,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiêu biểu là các công trình nh-: “Vấn đề tam nông ở Trung Quốc: Thực trạng và giải pháp” do Đỗ Tiến Sâm chủ biên 2008 [18], công trình đã khái quát và hệ thống về thực trạng và những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-* -

NGUYỄN THANH GIANG

CÁC GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP CHO NÔNG DÂN Ở TRUNG QUỐC TỪ KHI CẢI CÁCH MỞ CỬA ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Châu Á học

Mã số: 60.31.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thế Anh

Hà Nội – 2009

Trang 3

quan ……… …

1.2 Sự cần thiết phải tăng thu nhập cho nông dân ở Trung

Quốc……

14

đến sự tăng tr-ởng của nền kinh tế quốc

Ch-ơng 2: một số giải pháp cơ bản thúc đẩy tăng thu nhập cho

nông dân của trung quốc

25

2 1 Thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản đến hộ gia

đình ở nông thôn Trung Quốc trong những năm đầu cải cách

2.1.2 Vai trò của chế độ khoán sản đến hộ trong việc tăng thu

nhập cho nông dân Trung Quốc

27

Trang 4

2.2 ổn định quan hệ khoán ruộng đất, bảo vệ quyền sử dụng

đất khoán của nông dân

.

32

2.3 Phát triển xí nghiệp h-ơng trấn, giải quyết việc làm tại chỗ

cho sức lao động d- thừa ở nông thôn, chuyển dịch lao động

nông nghiệp sang lao động phi nông

nghiệp

37

2.3.1 Một vài nét về quá trình hình thành và phát triển xí

nghiệp h-ơng trấn của Trung

2.4 Tích cực chuyển dịch sức lao động d- thừa ở nông thôn

ra thành phố làm thuê, giải quyết tốt vấn đề ng-ời nông dân l-u

Trang 5

CHƯƠNG 3: nhận xét về các giải pháp tăng thu nhập cho nông

dân ở Trung Quốc và một số gợi mở cho Việt

3.1.3 Kết cấu nguồn thu nhập ngày càng đa dạng, nông dân có nhiều cơ

3.2 Một số vấn đề còn tồn tại trong việc tăng thu nhập cho

nông dân của Trung Quốc hiện

nay

69

3.2.2 Sự gia tăng khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa c- dân thành

3.2.3 Những khó khăn trong việc giải quyết vấn đề tăng thu nhập và

3.3 Một số gợi mở cho Việt

Trang 6

sự tồn vong, h-ng suy của các triều đại; nông dân hăng hái hay thờ ơ đã quyết định xã hội đi lên hay ng-ng trệ; nông dân ủng hộ hay chống đối đã quyết định sinh mệnh chính trị của các nhà cầm quyền; nông dân đi theo hay quay l-ng lại đã quyết định sự thành công hay thất bại của các chính sách Thực tế đã chứng minh, trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, chính nông dân là đội quân chủ lực giúp cách mạng Trung Quốc thành công Thời kỳ đầu cải cách mở cửa, với ph-ơng châm cải cách bắt đầu từ nông thôn của

Đặng Tiểu Bình, ĐCS Trung Quốc trả lại cho nông dân quyền định đoạt ruộng đất, tài sản, quyền tự do sản xuất và kinh doanh, nông dân vui mừng đã lập nên những thành tựu kinh tế đáng khâm phục Nh-ng kể từ sau Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XII (tháng 10-1984), ĐCS Trung Quốc quyết định chuyển trọng tâm cải cách từ nông thôn ra thành thị, ngay lập tức sản xuất nông nghiệp bị chậm lại, sản l-ợng l-ơng thực giảm sút, giá cả tăng nhanh, tốc độ tăng tr-ởng thu nhập của nông dân liên tục giảm xuống, chênh lệch thu nhập giữa c- dân thành thị và nông thôn ngày càng mở rộng

Nhận thức đ-ợc vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn và nông dân đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, Đại hội XVI ĐCS Trung Quốc (năm

2002) khi đ-a ra mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả đã nêu rõ: “Xây dựng nông

nghiệp hiện đại, phát triển kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân là nhiệm vụ trọng đại của xây dựng toàn diện xã hội khá giả” Trong đó, việc tăng thu nhập cho

nông dân đ-ợc coi là hạt nhân của công tác nông dân Bởi vì “không có khá giả của

Trang 7

nông dân, thì không thể có khá giả của nhân dân cả nước” [66], nh- Tổng Bí th- Giang

Trạch Dân đã từng nhấn mạnh ở Hội nghị Trung -ơng 8 khoá XIII ĐCS Trung Quốc (tháng 11 – 1991), vì chỉ có tăng thu nhập cho nông dân mới có thể thúc đẩy nông nghiệp phát triển, giúp cho nông thôn phát triển và ổn định lâu dài, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn

Gần đây, Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XVII ĐCS Trung Quốc (tháng 10 - 2008)

đã nêu rõ: “cơ sở nông nghiệp của Trung Quốc vẫn còn lạc hậu, cần phải tăng c-ờng;

sự phát triển của nông thôn Trung Quốc vẫn còn trì trệ, cần phải trợ giúp; tăng thu nhập cho nông dân vẫn còn khó khăn, cần phải đẩy nhanh” Hội nghị cũng chỉ ra, một trong

những nhiệm vụ mục tiêu cơ bản của cải cách phát triển nông thôn Trung Quốc đến

năm 2020 đó là, “thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời nông dân tăng gấp đôi so với

năm 2008, mức tiêu dùng đ-ợc nâng cao đáng kể, hiện t-ợng nghèo đói tuyệt đối cơ bản đ-ợc xoá bỏ”[60] Qua đó có thể thấy vấn đề tăng thu nhập cho nông dân hiện

đang đ-ợc ĐCS Trung Quốc hết sức quan tâm và coi trọng, nó đ-ợc coi là mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng nhất, then chốt nhất của công cuộc xây dựng nông thôn mới XHCN ở n-ớc này

Việt Nam và Trung Quốc đều là hai n-ớc nông nghiệp có nhiều điểm t-ơng đồng

về văn hoá, lịch sử, chính trị và kinh tế Nhiều vấn đề của “tam nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) mà Trung Quốc đang phải đối mặt và giải quyết, trong đó có vấn đề tăng thu nhập cho nông dân cũng chính là vấn đề nan giải trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam hiện nay Vì vậy, nghiên cứu các giải pháp tăng thu nhập cho nông dân của Trung Quốc trong 30 năm cải cách mở cửa có giá trị tham khảo quí báu cho Việt Nam trong quá trình đổi mới mở cửa đất n-ớc Với những lý do nêu trên, tác giả

quyết định chọn “Các giải pháp tăng thu nhập cho nông dân của Trung Quốc từ khi

cải cách mở cửa đến nay” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về vấn đề tăng thu nhập cho nông dân đã trở thành đề tài hấp dẫn không chỉ đối với các học giả mà còn cả với những nhà hoạch định chính sách của nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới

Trang 8

- Tình hình nghiên cứu trong n-ớc:

Trong giai đoạn hiện nay “nông nghiệp phát triển, nông thôn ổn định, nông dân tăng thu nhập” đ-ợc coi là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện mục

tiêu xây dựng nông thôn mới XHCN của Đảng và Chính phủ Trung Quốc Vì thế nó trở thành đề tài thu hút đ-ợc sự quan tâm nghiên cứu của các học giả Việt Nam Những tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề tam nông trong đó có tăng thu nhập cho nông dân cũng t-ơng đối phong phú và đa dạng Tiêu biểu là các công trình nh-:

“Vấn đề tam nông ở Trung Quốc: Thực trạng và giải pháp” do Đỗ Tiến

Sâm chủ biên (2008) [18], công trình đã khái quát và hệ thống về thực trạng

và những giải pháp cho vấn đề “tam nông” của Trung Quốc hiện nay, trong

đó cũng đã ít nhiều đề cập đến một số chính sách, giải pháp để tăng thu

nhập cho nông dân trong giai đoạn hiện nay; “Một số vấn đề về hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc” do Nguyễn Minh Hằng chủ biên (2003) [6], cuốn

sách bàn về quá trình và các giải pháp thực hiện chuyển đổi từ một nền nông nghiệp truyền thống lạc hậu sang nền nông nghiệp hiện đại của Trung Quốc, tuy nhiên vấn đề tăng thu nhập cho nông dân mới chỉ đ-ợc lồng ghép

vào trong các nội dung của cuốn sách; “Xí nghiệp h-ơng trấn ở nông thôn Trung Quốc” của tác giả Đỗ Tiến Sâm (1994)[16], từ góc độ công nghiệp

hoá nông thôn, tác giả đã luận giải những thành tựu của xí nghiệp h-ơng trấn đối với công cuộc cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc, trong

đó có nói đến vai trò của xí nghiệp h-ơng trấn trong việc chuyển dịch cơ cấu việc làm ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp cho nông dân…

Bên cạnh các công trình nêu trên, trong các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành cũng nh- các cuộc hội thảo, nhiều tác giả cũng đã có bài

Trang 9

viết bàn về quá trình và những thành tựu của cải cách nông thôn, qua đó cho thấy những đổi thay to lớn của bộ mặt nông thôn nói chung và đời sống của ng-ời nông dân, trong đó có cả những thành tựu trong công tác tăng

thu nhập cho nông dân nh-: “Cải thiện đời sống kinh tế nông thôn: Thành tựu lớn của Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa” của tác giả Phùng Thị

Huệ [10] in trong Kỷ yếu hội thảo Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 55 năm

xây dựng và phát triển, “Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung quốc 30 năm qua” của Phó Tr-ởng ban Tuyên truyền Trung -ơng

ĐCS Trung Quốc Trác Vệ Hoa [8] tại Hội thảo Lý luận lần thứ 4 giữa ĐCS

Việt Nam và ĐCS Trung Quốc - Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn – Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc; bài viêt “Vài nét về tiến trình cải cách nông thôn Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay” của Nguyễn Xuân C-ờng trên Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc năm 2005 [3]…

Ngoài ra còn có các công trình và bài viết đề cập trực tiếp vào thực

trạng và các vấn đề nổi cộm của tam nông Trung Quốc nh- “Tìm hiểu những giải pháp giải quyết vấn đề: nông nghiệp, nông thôn và nông dân Trung Quốc hiện nay” của Bùi Thị Thanh H-ơng, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1, 2007 [11]; “Nông dân Trung Quốc: Thực trạng bất đối xứng so với ng-ời dân thành thị" của tác giả Hoàng Thế Anh, đăng trên Tạp

chí Nghiên cứu Trung Quốc số 1 năm 2008 [1]

Nhìn chung, các công trình đều có ít nhiều đề cập đến những giải

pháp tăng thu nhập cho nông dân ở từng giai đoạn nhất định Tuy nhiên các công trình này ch-a tổng kết một cách có hệ thống và trực tiếp quá trình cũng nh- những giải pháp tăng thu nhập cho nông dân của Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa đến nay Mặc dù vậy, các công trình nghiên

Trang 10

cứu nêu trên ở một chừng mực nhất định đã phác hoạ ra bức tranh đa dạng

về vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc, là những công trình khoa học đáng quý, có tác dụng gợi mở lớn để tác giả kế thừa và phát triển trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình

- Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc:

Vấn đề tăng thu nhập cho nông dân do tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội đã thu hút đ-ợc sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý cũng nh- nhiều nhà nghiên cứu khoa học Trung Quốc

Những thảo luận học thuật của Trung Quốc về vấn đề thu nhập của nông dân bắt đầu từ khoảng những năm 1993, 1994, và luôn là đề tài thu hút nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Đặc biệt những năm đầu thế kỷ XXI, do Trung -ơng ĐCS Trung Quốc ngày càng coi trọng vấn đề thu nhập của nông dân, nó càng trở thành tiêu điểm nghiên cứu lí luận Tổng quan các thảo luận học thuật này, chủ yếu tập trung vào các

ph-ơng diện: Một là, hình thức biểu hiện chủ yếu của vấn đề thu nhập của nông dân;

hai là, các nguyên nhân cơ bản tạo nên vấn đề thu nhập của nông dân; ba là, kiến

nghị đối sách giải quyết vấn đề thu nhập của nông dân

Về các hình thức biểu hiện chủ yếu của vấn đề thu nhập của nông dân, các học giả tập trung phân tích theo 2 h-ớng đó là thu nhập của nông dân tăng tr-ởng chậm

chạp và tăng tr-ởng không ổn định nh-: Tr-ơng Húc Hồng trong bài “Hiện trạng thu

nhập nông dân n-ớc ta (Trung Quốc) và đối sách của nó” (2001) [33]; Cao Chí Anh,

“Phân tích sự tăng tr-ởng không ổn định trong thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời gia

đình nông thôn” (2001) [28]; GS Cốc Nguyên D-ơng, “Tình trạng “tam nông” Trung Quốc: Thành tựu, vấn đề và thách thức” (2007) [4]

Về các nguyên nhân cơ bản tạo nên vấn đề thu nhập của nông dân, các tác giả

L-u Huệ, “Những suy nghĩ và kiến nghị về việc giải quyết vấn đề thu nhập của nông

dân”(1999) [34]; Mã Hiểu Hà, “Đẩy nhanh điều chỉnh kết cấu nhị nguyên thành thị nông thôn, thúc đẩy tăng thu nhập cho nông dân” (2001) [32] cho rằng các nhân tố gây ra

vấn đề thu nhập của nông dân đó là những sai lầm trong chính sách điều tiết vĩ mô cùng với những rào cản về chế độ nh- sự phân tách giữa thành thị và nông thôn, ảnh h-ởng

Trang 11

của thể chế kinh tế kế hoạch Cũng đề cập đến các nguyên nhân khiến thu nhập của

nông dân tăng chậm, hai tác giả Tr-ơng Vi Đông, “Phân tích nhân tố quyết định tăng

tr-ởng thu nhập của nông dân” (1994) [31], V-ơng Vi Nông, “Con đ-ờng cơ bản để tăng thu nhập cho nông dân” (2000) [38] cho rằng vấn đề thu nhập của nông dân trên một

chừng mực nhất định chịu sự quyết định của một số quy luật kinh tế cơ bản đó là: quy luật giá cả cung cầu thị tr-ờng và định luật Enghen, trong điều kiện kinh tế thị tr-ờng, giá cả nông sản do tình hình cung cầu quyết định, kinh tế phát triển, cung và cầu đều tăng, nếu sự tăng tr-ởng l-ợng cung v-ợt quá sự tăng tr-ởng l-ợng cầu thì sẽ làm cho giá cả giảm xuống, ảnh h-ởng đến thu nhập của nông dân

Để giải quyết vấn đề thu nhập của nông dân, các học giả cũng đ-a ra các kiến

nghị: đẩy nhanh chuyển dịch sức lao động nh- Trần Tích Văn, “Thử phân tích vấn đề

nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giai đoạn mới” (2001) [45], Tr-ơng Hiểu Sơn,

“Tạo ra cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho nông dân” (2001) [39]; thúc đẩy đô thị hoá nh- Châu Thành, “Quan sát thu nhập nông dân” (2001) [30], Kh-ơng Tr-ờng Vân, “Đô thị

hoá và vấn đề “tam nông””(2003) [44]; giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân nh- Hàn Tuấn,

“Suy nghĩ về vấn đề tăng thu nhập cho nông dân” (2001) [37] “Điều tra báo cáo chính

sách nông thôn Trung Quốc” (2007) của nhóm tác giả Hàn Tuấn, Tạ D-ơng, Từ Tiểu

Thanh [37], nêu rõ hiện nay Trung -ơng ĐCS Trung Quốc coi giải quyết vấn đề “tam

nông” là trọng tâm trong trọng tâm công tác của Đảng, căn cứ theo yêu cầu trù tính

chung phát triển thống nhất thành thị nông thôn, kinh tế xã hội, lấy “công nghiệp quay

lại phục vụ nông nghiệp, thành thị lôi kéo nông thôn”, cùng với phương châm “cho nhiều, thu ít, làm sống động” đã ban hành nhiều chính sách để thúc đẩy sản xuất l-ơng

thực, giảm nhẹ gánh nặng và tăng thu nhập cho nông dân, giúp cho nông nghiệp, nông thôn có đ-ợc những b-ớc phát triển quan trọng Tuy nhiên hiện nay tình hình nông nghiệp, nông thôn và nông dân Trung Quốc vẫn còn nhiều bất cập, cơ sở nông nghiệp còn lạc hậu, tăng tr-ởng thu nhập của nông dân còn ch-a ổn định, tình trạng tăng tr-ởng nh-ng không phát triển ch-a đ-ợc giải quyết triệt để, các chính sách trợ nông, huệ nông (hỗ trợ và -u đãi cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân) còn ch-a đ-ợc chế

độ hoá và qui phạm hoá, cơ chế hiệu quả lâu dài “công nghiệp quay lại phục vụ nông

nghiệp, thành thị lôi kéo nông thôn” còn chưa được hình thành

Trang 12

Ngoài ra, trên các trang web của Trung Quốc cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề tăng thu nhập cho nông dân, các học giả đều có những kiến nghị lên

Đảng và Nhà n-ớc Trung Quốc sớm giải quyết vấn đề tam nông nói chung, tăng thu nhập cho nông dân nói riêng, đồng thời họ cũng đề ra nhiều giải pháp nhằm thực hiện những kiến nghị đó

Nhìn chung, xung quanh vấn đề tăng thu nhập cho nông dân, các công trình

nghiên cứu khoa học đã khá đầy đủ về số l-ợng và nộng dung, đã phần nào cho thấy những nét khái quát và diễn biến cơ bản của quá trình tăng thu nhập cho nông dân của Trung Quốc từ khi n-ớc này tiến hành cải cách mở cửa năm 1978 đến nay Tuy nhiên ch-a có một công trình mô tả, phân tích và đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống về các giải pháp tăng thu nhập của Trung Quốc sau 30 năm cải cách mở cửa

3 Cách tiếp cận

Xuất phát từ thực trạng nghiên cứu về vấn đề “tăng thu nhập cho nông dân” nêu trên, Luận văn đ-a ra cách tiếp cận riêng Đó là tiếp cận theo cách đặt vấn đề thu nhập của người nông dân Trung Quốc trong tổng thể các chính sách giải quyết vấn đề “tam nông” của Đảng và Chính phủ Trung Quốc Đồng thời để bổ sung cho thiếu sót của những nghiên cứu trên, Luận văn sẽ phân tích đánh giá một cách hệ thống các giải pháp tăng thu nhập cho ng-ời nông dân Trung Quốc tuần tự theo tiến trình thời gian từ khi Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa năm 1978 đến nay

4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

- Tình hình thu nhập và các giải pháp tăng thu nhập cho ng-ời nông dân của

Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa đến nay Trong đó nông dân đ-ợc hiểu là những ng-ời có hộ khẩu ở nông thôn, bao gồm cả ng-ời nông dân làm công

- Phạm vi nghiên cứu: là Trung Quốc đại lục, không bao gồm các vùng lãnh thổ Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao

5 Ph-ơng pháp nghiên cứu và nguồn t- liệu

- Luận văn đ-ợc nghiên cứu theo ph-ơng pháp thống kê, so sánh, qui nạp, diễn

Trang 13

dịch, phân tích và tổng hợp tài liệu đã có

- Nguồn t- liệu: Do điều kiện không cho phép đi thực tế, tiến hành điều tra khảo sát, vì thế nguồn t- liệu đ-ợc sử dụng là các văn kiện của Đảng và Nhà n-ớc Trung Quốc Ngoài ra Luận văn cũng tham khảo và kế thừa những tài liệu từ sách, báo, tạp chí, một số trang web, báo điện tử của Việt Nam và Trung Quốc

1.1 Một số khái niệm và đặc thù vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc

I.1.1 Một số khái niệm liên quan

Do thu nhập là nhân tố phản ánh toàn diện hoạt động kinh doanh sản xuất của nông dân, vì vậy, để phản ánh chính xác hoạt động kinh doanh sản xuất của nông dân, trong điều tra và phân tích,ở Trung Quốc ng-ời ta đ-a ra t-ơng đối nhiều khái niệm nh-: tổng thu nhập, thu nhập thuần, thu nhập tiền mặt, thu nhập hiện vật, thu nhập mang tính tài sản, thu nhập mang tính tiền lương, thu nhập mang tính chuyển dịch…

Trang 14

- Tổng thu nhập: là tổng toàn bộ các nguồn thu nhập trong giai đoạn đ-ợc điều

tra, trong đó ch-a bao gồm phần chi phí sản xuất và chi tiêu sinh hoạt Phân chia theo tính chất nguồn thu nhập, tổng thu nhập bao gồm : thu nhập mang tính tiền l-ơng (thu nhập từ tiền công lao động), tổng thu nhập kinh doanh gia đình, thu nhập mang tính tài sản và thu nhập mang tính chuyển dịch Phân chia theo hình thức thu nhập, tổng thu nhập bao gồm 2 bộ phận: tổng thu nhập hiện vật và tổng thu nhập tiền mặt

- Thu nhập thuần: khái niệm về thu nhập thuần đ-ợc dùng đầu tiên trong thống

kê “phân phối lợi tức kinh tế nông thôn” thời kỳ “công xã nhân dân” Trong thống kê phân phối lợi tức, “thu nhập thuần” chỉ phần còn d- lại sau khi lấy tổng thu nhập kinh tế nông thôn trừ đi các khoản chi phí khác, phần còn d- lại còn đ-ợc gọi là “lợi tức” “Thu

nhập thuần” căn cứ theo các quy định có liên quan của nhà nước để phân chia cho nhà

n-ớc, tập thể và cá nhân Phần phân phối cho cá nhân được gọi là “thu nhập cư dân nông thôn”, tức là phần dư lại sau khi lấy thu nhập thuần kinh tế nông thôn năm đó trừ đi

phần thu thuế cho nhà n-ớc và nộp lại cho tập thể “Thu nhập thuần bình quân đầu

ng-ời của nông dân” là bình quân thu nhập c- dân nông thôn trên tổng dân số nông

thôn Xét theo góc độ phân phối thu nhập, “thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời của

nông dân” chính là thu nhập lần đầu mà ng-ời nông dân có đ-ợc [86]

Khái niệm “thu nhập thuần” trong thời kỳ đầu đồng nhất với khái niệm “phân phối lợi tức kinh tế nông thôn” trong thống kê, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị tr-ờng XHCN và sự điều chỉnh chính sách phân phối thu nhập, cách đánh giá chỉ tiêu

“thu nhập thuần” cũng có sự điều chỉnh, chủ yếu bao gồm phần thu nhập tái phân phối Hiện nay khái niệm “thu nhập thuần” là chỉ tổng thu nhập mà cư dân nông thôn thu đ-ợc

từ các kênh thu nhập trong năm đó, t-ơng ứng với thu nhập có đ-ợc sau khi lấy tổng

nguồn thu trừ đi những khoản chi phí phát sinh “Thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời

nông dân” là “thu nhập thuần nông dân” bình quân dân số nông thôn

Cách tính “thu nhập thuần bình quân đầu người” là :

Thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời = (Tổng thu nhập gia đình của dân nông thôn – Chi phí kinh doanh gia đình – Khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất – Tiền thuế và chi phí thuê khoán nộp lên trên – Trợ cấp theo điều tra)/ Nhân khẩu th-ờng

Trang 15

trú của gia đình c- dân nông thôn [86]

- Thu nhập mang tính tiền l-ơng: là thu nhập mà hộ gia đình hoặc thành viên của

hộ gia đình nông thôn thu đ-ợc dựa vào việc bán sức lao động cho đơn vị hoặc cá nhân thuê lao động Phân theo tính chất nguồn thu nhập chia thành thu nhập có đ-ợc do lao

động trong các tổ chức phi doanh nghiệp (nh- thu nhập của cán bộ, giáo viên), thu nhập có đ-ợc do lao động trong các xí nghiệp tại địa ph-ơng, thu nhập do làm thuê ở bên ngoài địa ph-ơng và thu nhập có đ-ợc do lao động ở các đơn vị khác

- Tổng thu nhập kinh doanh gia đình: là thu nhập mà hộ gia đình ở nông thôn có

đ-ợc do việc tiến hành quản lý và lên kế hoạch sản xuất lấy gia đình làm đơn vị kinh doanh sản xuất Thu nhập kinh doanh gia đình có thể chia thành thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập lâm nghiệp, thu nhập từ ngành chăn nuôi… (tổng cộng phân thành 10 ngành nghề)

- Thu nhập mang tính tài sản: là thu nhập có đ-ợc từ những động sản (nh- tiền

gửi ngân hàng, chứng khoán có giá trị…) và bất động sản (nh- nhà đất, xe cộ…) Nó bao gồm các khoản lợi tức, tiền cho thuê, tiền lãi từ việc nh-ợng lại quyền sử dụng tài sản; tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận có đ-ợc từ việc kinh doanh tài sản

- Thu nhập mang tính chuyển dịch: chỉ những hàng hoá, dịch vụ, tiền hoặc quyền

sở hữu tài sản mà hộ gia đình và thành viên hộ gia đình nông thôn có đ-ợc mà không cần bỏ ra bất cứ thứ gì t-ơng ứng Ví dụ nh- tiền l-ơng h-u, tiền trợ cấp thất nghiệp, các khoản phúc lợi xã hội…

- Thu nhập tiền mặt: là thu nhập d-ới hình thức tiền mặt của hộ gia định và thành

viên của hộ gia đình trong khoảng thời gian đ-ợc điều tra

- Thu nhập hiện vật: chỉ tổng sản l-ợng các loại nông sản mà hộ gia đình nông dân

sản xuất ra trong năm đó trừ đi phần đã bán ra, đ-ợc tính theo giá nhất định

- Thu nhập thuần kinh doanh gia đình: là thu nhập sau khi lấy tổng thu nhập kinh

doanh gia đình

Các khái niệm nêu trên đ-ợc sử dụng nhiều trong ch-ơng 3 của Luận văn, đó là những chỉ số phản ánh sự thay đổi mức tăng tr-ởng thu nhập của nông dân, từ đó tác

Trang 16

giả Luận văn sẽ đ-a ra những nhận xét và đánh giá về những thay đổi đó

1.1.2 Đặc thù vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc

Vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc có đặc thù riêng, khác so với ph-ơng Tây Sở dĩ nói nh- vậy là do nông dân Trung Quốc là một quần thể có đặc thù khác với khái niệm nông dân của các quốc gia ph-ơng Tây Trong nghiên cứu kinh tế học ph-ơng Tây, khái niệm về nông dân là một quần thể xã hội đ-ợc cấu thành từ nhiều mối quan hệ lợi ích khác nhau, trong đó bao gồm ng-ời sở hữu ruộng đất (địa chủ), chủ nông tr-ờng, ng-ời nông dân làm thuê, ng-ời nông dân tự cấy cày trên ruộng đất của mình và ng-ời nông dân bán canh (tức là bên cạnh cấy cày trên ruộng

đất của mình họ còn đi làm thuê) [40,29] Nguồn thu nhập chủ yếu của họ vì vậy cũng không giống nhau Trong đó, nguồn thu nhập chủ yếu của địa chủ là cho thuê ruộng

đất, nguồn thu nhập chủ yếu của chủ nông tr-ờng đó là lợi nhuận kinh doanh, nguồn thu nhập chủ yếu của ng-ời làm thuê nông nghiệp đó là tiền l-ơng, còn nguồn thu nhập của ng-ời nông dân tự canh và bán tự canh là tổ hợp của các nguồn thu nhập nói trên

Chính vì nguồn thu nhập không giống nhau, dẫn đến những nhân tố ảnh h-ởng đến thu nhập cũng không giống nhau Nhân tố ảnh h-ởng đến thu nhập của

địa chủ là giá thành ruộng đất, mức lợi tức tiền vốn ruộng đất, mối quan hệ cung cầu ruộng đất, mức giá thuê ruộng đất trung bình tại địa ph-ơng và điều kiện khế -ớc thuê m-ớn ruộng đất giữa ng-ời sở hữu ruộng đất và chủ nông tr-ờng Nhân tố ảnh h-ởng đến thu nhập của chủ nông tr-ờng đó là giá thành chi phí của các yếu tố đầu t- (nh- tiền thuê m-ớn ruộng đất, tiền lãi vốn vay, tiền l-ơng thuê lao động và giá cả các yếu tố đầu t- khác), sức sản xuất ruộng đất, hiệu quả của các yếu tố đầu t-, giá cả nông sản và kết cấu cạnh tranh thị tr-ờng v.v… Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của ng-ời lao động nông nghiệp bao gồm giá thành sức lao động, mối quan

hệ cung cầu sức lao động, mức tiền l-ơng bình quân và điều kiện khế -ớc thuê m-ớn lao động Ngoài ra những nhân tố nh- chính sách thuế, chính sách trợ cấp, chính sách về lãi suất ngân hàng đều là những nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh h-ởng đến thu nhập của các nhóm nông dân khác nhau

Trang 17

Trong các nghiên cứu về nông dân ở ph-ơng Tây, những ng-ời nông dân đ-ợc nói đến chủ yếu là những chủ nông tr-ờng, vì vậy vấn đề thu nhập của nông dân ph-ơng Tây đ-ợc họ quan tâm chủ yếu là vấn đề thu nhập của chủ nông tr-ờng Còn trong số những nhân tố ảnh h-ởng đến thu nhập của chủ nông tr-ờng, nhân tố quan trọng nhất đó là giá cả nông sản và quy mô nông tr-ờng Vì thế, trong kinh tế học ph-ơng Tây, các thảo luận về các vấn đề có liên quan đến giá cả nông sản và quy mô nông tr-ờng đ-ợc hiểu đồng nghĩa với thảo luận vấn đề có liên quan đến thu nhập của nông dân

Khác với ph-ơng Tây, nông dân Trung Quốc không phải chỉ là khái niệm về một nhóm ng-ời làm nghề nông nghiệp, mà là khái niệm về một quần thể xã hội đối lập với c- dân thành thị [40,30] Vì vậy, thu nhập của nông dân Trung Quốc, không chỉ bao gồm thu nhập nông nghiệp, mà còn bao gồm cả thu nhập phi nông nghiệp Do đó khác với ph-ơng Tây, một trong những con đ-ờng cơ bản để tăng thu nhập cho nông dân, bên cạnh việc tăng nguồn thu nhập từ kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, Trung Quốc cũng tìm mọi cách để tăng nguồn thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp

Ngoài ra, nông dân Trung Quốc không có ranh giới giữa ng-ời có sở hữu ruộng

đất, chủ nông tr-ờng và ng-ời làm công nông nghiệp ở Trung Quốc, quyền sở hữu ruộng đất đ-ợc qui về sở hữu thập thể, nông dân chỉ có quyền kinh doanh thuê khoán ruộng đất Đồng thời, đại đa số nông dân Trung Quốc, vừa là ng-ời kinh doanh thuê khoán ruộng đất, lại vừa là ng-ời lao động cày cấy nông nghiệp Vì vậy, thu nhập nông nghiệp của nông dân Trung Quốc th-ờng không bao gồm thu nhập từ cho thuê ruộng

đất (ng-ợc lại họ phải chi trả thuê khoán ruộng đất), nh-ng cũng bao gồm hai bộ phận

là lợi nhuận từ kinh doanh nông nghiệp và thu nhập lao động nông nghiệp Trong điều kiện tự cung tự cấp và bán tự cung tự cấp, hai bộ phận thu nhập này rất khó phân biệt với nhau

Chính vì nguyên nhân đó, vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc là một vấn

đề t-ơng đối phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, lại là một vấn đề chỉ giới hạn trong

sự tăng tr-ởng thu nhập của một nhóm ng-ời nhất định Theo Ông Tr-ơng Hiểu Sơn – Viện tr-ởng Viện Nghiên cứu phát triển nông nghiệp, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc thì cho đến nay, vẫn ch-a có một khung lý luận nào đ-ợc hình thành có thể đem

Trang 18

áp dụng nghiên cứu trực tiếp vấn đề thu nhập của nông dân Trung Quốc [40,31]

1.2 Sự cần thiết phải tăng thu nhập cho nông dân ở Trung Quốc

Trung Quốc là một n-ớc nông nghiệp lớn có hơn 1,3 tỉ ng-ời, trong

đó có khoảng 900 triệu nông dân sống ở vùng nông thôn rộng lớn Mặc

dù, nông dân có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất n-ớc, song

từ khi cải cách mở cửa đến nay nông dân Trung Quốc vẫn còn đang phải chịu quá nhiều thiệt thòi, gánh nặng kinh tế – xã hội trên vai họ khiến cho

đời sống của c- dân nông thôn còn phải đối mặt với không ít thách thức, trong đó nổi bật lên là vấn đề thu nhập của nông dân vẫn còn thấp và tăng tr-ởng chậm hơn so với ng-ời dân ở thành phố Việc thu nhập của nông dân thấp và tăng tr-ởng chậm đã gây ra những ảnh h-ởng trực tiếp

đến sự phát triển của kinh tế quốc dân và sự ổn định của xã hội

1.2.1 Thu nhập của nông dân tăng chậm ảnh h-ởng trực tiếp đến sự tăng tr-ởng của nền kinh tế quốc dân

Trung Quốc là hiện đang là một n-ớc đang phát triển lớn, có thể nói nhu cầu trong n-ớc là động lực căn bản cho sự tăng tr-ởng của nền kinh tế quốc dân Nông dân là một quần thể tiêu dùng lớn nhất, nông thôn là thị tr-ờng tiêu dùng có tiềm lực nhất Thu nhập của nông dân tăng tr-ởng chậm, khiến cho sức mua kém, sẽ ảnh h-ởng trực tiếp đến việc mở rộng thị tr-ờng ở nông thôn và việc mở rộng nhu cầu trong n-ớc Theo thống kê, tỉ trọng tổng kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn những năm 80 của thế kỷ XX chiếm 50% tổng kim ngạch tiêu dùng cả n-ớc Trung Quốc, nh-ng đến năm 1997 đã giảm xuống còn 39%, năm 2002 lại tiếp tục giảm xuống còn 34,8% [53,49] Mở rộng nhu cầu và thị tr-ờng trong n-ớc, không những phải trông vào hơn 300 triệu nhân

Trang 19

khẩu tiêu dùng ở thành thị, mà quan trọng hơn là phải dựa vào hơn 900 triệu nông dân ở khu vực nông thôn rộng lớn [53,49]

Thu nhập của nông dân thấp và tăng tr-ởng chậm ảnh đến sự tăng tr-ởng của nền kinh tế quốc dân thể hiện trên các mặt sau đây:

Thu nhập của nông dân thấp khiến nông dân phải thắt chặt tiêu dùng Theo thống kê, trong giai đoạn từ năm 2000 – 2002, tổng kim ngạch bán lẻ hàng tiêu dùng ở thành thị đạt 2.589,8 tỉ NDT, tổng kim ngạch bán

lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn chỉ đạt 1.501,3 tỉ NDT [75] Dân số ở nông thôn tuy đông hơn dân số ở thành thị rất nhiều, nh-ng tổng kim ngạch bán

lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn chỉ ch-a bằng một nửa tổng kim ngạch bán

lẻ hàng tiêu dùng ở thành thị, từ đó có thể thấy, mức chi cho tiêu dùng bình quân đầu ng-ời của c- dân nông thôn thấp hơn nhiều so với mức chi cho tiêu dùng bình quân đầu ng-ời của c- dân thành thị [65]) Lấy ví dụ về các mặt hàng điện gia dụng, mặc nhu cầu mua sắm các thiết bị gia dụng nh- ti vi, tủ lạnh, máy giặt của nông dân rất lớn, nh-ng do tăng tr-ởng thu nhập của nông dân chậm, khả năng tích luỹ thấp, nông dân không có

đủ sức mua thực tế Theo thống kê, bình quân số đồ điện gia dụng của

100 hộ c- dân nông thôn năm 2003, ti vi là 60,5 chiếc, tủ lạnh là 14,8 chiếc, máy giặt 31,8 chiếc, máy ảnh là 3,3 chiếc Nếu mức bình quân các sản phẩm tiêu dùng lâu bền của 210 triệu hộ c- dân nông thôn đạt mức bình quân gia đình c- dân thành thị, thì cần thêm 140 triệu ti vi, 1,5 triệu tủ lạnh, 1,3 triệu máy giặt, 85 triệu máy ảnh [68], đây quả là một thị tr-ờng tiêu dùng cực lớn

Có thể thấy mặc dù c- dân nông thôn chiếm trên 70% tổng dân số của cả n-ớc, song mức tiêu dùng chỉ chiếm ch-a đến 40% tổng kim ngạch tiêu dùng toàn xã hội Một tính toán cho thấy, nếu tỉ trọng tổng kim ngạch

Trang 20

hàng tiêu dùng nông thôn đ-ợc nâng lên mức 50% tổng kim ngạch tiêu dùng toàn xã hội, thì nhu cầu tiêu dùng tăng thêm hơn 800 tỉ NDT Nếu tiêu dùng bình quân đầu ng-ời c- dân nông thôn tăng thêm 50 NDT, thì tổng kim ngạch tiêu dùng cả n-ớc có thể tăng thêm 40 tỉ NDT [69]

Ngoài ra, mức tiêu dùng của nông dân giảm cũng khiến cho mức

đầu t- giảm xuống Theo thống kê, năm 1983 đóng góp tiêu dùng của nông dân và sự tăng tr-ởng mức đầu t- đối với GDP là 55%, nh-ng đến năm 1997 giảm xuống còn 22,3% [42,345] Tỉ lệ tiêu dùng giảm sẽ không khích thích đ-ợc đầu t- và sản xuất, ảnh h-ởng trực tiếp đến sự tăng tr-ởng của kinh tế

Mặt khác, do mức thu nhập của c- dân nông thôn quá thấp, đặc biệt

là ở khu vực miền Trung và miền Tây, vì vậy nhiều nông dân phải bỏ quê h-ơng đi ra thành phố tìm việc, cộng thêm những hạn chế về quyền l-u chuyển ruộng đất khoán, đã gây nên tình trạng ruộng đất canh tác bị bỏ hoang diễn ra t-ơng đối phổ biến, cơ sở hạ tầng nông thôn xây dựng không đ-ợc sử dụng, không có lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp

Tóm lại, thu nhập của nông dân tăng tr-ởng chậm không những ảnh h-ởng trực tiếp đến đời sống và khả năng đầu t- vào sản xuất của ng-ời nông dân, mà còn ảnh h-ởng không tốt đến sự tăng tr-ởng của nền kinh

tế quốc dân Theo nghiên cứu về hành vi tiêu dùng trong kinh tế học cho thấy, ng-ời nghèo th-ờng có khynh h-ớng tiêu dùng, còn ng-ời giàu lại có khuynh h-ớng tích trữ nhiều hơn, vì thế thu nhập của ng-ời nông dân đ-ợc nâng cao sẽ có lợi hơn cho việc mở rộng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội, qua đó thúc đẩy sự tăng tr-ởng kinh tế

Trang 21

1.2.2 Thu nhập của nông dân tăng tr-ởng chậm ảnh h-ởng đến sự

ổn định của xã hội

Từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, mặc dù thu nhập của ng-ời nông dân không ngừng đ-ợc nâng cao, nh-ng so với ng-ời dân thành thị, thu nhập đó vẫn ở mức t-ơng đối thấp Xét trong khoảng thời gian từ năm

1997 – 2003, tốc độ tăng tr-ởng thu nhập khả dụng bình quân đầu ng-ời c- dân thành thị là khoảng 8,6% [65], còn tốc độ tăng tr-ởng thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời c- dân nông thôn chỉ là 3,8% Tốc độ tăng tr-ởng thu nhập của c- dân nông thôn chỉ bằng khoảng 1/3 mức tăng tr-ởng thu nhập của c- dân thành thị Chính sự khác biệt trong tốc độ tăng thu nhập là nguyên nhân chính khiến khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa thành thị

Trang 22

cuộc, tức là 240 cuộc mỗi ngày [27] Mặt khác, sự gia tăng mức độ chênh lệch thu nhập giữa ng-ời dân nông thôn và ng-ời dân thành thị cũng có ảnh h-ởng khá lớn tới niềm tin của nhân dân vào chính phủ, vào công cuộc cải cách, dẫn tới việc ng-ời nông

dân nghi ngờ về tính -u việt của chủ nghĩa xã hội là “cùng giàu có” Điều này có ảnh

h-ởng không thể phủ nhận tới sự ổn định của xã hội và địa vị cầm quyền của Đảng cũng sẽ bị uy hiếp

Tóm lại, thu nhập của nông dân thấp và tăng tr-ởng chậm không những ảnh h-ởng trực tiếp đến đời sống của bản thân ng-ời nông dân, mà đây cũng sẽ là nhân tố bất lợi cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, sự ổn định của chính trị và xã hội Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Trung Quốc đang phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả vào năm 2020, việc tăng thu nhập cho nông dân sẽ càng trở nên cần thiết, đòi hỏi lãnh đạo Trung -ơng và chính quyền các cấp ở Trung Quốc phải áp dụng các biện pháp giải quyết vấn đề tăng thu nhập cho nông dân, nhằm đảm bảo cho công cuộc cải cách và phát triển kinh tế ở Trung Quốc trong thời gian tới tiếp tục đ-ợc tiến hành một cách thuận lợi

1.2.3 Nguyên nhân khiến cho thu nhập của nông dân tăng chậm

Kể từ khi cải cách mở cửa đến nay, mặc dù thu nhập của ng-ời nông dân Trung Quốc đã đ-ợc tăng lên đáng kể, tuy nhiên mức tăng nh- trên vẫn còn thấp hơn mức tăng tr-ởng của kinh tế quốc dân và mức tăng tr-ởng thu nhập của c- dân thành thị, khiến cho chênh lệch thu nhập giữa ng-ời dân thành thị và c- dân nông thôn ngày càng doãng ra Vậy những nhân tố nào đã khiến cho thu nhập của ng-ời nông dân tăng tr-ởng chậm Có thể nói những nhân tố khiến cho thu nhập của ng-ời nông dân Trung Quốc tăng chậm có rất nhiều, nh-ng qui nạp lại có những nhân tố chủ yếu sau:

Một là, ảnh h-ởng của kết cấu kinh tế-xã hội nhị nguyên Thời kỳ đầu xây dựng

đất n-ớc, để nhanh chóng xây dựng nên hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh độc lập,

đánh đổ sự phong toả của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc đã thiết lập một thể chế kinh tế kế hoạch trung -ơng tập quyền, thi hành chính sách tích luỹ cao của nền kinh

tế trình độ thấp, thực hiện chiến l-ợc -u tiên phát triển công nghiệp nặng và đầu t-

Trang 23

thiên lệch cho công nghiệp nặng ở thành thị Trong điều kiện lúc đó, thực hiện chiến l-ợc phát triển nh- vậy chỉ cần phải giải quyết những vấn đề ít ỏi về việc làm và nguồn vốn cho phát triển công nghiệp nặng Vì vậy, nhà n-ớc một mặt thông qua ph-ơng thức “giá cánh kéo” đối với sản phẩm công nông nghiệp, hạ thấp giá nông sản phẩm

để tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá; mặt khác thi hành chính sách tiền l-ơng thấp ở thành thị đồng thời hạn chế nông dân vào thành phố tìm việc làm, vì thế dần hình thành chế độ hộ tịch, chế độ việc làm, chế độ giáo dục, y tế và chế độ phúc lợi phân tách giữa thành thị và nông thôn

Cùng với thể chế kinh tế kế hoạch tồn tại mấy chục năm, tình trạng cơ cấu phân tách giữa thành thị và nông thôn ngày càng trở nên sâu sắc Khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, xây dựng thể chế kinh tế thị tr-ờng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế phát triển với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, chế độ hộ tịch nhị nguyên gây ra những hạn chế trong việc l-u động dân số từ nông thôn ra thành thị, dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong việc phân chia nguồn lợi công cộng, sự phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn và giữa các vùng miền Mặt khác, những đầu t- thiên lệch cho thành thị dẫn đến đầu t- cho xây dựng cơ bản trong lĩnh vực nông nghiệp không đầy đủ Thành thị chiếm khoảng 30% tổng dân số cả n-ớc nh-ng luôn chiếm trên 70% tổng đầu t- tài sản cố định toàn xã hội, mức đầu t- bình quân đầu ng-ời gấp 5 – 6 lần ở nông thôn [35,87] Năm 1978, tài chính nhà n-ớc đầu t- cho xây dựng cơ bản trong lĩnh vực nông nghiệp là 5,114 tỉ NDT, năm 1994 là 10,7 tỉ NDT, trong 17 năm chỉ tăng có 2,09 lần Từ năm 1998 trở lại đây, d-ới tác động của những chính sách tài chính tích cực của nhà n-ớc, vốn đầu t- vào xây dựng cơ bản cho nông nghiệp mới đ-ợc tăng lên nhanh chóng, năm 1999 đạt 35,7 tỉ NDT Mặc dù vậy vẫn không đáp ứng đ-ợc yêu cầu vốn cho sản xuất nông nghiệp, điều kiện sản xuất nông nghiệp về cơ bản không đ-ợc cải thiện Và mặc dù vẫn tăng, nh-ng tỉ trọng đầu t- cho nông nghiệp trong tổng đầu t- xã hội lại giảm và vẫn khá thấp, năm 1978 chiếm 4,56%, đến năm 1999 giảm xuống còn 2,71% [35,83] Sản xuất nông nghiệp không đ-ợc đầu t- thích đáng, kinh tế nông thôn phát triển chậm chạp khiến cho thu nhập ng-ời nông dân tăng chậm, mức thu nhập bình quân của ng-ời nông dân thấp hơn nhiều so với ng-ời dân thành thị, là một trong những

Trang 24

nguyên nhân gây nên tình trạng chênh lệch giàu nghèo, trở thành vấn đề nan giải khi Trung Quốc thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội hài hoà

Hai là, sự bảo thủ, trì trệ trong t- t-ởng truyền thống Một số cán bộ trong quá

trình tiến hành điều chỉnh kết cấu nông nghiệp còn tồn tại t- t-ởng sợ khó, không có năng lực công tác, thiếu bản lĩnh lãnh đạo nông dân làm giàu Một bộ phận nông dân hài lòng với tình trạng hiện tại, còn tồn tại tư tưởng “đủ ăn là được”, thiếu niềm tin

và dũng khí lập nghiệp, tố chất chỉnh thể còn ch-a cao, thiếu năng lực và ý thức sáng tạo Tố chất văn hoá khoa học kỹ thuật của ng-ời nông dân không cao cũng là một nhân tố ảnh h-ởng đến thu nhập của ng-ời nông dân Theo thống kê, tính đến năm 2005 trình độ giáo dục trung bình của ng-ời nông dân Trung Quốc chỉ đến lớp

7 Trong số 500 triệu ng-ời lao động ở nông thôn, thì những ng-ời có trình độ văn hoá trên phổ thông trung học chỉ chiếm 13,68%, số ng-ời có trình độ văn hoá tiểu học và d-ới tiểu học chiếm 34,10%, không biết chữ và biết chữ rất ít chiếm 6,78% [4] Với tình trạng trên, nhiều ng-ời nông dân khó có thể đ-a ra những phán đoán t-ơng đối chính xác về cung cầu của thị tr-ờng, khó có thể vận dụng những thành quả khoa học và kỹ thuật tiên tiến vào trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp, hơn nữa còn ảnh h-ởng đến năng lực đi ra thành phố làm công Mà cả ba ph-ơng diện trên đều là con đ-ờng quan trọng để tăng thu nhập cho nông dân Theo tính toán của học giả Trung Quốc, trình độ giáo dục của ng-ời lao động ở nông thôn Trung Quốc có liên quan đến mức thu nhập tiền l-ơng bình quân đầu ng-ời Mỗi ng-ời lao động trong gia đình nông dân tăng thêm 1 năm giáo dục, thì thu nhập tiền l-ơng bình quân của hộ gia đình nông dân có thể tăng lên 1.000 NDT [4]

Ba là, cơ sở hạ tầng nông nghiệp lạc hậu, đầu t- cho nông nghiệp và nông

thôn còn ít, dự trữ sản xuất không đủ Hàm l-ợng kỹ thuật trong sản xuất nông

nghiệp, điều kiện cơ sở hạ tầng của Trung Quốc còn thấp hơn nhiều so với các quốc gia phát triển Tỉ lệ chuyển hoá thành quả khoa học kỹ thuật nông nghiệp của các quốc gia phát triển đạt 70%, còn tỉ lệ chuyển hoá thành quả khoa học kỹ thuật của Trung Quốc chỉ có 40 – 50%, dẫn đến chất l-ợng nông sản phẩm không cao, sức cạnh tranh thấp; đầu t- cho khoa học kỹ thuật nông nghiệp của các n-ớc phát triển chiếm hơn 5% tổng giá trị sản l-ợng nông nghiệp, còn Trung Quốc chỉ có khoảng

Trang 25

0,17 – 0,27% [70] Mức chi tài chính cho nông nghiệp cả n-ớc của Trung Quốc năm

2005 là 245 tỷ NDT, chỉ chiếm 7,22% tổng mức chi tài chính, con số nh- vậy là khá khiêm tốn so với một n-ớc có dân số nông thôn chiếm hơn 2/3 tổng dân số cả n-ớc [70]

Bên cạnh đó, đầu t- tài chính cho nông nghiệp của Trung Quốc còn ch-a cân đối, chủ yếu tập trung đầu t- cho xây dựng cơ sở hạ tầng và những công trình lớn, nguồn đầu t- cho nông nghiệp chủ yếu dùng vào việc trị lý những con sông lớn, còn đầu t- cho cơ sở hạ tầng nhỏ có quan hệ mật thiết đến tăng thu nhập cho nông dân lại có hạn, khó có thể trực tiếp tăng thu nhập cho nông dân Mặt khác, thể chế quản lý nguồn vốn tài chính hỗ trợ cho nông nghiệp còn ch-a hiệu quả, hình thức quản lý còn nhỏ lẻ manh mún, không có những qui định rõ ràng trong phân chia phạm vi phụ trách tài chính các cấp Các bộ ngành thuộc cấp huyện đều nắm một phần nguồn vốn, đều có quyền phân phối nguồn vốn, nh- vậy sẽ không

có lợi cho việc sử dụng và qui hoạch tổng thể nguồn vốn Ngoài ra hiện t-ợng chi tài chính không đúng mục đích cho nông nghiệp, không thực sự sử dụng đầu t- vào nông nghiệp còn diễn ra t-ơng đối nghiêm trọng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn trợ cấp cho nông nghiệp

Bốn là, kết cấu nông nghiệp không hợp lý, trong đó kết cấu cây trồng và kết

cấu sản xuất vẫn đơn điệu, hàm l-ợng kỹ thuật thấp Từ thập niên 90 trở lại đây, mối quan hệ cung cầu nông sản phẩm của Trung Quốc diễn ra sự thay đổi lớn, các nông sản của Trung Quốc đều ở trong tình trạng cung v-ợt quá cầu, giá nông sản liên tục giảm xuống Sau khi cơ bản giải quyết đ-ợc vấn đề đủ ăn cho nhân dân vào những năm 80 của thế kỷ tr-ớc, mâu thuẫn mang tính kết cấu nông nghiệp Trung Quốc

ngày càng nổi bật, thể hiện rõ nét nhất ở 3 mặt sau đây: thứ nhất, chất l-ợng sản

phẩm không cao, mức độ gia công chiều sâu các sản phẩm nông nghiệp kém, giá trị

phụ gia thấp Thứ hai, chủng loại mang tính thông th-ờng nhiều, chủng loại mang

tính chuyên dụng ít; sản phẩm sơ cấp nhiều, sản phẩm gia công chế biến ít, những

sản phẩm gia công chế biến tinh luyện lại càng ít hơn Thứ ba, mặc dù phân công

hoá khu vực sản xuất nông nghiệp có b-ớc tiến triển lớn, nh-ng lợi thế so sánh của các khu vực vẫn ch-a đ-ợc phát huy đầy đủ Do điều chỉnh kết cấu còn trì trệ, kết

Trang 26

cấu cung cầu nông sản không ăn khớp với nhau, gây ra tình trạng một số nông sản khó tiêu thụ đ-ợc và giá cả bị hạ thấp, ảnh h-ởng đến việc tăng thu nhập cho ng-ời nông dân Từ những năm 90 thế kỷ XX trở đi, cùng với việc giải quyết vấn đề no ấm, chi tiêu của ng-ời dân cho thực phẩm trong trong tổng chi tiêu gia đình cũng giảm xuống, điều này chứng tỏ rằng tăng tr-ởng của nông nghiệp bắt đầu chịu sự ràng buộc của thị tr-ờng Trong mấy năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm của c- dân thành thị rơi vào trạng thái đình trệ, định mức chi tiêu cho thực phẩm bình quân

đầu ng-ời giảm xuống, số tiền chi tiêu cho thực phẩm bình quân đầu ng-ời cũng ít

đi Chi tiêu cho thực phẩm tăng tr-ởng chậm chạp tất nhiên có ảnh h-ởng trực tiếp

đến việc nâng cao giá cả thực phẩm, từ đó ảnh h-ởng trực tiếp đến tăng tr-ởng thu nhập của ng-ời nông dân

Nền nông nghiệp của Trung Quốc là một nền nông nghiệp điển hình chịu sự ràng buộc của tài nguyên, tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2006, tổng diện tích đất canh tác của Trung Quốc là chỉ có khoảng 1 tỷ 827 triệu mẫu, diện tích đất canh tác bình quân đầu ng-ời chỉ là 1,39 mẫu [87], ch-a bằng 40% mức trung bình của thế giới Điều này đã quyết định nền sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc chịu sự chế

ước của cái “nút cổ chai” là “tài nguyên đất canh tác” Chính vì sự hạn hẹp tài nguyên

đất canh tác đã đến quy mô kinh doanh của các hộ nông nghiệp không hợp lý Diện tích kinh doanh bình quân của mỗi hộ gia đình chỉ có 0,5 hecta, bằng khoảng 1/40 của các n-ớc EU, 1/400 của Mỹ và khoảng 1/3 của Nhật Bản và Hàn Quốc Hậu quả

ảnh h-ởng trực tiếp từ quy mô kinh doanh nhỏ đó là không có lợi cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật, bởi lẽ việc áp dụng của nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cần phải dựa trên một quy mô nhất định; hơn nữa, nếu không đạt đ-ợc một quy mô nhất

định, nông dân không có đ-ợc tính tích cực học tập và áp dụng kỹ thuật mới Quy mô nhỏ luôn có quan hệ với chất l-ợng sản phẩm thấp, giá cả thấp Hơn nữa, quy mô nhỏ thì l-ợng hàng hoá ít, những nhân tố đó gây ảnh h-ởng trực tiếp đến việc tăng thu nhập cho ng-ời nông dân Trung Quốc

Năm là, thể chế quản lý nông nghiệp lạc hậu Thể chế quản lý nông nghiệp

lạc hậu thể hiện ở các mặt: thứ nhất, sự phân tách trong thể chế quản lý sản xuất, giữa các khâu chế biến và tiêu thụ nông sản còn thiếu tiếng nói chung Thứ hai, trình

Trang 27

độ tổ chức của nông dân còn thấp, các tổ chức hợp tác chuyên doanh ở nông thôn còn ch-a đ-ợc kiện toàn, sản xuất của nông dân còn thiếu tính định h-ớng, ch-a

hình thành đ-ợc -u thế cạnh tranh trong thị tr-ờng Thứ ba, phân công phòng dịch,

tiêu chuẩn chất l-ợng và quản lý còn ch-a đồng bộ, ch-a tạo thành hợp lực giữa các

bộ ngành kỹ thuật với các bộ ngành vệ sinh an toàn thực phẩm Ngoài ra, trình độ dịch vụ và tận dụng khai thác nguồn thông tin nông nghiệp còn thấp, ch-a đáp ứng

đ-ợc yêu cầu phát triển thông tin nông nghiệp của nông dân

Sáu là, những gánh nặng bất hợp lý quá nặng nề Có thể nói những biện pháp

trực tiếp nhất, có hiệu quả rõ rệt nhất để tăng thu nhập cho nông dân đó là giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân, giảm gánh nặng chính là tăng thu nhập Nh-ng từ giữa những năm 80 của thế kỷ tr-ớc, gánh nặng của nông dân ngày càng nặng nề,

nghiêm trọng Từ năm 1988 – 1992, gánh nặng chi trả cho các loại thuế phí của nông dân bình quân hàng năm tăng 16,9% [71], cao hơn rõ rệt so với mức độ tăng tr-ởng thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời cùng kỳ Mặc dù Trung -ơng Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn luôn coi trọng cao độ công tác giảm nhẹ gánh nặng cho ng-ời nông dân, tuy nhiên gánh nặng của nhóm ng-ời có thu nhập thấp và những hộ gia

đình thuần nông vẫn còn rất nặng nề Căn cứ theo số liệu, từ năm 1997 – 1999, các khoản thuế phí mà những hộ gia đình có thu nhập trung bình và thấp phải chi trả chiếm khoảng 10% thu nhập thuần [71] Theo số liệu thống kê, năm 2002, gánh nặng về thuế và phí bình quân đầu ng-ời của những hộ thuần nông là 115,7 NDT, của những hộ làm nghề phụ lấy thu nhập nông nghiệp làm chủ là 81,8 NDT, của những hộ làm nghề phụ lấy thu nhập phi nông nghiệp làm chủ là 62,1 NDT, trong khi

đó của c- dân thành thị lại chỉ có 49,5 NDT [72] Tr-ớc khi Trung Quốc tiến hành cải cách chế độ thu thuế và phí, còn hiện t-ợng thu thuế chồng chéo, ng-ời dân đã phải

đóng thuế nông nghiệp, lại còn phải đóng thêm thuế đặc sản nông nghiệp và thuế giết mổ gia súc Để giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân, Trung Quốc đã tiến hành cải cách chế độ thuế phí ở nông thôn Quả thực sau khi cải cách chế độ thuế phí, gánh nặng của nông dân đã đ-ợc giảm nhẹ, nh-ng ở một số địa ph-ơng, vẫn còn hiện t-ợng chính sách không đ-ợc thực hiện hoặc việc thực hiện bị bóp méo, các vấn đề nh- loạn thu phí, loạn góp vốn vẫn còn t-ơng đối nghiêm trọng Hơn nữa, xét về căn

Trang 28

bản, giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân, có liên quan đến cải cách chỉnh thể chính sách phân phối quốc gia Mà cải cách về ph-ơng diện này cần phải trải qua một quá trình, không thể tiến hành trong một sớm một chiều

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác nh- trình độ đô thị hoá ch-a cao, sự phát triển của công nghiệp h-ơng trấn còn gặp nhiều trở ngại, ruộng đất phân tán, kinh doanh tự phát, năng lực ứng phó với rủi ro thị tr-ờng và thiên tai của ng-ời nông dân còn yếu, giá cả nông sản thấp và cơ chế l-u thông nông sản ch-a thông thoáng, thiếu sự trợ giúp về tiền tệ, ng-ời nông dân còn gặp nhiều khó khăn khi muốn vay vốn… đều là những nhân tố kìm hãm thu nhập của nông dân tăng lên

Tiểu kết

Thu nhập của nông dân là cơ sở đánh giá sự phát triển của kinh tế nông thôn Thu nhập của nông dân tăng chậm không những có ảnh h-ởng trực tiếp đến sự tăng tr-ởng của nền kinh tế quốc dân, sự ổn định của chính trị, xã hội và tiến trình xây dựng xã hội khá giả ở nông thôn, mà còn liên quan trực tiếp đến cải cách, phát triển

và ổn định của toàn xã hội Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nh- cấu kinh tế xã hội nhị nguyên thành thị nông thôn tồn tại dai dẳng khiến cho nông

nghiệp, nông thôn Trung Quốc trong một thời gian dài không đ-ợc đầu t- thích đáng, những hạn chế của chế độ hộ tịch phân biệt thị dân với nông dân, sự bất hợp lý trong kết cấu nông nghiệp, những gánh nặng thuế phí quá nặng nề đã khiến cho thu nhập của ng-ời nông dân Trung Quốc còn thấp và tăng tr-ởng chậm, tạo nên những bất ổn định về tâm lý xã hội, ảnh h-ởng tiêu cực đến sự phát triển của đất n-ớc Chính vì thế, trong suốt hơn 30 năm cải cách mở cửa, tuy ở các giai đoạn khác nhau mức độ quan tâm giải quyết các vấn đề tam nông nói chung của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc có khác nhau, nh-ng việc thúc đẩy tăng thu nhập cho nông dân vẫn luôn đ-ợc các nhà lãnh đạo Trung Quốc coi trọng, nó đ-ợc xem là một trong những nhiệm vụ chủ yếu để phát triển sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn

Trang 29

Ch-ơng 2: một số giải pháp cơ bản thúc đẩy tăng thu nhập cho nông

dân của trung quốc

Năm 1978, Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc đ-a ra quyết sách

mang tính lịch sử, chuyển trọng tâm công tác của Đảng và Nhà n-ớc từ “lấy đấu tranh

giai cấp làm c-ơng lĩnh” sang “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm”, đánh dấu Trung

Quốc b-ớc vào một thời kỳ phát triển mới – thời kỳ cải cách mở cửa Trong tiến trình thúc đẩy cải cách mở cửa, cải cách nông thôn đi đầu đột phá lấy thị tr-ờng hoá làm ph-ơng h-ớng, không những đã phá vỡ sự trói buộc và kìm hãm của thể chế nông nghiệp truyền thống, mà còn thúc đẩy thu nhập của nông dân tăng tr-ởng mạnh mẽ

Kể từ đó đến nay, Đảng và Nhà n-ớc Trung Quốc cũng đã thực hiện đ-ợc nhiều biện pháp quan trọng nhằm thúc đẩy cho nông dân D-ới đây Luận văn sẽ đi sâu phân tích một số nhóm biện pháp cơ bản đã phát huy đ-ợc hiệu quả t-ơng đối lớn trong việc thúc đẩy tăng thu nhập cho nông dân

2 1 Thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản đến hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc trong những năm đầu cải cách mở cửa

Có thể nói chế độ khoán đến hộ gia đình là nội dung hạt nhân của cải cách nông thôn trong thời kỳ đầu, đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa nhất giúp cho thu nhập của nông dân tăng tr-ởng mạnh mẽ Chế độ khoán đến hộ gia đình phù hợp với đặc điểm và quy luật sản xuất lúc đó, xét về căn bản đã thay đổi ph-ơng thức tổ chức sản xuất kinh doanh tập thể thống nhất, thực hiện chuyển đổi chế độ sản xuất, phát huy đ-ợc sự nhiệt tình sản xuất của nông dân, thúc đẩy thu nhập của nông dân tăng tr-ởng nhanh chóng

2.1.1 Sự ra đời của chế độ khoán sản đến hộ gia đình

Sau Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc (tháng 12 – 1978), Trung Quốc từng b-ớc triển khai cải cách thể chế kinh tế nông thôn, trọng điểm cải cách nông thôn thời kỳ này là phát triển chế độ trách nhiệm khoán sản đến hộ gia đình

Trang 30

Chế độ khoán sản đến hộ gia đình là một hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh nông nghiệp quá độ xuất hiện trong quá trình phát triển từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại Nó là hình thức trách nhiệm sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân lấy gia đình làm đơn vị để nhận khoán nhiệm vụ sản xuất và t- liệu sản xuất nh- ruộng đất từ các tổ chức tập thể Đặc điểm cơ bản của chế độ này

là đồng thời với việc bảo l-u nền kinh doanh thống nhất cần thiết của kinh tế tập thể, tập thể sẽ giao khoán ruộng đất và các t- liệu sản xuất khác cho các hộ gia đình nông dân, các hộ đ-ợc nhận khoán sẽ căn cứ theo quyền hạn quy định trong hợp

đồng giao khoán để đ-a ra các quyết định và biện pháp kinh doanh độc lập Quan

hệ phân phối của chế độ khoán sản đến hộ gia đình này đ-ợc nông dân khái quát

một cách hình tượng là “nộp đủ cho Nhà n-ớc, l-u đủ cho tập thể, còn lại đều là của

mình” [20,22] Các t- liệu sản xuất chủ yếu đ-ợc quy về sở hữu tập thể; về hình thức

phân phối vẫn áp dụng theo nguyên tắc phân phối theo lao động; trong các hoạt

động kinh doanh sản xuất, tập thể và gia đình có lúc phân tách có lúc hợp nhất Các

hộ nhận khoán và các tổ chức kinh tế tập thể ký kết hợp đồng khoán với hai hình thức cụ thể nh- sau:

Một là, khoán việc đến hộ Các hộ đ-ợc nhận khoán sẽ nộp thuế nông nghiệp

cho Nhà n-ớc, ký hợp đồng mua bán sản phẩm và trích lại một phần tiền nộp cho tập thể Toàn bộ số sản phẩm còn d- lại đều thuộc quyền sở hữu của ng-ời nông dân

Hai là, khoán sản l-ợng đến hộ ở hình thức này, tập thể sẽ tiến hành định

mức sản l-ợng, định mức đầu t-, định mức công điểm, nếu v-ợt sản l-ợng quy định thì nông dân đ-ợc h-ởng, nếu không đạt sản l-ợng định mức thì nông dân phải bù vào Đại đa số các vùng của Trung Quốc áp dụng hình thức thứ nhất là khoán việc

đến hộ Tính đến năm 1983, ở nông thôn trong cả n-ớc Trung Quốc đã có 97,72%

đội sản xuất thực hiện chế độ khoán sản đến hộ gia đình [20,23]

Có thể nói chế độ khoán sản đến hộ gia đình là một sáng tạo vĩ đại của ng-ời nông dân Trung Quốc, là sản phẩm cũng là hạt nhân của cải cách thể chế kinh tế nông thôn Trung Quốc, đồng thời nó cũng là nguyên nhân sâu xa nhất giúp cho thu nhập của nông dân tăng lên nhanh chóng vào thời kỳ đầu cải cách mở cửa Việc

Trang 31

thực hiện chế độ khoán sản đến hộ gia đình đã giải phóng và phát triển sức lao động nông thôn, vừa phát huy đ-ợc tính -u việt của chế độ kinh doanh tập thể thống nhất, lại vừa phát huy đ-ợc tính tích cực sản xuất của nông dân, là một hình thức kinh tế t-ơng đối tốt phù hợp với đặc điểm của nền nông nghiệp, trình độ phát triển sức sản xuất và trình độ quản lý ở nông thôn Trung Quốc lúc đó Từ đó nó nâng cao đ-ợc mức sống và thu nhập của hàng trăm triệu nông dân, đồng thời đặt nền móng cho sự

phát triển của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, nó đ-ợc Đặng Tiểu Bình gọi là “b-ớc

nhảy vọt thứ nhất”của công cuộc cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc

2.1.2 Vai trò của chế độ khoán sản đến hộ trong việc tăng thu nhập cho ng-ời nông dân Trung Quốc

William Petty nhà kinh tế học cổ điển ph-ơng Tây đã từng nói: “đất đai là mẹ đẻ

của tài sản, còn lao động là cha đẻ của tài sản” Trung Quốc là một n-ớc nông nghiệp

lớn, gần 80% nông dân dựa vào nông nghiệp làm nguồn thu nhập chính Vì vậy, có thể nói ruộng đất chính là tài sản quan trọng nhất của ng-ời nông dân Chế độ khoán sản phẩm đến hộ có nội dung tr-ớc hết là cải cách quyền tài sản đối với ruộng đất, nông dân nhờ đó mà có đ-ợc một số quyền về ruộng đất, tính tích cực sản xuất đ-ợc phát huy, nên đã tạo ra những biến đổi cực kỳ to lớn về nông nghiệp

Cải cách ruộng đất thời kỳ đầu xây dựng đất n-ớc đã giúp cho ng-ời nông dân

có đ-ợc ruộng đất của riêng mình, chế độ ruộng đất lúc đó là kết cấu tài sản với mô

hình nhị nguyên hợp nhất “ruộng đất công ích đ-ợc quy về sở hữu nhà n-ớc, ruộng đất

kinh doanh quy về sở hữu tư nhân” “Hiến pháp n-ớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”

ban bố tháng 9 năm 1954 quy định: “Nhà n-ớc căn cứ theo pháp luật bảo hộ quyền sở

hữu ruộng đất của nông dân và quyền sở hữu các t- liệu sản xuất khác”, thừa nhận

một loạt quyền lợi về tự do kinh doanh, mua bán, cho thuê, cầm cố, thế chấp ruộng

đất Nh-ng trong khoảng thời gian từ năm 1955 – 1958, do việc thúc đẩy phong trào cải tạo tập thể hoá xã hội chủ nghĩa nông nghiệp, quyền sở hữu ruộng đất của ng-ời nông dân Trung Quốc và quyền sở hữu những t- liệu khác nhanh chóng bị t-ớc đoạt

mất Đến năm 1962, sau khi “Điều lệ công tác công xã nhân dân nông thôn” chính

thức đ-ợc ban hành, qui định cá nhân ng-ời nông dân không còn quyền sở hữu ruộng

đất, ngay cả đất đai ông bà tổ tiên để lại cũng bị thu quy về sở hữu tập thể nông thôn

Trang 32

Những năm cuối thập niên 70, đầu 80 của thế kỷ tr-ớc, 18 hộ nông dân thuộc thôn Tiểu C-ơng, xã Lý Uyên đã bí mật ký một “hợp đồng khoán lớn” về đất đai, mở màn cho việc thực hiện chế độ khoán đ-ợc thi hành trong cả n-ớc về sau này Năm 1978, Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc đã đ-a ra quyết sách lịch sử tiến hành cải cách

mở cửa Năm 1982, Trung ương Đảng phê chuẩn “Kỷ yếu Hội nghị công tác nông thôn

toàn quốc” Bản Kỷ yếu chỉ rõ: Hiện nay đã có trên 90% đội sản xuất ở nông thôn xây

dựng chế độ trách nhiệm sản xuất với các hình thức khác nhau nh- khoán sản l-ợng đến

hộ, khoán việc đến hộ v.v…, tất cả đều là “chế độ trách nhiệm sản xuất của kinh tế tập

thể XHCN”; đồng thời nói rõ các hình thức khoán nêu trên “không đồng nghĩa với kinh tế cá thể t- hữu nhỏ tr-ớc khi hợp tác hoá, mà là bộ phận hợp thành của kinh tế nông nghiệp XHCN” [18,34] Nh- vậy, chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình đã thay thế cho

công xã nhân dân, không những phát triển mối quan hệ giữa nông dân và ruộng đất, mà còn hình thành nên lần giải phóng t- t-ởng thứ nhất lúc đó, tiến hành những tìm tòi mang tính sáng tạo cho việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị tr-ờng và chế độ kinh tế cơ bản giai đoạn đầu của Trung Quốc Năm 1984, Trung -ơng ĐCS Trung Quốc đ-a ra thời hạn thuê khoán đất thông th-ờng là trên 15 năm, chế độ kinh doanh khoán đế hộ gia

đình từ đó đ-ợc xác lập trở thành chế độ kinh doanh sản xuất cơ bản nhất ở nông thôn Trung Quốc lúc đó

Từ năm 1982 đến năm 1986, Trung -ơng ĐCS Trung Quốc liên tiếp đ-a ra 5 văn kiện số 1 về công tác nông thôn, ph-ơng h-ớng cơ bản là xoá bỏ thể chế công xã nhân dân vốn có, xây dựng chế độ kinh doanh cơ bản ở nông thôn, tập trung giải phóng sức sản

xuất xã hội nông thôn bị kìm nén đã lâu “Văn kiện số 1” năm 1982 đã giải quyết vấn đề nguyên tắc “khoán đến hộ”, họ “Xã” hay họ “Tư”, trong đó xác định tính chất của “khoán” không phải là t- hữu hoá “Văn kiện số 1” năm 1983 xác định chế độ khoán đến hộ gia đình

là “nhiệm vụ chủ yếu của công tác nông thôn trong giai đoạn trước mắt” “Văn kiện số 1” năm 1984 xác định “không thay đổi chế độ khoán ruộng đất 15 năm” “Văn kiện số 1” năm

1985 xoá bỏ chế độ thu mua tiêu thụ thống nhất đối với nông sản đã tồn tại 30 năm tr-ớc

đói, chuyển đổi sang cơ chế điều tiết của thị tr-ờng, về mặt thể chế đảm bảo chắc chắn

cho chế độ quyền sử dụng đất đai ở nông thôn đi sâu phát triển “Nộp đủ cho nhà n-ớc, l-u

đủ cho tập thể, còn lại đều là của mình”, chế độ trách nhiệm khoán đến hộ gia đình b-ớc

Trang 33

đầu bảo đảm quyền kinh doanh đất đai và quyền sở hữu sản phẩm nông nghiệp d- thừa của ng-ời nông dân

Sự phát triển của cải cách nông thôn đã giúp cho nông thôn Trung Quốc có sự thay đổi to lớn Căn cứ theo số liệu, từ năm 1978 – 1984, tăng tr-ởng sản xuất nông nghiệp bình quân hàng năm của Trung Quốc duy trì tốc độ 7,7% So sánh 2 năm 1984

và 1978, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá không đổi tăng 42,23% [10, 281], trong đó khoảng hơn một nửa đến từ sự nâng cao tỉ lệ sản xuất do chế độ khoán

đến hộ gia đình mang lại Từ năm 1980 đến năm 1985, tỉ lệ tăng tr-ởng thu nhập bình quân hàng năm của ng-ời nông dân đều v-ợt quá 10%, tốc độ cao hơn hẳn thời kỳ tr-ớc đó Chế độ khoán đến hộ gia đình không những giúp cho nông nghiệp Trung Quốc bước vào “thời kỳ hoàng kim”, mà còn trong một khoảng thời gian rất ngắn giải quyết

đ-ợc vấn đề no ấm cho hơn 1 tỉ ng-ời dân Số ng-ời đói nghèo ở nông dân giảm từ 250 triệu ng-ời xuống còn 130 triệu ng-ời, tỉ lệ nghèo đói giảm từ 30,7% xuống còn 15,1% [74], trở thành kỳ tích trong lịch sử xoá đói giảm nghèo của nhân loại Sở dĩ nông thôn

có đ-ợc sự thay đổi to lớn nh- vậy, mấu chốt đó là chế độ khoán sản đến hộ gia đình đã thích ứng đ-ợc với đặc điểm và tính quy luật của sản xuất nông nghiệp, thực hiện sự chuyển đổi chế độ sản xuất, phát huy lòng nhiệt tình sản xuất của nông dân, giải phóng tối đa sức sản xuất nông thôn bị đè nén trong suốt một thời gian dài, tăng c-ờng động lực của hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy thu nhập của nông dân tăng tr-ởng nhanh chóng

Chế độ khoán sản đến hộ thúc đẩy tăng thu nhập cho nông dân Trung Quốc, chủ yếu thể hiện trên các mặt:

Một là, đã giải phóng đ-ợc sức sản xuất bị thể chế công xã nhân dân tr-ớc đây

ràng buộc trong nhiều năm, nâng cao nhanh chóng năng suất lao động nông nghiệp,

đẩy nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp của Trung Quốc, phạm vi hoạt động sản xuất của nông dân cũng sâu rộng hơn bất kỳ giai đoạn nào tr-ớc đây Bên cạnh đó chế độ khoán sản đến hộ gia đình cũng đã khôi phục và khẳng định lại quyền tự chủ sản xuất

và quyền tự quyết của nông dân - những ng-ời trực tiếp lao động sản xuất và là chủ nhân của kinh tế tập thể Điều này đã giúp nông dân có thể tự chủ sắp xếp và hoạt

động sản xuất, có thể căn cứ vào tình hình cụ thể để đ-a ra các quyết định sách l-ợc

Trang 34

sản xuất và kinh doanh Quyền tự chủ không những đã phát huy mạnh mẽ tính tích cực của ng-ời nông dân và nâng cao năng suất lao động, mà còn có thể giúp họ tự do chi phối sức lao động và thời gian lao động của mình, cố gắng sử dụng sức lao động và thời gian lao động tr-ớc đây bị dồn ép, quên lãng vào các lĩnh vực có thể thu đ-ợc những lợi ích mới Kết quả trực tiếp của tình hình trên là nông nghiệp và các ngành kinh tế khác của nông thôn phát triển mạnh mẽ, giúp cho đại đa số nông dân Trung Quốc thoát khỏi khó khăn, không ít ng-ời đã có cuộc sống sung túc Hơn nữa tỉ lệ thặng d- của các thành quả lao động không ngừng tăng lên, ng-ời nông dân có của ăn của để, qua đó mà thu nhập của nông dân cũng tăng lên, đời sống của c- dân nông thôn cũng đ-ợc cải thiện

rõ rệt

Hai là, phát huy tính tích cực lao động của nông dân, tăng c-ờng tính trách

nhiệm trong lao động của họ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của sản xuất nông nghiệp Sau thời kỳ hợp tác xã, do thực hiện chủ nghĩa bình quân phân công lao

động, vì thế sự nỗ lực sản xuất của nông dân hoàn toàn quyết định bởi sự kiểm tra giám sát Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp lại không giống với sản xuất công

nghiệp, nó mang đặc tính chu kỳ sản xuất dài, khó giám sát, vì thế sự giám sát lại

đ-ợc quyết định bởi thành phẩm giám sát trong sản xuất Còn chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình đã giải quyết đ-ợc vấn đề hạn chế những ng-ời ăn bơ làm biếng, giúp tính tích cực sản xuất của nông dân đ-ợc nâng cao tối đa, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của sản xuất nông nghiệp Từ đó thúc đẩy thu nhập của nông dân trong thời kỳ này tăng tr-ởng nhanh chóng và ổn định

Ba là, giúp nông dân thoát khỏi sợi dây trói buộc đã không cho phép họ tự do l-u

động trong nhiều năm, đã giải phóng rất nhiều nông dân ra khỏi sự ràng buộc của ruộng đất, từ đó làm nảy sinh quá trình rời đất rời làng với qui mô lớn của nông dân Trung Quốc Kể từ khi tiến hành chế độ khoán sản phẩm, một mặt do thể chế khống chế nông dân mang tính c-ỡng bách giống nh- ở công xã nhân dân tr-ớc đây bị sụp

đổ; mặt khác, do tính tích cực lao động của nông dân bị nén lại tr-ớc đây nay đã đ-ợc phát huy, đội ngũ lao động d- thừa đông đảo tích tụ trong nông thôn và nông nghiệp Trung Quốc đã bung ra, và từ giữa những năm 1980, một số lớn đã chuyển từ nông nghiệp sang các ngành khác, chuyển từ nông thôn ra thành thị Theo dự toán, kể từ

Trang 35

khi chế độ khoán sản phẩm đ-ợc thực hiện Trung Quốc đã có hơn 100 triệu nông dân rời ruộng đất chuyển sang các ngành nghề khác, có hàng chục triệu ng-ời đổ về các thành phố Chính quá trình phi nông nghiệp hoá, những ng-ời nông dân ra thành phố kiếm việc làm cũng là một nhân tố thúc đẩy làm cho thu nhập của ng-ời nông dân tăng lên

Bốn là, thúc đẩy một số vùng và một số ng-ời thông qua lao động để giàu lên

tr-ớc, thể hiện tính -u việt của CNXH Nghèo đói không phải là CNXH, đi con đ-ờng xã hội hoá chính là phải thực hiện cùng giàu có Nh-ng cùng giàu có tuyệt nhiên không phải là chủ nghĩa bình quân Chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình đã đập

vỡ “nồi cơm to” của chủ nghĩa bình quân, một số vùng có thể dựa vào vị trí địa lý và -u thế tài nguyên để phát triển đi tr-ớc, sau đó những vùng giàu tr-ớc sẽ lôi kéo toàn xã hội từng b-ớc đi tới cùng giàu có Đây là một chủ tr-ơng đúng đắn của Đảng và Nhà n-ớc trong điều kiện lúc bấy giờ của Trung Quốc, đã khuyến khích đ-ợc một bộ phận

đi đầu làm giàu, tạo nên những thành tựu to lớn của nông nghiệp Trung Quốc nói chung và làm tăng thu nhập của nông dân nói riêng trong 30 năm cải cách mở cửa

2.2 ổn định quan hệ khoán ruộng đất, bảo vệ quyền sử dụng đất khoán của nông dân

ổn định mối quan hệ thuê khoán ruộng đất, bảo vệ quyền sử dụng ruộng đất của nông dân chính là bảo vệ lợi ích căn bản nhất của ng-ời nông dân

Chế độ khoán sản đến hộ gia đình trong nông nghiệp đ-ợc thực hiện ở những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ tr-ớc đã giải quyết đ-ợc quyền tự chủ kinh doanh sản xuất của hàng trăm triệu hộ nông dân Trung Quốc, khuyến khích và phát huy mạnh mẽ tính tích cực sản xuất của đông đảo nông dân, song nó vẫn không phải là một chế độ nông nghiệp hoàn thiện nhất có thể khiến cho nông nghiệp phát triển lâu dài và bền vững Ng-ời ta thấy rằng chế độ khoán còn tồn tại nhiều hạn chế nh-:

Thứ nhất, phân phối bình quân ruộng đất theo nhân khẩu hoặc lực l-ợng lao

động đã hạn chế sự l-u động hợp lý quyền sử dụng đất, gây trở ngại cho việc dịch chuyển ruộng đất vào tay những nông dân có khả năng làm ruộng, những nông

Trang 36

tr-ờng gia đình hoặc nông tr-ờng hợp tác, ruộng đất bị phân tán nhỏ lẻ, làm hạn chế việc kinh doanh và sản xuất nông nghiệp ở qui mô hợp lý, hiệu quả sản xuất thấp;

Thứ hai, chủ thể quyền sở hữu và sử dụng ruộng đất không rõ ràng, quyền sở

hữu ruộng đất của nông dân không đ-ợc tôn trọng làm cho lợi ích của nông dân bị xâm hại, hiệu quả sử dụng đất không cao, ruộng đất không đ-ợc bảo vệ, hiện t-ợng ruộng đất bị sử dụng và bỏ hoang một cách tuỳ tiện diễn ra ngày càng nhiều;

Thứ ba, do quyền sở hữu và quyền sử dụng đất tách rời nhau khiến nông dân

- chủ thể kinh doanh thiếu động lực để đầu t- vào ruộng đất, còn tập thể nông thôn - ng-ời sở hữu ruộng đất lại thiếu sự ràng buộc về trách nhiệm đầu t- Chính vì thế sau khi đã phát huy hết tác dụng tích cực của mình trong việc giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, chế độ khoán sản phẩm đã không thể giúp cho thu nhập của nông dân tiếp tục tăng lên Bắt đầu từ năm 1985, tốc độ tăng tr-ởng thu nhập của nông dân chậm lại, giảm từ 11,8% năm 1985 xuống còn 5,3% năm 1987 và 1,8% năm 1990, thậm chí còn xuất hiện tăng tr-ởng âm vào năm 1989 [65]

Xét về bản chất, vấn đề thu nhập của nông dân là một vấn đề việc làm Hạt nhân của vấn đề nông dân là mức thu nhập của ng-ời nông dân thấp, từ đó gây ra tiêu dùng không đủ, làm ảnh h-ởng đến cả nền kinh tế quốc dân Những hạn chế của chế độ khoán đã ngăn cản sự chuyển nh-ợng và mua bán quyền tài sản ruộng

đất, cản trở quá trình đô thị hoá, không có lợi cho nông thôn thực hiện kinh doanh ruộng đất với qui mô lớn Nếu không thay đổi chính sách ruộng đất ở nông thôn, làm cho các hộ nông dân trên toàn quốc kinh doanh lâu dài trên nguồn tài nguyên đất canh tác có hạn, tất yếu sẽ gây ra tình trạng tiền công ruộng đất giảm dần trong mô thức nuôi trồng và lao động quá tập trung, năng suất giảm xuống, thậm chí gây ra hiện t-ợng không tăng tr-ởng hoặc tăng tr-ởng âm Do tài sản ruộng đất của nông dân không thể t- bản hoá, nông dân không thể lấy ruộng đất thuê khoán mang đi thế chấp, khiến cho nông dân khó vay vốn để phát triển sản xuất

Để hoàn thiện và khắc phục một số hạn chế của chế độ khoán ruộng đất,

ngày 1 tháng 3 năm 2003, “Luật khoán ruộng đất nông thôn” bắt đầu được thực thi

có nhấn mạnh để ổn định và hoàn thiện thể chế kinh doanh 2 tầng kết hợp giữa thống nhất và phân tách lấy chế độ khoán đến hộ làm cơ sở, trao cho ng-ời nông

Trang 37

dân quyền sử dụng đất khoán một cách lâu dài và có bảo đảm, đồng thời cũng xác minh việc thực hiện l-u chuyển quyền kinh doanh ruộng đất khoán, qui định quyền lợi và các ph-ơng thức của việc l-u chuyển này nh- kế thừa, h-ởng lợi, làm cổ đông, chuyển khoản, cho thuê, chuyển nh-ợng [67] Một số nhà khoa học của Trung Quốc đánh giá “Luật khoán ruộng đất nông thôn” này đ-ợc coi là lần sáng tạo thứ

ba1 trong cải cách chế độ ruộng đất ở Trung Quốc, sẽ đem lại cho nông dân nhiều biến đổi to lớn

Một nghiên cứu đã chứng minh, trong số các yếu tố tài nguyên đóng góp vào thu nhập của ng-ời nông dân nh- sức lao động (bao gồm số l-ợng lao động và

tố chất của lao động), ruộng đất kinh doanh, tài sản cố định mang tính sản xuất, thì

số l-ợng lao động nông nghiệp có đóng góp ít nhất cho thu nhập của nông dân, còn ruộng đất thuê khoán có đóng góp lớn nhất cho thu nhập của nông dân Theo tính toán nếu qui mô ruộng đất thuê khoán tăng lên 1% thì thu nhập thuần kinh doanh gia đình có thể tăng lên 1,5%; đóng góp của tài sản cố định mang tính sản xuất đối với thu nhập của nông dân cũng t-ơng đối lớn, tài sản cố định tăng 1% thì thu nhập thuần kinh doanh gia đình có thể tăng 1,2% [40,86]

Vì vậy, thúc đẩy l-u chuyển ruộng đất ở nông thôn, mở rộng qui mô kinh doanh ruộng đất gia đình của các hộ nông dân, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc tăng mức thu nhập nông nghiệp của ng-ời nông dân Đi sâu cải cách thể chế tài chính nông thôn, cải thiện môi tr-ờng đầu t- của các hộ nông dân, giải quyết vấn đề vay vốn khó cho ng-ời nông dân, tăng c-ờng đầu t- cho nông nghiệp, đó chính là

điểm mấu chốt để Trung Quốc xây dựng cơ chế hiệu quả lâu dài trong việc tăng thu nhập cho nông dân

Gần đây nhất, Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XVII ĐCS Trung Quốc (tháng 10

năm 2008) đã thông qua “Nghị quyết của Trung -ơng ĐCS Trung Quốc về một số vấn

đề quan trọng thúc đẩy cải cách phát triển nông thôn”, trong đó chính thức quy định

1Lần sáng tạo thứ nhất trong cải cách chế độ ruộng đất của Trung Quốc là lần cải cách sau năm

1950, đã xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, lần sáng tạo thứ hai là việc thực hiện chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình vào năm 1979, trao cho nông dân quyền sử dụng và kinh doanh ruộng đất; lần sáng tạo thứ ba là việc thực hiện chuyển quyền sử dụng đất ở nông thôn một cách hợp lý

Trang 38

cho phép nông dân có thể chuyển đổi quyền kinh doanh ruộng đất khoán một cách hợp pháp với các hình thức nh-: chuyển đổi quyền thuê khoán, cho thuê, trao đổi, chuyển nh-ợng, hợp tác cổ phần Về thực tế đây là việc tiếp tục hoàn thiện quyền kinh doanh ruộng đất khoán, khiến nông dân đ-ợc đảm bảo hơn về các quyền lợi nh- quyền sở hữu, quyền sử dụng và thu lợi đối với ruộng đất khoán Nghị quyết cũng nêu

rõ cần phải xây dựng thị tr-ờng chuyển đổi quyền kinh doanh ruộng đất khoán ở nông thôn, cho phép nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp theo quy mô thích hợp Theo đánh giá của Triệu Ngọc Điền - nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu kinh tế nông thôn, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, việc cho phép nông dân chuyển đổi hợp pháp quyền kinh doanh ruộng khoán là khâu đột phá quan trọng trong chế độ quản

lý đất đai vốn có trên cơ sở ổn định chế độ khoán ruộng đất đến hộ gia đình ở nông thôn, xét về lâu dài, nó sẽ thúc đẩy hữu hiệu kinh tế nông thôn phát triển, thúc đẩy nông nghiệp Trung Quốc tăng sản l-ợng và nông dân tăng thu nhập [25]

Nghị quyết này có hai ý nghĩa: Một là, về mặt chế độ, kể từ khi b-ớc vào thế kỷ

XXI đến nay, hoạt động l-u chuyển ruộng đất đã đ-ợc đẩy nhanh, nh-ng do ch-a có sự ủng hộ về mặt chính sách, cho nên việc chuyển đổi này th-ờng không thành công, Nghị quyết của Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XVII ĐCS Trung Quốc đã tạo s- ủng hộ về chính sách, đã phát huy vai trò t-ơng đối lớn trong việc quy phạm hoá chuyển đổi ruộng đất

Hai là, về mặt kinh tế, Nghị quyết này sẽ thúc đẩy phát triển sức sản xuất và ứng dụng

công nghệ sản xuất, phát huy vai trò hết sức to lớn trên các mặt thu hút vốn đầu t- trong

và ngoài n-ớc, l-u thông nông sản phẩm Ngoài ra, bảo vệ quyền sử dụng đất khoán của nông dân, cho nông dân quyền tự do l-u chuyển ruộng đất khoán, tạo điều kiện tập trung ruộng đất qui mô lớn Điều này không những có thể nâng cao hiệu quả sử dụng

đất mà còn có lợi cho việc thúc đẩy chuyển dịch sức lao động nông thôn sang các ngành nghề thứ 2 và thứ 3, tăng thu nhập cho nông dân Ngoài ra, việc nông dân có thể chuyển nh-ợng đất khoán, dùng đất khoán để thế chấp vay vốn, hợp tác cổ phần,

sẽ cho nông dân một nguồn vốn để đầu t- kinh doanh, tăng thu nhập mang tính tài sản cho nông dân

Là một n-ớc nông nghiệp lớn, hầu hết nông dân Trung Quốc đều tiến hành sản xuất nông nghiệp phân tán trên những thửa ruộng nhỏ hẹp, năng suất không

Trang 39

cao Nếu thực hiện thâm canh thông qua việc chuyển đổi quyền kinh doanh ruộng

đất khoán thì có thể nâng cao tính cạnh tranh của nông nghiệp Trung Quốc bằng việc kinh doanh qui mô lớn, từ đó thúc đẩy nông dân tăng thu nhập, đồng thời còn

đẩy nhanh tiến trình đô thị hoá

Ngoài ra, để bảo vệ quyền sử dụng đất của nông dân, Hội nghị Trung -ơng

3 khoá XVII ĐCS Trung Quốc cũng nhấn mạnh việc thúc đẩy cải cách chế độ tr-ng dụng đất Kể từ khi cải cách mở cửa, mặc dù Đảng và Chính phủ Trung Quốc vẫn luôn coi trọng vấn đề bảo vệ quyền lợi sử dụng ruộng đất của nông dân, nh-ng trong quá trình thực hiện, vẫn còn tồn tại một số hạn chế làm tổn hại

đến quyền lợi sử dụng ruộng đất của nông dân Ngoài các hạn chế về quyền l-u chuyển ruộng đất, quyền sở hữu ruộng đất không rõ ràng, chế độ tr-ng thu ruộng

đất còn nhiều điểm bất hợp lý nh- phạm vi tr-ng thu ruộng đất quá rộng, tiêu

chuẩn bồi th-ờng thấp Hiến pháp Trung Quốc qui định: “Vì nhu cầu lợi ích công

cộng, Nhà n-ớc có thể tiến hành tr-ng thu ruộng đất theo quy định của pháp luật”,

nh-ng trong quá trình thực hiện do không có tiêu chuẩn rõ ràng thế nào là lợi ích công cộng, nên nhiều vụ việc tr-ng thu ruộng đất mang tính th-ơng nghiệp lấy danh lợi ích công cộng đã tr-ng thu ruộng đất của nông dân Theo “Luật quản lý

đất đai”, phương thức tính toán chi phí đền bù tr-ng thu ruộng đất hiện hành của Trung Quốc là tính theo giá trị sản l-ợng, cụ thể là từ 6 – 10 lần giá trị sản l-ợng bình quân của 3 năm tr-ớc, phí trợ cấp tr-ng thu ruộng đất là từ 4 – 6 lần giá trị sản l-ợng bình quân của 3 năm tr-ớc Mức chi phí bồi th-ờng tr-ng thu đất nh- vậy là quá thấp, không đảm bảo đ-ợc kế sinh nhai của nông dân mất đất Theo

điều tra năm 2004 của tỉnh Liêu Ninh tại 14 huyện (thị) thuộc hai thành phố Thẩm D-ơng và Phủ Thuận, rất nhiều nông dân đang hình thành quần thể nghèo nàn mới Toàn thành phố Phủ Thuận đã có 88.781 hộ nông dân mất ruộng đất, trong đó, 217

hộ bị tr-ng dụng hết toàn bộ ruộng đất, tỷ lệ thất nghiệp tới 45,9% Có 600 gia đình nông dân tr-ớc khi bị tr-ng dụng ruộng đất thu nhập thuần bình quân đầu ng-ời đạt 4.057,5 NDT, nh-ng sau khi ruộng đất bị tr-ng dụng thì chỉ còn 2.985,3 NDT

Nh- vậy, thu nhập sau khi mất ruộng đất giảm 26,4% [22]

Trang 40

Để giải quyết thực trạng này, Nghị quyết Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XVII ĐCS Trung Quốc đã xác định ph-ơng h-ớng cải cách chế độ tr-ng thu ruộng đất đó là

“Phân định chặt chẽ ruộng đất tr-ng thu dùng cho xây dựng mang tính công ích và

ruộng đất tr-ng thu dùng cho xây dựng mang tính kinh doanh, từng b-ớc thu hẹp phạm vi tr-ng thu ruộng đất, hoàn thiện cơ chế đề bù tr-ng thu ruộng đất Căn cứ theo pháp luật tr-ng thu ruộng đất tập thể ở nông thôn, dựa theo nguyên tắc đồng địa đồng giá đền bù kịp thời, đủ giá trị cho tổ chức tập thể ở nông thôn và nông dân, giải quyết vấn đê việc làm, nhà ở, an sinh xã hội cho ng-ời nông dân bị tr-ng thu ruộng đất ”

[60] Việc Trung Quốc thực hiện cải cách chế độ tr-ng thu ruộng đất, chú trọng giải quyết việc làm và an sinh xã hội cho ng-ời nông dân bị mất ruộng đất sẽ đem lại lợi ích cho nông dân, qua đó giúp nâng cao thu nhập cho bộ phận nông dân bị mất ruộng

đất

2.3 Phát triển xí nghiệp h-ơng trấn, giải quyết việc làm tại chỗ cho số lao

động d- thừa ở nông thôn, góp phần chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lao

động phi nông nghiệp

Tăng thu nhập cho nông dân, nâng cao chất l-ợng cuộc sống cho nông dân, là điểm xuất phát và cũng là mục đích cơ bản của xây dựng nông thôn mới XHCN, sự phát triển của xí

nghiệp h-ơng trấn đã tạo ra con đ-ờng để Trung Quốc thực hiện “sản xuất phát triển, đời sống

sung túc”, trở thành “nguồn động lực” quan trọng để Trung Quốc giải quyết việc làm tại chỗ

cho số lao động d- thừa ở nông thôn và tăng thu nhập cho nông dân

2.3.1 Một vài nét về quá trình hình thành và phát triển xí nghiệp h-ơng trấn của Trung Quốc

Xí nghiệp h-ơng trấn là tên gọi chung của các doanh nghiệp phi nông nghiệp ở nông thôn Trung Quốc Xí nghiệp h-ơng trấn tr-ớc kia còn đ-ợc gọi là xí nghiệp xã

đội Nó tuy đ-ợc manh nha từ những năm 50 của thế kỷ XX, nh-ng một thời gian dài

nó bị xem là những xí nghiệp phụ thuộc vào nông nghiệp, sự phát triển của nó chịu sự hạn chế của nhiều ph-ơng diện, vì vậy nó phát triển t-ơng đối chậm chạp Sau Hội nghị Trung -ơng 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc, Trung -ơng ĐCS Trung Quốc nêu lên xí nghiệp xã đội phải có b-ớc phát triển lớn, đồng thời làm rõ hơn nữa những vấn đề nh-

địa vị, tác dụng và phạm vi kinh doanh của xí nghiệp xã đội, đặt ra một số chính sách

Ngày đăng: 31/08/2017, 15:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các hạng mục hỗ trợ nông nghiệp của Trung Quốc từ năm - Các giải pháp tăng thu nhập cho nông dân ở trung quốc từ khi cải cách mở của đến nay
Bảng 2.1 Các hạng mục hỗ trợ nông nghiệp của Trung Quốc từ năm (Trang 59)
Bảng 3.1: Thu nhập và tốc độ tăng tr-ởng thu nhập của c- dân nông - Các giải pháp tăng thu nhập cho nông dân ở trung quốc từ khi cải cách mở của đến nay
Bảng 3.1 Thu nhập và tốc độ tăng tr-ởng thu nhập của c- dân nông (Trang 63)
Bảng 3.2:  Thay đổi kết cấu thu nhập của c- dân nông thôn - Các giải pháp tăng thu nhập cho nông dân ở trung quốc từ khi cải cách mở của đến nay
Bảng 3.2 Thay đổi kết cấu thu nhập của c- dân nông thôn (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w