Trong ngôn ngữ học truyền thống thì đối tượng nghiên cứu chủ yếu là phân tích cấu trúc dựa trên những khái niệm về thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ…Hay nói một cách
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - * * * -
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
KHẢO SÁT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ ĐE DỌA TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM HIỆN THỰC PHÊ PHÁN GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
VÀ MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Đào Thanh Lan
HÀ NỘI 2009
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………
1 Lý do chọn đề tài………
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………
3 Mục đích và nội dung của luận văn………
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ………
5 Phương pháp nghiên cứu………
6 Đóng góp của luận văn………
7 Bố cục luận văn………
NỘI DUNG ………
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1 Khái niệm về hành động ngôn từ ………
1.1 Khái niệm chung .………
1.2 Hành động ngôn từ………
1.3 Phân biệt phát ngôn ngôn hành tường minh và phát ngôn ngôn hành nguyên cấp ………
1.3.1 Phát ngôn ngôn hành tường minh ………
1.3.2 Phát ngôn ngôn hành nguyên cấp ………
2 Điều kiện sử dụng của hành động ngôn từ………
2.1 Điều kiện sử dụng hành động tại lời theo Austin………
2.2 Điều kiện sử dụng hành động tại lời theo Searle………
3 Phân loại các hành động ngôn từ………
3.1 Phân loại hành động ngôn từ theo J.Austin………
3.2 Phân loại hành động ngôn từ theo Searle ………
3.3 Hành động ngôn từ tại lời trực tiếp và hành động ngôn từ tại lời gián tiếp………
1
1
2
2
2
2
3
3
4
4
4
4
6
9
9
10
11
11
12
14
14
15
18
Trang 33.3.1 Hành động tại lời trực tiếp………
3.3.2 Hành động tại lời gián tiếp………
4 Các lý thuyết liên quan đến hành động ngôn từ………
4.1 Lý thuyết hội thoại………
4.1.1 Cặp thoại………
4.1.2 Các nguyên lý hội thoại………
4.1.2.1 Nguyên lý cộng tác………
4.1.2.2 Nguyên lý lịch sự………
4.2 Phân biệt hành động ngôn từ đe dọa với một số hành động khác………
4.2.1 Hành động ngôn từ cảnh báo………
4.2.2 Hành động ngôn từ cầu khiến………
4.2.3 Hành động ngôn từ đe dọa………
5 Tiểu kết chương 1………
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ ĐE DỌA TRONG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC………
1 Hành động ngôn từ đe dọa có dấu hiệu ngôn hành ………
1.1 Kết cấu cụm từ “ truyền đời báo danh” ………
1.2 Cụm từ “ liệu thần hồn, liệu thần xác” ………
1.3 Hành động chửi………
1.4 Kết cấu nếu A thì B (hễ A thì B) ………
1.4.1 Đe dọa về trách nhiệm của người nghe ………
1.4.2 Đe dọa đến thể xác người nghe ………
1.4.3 Đe dọa người nghe về tinh thần………
2 Hành động ngôn từ đe dọa kèm theo nhóm điều khiển……
2.1 Đe dọa kèm theo cấm………
18
18
21
21
21
22
22
23
25
25
26
25
33
34
34
34
35
36
39
40
42
43
44
45
Trang 42.2 Đe dọa kèm theo ra lệnh………
2.2.1 Người nói ra lệnh cho người nghe ………
2.2.2 Người nói ra lệnh cho người nghe hướng đến người thứ ba 2.3 Đe dọa kèm theo yêu cầu………
2.3.1 Đe dọa kèm theo yêu cầu trực tiếp………
2.3.1.1 Người nói muốn mình làm một việc gì đó cho người nghe………
2.3.1.2 Người nói muốn người nghe làm một việc gì đó cho người nói………
2.3.1.3 Người nói yêu cầu người nghe lựa chọn hành động (mang tính tiêu cực, một chiều) ………
2.3.1.4 Người nói yêu cầu người nghe chọn lựa hành động mang tính tích cực cho mình………
2.4 Đe dọa kèm theo thỉnh cầu………
2.5 Đe dọa kèm theo động hỏi………
2.5.1 Câu hỏi với trợ từ tình thái : P + đấy hở/ đấy phỏng / đấy à? ………
2.5.2 Câu hỏi: P + thì bảo ? ………
2.5.3 Câu hỏi: P + phải không ? ………
2.5.4 Kết cấu: …có + V + không? ………
3 Hành động ngôn từ đe dọa kèm theo nhóm kết ước…………
3.1 Đe dọa kèm theo cam đoan, cam kết………
3.2 Đe dọa nguyên cấp ………
3.3 Đe dọa kèm theo cảnh báo………
4 Tiểu kết chương 2……… CHƯƠNG 3: TÌM HIỂU HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA
46
47
49
50
51
51
52
56
60
62
66
66
68
69
72
77
77
81
83
87
Trang 5HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ ĐE DỌA ………
1 HĐNTĐD biểu hiện bằng phương tiện từ vựng………
1.1 Đại từ nhân xưng………
1.1.1 Cách sử dụng ĐTNX trong giai đoạn 30 - 45 ………
1.1.2 Cách sử dụng ĐTNX trong giai đoạn hiện đại………
1.2 HĐNT đe dọa được biểu hiện bằng quán ngữ, cụm từ……
2 HĐNT đe dọa được biểu hiện bằng kết cấu điều kiện ………
3 HĐNT đe dọa được biểu hiện kèm theo HĐNT khác…………
3.1 HĐNT đe dọa kèm theo hành động cấm………
3.2 HĐNT đe dọa kèm theo hành động ra lệnh………
3.3 HĐNT đe dọa kèm theo hành động yêu cầu………
3.4 HĐNT đe dọa kèm theo hành động hỏi………
3.5 HĐNT đe dọa kèm theo các hành cam đoan, thỉnh cầu, cảnh báo………
4 Tiểu kết chương 3………
KẾT LUẬN………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
88
88
88
88
92
95
96
98
98
100
101
105
106
107
110
113
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trong nhất của con người Trong khi giao tiếp thì con người cố gắng làm sao để nói cho hay, cho đúng Con người luôn cố gắng thông qua lời nói, ngôn ngữ để diễn đạt suy nghĩ hay mong muốn của mình
Các nhà ngôn ngữ học truyền thống trước đây thường nghiên cứu về những câu có thể đánh giá đúng/ sai về ngữ nghĩa (xét theo tiêu chuẩn logic)
Đó là những câu miêu tả/ trần thuật, khẳng định, phủ định Trong ngôn ngữ học truyền thống thì đối tượng nghiên cứu chủ yếu là phân tích cấu trúc dựa trên những khái niệm về thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ…Hay nói một cách khác, họ nghiên cứu ngôn ngữ nhưng không đặt chúng vào trong cuộc sống vì vậy họ không thấy được mặt động cuả ngôn ngữ, không thấy được “cuộc sống” của chúng trong đời sống hàng ngày
Khi khảo sát về hành động ngôn từ nói chung và hành động ngôn từ đe dọa thì mong muốn của chúng tôi là có thể thấy được một phần về cuộc sống của ngôn từ trong đời sống hàng ngày, thấy được mặt động của ngôn ngữ Có thể nói, những nghiên cứu về hành động ngôn từ đã cho thấy, bên cạnh những nét chung, mỗi ngôn ngữ còn có những nét riêng biệt độc đáo, gắn liền với tâm thức, phong tục, văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó
Trang 7Hành động đe dọa chưa được khảo sát nên chúng tôi chọn nghiên cứu nhằm tìm hiểu hành động đe dọa có những dấu hiệu đặc trưng như thế nào? Đe dọa ai, để làm gì và đe dọa như thế nào? Từ những khảo sát cụ thể chúng tôi muốn thông qua hành động đe dọa để tìm hiểu về những đặc trưng văn hóa trong cách sử dụng ngôn từ
trong tiếng Việt và trong văn hóa Việt Nam
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các hành động ngôn từ đe dọa trong
các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 30 – 45 và các tác phẩm hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp Khi khảo sát các hành động ngôn từ, chúng tôi không xem xét chúng như những phát ngôn riêng lẻ mà phải đặt chúng vào các cuộc thoại
Từ trong cuộc thoại, chúng ta sẽ nhận thấy rõ hơn hiện tượng đa thanh của ngôn ngữ
3 Mục đích và nội dung của luận văn
Mục đích của luận văn khảo sát hành động ngôn từ đe dọa, thông qua việc khảo sát hành động đe dọa để thấy được nét văn hóa của người Việt Nam Cách
sử dụng từ ngữ như thế nào khi một hành động đe dọa được thực hiện.Việc sử dụng từ ngữ trong các phát ngôn mang những đặc trưng văn hóa gì của từng thời kì lịch sử của Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về hành động ngôn từ nói chung và hành động ngôn từ
đe dọa nói riêng
Trang 8- Khảo sát các kết cấu chứa HĐNT đe dọa trong một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán giai đoạn 30 – 40 và một số tác phẩm văn học giai đoạn hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp
- Thống kê các phương thức biểu hiện hành động ngôn từ đe dọa, qua đó tìm hiểu những nét văn hóa trong việc sử dụng từ ngữ ở các thời kỳ lịch sử khác nhau
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ trên, luận văn sử dụng phương pháp miêu tả với các thủ pháp thống kê, phân tích ngữ cảnh và suy luận Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh đồng đại Lấy hai mốc thời gian là giai đoạn 1930 –
1945 và giai đoạn hiện đại (thông qua tư liệu là một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán giai đoạn 30 – 45 và một số tác phẩm thời kì hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp) để tìm ra những nét tương đồng hoặc khác biệt về văn hóa và xã hội giữa hai thời kỳ
6 Đóng góp của luận văn
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và khảo sát về các hành động ngôn từ rất nhiều Trong luận văn này chúng tôi khảo sát về hành động ngôn từ
đe dọa để thông qua đó có thể thấy được những yếu tố văn hóa trong việc sử đụng ngôn từ của người Việt cũng như thấy được hiện tượng đa thanh điệu trong sác thái biểu hiện tình cảm của người Việt
7 Bố cục của luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
Trang 9Chương 2: Khảo sát hành động ngôn từ đe dọa trong các tác phẩm văn học
Chương 3: Tìm hiểu các phương tiện đặc trưng của hành động ngôn từ đe dọa Phần kết luận
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm về hành động ngôn từ
1.1 Khái niệm chung
Khái niệm về hành động ngôn từ do Austin khởi xướng từ những năm 50 Năm 1955, ở trường đại học tổng hợp Harvard (Mĩ) J.L.Austin, một nhà triết học người Anh đã trình bày 12 chuyên đề Những chuyên đề này được tập hợp
lại thành sách vào năm 1962, hai năm sau ngày ông mất với tựa đề How to do
thing with words (Nói là hành động)
Trong nghiên cứu ngôn ngữ học truyền thống thì các nhà ngôn ngữ học chỉ quan tâm đến những câu có thể đánh giá được đúng / sai về ngữ nghĩa theo tiêu chuẩn logic Đó là những câu miêu tả, trần thuật, khẳng định, phủ định…Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều câu về hình thức thì giống các câu
trần thuật (constative) nhưng lại không thể xếp chúng vào các loại câu có giá trị
đúng/ sai
Ví d ụ: Anh phải làm việc ngay!
Bây giờ là mấy giờ rồi?
Trang 10Ôi trời ơi!
Các phát ngôn này không biểu thị một phán đoán mang tính miêu tả, mà được dùng để thực hiên một hành vi nào đó như hỏi, yêu cầu hay bộc lộ những cảm xúc của con người…Những phát ngôn này Austin gọi là những phát ngôn ngôn
hành (performative).Ở đây, Austin lần đầu tiên đã nêu ra sự phân biệt giữa phát ngôn ngôn hành và phát ngôn tường thuật (constative) Khi phân biệt ra hai loại
phát ngôn này thì Austin đã nhìn thấy được trạng thái động của ngôn ngữ hay nói một cách khác ông đã nhìn thấy được cuộc sống của ngôn ngữ trong đời sống thường nhật, điều mà F.D Saussure chưa nhìn ra được Theo định nghĩa của ông thì phát ngôn tường thuật là phát ngôn nêu ra nhận định còn phát ngôn ngôn hành là khi nói ra chúng thì người nói hay người viết đã làm một điều gì hơn là nói ra một câu
Ví dụ: Con ăn cơm đi (1)
Con ăn cơm đã (2)
Con ăn cơm Ø (3)
Con ăn cơm cơ (4)
Theo góc độ nghiên cứu của ngữ pháp truyền thống thì cả 4 câu trên đều đồng nhất về cấu trúc và hầu như đồng nhất về từ ngữ Chúng chỉ khác nhau ở các trợ
từ và thán từ … đứng ở cuối câu Vì vậy trong ngữ pháp truyền thống thì các trợ
từ, thán từ, tiểu từ…thường bị xem nhẹ và không được nghiên cứu kỹ Chúng
được gọi tên chúng là các hư từ (empty words)
Tuy nhiên, theo lý thuyết của Austin thì 4 câu trên khác nhau căn bản vì chúng có những mục đích khác nhau và chính những hư từ đã làm nên sự khác biệt này
- Câu 1 là lời cầu khiến, tuy nhiên mức độ khiến nhiều hơn cầu.Từ đi thể hiện ý
nghĩa này
Trang 11- Câu 2 cũng là lời cầu khiến nhưng hành động ăn cơm được cầu khiến thực
hiên trước một hành động khác Mức độ khiến nhiều hơn cầu Từ đã thể hiện ý
nghĩa này
- Câu 3 là một lời tường thuật một hành động “ăn cơm” đang xảy ra Có thể dùng để trả lời một câu hỏi.(Ví dụ: Con làm gì đấy? Con ăn cơm)
- Câu 4 được dùng để từ chối một đề nghị Từ chối một đề nghị và đưa ra một
đề nghị khác Từ cơ thể hiện ý nghĩa này
Dựa vào lý thuyết của Austin chúng ta có thể nhìn thấy mặt động của ngôn ngữ Chúng không đứng yên tĩnh lặng mà hòa nhập cùng dòng chảy của
cuộc sống và thể hiện chức năng của chúng thật hoàn hảo “chức năng giao
tiếp”
1.2 Hành động ngôn từ
“Khi chúng ta nói là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ” ([4], 88)
Thuật ngữ “hành động ngôn từ” có thể khiến nhiều người hiều nhầm Nó bị coi
là đồng nghĩa với “hành động phát ngôn ra câu nói” hơn là để biểu thị như nó
đã biểu thị, một bộ phận cụ thể nào đó của sản phẩm nói năng ([12], 246)
Tuy nhiên khái niệm “hành động ngôn từ” (speech act) được dùng rất
phổ biến trong ngôn ngữ học và triết học theo nghĩa chuyên môn mà Austin và Searle đã dùng Có nghĩa là khi chúng ta thực hiện một hành động đe dọa, hỏi,
ra lệnh… bằng ngôn ngữ là cùng lúc đó chúng ta đã thực hiện một hành động đe
dọa, hỏi, ra lệnh…“Nói là làm”
Trong luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “hành động ngôn từ” theo ý nghĩa này và nó tương đương với thuật ngữ “hành vi ngôn ngữ” mà [4] và [5]
đã dùng
Trang 12Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường nghĩ nói và làm là hai việc
hoàn toàn khác nhau.Tuy nhiên với lý thuyết hành độngngôn từ (speech acts) thì“nói”cũng chính là “làm” hay nói một cách khác nói là một hành động đặc
biệt: hành động bằng lời
Austin đã nhận ra rằng chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ không phải là chức năng miêu tả hay chức năng nhận định, đánh giá đúng/ sai mà theo
ông đó là nghĩa liên nhân (interpersonal meaning) – nghĩa tương tác xã hội
Trong lý thuyết hành động ngôn từ của mình Austin đã chỉ ra rằng khi chúng
ta thực hiện một phát ngôn thì chúng ta đồng thời cũng đẫ thực hiện cùng một lúc ba hành động:
- Hành động tạo lời (locutionary act)
- Hành đông tại lời (illocutionary act)
- Hành động mượn lời ( perlocutionary act)
Sự phân biệt giữa chúng được diễn giải như sau:
- Hành động tạo lời là hành động tạo ra câu nói, sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ để tạo ra một chuỗi âm thanh – môt câu nói với một dạng thức
cụ thể và với một ý nghĩa ít nhiều xác định “Như vậy, mỗi một hành động
tạo lời đã tạo nên một nội dung mệnh đề và, do đó đã có một ý nghĩa xác định” ([5], 17)
- Hành động tại lời là những hành động người nói thực hiện ngay khi phát ngôn câu nói, tạo ra những hiệu quả ngôn ngữ tức thì Ví dụ như ra lệch, yêu cầu, chào, xin lỗi, hứa hẹn, thông báo…
- Hành động mượn lời là thông qua phương tiện ngôn ngữ để tạo ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ, thể hiện những tác động tâm lý mà câu nói đem lại với người nghe Ví dụ một lời đe dọa khiến người đối thoại lo sợ, một lời chào có thể tạo lập được mối quan hệ thân thiết giữa người nói và
Trang 13người nghe hay một lời yêu cầu, đề nghị khiến người nghe cảm thấy không thoải mái…
Tư tưởng chủ đạo trong lý thuyết hành đông ngôn từ của J.Austin như sau: Trước hết, ông nêu ra sự phân biệt giữa phát ngôn miêu tả/ tường thuật
(constative) và phát ngôn ngôn hành (performative) Trong giao tiếp hàng ngày
có rất nhiều phát ngôn không thể đánh giá theo tiêu chí đúng/ sai
Ví dụ trong tiếng Việt ta có thể gặp những câu
- Nhạc Rock hay hơn nhạc Pop
- Cải lương hay hơn chèo
Đây là những câu miêu tả hay tường thuật nhưng tùy theo sở thích của từng cá nhân mà giá trị đúng/ sai có thể thay đổi
Tiếp đó là những phát ngôn không thể hiện một miêu tả hay tường thuật nào để
có thể đánh giá đúng/ sai Chẳng hạn khi nói: Tôi hứa mai tôi đến chúng ta không phải đang nói về một điều đúng hay sai mà khi chúng ta“hứa” là chúng
ta đã thực hiện một hành động “hứa”, tức là cam kết thực hiện một hành động trong tương lai Khi nói: Tôi chúc mừng anh chúng ta cũng không nêu bất kỳ
một phán đoán nào để đánh giá đúng/ sai mà thực ra chúng ta đang thực hiện
hành động“chúc mừng”, một hành động biểu thị thái độ của mình Từ đây
J.Austin đã nêu ra sự phân biệt giữa phát ngôn miêu tả hay tường thuật và phát ngôn ngôn hành Theo ông phát ngôn miêu tả hay tường thuật là phát ngôn có giá trị đúng /sai Chẳng hạn như:
Hôm nay là thứ tư
Nếu phát ngôn này được nói ra vào thứ tư thì nó là phát ngôn đúng, nếu nó được nói ra không phải vào thứ tư thì nó là phát ngôn sai Vậy giá trị đúng/ sai của một phát ngôn ở đây được xác định thông qua đối chiếu với thực tế Còn phát
ngôn ngôn hành như “tôi hứa mai tôi đến”,“tôi chúc mừng anh” là loại phát
Trang 14ngôn khi chúng ta nói ra chúng, người nói đã làm một điều gì đấy hơn là nói về một điều gì đấy
Đối với phát ngôn ngôn hành thì ta không thể đánh giá nó theo tiêu chí
đúng /sai (chuẩn chân lý) mà chỉ có thể đánh giá về tính hợp thức hay điều kiện
thành công (felicity condition) mà thôi Khi chúng ta nói “tôi hứa mai tôi đến”
thì người nói có chân thành với lời hứa đấy hay không Hay khi chúng ta nói
“tôi chúc mừng anh” thì người nói có thành tâm chúc mừng hay không?
Tiếp đó Austin đi đến bỏ sự đối lập giữa phát ngôn tường thuật và phát ngôn ngôn hành để đưa ra một nhận định là tất cả các phát ngôn đều là ngôn hành.Ông cho rằng một phát ngôn tường thuật (nói một điều gì đó đúng hay sai)
cũng là một loại phát ngôn ngôn hành Một phát ngôn “hôm nay là thứ tư” có thể hiểu “tôi xác nhận hôm nay là thứ tư” Tất cả phát ngôn miêu tả hay tường
thuật đều mang tính ngôn hành theo cách hiểu như vậy Đến đây nội dung chính của lý thuyết về hành đông ngôn từ có thể được hiểu một cách ngắn gọn
“nói là hành động” Tất nhiên, các hành động ngôn từ bao giờ cũng phải đặt
trong các khuôn khổ những thiết chế và những quy ước xã hội mà con người đã đặt ra
1.3 Phân biệt phát ngôn ngôn hành tường minh và phát ngôn ngôn hành nguyên cấp
Tất cả các phát ngôn đều mang tính ngôn hành, có nghĩa là hành động bằng lời Tuy nhiên cần phân biệt ngôn hành nguyên cấp và ngôn hành tường minh
1.3.1 Phát ngôn ngôn hành tường minh
Phát ngôn ngôn hành tường minh là phát ngôn có chứa những dấu hiệu chỉ ra chính cái hành động được thực hiện khi nói ra phát ngôn đó Ta có các phát ngôn ngôn hành tường minh sau đây:
Trang 15a) Tôi chào anh
b) Tôi mời chị vào nhà
c) Tôi hứa sẽ làm xong đúng hẹn
d) Tôi chúc mừng chị
e) Tôi xin lỗi chị
Các phát ngôn này chứa những động từ chỉ rõ loại hành động phát ngôn
được thực hiện Đó là chào,mời,hứa,chúc mừng, xin lỗi Các động từ như vậy
được gọi là các động từ ngôn hành Để có thể đạm nhiệm chức năng làm dấu hiệu ngôn hành, thì các động từ này thường phải đáp ứng một số điều kiện nhất định như:
- Chúng không được đi với các từ chỉ thời
- Chủ ngữ phải ở ngôi thứ nhất, số ít
- Trong phát ngôn không có các trạng từ chỉ nguyên nhân, mục đích
Tuy nhiên các động từ ngôn hành không phải là dấu hiệu ngôn hành duy nhất Người nói còn có thể dùng những dấu hiệu ngôn hành khác như ngữ điệu, các tiểu từ đặc biệt (như à, ơi, nhỉ, chăng, chứ… trong tiếng Việt), các cụm từ
có giá trị như dấu hiệu ngôn hành Ví dụ để thề một điều gì đó thì trong tiếng
Việt, người ta thường cao thể bắt đầu bằng cụm từ “nói có trời đất” hoặc những kết cấu đặc trưng cho hành động đe dọa“có….không thì bảo!”, “bà truyền đời
báo danh cho mà biết”…
1.3.2 Phát ngôn ngôn hành nguyên cấp
Phát ngôn ngôn hành nguyên cấp là những phát ngôn không chứa những dấu hiệu chỉ ra chính hành động mà người nói muốn hướng tới Muốn nhận diện được các phát ngôn ngôn hành nguyên cấp thì chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh
để biết được đích ngôn trung mà người nói muốn nói tới là gì? Xét ví dụ sau:
Hải Vân rút chiếc mùi xoa ở túi cầm tay, vo tròn, lại nói:
Trang 16- Há rộng mồm ra, không ông bắn chết.!
([14], 252)
Ví dụ trên là lời cầu khiến với hình thức biều hiện là ra lệnh Khi chủ ngôn (người nói) ra lệnh cho tiếp ngôn (người nghe) thì hành động chưa được thực hiện Người nói có cương vị, vị thế cho phép điều khiển, có khả năng chi phối,
điều khiển hành động của người nghe Khi thực hiện hành động ra lệnh “há
mồm ra” thì người nói cho rằng người nghe có khả năng thực hiện Tuy nhiên
người nói chắc chắn rằng nếu không ra lệnh thì người nghe không thực hiện
hành động “há mồm” Phát ngôn được người nói thực hiện với mục đích yêu
cầu, có hiệu lực tại lời là yêu cầu nhưng không có động từ ngôn hành Đây là hành động cầu khiến nguyên cấp thông qua ngữ điệu
Các phát ngôn ngôn hành nguyên cấp thiếu những dấu hiệu hình thức để nhận biết Muốn hiểu được những phát ngôn ngôn hành nguyên cấp thì người nghe buộc phải căn cứ vào tình huống giao tiếp cụ thể (ngữ cảnh) Chẳng hạn
một phát ngôn “mày có thích không?” có thể tùy theo tình huống mà người
nghe có thể hiểu đó là một câu hỏi hay hay là một lời đe dọa
Tóm lại, khi nghiên cứu một hành động ngôn từ thì chúng ta phải xuất phát từ hành động ngôn trung Hành động ngôn trung được nhận diện bằng dấu hiệu ngôn ngữ hình thức hoặc ý nghĩa (tức là ngôn từ và ý nghĩa mà ngôn từ đó thể hiện)
2 Điều kiện sử dụng của hành động ngôn từ
2.1 Điều kiện sử dụng hành động tại lời theo Austin
Theo J Austin thì khi thực hiện một phát ngôn thì chúng ta đồng thời thực hiện ba hành động trong một câu nói: hành động tạo lời, hành động tại lời, hành động mượn lời (hành vi tạo lời, hành vi ở lời, hành vi mượn lời – cách gọi của [4], [13] Để thực hiện một hành động ngôn từ, ở đây là hành động tại lời thì