Có rất nhiều trường hợp các khái niệm được diễn đạt bằng những cụm từ còn mang sắc thái miêu tả, lời định nghĩa, chứ chưa phải là thuật ngữ, hoặc khi đối chiếu với thuật ngữ Du lịch- Khá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ VIỆT NGA
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH
HỆ THUẬT NGỮ DU LỊCH ANH - VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ QUANG THIÊM
Hà Nội – 2009
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7
3 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 9
CHƯƠNG 1 : LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 11
1.1 KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ 10
1.1.1 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới 11
1.1.2 Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt 13
1.1.3 Phân biệt thuật ngữ và danh pháp 15
1.1.4 Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ 16
1.1.5 Quan niệm về thuật ngữ của luận văn 19
1.2 KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ DU LỊCH 22
1.2.1 Vai trò của du lịch 22
1.2.2 Quan niệm và định nghĩa về du lịch của các nhà khoa học trên thế giới 23
1.2.3 Quan niệm về du lịch trong tiếng Việt 27
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH Erro r! Bookmark not defined 2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 35 2.2 THÀNH TỐ CẤU TẠO NHỎ NHẤT CỦA THUẬT NGỮ: HÌNH
VỊ……… Error! Bookmark not defined
Trang 32.2.1 Quan niệm theo ngữ pháp truyền thống……….……… Error! Bookmark not defined.
2.2.2 Phân loại hình vị theo bình diện ngữ pháp
Err
or! Bookmark not defined
2.2.3 Đặc điểm cấu tạo từ
Err
or! Bookmark not defined
2.3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH XÉT
TRÊN PHƯƠNG DIỆN CẤU TẠO TỪ……… Error!
Bookmark not defined
2.3.1 Thuật ngữ du lịch có cấu tạo là từ đơn (single terms)
Err
or! Bookmark not defined
2.3.2 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng từ phái sinh(derivative terms)… Error!
Bookmark not defined
2.3.3 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng từ ghép (compound terms ) 47
2.3.4 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng cụm từ (collocation terms )…… Error!
Bookmark not defined
2.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH XÉT TRÊN
BÌNH DIỆN NỘI DUNG NGỮ NGHĨA ………Error! Bookmark not defined
2.4.1 Các thuật ngữ là tên gọi của các cơ quan tổ chức du lịch
Err
or! Bookmark not defined
2.4.2 Các thuật ngữ chỉ hoạt động nấu ăn trong nhà hàng
Err
or! Bookmark not defined
Trang 42.4.3 Các thuật ngữ chỉ các kiểu bữa ăn trong nhà hàng
Err
or! Bookmark not defined
2.4.4 Các thuật ngữ gọi tên các đồ ăn
Err
or! Bookmark not defined.
2.4.5 Các thuật ngữ gọi tên các đồ uống 58
2.4.6 Thuật ngữ chỉ các loại dịch vụ của nhà hàng 58 2.4.7 Các thuật ngữ gọi tên các bộ phận phòng ban trong khách sạn
Err
or! Bookmark not defined
2.4.8 Các thuật ngữ chỉ các loại hình khách sạn
Err
or! Bookmark not defined
2.4.9 Thuật ngữ chỉ các loại phòng trong khách sạn
Err
or! Bookmark not defined
2.4.10 Thuật ngữ chỉ các tiện nghi trong khách sạn
Err
or! Bookmark not defined
2.4.11 Các thuật ngữ chỉ chủ thể hoạt động trong ngành du lịch khách sạn
Trang 5or! Bookmark not defined
2.4.15 Nhóm thuật ngữ chỉ những điểm thu hút khách du lịch
Err
or! Bookmark not defined
2.4.16 Các thuật ngữ chỉ các hoạt động đi lại
Err
or! Bookmark not defined
2.5 ĐỐI CHIẾU CẤU TẠO THUẬT NGỮ DU LỊCH GIỮA TIẾNG ANH VÀ
TIẾNG VIỆT Error! Bookmark not defined
2.5.1 Thuật ngữ là từ đơn
Err
or! Bookmark not defined
2.5.2 Thuật ngữ du lịch tiếng Việt có cấu tạo là từ ghép
Err
or! Bookmark not defined.
2.5.3 Thuật ngữ du lịch có cấu tạo là ngữ 64
2.6 NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA THUẬT NGỮ DU
LỊCH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT Error! Bookmark not defined
Err
or! Bookmark not defined
Trang 62.6.2 Sự khác biệt
Err
or! Bookmark not defined
TIỂU KẾT Error!
Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: CÁCH CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT
Erro r! Bookmark not defined
3.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 64
3.2 KHÁI LƯỢC VỀ DỊCH Error! Bookmark not defined
3.2.1 Khái niệm về dịch thuật
Err
or! Bookmark not defined
3.2.2 Tương đương dịch thuật
Err
or! Bookmark not defined
3.2.3 Dịch không có tương đương
Err
or! Bookmark not defined
3.3 CHIẾN LƯỢC VÀ QUY TRÌNH CHUYỂN DỊCH Error! Bookmark not defined
Err
or! Bookmark not defined
Trang 73.3.2 Dịch vay mượn nguyên dạng
Err
or! Bookmark not defined
3.3.3 Phiên âm, chuyển tự
Err
or! Bookmark not defined
3.3.4 Tương đương miêu tả- chức năng
Err
or! Bookmark not defined
3.3.5 Sao lại nguyên văn
Err
or! Bookmark not defined
Err
or! Bookmark not defined
3.3.7 Dịch tương đương văn hoá
Err
or! Bookmark not defined
3.4 CÁC PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ DU LỊCH TỪ
TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT Error! Bookmark not defined
3.4.1 Dịch các thuật ngữ du lịch là từ đơn, từ phái sinh và những từ được
Err
or! Bookmark not defined
3.4.2 Thuật ngữ là những đơn vị đo lường của Anh
Err
or! Bookmark not defined
Trang 83.4.3 Phương thức chuyển dịch các từ viết tắt từ tiếng Anh sang tiếng Việt
Err
or! Bookmark not defined
3.4.4 Phương thức dịch thuật ngữ du lịch ở cấp độ trên từ giữa tiếng Anh và
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ xưa, du lịch được coi là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống nhân loại Ngành Du lịch được xem như ngành công nghiệp sau ngành công nghiệp Dầu khí và Ô tô Đây là ngành công nghiệp không khói có tác động mạnh mẽ tới quá trình chuyển đổi nhu cầu sản xuất
và cả cơ cấu kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Như ta đã biết, Việt Nam là một nước có vị trí lãnh thổ, lãnh hải rất thuận lợi Bộ phận lãnh hải với 200 hải lý, bộ phận lãnh thổ có đường biên giới Việt – Trung dài 1400 km, biên giới Việt- Lào dài 2067km, biên giới Cam- pu- chia 1080,
có khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm, mưa nhiều tạo cho hệ động thực vật phát triển, tài nguyên đa dạng Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, trên đường giao thông quốc tế từ địa lục Á- Âu đến địa lục Úc, từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh cổ đại nhất của loài người là Ấn Độ và Trung Quốc, nằm ở khu vực có sự giao thoa văn hoá giữa các nước trong khu vực và các nước phương Tây Việt Nam có hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữa nước Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn phong phú Chính vì vậy, ngày nay trong trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt Nam trở thành điểm du lịch hấp dẫn nhất của nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước nói tiếng Anh
Quan hệ giao lưu du lịch giữa Việt Nam và các nước trên thế giới ngày càng phát triển Hiện nay, các nước trên thế giới đang có xu hướng dùng tiếng Anh như một ngôn ngữ phổ quát có tính quốc tế Điều này khiến cho việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Du lịch trong các trường đại học và cao đẳng nói chung, đặc
Trang 10biệt là việc nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ Du lịch Khách sạn Anh- Việt nói riêng là hết sức cần thiết bởi vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất trong hoạt động du lịch Hoạt động du lịch sẽ cho phép các nước có điều kiện tiếp xúc với cá nền kinh tế thế giới với tri thức nhân loại như công nghệ mới, các thành tựu khoa học mới cũng như kinh nghiệm quản lí, góp phần thu hút đầu
tư, chuyển giao công nghệ, hợp tác kinh doanh phát triển kinh tế, từng bước thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia Việt Nam là một nước đang phát triển chắc chắn phải tập trung vào hoạt động du lịch
Tuy nhiên, ngành Du lịch Việt Nam vẫn còn mới mẻ cho nên hệ thuật ngữ
Du lịch- Khách sạn trong tiếng Việt vẫn chưa được chuẩn hoá, chưa đảm bảo được tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế Có rất nhiều trường hợp các khái niệm được diễn đạt bằng những cụm từ còn mang sắc thái miêu tả, lời định nghĩa, chứ chưa phải là thuật ngữ, hoặc khi đối chiếu với thuật ngữ Du lịch- Khách sạn trong tiếng Anh cho thấy nhiều thuật ngữ du lịch- khách sạn có trong tiếng Anh nhưng không có trong tiếng Việt Điều đó đã gây không ít khó khăn khi đàm phán, trao đổi, ký kết hợp đồng trong quan hệ du lịch giữa hai nước
Hiện nay ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nào chuyên nghiên cứu
về sự đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ Du lịch một cách đầy đủ Vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ Du lịch Anh- Việt là điều cần thiết Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần thiết thực vào quá trình truyền bá kiến thức và sự phát triển du lịch ở Việt Nam
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
a/ Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh
và tiếng Việt Đó là những thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực du lịch
b/ Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đối chiếu thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh và tiếng Việt để làm sáng tỏ những đặc trưng của hệ thuật ngữ trong mỗi ngôn ngữ Từ đó đề xuất các phương thức chuyển dịch, chuẩn hoá hệ thuật ngữ Du lịch trong tiếng Việt
c/ Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá những quan điểm lý luận trong việc nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ Du lịch của các nhà nghiên cứu thế giới và các nhà nghiên cứu Việt Nam Qua đó xác định cơ sở lý luận cho luận văn
Khảo sát đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Du lịch tiếng Anh về mặt cấu tạo Xác định các loại mô hình kết hợp giữa các thành tố để tạo thành thuật ngữ Du lịch
ở từng thứ tiếng Trên cơ sở đó tìm ra sự khác biệt và tương đồng giữa các thành tố cấu tạo nên hệ thuật ngữ giữa hai ngôn ngữ
Tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh theo các con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ
du lịch
Khảo sát các kiểu dịch tương đương và một số thủ pháp được sử dụng trong chuyển dịch tương đương và không tương đương thuật ngữ du lịch Anh - Việt
3 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a/ Tư liệu nghiên cứu
Trang 12Tƣ liệu nghiên cứu của luận văn gồm 570 thuật ngữ du lịch Anh đƣợc lựa chọn từ những tƣ liệu sau:
1) Trần Văn Chánh Từ điển kinh doanh du lịch – khách sạn – và dịch vụ
ăn uống Nxb Thanh Niên, 2004
2) Hoàng Văn Châu Từ điển quản trị khách sạn và du lịch Anh- Việt, Nxb
5) D.Adamson International hotel English Prentice Hall Erope, 1997
6) Iwonna Dubicka Margaret O' Keeffe English for International Tourism
Nxb Longman, 2003
7) Hồ Tấn Mẫn Từ điển du lịch Anh- Việt thông dụng Nxb Lao động xã
hội, Hà Nội, 2004
8) Tuyết Sơn- Thu Hà Tiếng Anh trong giao tiếp khách sạn- nhà hàng-
thương mại Nxb Giao thông vận tải Hà Nội, 2002
9) Nguyễn Thị Bích Thuỷ English for the hotel and tourism Nxb Thống kê,
Trang 13Trong luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ học thống kê, phân tích cấu trúc và phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ khảo sát Từ đó xác định các đặc điểm của thuật ngữ du lịch Anh- Việt Bên cạnh đó chúng tôi sử phương pháp so sánh đối chiếu để so sánh đối chiếu các thuật ngữ du lịch tiếng Anh với thuật ngữ du lịch tiếng Việt
4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày ở 3 chương sau:
Chương 1: Lịch sử vấn đề và cơ sở lý luận của luận văn
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ du lịch tiếng Anh
Chương 3: Cách chuyển dịch thuật ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt
Trang 14CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1 KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ
Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia nọ với quốc gia kia đều phải cần dùng đến ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất Trong mọi lĩnh vực hoạt động nói chung, trong hoạt động du lịch nói riêng, con người đều phải dùng đến từ ngữ để biểu đạt các khái niệm ngành, nghề nghiệp, chuyên môn… Những từ ngữ đó người ta quen gọi là thuật ngữ Vậy để hiểu một cách đầy đủ về thuật ngữ, ta hãy đến với những quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới
Thuật ngữ ra đời vốn rất sớm ở Châu Âu và châu Mỹ, bởi ở đó có nền khoa học kỹ thuật phát triển rất sớm trên thế giới Đó là mảnh đất tốt để những thuật ngữ khoa học ra đời Thuật ngữ có từ rất lâu nhưng mãi đến thế kỷ XX người ta mới chính thức nghiên cứu về nó như một ngành khoa học Nghiên cứu đầu tiên về thuật ngữ phải nói đến các nhà ngôn ngữ Anh, Đức, Mỹ đặc biệt là những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Xô Viết Khi nghiên cứu về thuật ngữ, họ đã đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng khái niệm và tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học
Vinocua chỉ ra rằng: “Thuật ngữ- đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có
chức năng đặc biệt” [70, tr6]
Cu- dơ- kin lại chỉ ra rằng:“Cả hình thức và nội dung không tìm thấy ranh
giới thực nào giữa từ thông thường, từ phi chuyên môn với từ của vốn kỹ thuật Đường ranh giới hiện thực khách quan giữa hai loại từ này về thực chất là một đường ranh giới ngoài ngôn ngữ Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn
Trang 15ứng với đối tượng thông dụng thì từ của vốn kỹ thuật lại tương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến ” [72, tr45]
A X Gerd, nhà ngôn ngữ học Xô Viết đã nêu tương đối đầy đủ về khái
niệm thuật ngữ: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định
nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa Thuật ngữ không có tính đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc lĩnh vực tri thức cụ thể” [71, tr 3] Trong định nghĩa này,
tác giả nhấn mạnh vào đặc điểm cơ bản của thuật ngữ Thuật ngữ là đơn vị từ vựng ngữ nghĩa của một hệ thống ngôn ngữ được đặc trưng bởi tính hệ thống, tính đơn nghĩa Như vậy chức năng của thuật ngữ là định nghĩa
Các nhà nghiên cứu thuật ngữ như: E Wuster(Đức), WE.Flood, R.W.Brown (Mỹ) ngoài việc định nghĩa về thuật ngữ, nêu bản chất, khái niệm của chúng các
tác giả còn nêu tiêu chuẩn cụ thể của thuật ngữ J.C.Sager (Mỹ) viết: “Thuật ngữ
phải được hình thành một cách hệ thống, chú trọng tới đặc tính về mặt hình thái,
cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành chúng Thuật ngữ phải tuân theo các quy ước chung về hình vị, chữ viết và phát âm của ngôn ngữ tạo thành chúng Một khi thuật ngữ được chấp nhận sử dụng rộng rãi thì nó không thể bị thay đổi nếu như không có lí do bắt buộc và sự khẳng định chắc chắn rằng thuật ngữ mới thay thế nó sẽ đảm đương hoàn toàn vị trí của nó và sẽ được nhanh chóng chấp nhận Nếu thuật ngữ mới chỉ truyền đạt được phần nào đó của thuật ngữ đang dùng thì sẽ gây ra nhầm lẫn và trong những trường hợp đó, cần sử dụng đến khái niệm đồng nghĩa Như vậy mới có thể giới thiệu thuật ngữ mới” [64, tr 89]
Cuốn từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của tác giả O X Ac- khma- nôva
cũng đã định nghĩ về thuật ngữ như sau:“Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn
ngữ chuyên môn đựơc sáng tạo ra để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên môn
và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [69, tr 57]
Trang 16Như vậy có khá nhiều định nghĩa về thuật ngữ Qua các định nghĩa đó, ta thấy được bức tranh toàn cảnh về thuật ngữ Nó giúp ta có cái nhìn xác đáng hơn
về thuật ngữ
1.1.2 Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt
Ở Việt Nam nghiên cứu về thuật ngữ chỉ mới bắt đầu vào giữa thế kỷ XX Đầu tiên phải kể đến cuốn “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn, xuất bản
1942 Hoàng Xuân Hãn đã định nghĩa thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ hay danh từ
khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” Nhưng vấn đề nghiên cứu thuật ngữ
như một ngành khoa học thực sự thì phải là sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Năm 1965, hội nghị trưng cầu ý kiến về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm chủ tịch đã ra đời Tháng 6 năm 1966 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã công bố áp dụng tạm thời bản: “Quy tắc thuật ngữ khoa học nước ngoài gốc Ấn- Âu”
Như vậy, vấn đề thuật ngữ đã trở thành đề tài lớn cho các nhà ngôn ngữ nghiên cứu Từ đó có rất nhiều nhà khoa học Việt Nam như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế, Lưu Văn Lăng, Như Ý, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Khang… đã đi sâu nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam Có thể nói, những ý kiến của các nhà nghiên cứu đưa ra về thuật ngữ là khá toàn diện, cụ thể Trong cuốn “Khái
luận ngôn ngữ học” Nguyễn Văn Tu đã định nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ
dùng trong ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật… và có một
ý nghĩa đặc biệt biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [35, tr 176] Và ông cũng đưa ra nhận định tiếp theo: “Thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất và ngành văn hoá nào đó… Đặc điểm của thuật ngữ là những từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế tuỳ từng ngành” [36, tr 114]
Trang 17Năm 1962 trong cuốn “Giáo trình Việt ngữ, tập 2” Đỗ Hữu Châu đã nhấn mạnh đặc điểm của thuật ngữ không chỉ biểu thị khoa học mà còn chỉ tên sự vật,
một hiện tượng khoa học nhất định: “Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử
dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hoá học, toán học, thương mại, ngoại giao… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vât, một hiện tượng khoa học nhất định”
[4, tr 167]
Cũng tương tự như nhận xét trên, nhà nghiên cứu Lưu Văn Lăng, Nguyễn
Như Ý cũng đã định nghĩa về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ
(từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là ngững lĩnh vực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ” [20, tr 144] Có thể nói quan niệm
về thuật ngữ của các nhà khoa học Việt Nam cơ bản thống nhất với quan niệm về thuật ngữ của các nhà khoa học trên thế giới Đặc biệt trong ý kiến của Nguyễn Văn Tu, ông còn phát hiện ra tính quốc tế của thuật ngữ Điều đó thể hiện rất đúng trong thời đại hiện nay- thời đại toàn cầu hoá, tính quốc tế trong ngôn ngữ không thể thiếu được Tính quốc tế trong ngôn ngữ giúp cho quan hệ ngoại giao, du lịch, thương mại giữa các nước trở nên thuận tiện
Sau này các nhà nghiên cứu như Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn
Quang và Vương Toàn đã nhấn mạnh tính chính xác của thuật ngữ: “Thuật ngữ là
một từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác khái niệm của một chuyên môn nào đó Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ” [23, tr 64]
Năm 1983, Hoàng Văn Hành còn nêu thêm một đặc điểm của thuật ngữ:
“Thuật ngữ là những từ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống
Trang 18thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [15, tr
26]
Ý kiến của Nguyễn Thiện Giáp cũng tương tự như trên: “Thuật ngữ là
những bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người” [ 12, tr 270]
Như vậy, quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam cơ bản thống nhất với quan niệm thuật ngữ của các nhà nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới Một vấn đề nữa mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nói đến có liên quan đến thuật ngữ là danh pháp
1.1.3 Phân biệt thuật ngữ và danh pháp
Để phân biệt thuật ngữ và danh pháp, Vinocua, một nhà khoa học Xô Viết đã
chỉ ra rằng:“Khác với thuật ngữ, danh pháp mang tính trừu tuợng, ước lệ, võ
đoán, và công dụng duy nhất của nó là tạo ra những phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để biểu đạt những sự vật không có quan hệ trực tiếp với những nhu cầu của tư duy lí luận lấy sự vật làm căn cứ” [ 39, tr 8]
Một nhà khoa học nữa của Liên Xô, ông A.A.Rerformatxki cũng có một
quan niệm tương tự:“Hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niệm của
một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ dán nhãn cho đối tượng của nó và pháp danh không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học” [73, tr 47] Như vậy
thuật ngữ khác với danh pháp ở chỗ nó được xây dựng trên mối quan hệ với các hệ thống khoa học, được biểu đạt hợp lí bằng các đơn vị từ ngữ của một ngôn ngữ, còn danh pháp mang nặng kí hiệu, gọi tên sự vật và hiện tượng không có quan hệ trực tiếp logic với bản chất của sự vật mà nó gọi tên Ví dụ những từ: quản trị du lịch, khách sạn, bồi bàn, du lịch trọn gói, sông núi,…là thuật ngữ, còn tên của
Trang 19khách sạn, sông, núi là gì thì đó là danh pháp như khách sạn Đồ Sơn, khách sạn Sông Hồng thì từ khách sạn là thuật ngữ, Đồ Sơn, Sông Hồng là danh pháp
Theo Nguyễn Thiện Giáp, cần phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học
Hệ thuật ngữ trước hết gắn với hệ thống các khái niệm của một khoa học nhất định Còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng trong một chuyên môn nào đó,
nó không gắn trực tiếp với khái niệm của khoa học mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi Về bản chất danh pháp là tên riêng của các đối tượng Về mặt cấu tạo, thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ, hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các
từ tạo ra chúng Còn pháp danh có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái, là một chuỗi các con số hay bất kỳ cách gọi tên võ đoán nào
Tuy vậy, sự tồn tại của danh pháp ít nhiều có liên quan nhất định với hệ thuật ngữ mà nó phục vụ Và muốn hay không muốn, danh pháp còn cho người đọc, người nghe liên tưởng tới những khái niệm về các sự vật, hiện tượng được biểu đạt qua hệ thuật ngữ
1.1.4 Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ
a)Tính khoa học
+ Tính chính xác
Nói đến tính khoa học của thuật ngữ là phải nói đến tính chính xác Thuật ngữ phải phản ánh được bản chất của các khái niệm Điều này, AA.Refomatski đã
nói rõ trong nhận định của ông:“Các khái niệm biểu thị trong các từ ngữ thông
thường chỉ là khái niệm thông thường, còn các khái niệm biểu thị trong thuật ngữ
là khái niệm chính xác của một chuyên ngành khoa học nào đó” [73, tr 49- 51]
Cũng vì lẽ đó mà thuật ngữ trong các từ điển được định nghĩa chứ không giải thích như từ ngữ thông thường khác Trong thời đại ngày nay có nhiều ngành nghề khoa
Trang 20học phát triển, vì thế ta phải hiểu được đặc tính cơ bản của thuật ngữ Để giúp người đọc, người nghe có được khái niệm chính xác về bất kỳ đối tượng khoa học nào, thuật ngữ phải có nhiệm vụ gọi tên, định nghĩa chính xác về khái niệm đó Có như vậy mới tránh khỏi cách hiểu sai lệch và sự nhầm lẫn
Quan điểm của Lưu Văn Lăng về tính chính xác của thuật ngữ như
sau:“Mức chính xác khoa học của thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái niệm
khoa học một cách rõ ràng, rành mạch Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai, hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác”
[ 19, tr 40] Như vậy tính chính xác của thuật ngữ còn được thể hiện là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái biểu cảm
+ Tính hệ thống
Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ Mà ngôn ngữ của bất kỳ một quốc gia nào cũng mang tính hệ thống Bởi vì thuật ngữ là từ, cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên ngành nào đó Thuật ngữ phải nằm trong hệ thống
từ vựng chung của một ngôn ngữ Tính hệ thống của thuật ngữ được thể hiện ở hai phương diện Đó là trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng chỉ ra mối liên hệ của thuật ngữ với các từ ngữ khác trong vốn từ vựng chung của một ngôn ngữ Trường khái niệm chỉ ra mối liên hệ giữa một thuật ngữ với các thuật ngữ khác trong cùng một chuyên ngành khoa học Bởi không có chuyên ngành khoa học nào chỉ tồn tại một khái niệm duy nhất Vì vậy mỗi thuật ngữ phải thuộc
về một hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định Và cũng không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ mà phải hình dung, xác định
vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm
Như vậy, khi xây dựng hoặc chuyển dịch một thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại, chúng ta cần chú ý đến tính hệ thống của thuật ngữ Chúng ta khó có thể tạo ra một cuốn sách hay một từ điển nào mà có thể chứa tất
Trang 21cả các thuật ngữ Quan trọng là chúng ta phải biết sắp xếp các thuật ngữ vào một
sea tourism du lịch biển
(biển) ( du lịch)
village tourism du lịch nông thôn
(nông thôn)( du lịch)
b) Tính dân tộc
Nói về tính dân tộc của thuật ngữ, Lưu Văn Lăng nêu: “Thuật ngữ dù thuộc
lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó, thuật ngữ phải có tính dân tộc và phải mang màu sắc dân tộc” [
19, tr 58] Hơn nữa, ngôn ngữ của một dân tộc là sản phẩm giao tiếp của dân tộc
ấy Cho nên mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của mình và phải biết vận dụng vốn từ ngữ của dân tộc để biểu thị khái niệm khoa học…
c) Tính quốc tế
Khoa học là tài sản trí tuệ chung của loài người Cho nên những khái niệm
về các ngành khoa học kỹ thuật và nhiều ngành khác trong lĩnh vực hoạt động chung của con người là của chung nhân loại Ví dụ khái niệm trong các ngành khoa học tự nhiên như Toán, Vật lý, Hoá học… đều thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới, không thể có khái niệm toán học ở Nga khác với khái niệm toán học ở Anh
Trang 22Điều này Nguyễn Thiện Giáp viết:“Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt
biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói thứ tiếng khác nhau Vì vậy sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính thống nhất của thuật ngữ”[12, tr 247]
Nói đến tính quốc tế của thuật ngữ là ta nghĩ đến đến sự biểu hiện ở hình thức cấu tạo của nó Đó là các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát một gốc chung Ví dụ như từ điện thoại trong tiếng Pháp: telephon, trong tiếng Anh: telephone, tiếng Đức: telephone
Tính quốc tế của thuật ngữ còn biểu hiện cả ở nội dung Bởi vì thuật ngữ biểu thị những khái niệm khoa học chung cho nên những khái niệm về khoa học khoa học, các ngành nghề khác đều giống nhau ở các quốc gia như đã nêu trên
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tính quốc tế trong thuật ngữ được xem là yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ ngoại giao và du lịch
1.1.5 Quan niệm về thuật ngữ của luận văn
Từ những nghiên cứu về thuật ngữ của các nhà khoa học ngôn ngữ thế giới
và Việt Nam, tôi thấy được những đặc điểm của thuật ngữ như sau:
Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên môn và các đối tượng chuyên môn Nó là đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trung như tính chính xác, tính đơn nghĩa và tính hệ thống, không có hiện tượng đồng âm, đa nghĩa trong phạm vi một khoa học hay lĩnh vực tri thức cụ thể Nó có chức năng đặc biệt là gọi tên và định nghĩa Thuật ngữ sẽ không còn chính xác nếu như nó là một từ hay cụm từ đa nghĩa Ví dụ “Du lịch biển” thì ta phải hiểu là du
lịch ở vùng biển mà không thể hiểu khác được
+ Thuật ngữ mang tính dân tộc