1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện kim bôi, tỉnh hòa bình

143 367 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, thôn là một trong những hình thức quản lý bảo vệ rừng đang được sự quan tâm, chú ý của cơ quan quản lý lâm nghiệp t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án Thạc sĩ sản xuất và chế biến mang tên “Đề xuất

một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình” Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tôi xin cam đoan số liệu và

kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác dưới mọi hình thức

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bảo vệ Luận văn Thạc sỹ về lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 13 tháng 4 năm 2016

Tác giả luận án

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy khóa học

2015-2016, được sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Vũ Nhâm tôi đã thực hiện

đề tài “Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện

Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình".” Để hoàn thành khoá luận này Tôi xin chân thành cảm

ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Lâm nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Vũ Nhâm đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khoá luận này Các cơ quan, ban ngành của Huyện Kim Bôi cùng bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và thực hiện luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực

tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy,Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 13 tháng 4 năm 2016

Tác giả

Bùi Thành Luân

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Nhận thức về QLBVR dựa vào cộng đồng 3

1.1.1 Khái niệm về QLBVR dựa vào cộng đồng 3

1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng 4

1.1.3 Vai trò của Chính sách Nhà nước đối với QLBVR dựa vào cộng đồng 6

1.1.4 Chiến lược và chính sách QLBVR dựa vào cộng đồng 6

1.1.5 Quan điểm về QLBVR dựa vào cộng đồng 7

1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới 7

1.3 Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 9

1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam 9

1.3.2 Hình thức QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 9

1.3.3 Những nghiên cứu chính liên quan đến QLBVR dựa vào cộng đồng Việt Nam 11

1.3.4 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam 15

1.3.5 Những bài học kinh nghiệm cho QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 16

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 18

2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Kim Bôi 18

2.1.1 Vị trí địa lý 18

2.1.2 Địa hình, địa mạo 20

2.1.3 Khí hậu, thủy văn 20

Trang 4

2.1.4 Tài nguyên đất 21

2.1.5 Tài nguyên nước 25

2.1.6 Tài nguyên rừng 25

2.1.7 Tài nguyên khoáng sản 26

2.1.8 Tài nguyên nhân văn 26

2.1.9 Thực trạng môi trường 27

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27

2.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 27

2.2.2 Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế 28

2.2.3 Dân số và lao động 30

2.2.4 Văn hoá – xã hội 31

2.2.5 Cơ sở hạ tầng 34

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.1 Mục tiêu tổng quát 37

3.2 Mục tiêu cụ thể 37

3.3 Đối tượng nghiên cứu 37

3.4 Giới hạn của đề tài 37

3.5 Nội dung nghiên cứu 38

3.6 Phương pháp nghiên cứu: 38

3.6.1 Phương pháp luận 38

3.6.2 Thu thập số liệu thứ cấp 39

3.6.3 Điều tra thực địa 40

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Thực trạng QLBVR ở huyện Kim Bôi 43

4.1.1 Cơ cấu tổ chức lực lượng về QLBVR 43

4.1.2 Thực trạng công tác QLBVR ở huyện Kim Bôi 45

4.1.3 Những thuận lợi, hạn chế trong công tác QLBVR 56

4.1.4 Những nguy cơ và thách thức trong công tác QLBVR 59

Trang 5

4.1.5 Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 62

4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng của huyện 67

4.2.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 67

4.2.2 Phong tục tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của cộng đồng liên quan đến công tác QLBVR 70

4.2.3 Các hình thức quản lý rừng trên địa bàn 74

4.3 Đánh giá tiềm năng QLBVR của cộng đồng dân cư thôn, bản 77

4.4 Phân tích vai trò và mối quan tâm, mâu thuẫn và khả năng hợp tác của của các bên liên quan đến QLBVR 79

4.4.1 Phân tích vai trò và mối quan tâm của các bên liên quan đến việc QLBVR 79

4.4.2 Phân tích mâu thuẫn và khả năng hợp tác của các bên liên quan 86

4.5 Đề xuất một số giải pháp QLBVR trên cơ sở cộng đồng 88

4.5.1 Các giải pháp về chính sách 88

4.5.2 Các giải pháp về tổ chức 97

4.5.3 Giải pháp về đào tạo tập huấn 100

4.5.4 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục pháp luật QLBVR và xoá bỏ dần những tập quán không có lợi cho công tác QLBVR 103

4.5.5 Giải pháp về PCCCR 104

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

BCH Ban chỉ huy thực hiện các biện pháp cấp bách

để bảo vệ và phát trỉên rừng

QLBVR Quản lý Bảo vệ rừng

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

PGS TS Phó Giáo sư, Tiến sỹ

CĐ KHBV&PTR Chỉ đạo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2 Số lượng một số loại vật nuôi chính trong huyện 29

4.1 Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền từ năm 2011-2015 46 4.2 Thống kê tình hình vi phạm lâm luật trên địa bàn 49 4.3 Hệ thống công trình và dụng cụ BVR trên địa bàn 54 4.4 Nguy cơ và thách thức trong QLBVR trên địa bàn 59 4.5 Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 63

4.6 Kết quả phân tích ảnh hưởng và tỷ lệ trung bình % của các nguồn

thu nhập đối với tổng thu nhập của các hộ gia đình 65 4.7 Diện tích rừng phân theo chủ quản lý trên địa bàn 75

4.8 Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của cộng

4.9 Phân tích mối quan tâm đến tài nguyên rừng và vai trò BVR trên cơ

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Gỗ và phương tiện bị tịch thu và tạm giữ tại Kho Hạt Kiểm lâm

4.2 Bảng đồ cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình người Mường 66 4.3 Bảng đồ cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình người Dao 67

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng là một tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên toàn cầu, vì nó không chỉ cung cấp những giá trị lâm sản thông thường cho con người mà nó còn cho hành tinh của chúng ta sự sống

Ngành lâm nghiệp nước ta đang trong thời kỳ chuyển biến từ Lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, trong thời gian qua đã tạo ra nhiều nhân tố tích cực mới, đặc biệt là sự hình thành đa dạng hoá các hình thức quản lý và phương thức tiếp cận mới về quản lý tài nguyên rừng Trong đó quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, thôn là một trong những hình thức quản lý bảo

vệ rừng đang được sự quan tâm, chú ý của cơ quan quản lý lâm nghiệp từ cấp Trung ương đến chính quyền địa phương các cấp Cộng đồng dân cư thôn, bản, những người hiện đang sinh sống ở vùng rừng và gần rừng, đời sống kinh tế, xã hội của họ

có quan hệ trực tiếp và gắn bó với rừng, đây là một nhân tố tích cực và ngày càng

có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý rừng cộng đồng Phát huy vai trò của cộng đồng dân cư thôn, thônđể quản lý bảo vệ rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc, vừa tạo ra một cách quản lý rừng có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu thế phát triển lâm nghiệp trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển

Huyện Kim Bôi là huyện miền núi của tỉnh Hoà Bình cách Thành phố Hòa Bình 35 km; Có tổng diện tích tự nhiên 54.921,64 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp 42.147,50 ha, chiếm 77% diện tích tự nhiên của toàn Huyện, phân bố chủ yếu trên địa hình đồi núi cao Diện tích rừng của huyện Kim Bôi không những có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện mà còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái

Đời sống nhân dân tại huyện Kim Bôi còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông – lâm nghiệp, nhìn chung thu nhập của người dân trên địa bàn huyện còn thấp, trình độ dân trí thấp, sản xuất nông – lâm nghiệp lạc hậu, với nhiều thành phần dân tộc, nên công tác quản lý bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn và phức

Trang 10

tạp Hiện nay trên địa bàn huyện quản lý bảo vệ rừng chủ yếu dựa vào Hạt Kiểm lâm Kim Bôi và Khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, trong đó Hạt Kiểm lâm huyện đóng vai trò quan trọng

Trong những năm qua mặc dù đã được các cấp, ngành địa phương quan tâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, tuy nhiên tình trạng chặt phá rừng làm nương, khai thác rừng, cháy rừng vẫn còn xảy ra trên địa bàn làm xuy giảm cả về diện tích

và chất lượng tài nguyên rừng, làm cho khả năng phòng hộ và cung cấp lâm sản phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội bị hạn chế Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích, chất lượng rừng bị suy giảm là công tác QLBVR chỉ coi trọng biện pháp hành chính pháp chế mà chưa lôi cuốn được người dân thuộc cộng đồng tham gia QLBVR

Xuất phát từ thực tế trên, trong khuôn khổ luận văn Cao học, Tôi chọn đề tài

“Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình".” nhằm góp phần bảo vệ hiệu quả diện tích rừng trên địa bàn

và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trên địa bàn huyện Kim Bôi

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Nhận thức về QLBVR dựa vào cộng đồng

1.1.1 Khái niệm về QLBVR dựa vào cộng đồng

Khái niệm cộng đồng trong những năm gần đây khá quen thuộc, đã được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu, và dần đi đến thống nhất về ngôn ngữ

Khái niệm cộng đồng thường được hiểu là nhóm người sống trên cùng một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung,

có thể có quan hệ gia đình với nhau

“Cộng đồng bao gồm những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau” (N.H Quân, 2000)

Theo Phạm Xuân Phương (2001) tại Hội thảo Quốc gia trong khuân khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam, được tổ chức tại Hà Nội thì

“Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội, có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn

bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một làng bản[4]

Theo Giáo Sư Lê Quý An, thì cộng đồng được định nghĩa là nhóm người sống cùng một địa phương hoặc dưới sự quản lý của cùng một chính quyền địa phương

Tại Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, cộng đồng dân cư thôn, bản là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương[11]

Những khái niệm trên có thể được tóm lược lại là cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thuộc làng, bản, cộng đồng dòng tộc, dòng họ, các nhóm người những đặc điểm và lợi ích chung và cùng phục vụ cho một ý tưởng chung… ở nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, xóm, làng, thôn(kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng)[7]

Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là QLBVR mà phát huy được nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống chặt, phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng

Trang 12

(PCCCR) Phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản Những giải pháp QLBVR trên cơ

sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, thônphù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước.[4]

1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng

Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một cụm từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)

LNCĐ không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng trang trại, khu nhà ở hay ven đường mà còn cả tập quán du canh, việc sử dụng quản lý rừng tự nhiên và việc cung cấp các sản phẩm cây trồng từ nhiều nguồn khác nhau

LNCĐ cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng cây cối cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cho người nghèo (FAO,2000)

Ở Việt Nam, hiện nay có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận Nhưng tại Hội thảo Quốc gia về chia sẻ kinh nghiệm thực hiện các mô hình quản lý rừng cộng đồng cấp thôn bản địa Việt Nam tại Ninh Bình năm 2007 đã thống nhất rằng ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:

- Thứ nhất là quản lý rừng của cộng đồng: Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng[7]

Rừng của cộng đồng là rừng của làng thôn đã được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên được giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các

Trang 13

thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng với tính chất thí điểm trong thời gian gần đây

- Thứ hai là quản lý rừng của các chủ rừng khác (quản lý rừng dựa vào cộng đồng): Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm,

thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ,

nước sinh hoạt ) Hình thức này có thể chia thành hai đối tượng:

+ Đối tượng thứ nhất rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp )

+ Đối tượng thứ hai, Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước (các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng

Từ sự phân tích trên đây cho thấy, LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau Thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn thônvới rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích

từ rừng Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn thônthực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng

và rừng của các thành phần kinh tế khác

Với cách hiểu như vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý bảo vệ rừng của các chủ rừng khác) Khái niệm này vừa phù

Trang 14

hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng

1.1.3 Vai trò của Chính sách Nhà nước đối với QLBVR dựa vào cộng đồng

QLBVR dựa vào cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của người dân địa phương Tuy nhiên, có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng Do đó, quản lý BVR dựa vào cộng đồng phải hướng và phát huy được những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng

QLBVR dựa vào cộng đồng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước Các tổ chức cộng đồng không phải

là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng Trong nhiều trường hợp, tổ chức cộng đồng không giải quyết được một cách triệt để những vấn đề phức tạp của quản lý BVR Khi đó các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề vượt khỏi quyền hạn của mình Vì vậy, các qui định của cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nước, không trái với các qui định của Nhà nước

1.1.4 Chiến lược và chính sách QLBVR dựa vào cộng đồng

Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng của các nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau:

- Những giải pháp chủ yếu để tăng cường quyền quản lý BVR dựa vào cộng đồng: Phát huy những luật tục, phong tục tập quán và trách nhiệm của toàn cộng đồng đối với công tác QLBVR, xây dựng qui ước, hương ước QLBVR của thôn, bản, qui định

rõ quyền lợi và trách nhiệm của mọi người dân trong cộng đồng.[23]

- Kết hợp những giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế - xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đồng bộ cả giải pháp về đào tạo, tập huấn trong việc QLBVR dựa vào cộng đồng.[23]

Trang 15

- Các hình thức QLBVR: Tuần tra BVR, PCCCR trên địa bàn phải được thực hiện theo phương pháp cùng tham gia ở tất cả các giai đoạn tuần tra bảo vệ, xây dựng lực lượng, kế hoạch bảo vệ Đây được xem là phương pháp cho phép phát huy đầy đủ nhất những nội lực của cộng đối với công tác QLBVR

1.1.5 Quan điểm về QLBVR dựa vào cộng đồng

Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng dân cư thôn, bản Công tác QLBVR phải được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư thôn, thôn trên địa bàn Mấu chốt của vấn đề QLBVR dựa vào cộng đồng vừa là bảo vệ được tài nguyên rừng vừa giải quyết tốt vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng

Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, thôn thì sẽ không thành công Vì vậy, đề xuất các giải pháp để nâng cao trách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư thôn, thôn trong QLBVR là rất cần thiết Để công tác QLBVR đạt hiệu quả cao thì phải có chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư thôn, bản

1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới

Trong giai đoạn hiện nay QLBVR dựa vào cộng đồng đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện còn, góp phần giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng ngày một giảm Đã có không ít những mô hình QLBVR dựa vào cộng đồng thành công ở Nê Pal, Indonesia, Nhật Bản Đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở một số nước:

* Ở Nhật Bản

Nhật Bản hiện có 25,21 triệu ha rừng, trong đó: rừng cộng đồng chiếm 10%, rừng tư nhân chiếm 60%, rừng Quốc gia chiếm 30% Từ đam mê và quan tâm đến văn hoá, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp

Trang 16

rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật đều được công bố rõ ràng, để đẩy mạnh và phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay từ những năm 1800

* Ở Indonesia

Năm 1991, chương trình phát triển lâm nghiệp được hình thành, năm 1995 đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng lâm nghiệp do Bộ lâm nghiệp quản lý Chương trình này yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải góp phần phát triển nông thôn và BVR với 3 mục tiêu:

- Cải thiện điều kiện sống cho người dân sống ở trong và ngoài khu vực đang khai thác gỗ

- Nâng cao chất lượng và năng suất của rừng

- BVR và môi trường

Năm 1996, Bộ lâm nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ và các trường Đại học đã xây dựng một chương trình dự án điểm lôi kéo người dân vào bảo vệ và phát triển rừng Dự án này cho phép người dân quản lý 10.000 ha rừng có khả năng khai thác gỗ

* Ở NêPal

Năm 1993, Nêpal phát triển chính sách lâm nghiệp mới, nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ cho các nhóm sử dụng rừng thay chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý

và bảo vệ có hiệu quả hơn

Năm 2000 QLBVR dựa vào cộng đồng được thực hiện tại các vùng đồi có diện tích trên 500 nghìn ha rừng suy thoái được giao cho các nhóm sử dụng rừng Hoạt động này đã thu hút sự tham gia của khoảng 800.000 hộ (4 triệu người) Trọng tâm của chính sách lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal là bảo vệ rừng cộng đồng và cho phép người dân tiếp cận tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cơ bản Lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal dựa vào các nhóm sử dụng rừng, trong đó mỗi nhóm được giao quản lý một diện tích rừng nhất định Nhà nước được lợi từ hoạt động này là diện tích rừng suy thoái được phủ xanh trong khi đó các nhóm sử dụng rừng có cơ hội tiếp cận lâm sản

Trang 17

Tóm lại, QLBVR dựa vào cộng đồng đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu đối với việc bảo vệ tốt rừng hiện còn, giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng giảm sút Trong những năm gần đây đều có không ít mô hình BVR thành công ở Nhật Bản, NêPal, Indonesia… Từ những kết quả thực tế của đó của các nước đã thu được trong công tác QLBVR dựa vào cộng đồng, một vấn đề cực

kỳ quan trọng là phải giải thích cho cộng đồng rõ những lợi ích mang lại cho cộng đồng và những chính sách về kinh tế trong công tác và để bảo vệ rừng có hiệu quả phải tuân thủ nguyên tắc gắn công tác QLBVR với cộng đồng thôn, bản

1.3 Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam

- Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, với mỗi cộng đồng dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, phong tục tập quán

- Cộng đồng làng, bản:

+ Làng, xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, đã có nhiều thể chế tồn tại lâu đời trong xã hội nông thôn Việt Nam

+ Thôn, thôn ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở sắc tộc và kinh tế tự nhiên tự túc, tự cấp, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng

Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khác như: cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính Một số loại hình cộng đồng đã được phát triển thành các tổ chức đoàn thể có mục tiêu, điều lệ rõ ràng, hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổ chức kinh tế Một số đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc phát triển lâm nghiệp tại các địa phương như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên

1.3.2 Hình thức QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu quan trọng tạo nên nền tảng cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài

Trang 18

nguyên rừng Vì vậy phát huy vai của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên rừng vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới

Ở Việt Nam, hình thức quản lý QLBVR dựa vào cộng đồng mới được coi là một hình thức tồn tại song song với các hình thức khác như: quản lý BVR Nhà nước, hình thức QLBVR tư nhân, do đó việc đánh giá hiệu quả của hình thức này chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, mang tính định tính Tuy chưa có thống

kê chi tiết, nhưng ở những nơi cộng đồng thực sự tham gia vào QLBVR thì công tác QLBVR có hiệu quả rõ nét, các hành vi xâm hại tài nguyên rừng bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời, rừng ngày càng sinh trưởng phát triển tốt Thực tiễn cho thấy rằng, QLBVR có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, thônlà hình thức QLBVR

có tính khả thi về kinh tế - xã hội, bền vững về sinh thái môi trường và tiết kiệm chi phí cho Nhà nước

Để trao quyền QLBVR cho các cộng đồng Nhà nước đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng Đây là một trong những chính sách lớn tạo môi trường thuận lợi cho QLBVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam Chủ trương giao đất, khoán rừng đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện từ năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước lại có những điều chỉnh, bổ xung kịp thời cho phù hợp với thực tế

Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp, giao rừng đã làm cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ Công tác giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý bảo vệ đều đạt hiệu quả cao, diện tích rừng được giao đều được quản lý tốt, các hiện tượng xâm hại tài nguyên rừng giảm mạnh, ý thức quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng dân cư được nâng cao Thông qua việc tổ chức QLBVR, mối quan

hệ xã hội trong cộng đồng và giữa cộng đồng với các cơ quan liên quan đến QLBVR trên địa bàn cũng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản

lý bảo vệ và phát triển rừng Đối với nhà nước, hình thức quản lý bảo vệ rừng này đáp ứng được các mục tiêu về chính sách lâm nghiệp, đối với các chương trình lâm

Trang 19

nghiệp nói chung, chương trình 5 triệu ha rừng nói riêng, có tác dụng phục hồi những diện tích rừng đã và đang bị suy thoái thông qua chăm sóc, QLBVR và khoanh nuôi tái sinh Mặt khác, hình thức này cũng làm giảm chi phí phải trả cho cộng đồng bằng cách chia sẻ lợi ích mang lại và tăng quyền hưởng lợi từ rừng để thúc đẩy cộng đồng tham gia QLBVR

Theo Nguyễn Huy Dũng, quản lý lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam đã có lịch sử hình thành và phát triển tại một số cộng đồng các dân tộc có đời sống sinh hoạt gắn chặt với môi trường thiên nhiên, như các khu rừng tự nhiên Hình thức quản lý này thường gắn với luật tục của cộng đồng Đây là một hình thức tri thức bản địa liên quan đến cộng đồng thôn, bản Các cộng đồng đã có nhiều kinh nghiệm

và truyền thống quản lý rừng theo hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên ổn định và bền vững Trong thời gian dài tại nhiều vùng khác nhau, quản lý rừng và môi trường sinh thái của cộng đồng đã đóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân địa phương về các mặt:

- Bảo vệ, quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên rừng và môi trường sinh thái

- Xác định các mối quan hệ sở hữu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường

- Củng cố mối quan hệ xã hội trong cộng đồng các dân tộc

1.3.3 Những nghiên cứu chính liên quan đến QLBVR dựa vào cộng đồng Việt Nam

- Dự án "Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông đà" bắt đầu vào năm 1993, dự án này đã chú ý làm việc với "nhóm sử dụng rừng" hơn là với các đơn vị hành chính lâm nghiệp Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch

sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những "nhóm bảo vệ rừng" và hỗ trợ dân thôn xây dựng những qui chế bảo vệ rừng Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự kiểm soát của dân bản, tránh sự phá hoại rừng của những thôn lân cận Củng cố tổ chức cấp thôn, bản và xã là việc làm cần thiết tiếp theo Những Ban quản lý thôn, bản mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm

về lâm nghiệp trong thônđược thiết lập khi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn

Trang 20

thônhàng năm Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính

để giới thiệu và tăng cường thực thi quản lý lâm nghiệp cộng đồng, đó là: Quyền sử dụng, nghiên cứu địa phương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực

Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) đã tiến hành đánh giá về thực trạng QLBVR tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại 3 tỉnh: Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Các tác giả đã tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề về hưởng lợi, quyền sử dụng và các chính sách liên quan đến hình thức QLBVR này Trong 5 mô hình quản lý, BVR cộng đồng có

4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương và được chính quyền địa phương chấp thuận Họ tự đề ra các qui định về quản lý, sử dụng lâm sản cũng như các hoạt động BVR, phát triển rừng Các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng qua các cuộc hội thảo quốc gia về lâm nghiệp công đồng Đến nay đã có 3 cuộc hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng

- Hội thảo quốc gia về LNCĐ lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội trong 2 ngày 01 và 02/6/2000 [3]Hội thảo đã thu hút sự tham gia của gần 60 đại bảng đại diện cho các cơ quan Nhà nước cấp Trung ương và cấp tỉnh, các Viện nghiên cứu, trường Đại học, các chương trình và dự án quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các thành viên tổ công tác, các chuyên gia trong ngành lâm nghiệp Tại đây nhiều các tác giả cùng các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Hồng Quân, Tô Đình Mai, Nguyễn Tường Vân và Urich Appel, Edwin Sauk, Nguyễn Văn Thuận, Âu Văn Bảy, Trần Văn Con với các báo cáo về kinh nghiệm từ hoạt động dự án và một số nghiên cứu điểm Hội thảo đã thống nhất có hai hình thức quản lý rừng ở Việt Nam:

+ Cộng đồng quản lý trực tiếp rừng và đất rừng thuộc quyền sở hữu chung của thôn, bản (như rừng thiêng, rừng do Lâm trường, hợp tác xã giao cho thôn, bản, rừng đầu nguồn ở địa phương, đồng cỏ chăn nuôi, đất trống được quy hoạch để trồng rừng hoặc tái sinh tự nhiên)

+ Cộng đồng tham gia vào việc quản lý những diện tích rừng thuộc sở hữu hoặc quản lý của các cơ quan nhà nước như bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng qua các hợp đồng khoán bảo vệ với các cơ quan nhà nước, bảo vệ rừng sản xuất do

Trang 21

các Lâm trường khoán bảo vệ rừng và đất rừng đã giao cho các hộ gia đình và các

tổ chức khác

- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 2 trong 2 ngày 14, 15/11/2001 tại Hà Nội là bước tiếp theo nhằm làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam.[4] Trong hội thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận: ‘‘Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện trạng quản

lý rừng cộng đồng ở Việt Nam’’ của tác giả : Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn,

Vũ Văn Mê, Nguyễn Hồng Quân Các báo cáo về sự vận dụng chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả như : Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải… Cuối cùng hội thảo đi đến kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước,

đó là thực tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn một số những vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng như: không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách này Sự vận dụng các chính sách của nhà nước và địa phương đã có tính sáng tạo,

cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân cư thôn bản như Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, ĐăcLắk

- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 3 và tháng 11/2004 tại Hà Nội với nội dung về khuôn khổ và thể chế quản lý rừng cộng đồng, chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, đánh giá tài nguyên rừng và khai thác rừng cộng đồng.[5] Hội thảo kết luận, quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng, nhiều diện tích đất lâm nghiệp có thể giao cho cộng đồng quản lý

(Diện tích rừng xa khu dân cư, có địa hình phức tạp mà các tổ chức nhà nước và hộ gia đình không có khả năng quản lý và quản lý không có hiệu quả, các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, khu rừng giáp danh giữa các thôn, xã)

Bên cạnh đó, vấn đề hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng được nhiều nhà khoa học

Trang 22

quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là tác giả Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung Tác giả Phạm Xuân Phương với khảo sát đánh giá tình hình triển khai chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình, các nhân, cộng đồng được giao nhận khoán rừng năm

2003 Bên cạnh đó về kỹ thuật đánh giá thực trạng quản lý rừng cộng đồng của các tác giả Nguyễn Hồng Quân, Vũ Long, Phạm Xuân Phương đã đưa ra khung định vị đánh giá hiện trạng quản lý rừng cộng đồng gồm 5 tiêu chí Tuy nhiên, các tác giả cũng đã nêu rõ việc chọn tiêu chí đánh giá phải phụ thuộc và từng vùng, từng cộng đồng dân cư Cũng trong tháng 9/2004, Nguyễn Ngọc Lung, VIFA cùng tổ chức các quốc gia về quản lý rừng cộng đồng đã đưa ra hội thảo lần 2 hướng dẫn giao đất về quản lý rừng cộng đồng, hướng dẫn giao đất có rừng cho cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng Qua hội thảo, các báo cáo và các công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tuy nhà nước chưa quy định quyền hưởng lợi của cộng đồng với những diện tích rừng cộng đồng hiện đang quản lý, song trên thực tế cộng đồng đang quản lý và có quyền hưởng lợi, phân chia lợi ích từ rừng

- Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng vào tháng 6/2009 tại Hà Nội, với nội dung quản lý rừng cộng đồng Hội thảo nhằm hướng tới mục tiêu học hỏi và chia sẻ những kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng để nâng cao nhận thức, tăng cường kỹ năng quản lý rừng, góp phần phát triển thể chế, chính sách lâm nghiệp cộng đồng của Việt Nam Hội thảo tập trung vào các nội dung liên quan tới kinh nghiệm và thực tiễn quản lý rừng cộng đồng của các chương trình dự án và ở một số địa phương của Việt Nam, những kiến nghị và đề xuất hoàn thiện chính sách cho quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam Các nội dung này xoay quanh bốn vấn đề

trọng tâm sau: thứ nhất, xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng; thứ

hai, kế hoạch quản lý rừng cộng đồng; thứ ba, quyền hưởng lợi và nghĩa vụ; thứ tư,

tổ chức quản lý rừng cộng đồng

Hội thảo đã thu hút được sự tham gia của sự tham gia của hơn 70 đại bảng từ nhiều tổ chức, chương trình, dự án trong nước và quốc tế như Trung tâm Đào tạo Lâm nghiệp Cộng đồng Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (RECOFTC), Chương trình Thí điểm LNCĐ ở Việt Nam, Dự án Học hỏi quản

Trang 23

trị rừng (FGLG), các dự án về LNCĐ đang thực hiện ở Việt Nam, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương

Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý

là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng

Vì vậy quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng được xem như nền tảng của

sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng, góp phần xoá đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệt tài nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững

1.3.4 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam

Mặc dù cho chưa có những kết quả đánh giá chính thức về hiệu quả quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở quy mô toàn quốc, tuy nhiên, căn cứ vào 4 kết quả Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội (tháng 6/2000, tháng 11/2001 và tháng 11/2004, 6/2009) và dự án thí điểm lâm nghiệp cộng đồng được thí điểm 40 xã, trên phạm vi 10 tỉnh, qua các kết quả hội thảo

và dự án trên có thể đưa ra một số nhận định sau:

- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt hơn nếu được giao rừng và những nơi rừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không

có xâm hại nên rừng ngày càng tăng trưởng

- Góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xoá đói giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng và hộ gia đình

Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm được Nhà nước hoặc chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết một phần khó khăn

về đời sống cho một bộ phận dân cư

Trang 24

Đối với diện tích rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao, cộng đồng có thể tận dụng khi rừng chưa khép tán hoặc đất trống chưa trồng rừng để canh tác kết hợp cây nông nghiệp, chăn thả dưới tán rừng, được các dự án đầu tư hỗ trợ vốn để sản xuất, được hưởng lợi sản phẩm từ rừng

Đối với diện tích rừng cộng đồng quản lý theo truyền thống cho đến nay hầu như cộng đồng có toàn quyền quyết định việc sử dụng tài nguyên rừng, trong đó đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng, giải quyết nhu cầu gỗ làm nhà cho các hộ gia đình

- Tiết kiệm chi phí cho Nhà nước: hiện nay có nhiều cộng đồng đang quản lý rừng hầu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước về kinh phí, nhưng rừng vẫn được bảo vệ tốt

- Rừng cộng đồng đã góp phần bảo vệ nguồn nước, giải quyết một phần nhu cầu gỗ gia dụng cho cộng đồng và thành viên của cộng đồng; khai thác lâm sản ngoài gỗ , góp phần phát triển ngành nghề thủ công truyền thống và tăng thu nhập cho cộng đồng

- Góp phần khôi phục truyền thống văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng thông qua việc quản lý rừng cộng đồng, có sự giúp đỡ và hướng dẫn của các tổ chức nhà nước, đã góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện quy chế quản

lý, bảo vệ rừng; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; khôi phục truyền thống văn hoá tốt đẹp, hương ước của cộng đồng.[5] [7]

1.3.5 Những bài học kinh nghiệm cho QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Từ những kết quả phân tích trên đây có thể rút ra những bài học chủ yếu cho quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam như sau :[3]

- Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là phương thức quản lý dựa vào những tổ chức và luật lệ cộng đồng Nó cần thiết cho cả quản lý tài nguyên thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân và đặc biệt có ý nghĩa ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà ý thức pháp luật hoặc khả năng thực thi pháp luật chưa cao

Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng sẽ thành công khi lấy lợi ích cộng đồng làm mục tiêu và lồng ghép được với mục tiêu của quốc gia và khu vực

Trang 25

Sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng giữa Nhà nước với cộng đồng, giữa các đối tượng hưởng lợi là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng cần phải được phối hợp với các phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính sách thể chế của Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng quản lý của các hộ gia đình.[7]

Trang 26

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Kim Bôi

2.1.1 Vị trí địa lý

Kim Bôi nằm phía Đông tỉnh Hoà Bình (trung tâm huyện cách thành phố

Hoà Bình khoảng 35km), có toạ độ địa lý vào khoảng 20031’ đến20051’ vĩ độ Bắc

và 105022’ đến105044’ kinh độ Đông

Ranh giới hành chính tiếp giáp với các địa phương sau:

- Phía Đông giáp huyện Lương Sơn

- Phía Tây giáp huyện Cao Phong, huyện Tân Lạc, thành phố Hoà Bình

- Phía Nam giáp huyện Yên Thuỷ, huyện Lạc Thuỷ

- Phía Bắc giáp huyện KỳSơn, huyện Lương Sơn

Với vị trí địa lý nằm tiếp giáp với thành phố Hòa Bình và nhiều huyện khác trong tỉnh, có đường Quốc lộ12B chạy qua nên huyện có vai trò quan trọng trong chiến lược quốc phòng, an ninh và có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế- xã hội

Trang 27

Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Kim Bôi

Trang 28

2.1.2 Địa hình, địa mạo

Kim Bôi là huyện miền núi của tỉnh Hoà Bình, nằm ở độ cao khoảng 310m

so với mặt nước biển Địa hình của huyện được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200m đến hơn 500m Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bố khắp nơi trên địa bàn huyện, có thể chia địa hình huyện Kim Bôi thành hai vùng:

- Vùng Đông Bắc gồm 7 xã: Tú Sơn, Đú Sáng, Bắc Sơn, Hùng Tiến, Nật Sơn, Sơn Thuỷ và Vĩnh Tiến Vùng này chủ yếu là địa hình đồi thấp, núi đá vôi xen

kẽ với các vùng đất hẹp, khá bằng phẳng, chạy dọc theo các chân đồi núi là các mảnh ruộng bậc thang nhỏ đứt đoạn

Vùng trung tâm gồm các xã: Vĩnh Đồng, Trung Bì, Thượng Bì, Hạ Bì, Kim Tiến, Kim Bình, Kim Sơn, Nam Thượng, Kim Truy, thị trấn Bo Vùng này địa hình chủyếu là những cánh đồng được bao bọc bởi những dãy núi, đồi thấp

2.1.3 Khí hậu, thủy văn

Kim Bôi nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, cũng tương tự như các huyện khác trong tỉnh, khí hậu của huyện mang tính chất của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đượcchia thành 2 mùa rõ rệt:

- Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9, bình quân có 122 ngày mưa/năm, cao nhất146 ngày/năm, mưa thường

có dông kéo dài và chịu ảnh hưởng nhiều của bão lốc và gió Tây Nam

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, có sương muối, sương mù và mưa phùn giá rét Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cao có lúc lên tới 80 - 90C

Số liệu quan trắc của trạm khí tượng thuỷ văn Kim Bôi cho thấy:

- Nhiệt độ bình quân năm là: 220C tháng nóng nhất là tháng 7 nhiệt độ có thể lên tới 37-380C, tháng lạnh nhất thường là tháng 1 nhiệt độ có thể xuống tới 4- 60

- Lượng mưa cả năm là 2743mm, nhưng mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng

10 Hàng năm vào mùa mưa hay xảy ra lũ quét ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và

Trang 29

đời sống của người dân

- Số giờ nắng trong ngày: Mùa hè 5 – 6 giờ, mùa đông 3 – 4 giờ

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm 85%, giữa các tháng trong năm biết thiên từ 78% - 88%

- Lượng bốc hơi: Bình quân năm là 910,1mm, bằng khoảng 53% so với lượng mưa trung bình năm

- Về chế độ gió: Chủyếu có 3 loạigió chính

Gió mùa Đông Bắc là hướng gió thịnh hành về mùa khô, xuấthiện từ tháng

11 đếntháng 3 năm sau, thường kéo theo không khí lạnh và khô hanh

+ Gió Đông Nam, xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 gió mang theo độ ẩm và hơi nước nhiều, cường độ gió mạnh khá mạnh

- Gió Tây Nam (Gió Lào), thường xuất hiện trong tháng 4 - 5 Gió Tây Nam

rất nóng, khô đó là nguyên nhân chính làm cho khí hậu Kim Bôi thay đổi thất thường giữa các tháng trong năm, gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

- Sương muối, thường xuyên xuất hiện vào tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau, cùng với các yếu tố khí hậu khác trong thời kỳ này, ảnh hưởng xấu đến trồng trọt

2.1.4 Tài nguyên đất

a Diện tích

Theo số liệu kiểm kê năm 2010 huyện Kim Bôi có diện tích đất tự nhiên

(DTTN) là 54.950,64 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 42.255,51 ha, chiếm 76,90%

DTTN; đất phi nông nghiệp 5068,62 ha, chiếm 9,22% DTTN; và đất chưa sử dụng 7626,51 ha, chiếm 13,88% DTTN

b Thổ nhưỡng

Do địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn nên đất đai của huyện không đồng nhất Đất được hình thành trên nền đất cổ phát triển trên các loại núi đá trầm tích biến chất như phiến thạch, sa thạch, đá vôi mắc ma trung tính Ngoài ra còn có đất xói mòn trơ sỏi đá, các loại đất Feralit biến đổi do trồng lúa nước và các loại đất phù sa sông suối

Trang 30

Đánh giá theo địa hình và mức độ thích nghi đối với loại cây trồng, vật nuôi, đất đai của huyện được chia thành 3 nhóm chính:

* Đất núi (nằm ở độ cao trên 300m): Diện tích khoảng 17.085,44 ha, gồm:

- Đất Feralit mùn vàng nhạt trên núi đá : diện tích 2800 ha, tập trung tại các xã: Tú Sơn, Thượng Tiến, Kim Tiến

- Đất đỏ nâu trên đá Macma trung tính và Bazic: diện tích 3.897 ha, tập trung tại các xã: Thượng Tiến, Hợp Đồng, Lập Chiêng, Tú Sơn…

- Đất đỏ nâu trên đá vôi: diện tích 2650 ha, tập trung tại xã: Cuối Hạ,Tú Sơn

- Đất đỏ vàng trên đá sét: diện tích 3.141 ha, tập trung tại các xã: Đông Bắc, Kim Sơn, Đú Sáng…

- Đất vàng trên đá Macma axit: diện tích 2998,488 ha, tập trung tại các xã: Kim Tiến, Kim Bôi, Kim Truy

- Đất vàng nhạt trên đá Sa thạch: diện tích 4.398 ha, tập trung tại các xã: Cuối Hạ,Nuông Dăm, Tú Sơn, Bình Sơn, Đú Sáng…

* Đất đồi (nằm ở độ cao dưới 300m): Diện tích khoảng 24.086,30 ha, gồm:

- Đất nâu đỏ trên đá Macma trung tính và Bazic: diện tích 4.610,49 ha, tập trung tại các xã: Vĩnh Đồng, Kim Sơn, Hợp Kim, Nam Thượng, Hợp Đồng, Kim Tiến

- Đất đỏ nâu trên đá vôi: diện tích 3.158,49 ha, tập trung tại các xã: My Hòa, Nam Thượng, Hợp Đồng

- Đất vàng đỏ trên đá sét: diện tích 8.123,37 ha, tập trung tại các xã: Cuối Hạ,Sào Báy, Hạ Bì, Hùng Tiến, Đú Sáng, Tú Sơn, Bình Sơn, Mỵ Hòa

- Đất vàng nhạt trên đá sa thạch: diện tích 6.116,98 ha, tập trung tại các xã: Sơn Thủy, Bắc Sơn, Đú Sáng, Nuông Dăm…

- Đất nâu vàng trên đá phù sa cổ: diện tích 2.076,98 ha, trập trung tại xã My Hòa, Kim Sơn, Vĩnh Đồng…

Nhìn chung đất đồi núi của huyện chịu ảnh hưởng của quá trình Feralitic nên đất thường chua, đất có độ dốc hay bị xói mòn, đất có khả năng lớn về sản xuất nông, lập nghiệp và có vai trò quan trọng trong việc quyết định độ ẩm của đất và

Trang 31

chế độ nước của toàn vùng

* Đất ruộng (nằm dọc theo sông Bôi và các suối lớn trong huyện), diện tích khoảng 7.587,90 ha, gồm:

- Đất Feralitic biến đổi do trồng lúa nước: diện tích 5.293,95 ha, tập trung tại các xã: Hạ Bì, Vĩnh Tiến, Đông Bắc, Vĩnh Đồng, Kim Bình, Sào Báy, Kim Bôi

- Đất lúa nước trên sản phẩm dốc tụ: diện tích 595 ha, tập trung tại các xã Tú Sơn, Hợp Đồng…

- Đất thung lũng chua: diện tích 646,98 ha, tập trung tại xã Nuông Dăm, Hạ

Bì, Kim Sơn, Thượng Tiến, Vĩnh Đồng…

- Đất phù sa được bồi: diện tích 1.051,98 ha, tập trung tại các xã: Sào Báy, Nam Thượng, Sơn Thủy,…

Nguồn đất trên có độ mùn khá, độ pH phổ biến từ 4,5-5,5 phù hợp với nhiều loại cây trồng, có khả năng đạt năng xuất lúa cao ở loại đất Feralitic biến đổi do trồng lúa nước và đây cũng là loại đât có diện tích lớn nhất trong nhóm

Ngoài 2 loại trên, Kim Bôi còn có hơn 5.102 ha núi đá và 1089ha sông suối

và mặt nước chuyên dùng

Trang 32

Hình 2.2: Bản đồ đất huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình

Trang 33

2.1.5 Tài nguyên nước

a Nước mặt

Nguồn nước mặt của huyện Kim Bôi được hình thành bởi hệ thống sông Bôi, hồ đập chứa nước và nhiều suối nhỏ

- Sông Bôi bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy về phía Đông Nam của huyện

(gần như song song với quốc lộ 12B), có chiều dài khoảng 50km Đây là hệ thống

sông cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân trong huyện

- Hệ thống hồ đập gồm: Suối Chuộn, Bai Khi, Mến Bôi, Láo Ráy, Gò Tháu,

Gò Duôi… với diện tích chiếm đất khoảng 70 ha

- Trên địa bàn huyện có 7 suối lớn với tổng chiều dài khoảng 95km, bao gồm: suối Đúc dài 20km, suối Đầm Rừng dài 18km, suối Chiềng dài 16km, suối Cháo dài 14km, suối Kho dài 6km, suối Trò dài 7km và 14 suối nhỏvới tổng chiều dài khoảng 112km

b Nước ngầm

- Huyện Kim Bôi có nguồn nước khoáng nóng với trữ lượng khá lớn tại địa bàn

2 xã Vĩnh Đồng và xã Hạ Bì, hiện nay đang được khai thác vào mục đích thương mại và dịch vụ Đây cũng là nguồn tài nguyên có vai trò to lớn phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch của huyện

2.1.6 Tài nguyên rừng

- Năm 2015, Huyện Kim Bôi có 42.147,6 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 30.045,77 ha, chiếm 55 % diện tích tự nhiên, diện tích rừng tự nhiên là 15.2899,30 ha, rừng trồng có 14.747,90 ha Những năm qua công tác khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới rừng đã được chính quyền và nhân dân chú trọng, nhiều khu rừng đặc dụng thuộc các xã Kim Tiến, xã Thượng Tiến vẫn là rừng nguyên sinh Nhiều dự án đã được thực hiện như: chương trình 661, dự án KFW7,

dự án tăng cường phục hồi rừng bằng phương thức nông lâm kết hợp, đã đạt được những kết quả to lớn, song các hiện tượng khai thác rừng trái phép vẫn còn xảy ra đang gây ra những tác động không tốt tới tài nguyên rừng

Trang 34

Bảng 2.1: Hiện trạng rừng phân theo chức năng

2.1.7 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của huyện Kim Bôi rất phong phú Theo kết quả điều tra thăm do trên địa bàn huyện Kim Bôi có nhiều loại khoáng sản:

- Than đá, có các mỏ than ở xã Cuối Hạ,xã Đú Sáng

- Vàng sa khoáng nằm rải rác các xã trong toàn huyện: NậtSơn, Hợp Kim, Nam Thượng, Sào Báy, Mỵ Hòa

- Quặng Pirit ở Cuối Hạ,Hợp Đồng (trữ lượng khoảng 30 triệu tấn)

- Đá Granit ở Kim Tiến, Vĩnh Đồng, Tú Sơn, trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi

- Núi đá vôi có hầu hết các xã trong huyện Toàn huyện có trên 5.000 ha núi

đá, đây là nguồn nguyên liệu rất lớn cung cấp cho ngành sản xuấtvật liệu xây dựng

- Nguồn cát của huyện Kim Bôi có trữ lượng lớn: Bao gồm cát vàng từ suối Kim Tiến, cát đen từ sông Bôi và các suối nhỏ trong toàn huyện

2.1.8 Tài nguyên nhân văn

Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đấtvà con người huyện Kim Bôi gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc ViệtNam Trên địa bàn

huyện hiện có 14 dân tộc anh em cùng sinh sống (gồm: dân tộc Mường chiếm

83,0%; dân tộc Kinh chiếm 14,0%; dân tộc Dao và các dân tộc khác chiếm 3,0%)

với một đặc điểm chung đó là truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, cần cù, sáng

tạo trong lao động, có truyền thống thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau trong đời sống, sản xuất và chiến đấu

Trang 35

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước,các dân tộc trong huyện luôn kề vai sát cánh với quân dân cả nước chống giặc ngoại xâm, đồng thời năng động sáng tạo, có

ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất

2.1.9 Thực trạng môi trường

Kim Bôi có cảnh quan môi trường đa dạng, môi trường không khí trong lành, nguồn nước ít bị ảnh hưởng của ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sinh hoạt của con người Song hiện nay độ che phủ của rừng chiếm tỉ lệ thấp, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, độ phì của đất giảm, các hiện tượng sạt lở, lũ lụt xuất hiện gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất, đời sống và cảnh quan môi trường ở một số nơi trong huyện

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a) Tăng trưởng kinh tế

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà Nước cùng với xu thể phát triển chung của tỉnh, trong những năm gần đây kinh tế của huyện đã có những chuyển biết tích cực, khai thác tốt hơn thế mạnh vốn có của huyện

Năm 2015, tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 761,5 tỷ đồng gấp 3 lần năm

2010, chiếm 9,5% tổng giá trị sản xuất của tỉnh

Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010-2015 của huyện đạt 10,4%, trong đó, nông, lâm nghiệp tăng 2,6%, tiểu thủcông nghiệp - xây dựng tăng 22,6%, dịch vụ- du lịch tăng 22,1% Năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,5% Tốc

độ tăng trưởng kinh tế và tỷtrọng giá trị sản xuất của huyện so với tỉnh còn ở mức thấp Nguyên nhân chủ yếu do nền kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế, xuất phát điểm thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện

b) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm 11,3%, từ 55,7% năm 2010 xuống còn 44,4% năm 2015; tỷ trọng TTCN - XDCB tăng 6,2%, từ14,3% năm 2010 lên 20,5% năm 2015; dịch vụ, du lịch tăng

Trang 36

5,41%, từ 30% năm 2010 lên 35,1% năm 2015

2.2.2 Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế

* Khu vực kinh tế nông nghiệp

Khu vực kinh tế nông nghiệp vẫn là ngành chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của huyện Năm 2015 giá trịsản xuất (GO) của khu vực kinh tế nông nghiệp đạt 363,4 tỷ đồng , chiếm 47,72% giá trị sản xuất của huyện

a) Sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp là ngành giữ vai trò quan trọng đóng góp chủ yếu cho nền kinh tế chung toàn huyện Năm 2015 giá trị sản xuất đạt 331,02 tỷ đồng, (chiếm

91,09% giá trị sản xuất của khu vực kinh tế nông nghiệp Cơ cấu sản xuất nông

nghiệp cũng có những chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm

- Trồng trọt: Trồng trọt là ngành sản xuất chính của huyện, chiếm khoảng 60% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp

Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn huyện năm 2015 là 6.717,45 ha

(tăng 675,94 ha so với năm 2010) Sản lượng cây lương thực có hạt năm 2015 đạt 509.584 tấn (tăng 11.000 tấn so với năm 2010), bình quân lương thực đạt 484 kg/người (cả tỉnh 420 kg/người)

Do được đầu tư thâm canh nên năng suất, sản lượng cây trồng ngày một tăng Năm 2015, sản lượng lúa cả năm toàn huyện đạt 32.4105 tấn, ngô đạt 185.048 tấn Ngoài lúa và ngô, các loại cây hàng năm khác cũng được chú trọng phát triển như, khoai lang, sắn, lạc, đậu,mướp đắng, dưa chuột, bí đỏ lấy hạt và chiếm tỷ trọng đáng kể trong giá trị sản xuất ngành trồng trọt

- Chăn nuôi: Là thế mạnh của huyện, trong những năm gần đây ngành chăn nuôi được đầu tư phát triển khá cả về số lượng và chất lượng Giai đoạn 2010-2015, tổng đàn trâu tăng bình quân mỗi năm 1,52%, đàn bò tăng 17,8%, đàn lợn tăng 1,83%, đàn gia cầm tăng 5,7% Nhiều mô hình điển hình trong chăn nuôi cho hiệu quả kinh tế cao như nuôi nhím, lợn rừng,… được quan tâm mở rộng Tính đến năm

Trang 37

2015 toàn huyện có: đàn trâu: 17.580 con; đàn bò: 6.473 con; đàn lợn: 67.123 con; gia cầm các loại: 855 con; đàn dê: 5.630 con

Bảng 2.2: Số lượng một số loại vật nuôi chính trong huyện

TT Loài ĐVT Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm2015

án, KFW7, 5 triệu ha rừng, các chương trình 327, 661, diện tích đất lâm nghiệp năm

2009 là 35.487,14 ha chiếm 64,58% diện tích tự nhiên, độ che phủ rừng đạt 48,3%

Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2015 đạt 28,5 tỷ đồng (cả tỉnh đạt 319,09 tỷ

đồng), chiếm 7,84% giá trị sản xuất của khu vực kinh tế nông nghiệp

c) Thuỷ sản

Năm 2015 toàn huyện có 50,92 ha đất nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng thuỷ sản ước đạt113 tấn, tổng giá trị ước đạt 3,9 tỷ đồng, chiếm 1,07% giá trị sản xuất của khu vực kinh tế nông nghiệp, tốc độ tăng giá trị sản xuất đạt xấp xỉ 0,8%/năm

(giai đoạn 2010-2015)

(Nguồn: Phòng thống kê, Kinh tế huyện Kim Bôi)

* Khu vực kinh tế tiểu thủ công nghiệp

Năm 2010 giá trị sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 85,68

tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp giai đoạn 2010- 2015 đạt 27,3%

(cả tỉnh 32%)

Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 2015

có 186 doanh nghiệp và hộ gia đình sản xuất kinh doanh

* Khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ

- Thương mại: Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ đạt1.484 tỷ đồng,

Trang 38

giá trị gia tăng (theo giá hiện hành) đạt 28,15% Toàn huyện hiện có 5 chợ với trên

2.000 hộ kinh doanh, tổng doanh thu bình quân hàng năm đạt 205,3 tỷ đồng

- Vận tải: Hoạt động vận tải đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và

đi lại của nhân dân Toàn huyện hiện có khoảng 350 chiếc xe ô tô, trong đó có 9 xe chở khách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá và đi lại của nhân dân Năm 2015 khối lượng hàng hoá vận chuyển ước đạt 95 nghìn tấn; hành khách vận chuyển được 65 ngàn lượt người

- Về du lịch: các dự án tiếp tục được chú trọng đầu tư, toàn huyện có 23 cơ

sở kinh doanh dịch vụ du lịch, từ năm 2010 - 2015 đã đón được 513.024 lượt người

tham quan du lịch (bình quân hàng năm có 102.605 lượi người), doanh thu ước tính

Tổng số hộ trong toàn huyện: 26.441 hộ Số người trong độ tuổi lao động: 64.429 người

Hiện nay, chỉ có 60% số lao động trong nông thôn có việc làm, số còn lại không có việc làm thường xuyên, không có nghề, đang học nghề hoặc chưa được học nghề nên rất cần được sự hỗ trợ tạo việc làm ổn định

2.2.2.2 Lao động - việc làm và Thu nhập

Lực lượng lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 20,5% tổng số lao động, do vậy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế Cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch theo sự chuyển dịch cơ cấu GDP, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động nông lâm nghiệp

Trang 39

Nhìn chung nguồn lao động của huyện tương đối dồi dào, là điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp, chủyếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, lao động thực

sự có việc làm khi vào mùa vụ Điều này đã dẫn đến thu nhập của người lao động

cũng như của người dân còn ở mức thấp (so với mặt bằng chung của tỉnh) đạt 8,3 triệu đồng/người/năm (của là 13,3 triệu đồng, theo giá so sánh)

2.2.4 Văn hoá – xã hội

- Giáo dục mầm non: Năm học 2015, toàn huyện có 28 trường mầm non với

255 nhóm lớp, 7081 học sinh, song trừ một số khu vực như thị trấn, các xã vùng trung tâm có cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy và học khá, còn lại rất sơ sài, thiếu thốn, chất lượng giáo viên còn nhiều hạn chế Hiện nay, toàn huyện có 8

trường mần non đạt chuẩn quốc gia

- Giáo dục phổ thông:

+ Đào tạo bậc tiểu học: toàn huyện hiện có 28 trường tiểu học với 397 lớp, 8.057 học sinh; tỷ lệ học sinh lên lớp đạt trên 98%; 3 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

+ Đào tào bậc trung học cơ sở: hiện có 28 trường trung học cơ sở với 235 lớp, 7.200 học sinh; tỷ lệ học sinh lên lớp đạt trên 95%

+ Đào tạo bậc trung học phổ thông: hiện có 4 trường trung học phổ thông với

110 lớp học, 3.300 học sinh; tỷ lệ học sinh lên lớp đạt trên 90%

- Ngoài ra, tại thị trấn huyện lỵ còn có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên đạt chuẩn Quốc gia

Trang 40

Mặc dù sự nghiệp giáo dục ở Kim Bôi đã đạt được những thành tựu đáng kể,

cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư , song nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, trang thiết bị dạy và học còn thiếu và yếu, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệ tở các những nơi giao thông đi lạikhó khăn

tế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ y tế cơ sở

- Về chất lượng khám chữa bệnh: Năm 2015, tổng số lần khám bệnh tại các

cơ sởy tế đạt gần 130.000 lần; tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú khoảng 7.500 lượt bệnh nhân

- Về đội ngũ cán bộ y tế: Toàn huyện hiện có 314 cán bộ y tế (trong đó bao

gồm 35 bác sỹ,104 y sỹ và 175 cán bộy tế xã)

- Về cơ sở vật chất trang thiết bị y tế: năm 2015 28/28 số xã, thị trấn đã có

trạm y tế (trong đó 13 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế); toàn huyện có 106 giường

bệnh, trong đó bệnh viện huyện 50 giường và trạm y tế xã, thị trấn là 56 giường

Ngày đăng: 31/08/2017, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm