Để góp phần hoàn thiện về lý luận và thực tiễn đối với việc quản lý, thực hiện và đánh giá các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực lâm nghiệp, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nân
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Đào Phương Thảo
Trang 2cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Văn Hà người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học
cho tôi, đã dành nhiều thời gian, tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện
đề tài
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ Khoa Đào tạo Sau đại học, đặc biệt trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Thiết đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban quản lý dự án KfW3 pha 1 các cấp, bà con nhân dân trên địa bàn huyện Sơn Động, các bạn bè, đồng nghiệp tại Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ
và cho những ý kiến phản biê ̣n quý báu để hoàn thiện luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của các Thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2012
Tác giả
Đào Phương Thảo
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát: 3
2.2 Mục tiêu cụ thể: 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
4 Nội dung nghiên cứu 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Khái niệm về dự án 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Đánh giá dự án: 7
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Ở Việt Nam 11
1.3 Đánh giá tác động của Dự án 16
1.3.1 Trên thế giới 16
Trang 41.3.2 Ở Việt Nam 17
1.4 Phân loại dự án và dự án ODA 22
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG VÀ 25 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang 25
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 44
2.2.2 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin 46
2.2.3 Phương pháp đánh giá tác động của dự án 47
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3.1 Khái quát về dự án “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn" - dự án KfW3 pha 1 49
3.1.1 Thông tin chung về Dự án 49
3.1.2 Mục tiêu Dự án 49
3.1.3 Tổng mức đầu tư 50
3.1.4 Tiến độ thực hiện 50
3.1.5 Tổ chức và thực hiện Dự án 50
3.1.6 Dịch vụ tư vấn 51
3.1.7 Cơ quan thực thi 52
3.2 Đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của dự án trên địa bàn huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang 52
3.2.1 Lập kế hoạch trồng rừng của Dự án 52
3.2.2 Hoạt động phổ cập và dịch vụ hỗ trợ: 55
3.2.3 Cung cấp vật tư đầu vào cho trồng rừng 57
3.2.4 Kết quả trồng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng 59
Trang 53.2.5 Lập và quản lý tài khoản tiền gửi cho các hộ trồng rừng DA 60
3.2.6 Công tác giám sát đánh giá 63
3.3 Đánh giá một số tác động của Dự án đến sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn huyện Sơn Động 64
3.3.1 Tác động của Dự án đến sự phát triển kinh tế 64
3.3.2 Đánh giá tác động đến xã hội của Dự án 70
3.3.3 Tác động của Dự án đến môi trường 74
3.4 Thuận lợi, khó khăn và một số bài học kinh nghiệm rút ra từ kết quả thực hiện Dự án 80
3.4.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện Dự án 80
3.4.2 Bài học kinh nghiệm 81
3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì sự bền vững của Dự án 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
1 Kết luận: 87
2 Khuyến nghị: 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KNXTTS Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.2 Diện tích đất Lâm nghiệp phân loại theo 3 loại rừng 32
2.4 Tổng hợp một số chỉ tiêu về Phát triển kinh tế (theo giá hiện hành) 37
2.6 Giá trị sản xuất Nông – Lâm nghiệp – Thủy sản giai đoạn
2005-2010 (Giá cố định 1994)
39
3.1 Tổng hợp quy hoạch sử dụng đất các xã tham gia Dự án tại huyện
Sơn Động giai đoạn 1999 – 2010
3.6 Thống kê TKTGCN của các hộ tham gia dự án huyện Sơn Động từ
năm 2000-2010
62
3.7 Tình hình biến động đất đai trước và sau khi thực hiện dự án 64 3.8 Phân loại nhóm hộ theo thu nhập trước và sau khi tham gia dự án 66 3.9 Thu nhập bình quân của các nhóm hộ trước và sau Dự án 66 3.10 Cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ điều tra trước và sau khi tham
3.13 Tổng hợp số người và tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động do dự
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
3.1 Ảnh Tập huấn kỹ thuật điều tra xây dựng bản đồ nhóm dạng lập địa 56 3.2 Ảnh Vườn ươm cây Thông Mã Vĩ tại huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang 57 3.3 Rừng KNTS tự nhiên tại xã Vân Sơn huyện Sơn Động – Bắc Giang 60 3.4 Phụ nữ có vai trò quan trọng trong các hoạt động của dự án 74 3.5 Hiện trường trước khi thực hiện dự án (xã Hữu Sản - huyện Sơn
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngành lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, an sinh xã hội và môi trường sinh thái Hiện tại, ngành lâm nghiệp đang quản lý 16,24 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm khoảng ½ tổng diện tích lãnh thổ quốc gia Phát triển rừng và quản lý rừng bền vững là mục tiêu, là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam
Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực không ngừng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng, thúc đẩy quản lý rừng bền vững, xác lập lại quyền sử dụng tài nguyên rừng thông qua việc xã hội hóa nghề rừng
Từ năm 1995, diện tích rừng Việt Nam đã không ngừng tăng lên, đến năm
2009, độ che phủ đạt 39,1% và đạt khoảng 40% vào năm 2011 Bước đầu đạt được những kết quả nhất định trong xã hội hóa nghề rừng, góp phần đáng kể vào công cuộc đổi mới cơ cấu kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở miền núi Giá trị SX lâm nghiệp tăng 194%, năm 2005 mới chỉ đạt trên 60 ngàn tỷ đồng nhưng đến năm 2009 tăng lên gần 117 ngàn tỷ đồng; giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ ngành tăng từ 335 triệu USD năm 2001 lên 3,45 tỷ USD năm 2010
và dự kiến 2011 đạt 4,1 tỷ USD
Tuy nhiên, ngành Lâm nghiệp Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều thách thức mới: nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tạo nên sức ép vào rừng ngày một tăng; diện tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng rừng chưa đáp ứng được yêu cầu; sức cạnh tranh của sản phẩm lâm nghiệp và thu hút đầu tư trong sản xuất lâm nghiệp còn thấp
Ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang nhận được sự hỗ trợ phát triển
từ chính phủ các nước thông qua các chương trình dự án Các dự án đều hướng
Trang 10đến mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng, từ đó nâng cao mức sống của người dân Cùng với đó, các dự án còn được thực hiện với mục tiêu nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, điều hoà nguồn nước tại các vùng được phục hồi rừng và các khu vực lân cận, điều hoà tiểu khí hậu vùng và tăng tính đa dạng sinh học
Hiệu quả của từng dự án phụ thuộc vào thể chế, chính sách của Việt Nam và chính sách của các nhà tài trợ Để nâng cao hiệu quả dự án, công tác đánh giá là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý dự án Các tiêu chí đánh giá hiệu quả được xác định bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của dự án
Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức là một trong các nhà tài trợ có uy tín đối với các dự án đầu tư phát triển ngành lâm nghiệp tại Việt Nam Trong
đó, dự án “Trồng rừng tại các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn”, gọi
tắt là KfW3 pha 1 là một trong các dự án được sự tài trợ của Chính phủ Cộng
hòa liên bang Đức thông qua Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) Mục tiêu của dự
án là góp phần vào chương trình trồng rừng và bảo vệ đất ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn thông qua việc giúp người dân sử dụng đất
có hiệu quả và đảm bảo tính bền vững về sinh thái, đồng thời tạo việc làm và nâng cao mức sống cho người dân trong vùng dự án
Để góp phần hoàn thiện về lý luận và thực tiễn đối với việc quản lý, thực hiện và đánh giá các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực lâm nghiệp, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án
KfW, tôi đã nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động của dự án KfW3 pha 1 trên địa bàn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Phân tích, đánh giá tác động của Dự án trồng rừng Việt Đức KfW3 pha 1 tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và phát huy các kết quả của dự án
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về đánh giá dự án
- Đánh giá tác động của dự án trồng rừng Việt Đức KfW3 pha 1 tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và phát huy các kết quả của dự án
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tác động của dự án KfW3 pha 1 trên địa bàn huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu tại các xã An Bá, Hữu Sản, Long Sơn, Lệ
Viễn, Vân Sơn và Vĩnh Khương, huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang
- Về thời gian:
+ Giai đoạn 1 (giai đoạn đầu tư) từ tháng 11/1999 - 31/12/2004
+ Giai đoạn 2 (giai đoạn hậu dự án) từ tháng 1/2005 - 12/2010
Trang 124 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài dự kiến sẽ thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá tác động của dự án
- Nghiên cứu tình hình thực hiện các hoạt động của dự án KfW3 pha 1 tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu đánh giá tác động của dự án KfW3 pha 1 tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và phát huy các kết quả của dự án
Trang 13Theo Ngân hàng thế giới (World Bank): Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định
Định nghĩa về dự án của David Jary và Julia Jury trong từ điển xã hội học như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng Theo định nghĩa này có thể hiểu dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng [27]
Theo J Price Gittinger (1982) trong nghiên cứu “Phân tích kinh tế các
dự án nông nghiệp”, khái niệm dự án được đặt trong một hệ thống quản lý nguồn lực đầu vào và giám sát đánh giá kết quả đầu ra theo một trình tự và không gian hoạt động nhất định Từ đó dự án được định nghĩa theo ba quan điểm: (1) Dự án là sự sắp xếp có hệ thống các nguồn dự trữ cho đầu tư, các
Trang 14nguồn dự trữ đó được lập kế hoạch, phân tích, đánh giá, thực thi và tiến hành như một đơn vị độc lập; (2) Dự án được coi như một đơn vị tác nghiệp nhỏ nhất trong một kế hoạch hay một chương trình, được chuẩn bị và thực thi như một thể độc lập và thống nhất; (3) Dự án là một hoạt động trong đó các nguồn dự trữ được sử dụng tốt nhất với khả năng thu hồi và có lãi khi dự án kết thúc [31]
1.1.2 Ở Việt Nam
Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam thuật ngữ dự án được dùng rộng rãi, tuy nhiên chỉ mới phổ biến trong vài thập kỷ gần đây
Theo đại từ điển Bách khoa toàn thư, “Dự án - Project là điều người ta
có ý định muốn làm” và được sắp đặt theo kế hoạch để chuyển động ý đồ hay
ý tưởng thành quá trình hành động Khái niệm này đã thực hiện sự gắn kết giữa tư duy và hành động để thể hiện mối quan hệ giữa ước mơ và hiện thực thông qua các hoạt động được sắp đặt có kế hoạch Dự án là một ý tưởng được xác định để dẫn tới một tổ hợp các hoạt động theo một trình tự và phụ thuộc lẫn nhau trong một chuỗi liên kết nhằm: (1) Đáp ứng một mong muốn
đã được đề ra (2) Chịu ràng buộc bởi kỳ hạn và nguồn lực (3) Thực hiện trong một bối cảnh để chắc chắn đạt được mục tiêu đề ra
- Dự án là một nỗ lực tổng hợp bao gồm các nhiệm vụ có liên quan với nhau được thực hiện trong giới hạn về thời gian, ngân sách và với một mục tiêu được định nghĩa một cách rõ ràng Dự án là một tập hợp có tổ chức các hoạt động
và các quy trình đã được tạo ra để thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong các giới hạn về nguồn lực, ngân sách và các kỳ hạn đã được xác định trước
Theo Viện quản trị Dự án: Dự án là một nỗ lực nhất thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị
Trong một số tài liệu và các tác phẩm của các tác giả Nguyễn Thị Oanh, Tô Huy Hợp, Lương Hồng Quang, tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động môi trường (Nhà xuất bản Xây dựng - 2008), đều đưa ra các định nghĩa
Trang 15về dự án Nhìn chung, các khái niệm đều mang những nét chung là thể hiện thống nhất về sự can thiệp của con người trong tổ chức, kế hoạch dự án để có được những mục tiêu mong muốn
Theo Quy chế quản lý đầu tư, xây dựng và đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) thì “Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới,
mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng
về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào
đó trong một khoảng thời gian xác định” Cũng theo MPI thì “Dự án đầu tư là một hệ thống các thuyết minh được trình bày một cách chi tiết, có luận cứ các giải pháp sử dụng nguồn lực để đạt tới mục tiêu cao nhất của chủ trương đầu tư”
Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch định trước với một nguồn tài lực dự kiến trước nhằm đạt được một hoặc một
số mục tiêu định trước trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường
1.2 Đánh giá dự án:
Đánh giá là một công việc thường xuyên diễn ra trong các hoạt động của dự án, đó là khâu then chốt trong một chu trình dự án nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của dự án trên cơ sở
so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước hay nói cách khác, đánh giá là quá trình xem xét một cách có hệ thống và khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã vạch ra
Quá trình đánh giá dự án được chia làm 3 giai đoạn chủ yếu:
- Đánh giá sơ bộ (đánh giá ban đầu)
- Đánh giá tạm thời (đánh giá giữa kỳ)
- Đánh giá cuối cùng (đánh giá hoàn thành)
Trang 16Mục đích của việc đánh giá dự án là để đúc rút các bài học kinh nghiệm
về giá trị và hiệu quả, tính phù hợp của các hoạt động nhằm triển khai các hoạt động tương tự trong tương lai
Đánh giá để so sánh những gì đã xảy ra với những điều đã được dự kiến từ trước Kết quả đánh giá được dùng để xem xét lại các chủ trương, phương hướng phát triển từ đó có thể thay đổi điều chỉnh lại các mục tiêu và cải thiện việc thực thi dự án
Việc đánh giá không phải là để tìm kiếm các khuyết điểm của các nhà quản lý mà để cải thiện các công việc của họ sắp làm Thông qua việc đánh giá nhằm giúp cho các nhà quản lý dự án nhìn nhận xem xét bằng cách nào để
có thể thu được kết quả tốt hơn hoặc xem xét lại trách nhiệm của họ trong việc quản lý dự án
Đánh giá dự án là nhằm mục đích thực hiện tốt hơn các công việc và đề phòng sự cố bất trắc có thể xảy ra chứ không phải đề ra các hoạt động cứng nhắc Qua đánh giá dự án đưa ra những thông tin ý kiến để cải tiến quá trình quản lý dự án đang thực thi
Đề xuất các giải pháp về hành động thực thi, cơ cấu và sự thích hợp cho các dự án đang thực thi không có hiệu quả Đánh giá giúp cho các nhà quản lý nâng cao được trách nhiệm từ đó giúp cho công tác quản lý dự án có hiệu quả hơn Thông qua đánh giá sẽ xác định và áp dụng các hoạt động cần thiết cho dự án, đưa ra các tính toán, hạch toán tài chính hiện tại của dự án Đánh giá để đưa ra được những thông tin để cải tiến kế hoạch của dự án trong
tương lai và phát triển các chính sách
1.2.1 Trên thế giới
Các lý thuyết và hướng dẫn về đánh giá Dự án được đề cập chi tiết trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới
Trang 17Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness) Đến những năm 90 thì các hoạt động đánh giá bao gồm cả đánh giá tác động (impact assessment), tức là xem xét xem các hoạt động của dự án đó
có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000) Việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá hiện nay
Năm 1980 Cục Nông nghiệp Mỹ công bố phần mềm có tên là EVALUE Đây là phần mềm cho phép người sử dụng đánh giá được hiệu quả đầu tư cho các dự án rừng trồng (Peter J.Ince và cộng sự, 1980) Tuy nhiên, chương trình máy tính này chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiệu quả tài chính thông qua các chỉ tiêu NPV, IRR, Báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, Micheal Luedeke và Jeff Martin (1996) cũng có kết luận tương tự Theo các tác giả, hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việc đánh giá hiệu quả cả xã hội và môi trường
Các tác giả trên thế giới như Jim Woodhill, Lisa Robins, Joachim Theis, Heather M Grady đã chia đánh giá dự án thành hai loại là đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình Đánh giá mục tiêu là xem xét khả năng đạt được mục tiêu đạt ra của dự án, vì vậy nó tập trung vào việc phân tích các chỉ
số đo đạc về hiệu quả thu được Đánh giá tiến trình là mở rộng diện đánh giá hơn so với đánh giá mục tiêu, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét nhiều khía cạnh của dự án [34]
FAO (1990, 1997) nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng Cũng theo tổ chức này, một dự án lâm nghiệp dù có đạt được hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, BCR,…) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội
Trang 18là (giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cao trình độ dân trí,…), và hiệu quả môi trường (không gây ô nhiễm môi trường, xói mòn đất,…) thì không được coi là một dự án bền vững [12]
Việc ký kết Nghị định thư Kyoto cũng như việc thành lập Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội
và hiệu quả môi trường Theo khuyến nghị của nhiều chuyên gia thì cần phải
có hoạt động đánh giá môi trường riêng rẽ bao gồm tất cả các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của các dự án đến môi trường như mức
độ xói mòn đất, khả năng ngăn ngừa thiên tai, độ che phủ rừng, sự hấp thụ và phát thải CO2…
Tổ chức nghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế Nhật Bản (2003) đã
đề xuất việc đánh giá tác động không chỉ tập trung so sánh kết quả đầu ra với đầu vào của dự án mà còn phải xem xét những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, hiện tại và tương lai, thậm chí là những ảnh hưởng gián tiếp phát sinh từ những ảnh hưởng trực tiếp Vì vậy trong quá trình đánh giá dự án, việc thiết
kế phương pháp và câu hỏi nên chia thành 2 nhóm vấn đề chính: Các vấn đề đan xen (chính sách, kỹ thuật, môi trường, văn hóa - xã hội, thể chế - quản lý
và kinh tế - tài chính) và phân loại tác động thành 4 nhóm: tích cực tiêu cực
và mong đợi/không mong đợi
Theo FAO (1987), hướng dẫn đánh giá kinh tế các dự án quản lý lưu vực thì đánh giá về mặt kinh tế thường được dùng để phân tích các lợi ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải được tính cho suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với dự án trồng rừng, phải sau khoảng thời gian dài thì chúng mới cho sản phẩm, đồng thời lại có những tác động về mặt môi trường có thể còn có tác dụng trong một thời gian dài sau khi kết thúc dự án Vậy cần vận dụng khoảng thời gian nào để đánh giá thì thích hợp là câu hỏi đang được đạt ra [12]
Trang 19Đứng về phương diện các phương thức canh tác, hay sử dụng các phương án sử dụng đất khác nhau, Walfredo đã cho rằng: Phương thức canh tác sẽ có những tác động tới kinh tế, sinh thái và xã hội từ đó sẽ có ảnh hưởng lần lượt tới tăng trưởng kinh tế, cân bằng sinh thái và phát triển xã hội Tất cả các mối quan hệ ảnh hưởng này sẽ tác động toàn diện về kinh tế - xã hội - bảo
vệ môi trường sinh thái
Theo Lyn Squire trong tài liệu “Phân tích kinh tế dự án” đã chỉ ra rằng, trong trường hợp các chi phí hoặc lợi ích môi trường kéo dài trong tương lai thì các lợi ích và chi phí đó phải được đưa vào phân tích Không phải là dự án
đã kết thúc về mặt hành chính mà chúng ta bỏ qua các lợi ích và chi phí về môi trường Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề tỷ suất chiết khấu và lý do muốn giản đơn việc tính toán đã làm cho nhiều người chọn thời hạn phân tích và đánh giá ngắn hơn nhiều Đối với các dự án quản lý rừng đầu nguồn hoặc trồng rừng thì thì thời hạn đánh giá phải đủ lớn (chừng khoảng 15-20 năm) để thấy đầy đủ và rõ ràng các lợi ích và chi phí kinh tế [32]
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiệu quả dự án được nhắc đến nhiều từ thập kỷ 80 Việc tiếp cận muộn hơn so với nhiều nước trên thế giới đã tạo ra những cơ hội tốt trong việc tiếp cận phương pháp mới trong đánh giá Đặc biệt, trong các dự án lâm nghiệp thì hiệu quả đầu tư không chỉ được đánh giá qua các chỉ tiêu kinh
tế mà hiệu quả về mặt xã hội và môi trường cũng được quan tâm Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi sang kinh tế thị trường, các nghiên cứu trong thời gian qua đang tập trung chủ yếu vào đánh giá hiệu quả kinh tế dự
án trồng rừng để giúp cho việc lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả nhất về mặt tài chính
Theo Vũ Nhâm có 10 bước công việc tiến hành trước khi đánh giá dự
án và một số công trình nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế cho các dự
Trang 20án trồng rừng gỗ nguyên liệu được tiến hành vào thập kỷ 90 như: Per H Stahl
và Heine Krekula (1990) với công trình “Đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng trồng Bạch đàn tại vùng nguyên liệu giấy Phú Thọ” [18] Các chỉ tiêu NPV, IRR được dùng chủ yếu để đánh giá hiệu quả kinh tế Một số chỉ tiêu về hiệu quả xã hội và môi trường cũng đã được nhắc đến nhưng nhìn chung còn rất hạn chế và chưa rõ ràng, đặc biệt những ảnh hưởng của cây Bạch Đàn đến môi trường đất, nước chưa được chú ý đến
Một chương trình máy tính đã được Heine Krekula xây dựng nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu trên một số vùng sinh thái như: Bạch đàn ở Măng Yang (Gia Lai), Mỡ ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ, Bồ đề ở Tuyên Quang Kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn các loài cây trồng rừng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy của các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ nhưng chưa đề cấp đến cơ chế đầu tư và cơ chế quản lý cụ thể từng loại rừng này
Andrew ewing, Henning Hamiton và Lars Heikensten với công trình nghiên cứu “Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình nhà máy giấy Bãi Bằng” Các tác giả đã thông qua việc phân tích chi phí và lợi nhuận để đánh giá hiệu quả đầu tư của nhà máy trong thời gian hoạt động nhằm xem xét mức độ phù hợp với điều kiện Việt Nam trong thời điểm hiện tại Tuy nhiên vào thời điểm đó, nền kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ bao cấp, mọi hoạt động sản xuất đều thực hiện theo kế hoạch, do đó những tác động của nhà máy đến môi trường xung quanh chưa được đề cập
Sau thập kỷ 90, vấn đề hiệu quả xã hội và môi trường đã được nhiều tác giả quan tâm trong nghiên cứu đánh giá hiệu quả của dự án Các nghiên cứu tập trung xác định rõ nguyên nhân của sự thay đổi về mặt kinh tế, xã hội và môi trường ở thời điểm trước và sau khi dự án được triển khai Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc ứng dụng các phương pháp và xây
Trang 21dựng lý thuyết đánh giá Nổi bật trong số các công trình nghiên cứu đó là:
Lê Thạc Cán (1994) với công trình nghiên cứu “Đánh giá tác động môi trường - phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” Kết quả nghiên cứu đã tạo ra một hướng mới và một tiền đề về phương pháp luận, cơ sở khoa học định hướng cho việc nghiên cứu về môi trường trong giai đoạn tiếp theo [9]
Trần Hữu Dào (1995) đã đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng Quế thâm canh, thuần loài, quy mô hộ gia đình tại huyện Văn Yên - Yên Bái [11] Tuy nhiên, việc nghiên cứu về cơ chế đầu tư
và quản lý chưa làm sáng tỏ và các chỉ tiêu xã hội và môi trường những năm
đó còn để ngỏ cần nghiên cứu tiếp
Đoàn Hoài Nam (1996) với công trình “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế, sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hưng - Hàm Yên - Tuyên Quang” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế, sinh thái, tuy nhiên hiệu quả xã hội vẫn chưa được đánh giá [17]
Đỗ Doãn Triệu (1997) đã đề cập đến phương pháp phân tích hiệu quả đầu tư các dự án trồng rừng và phân biệt được sự khác nhau giữa phân tích tài chính và kinh tế của dự án Toàn bộ nội dung này được giới thiệu trong bải giảng “Đánh giá kinh tế các dự án đầu tư trồng rừng trong cơ chế thị trường”
do chính tác giả biên soạn [24]
Cao Danh Thịnh (1998) đã đề cập đến vấn đề định lượng các chỉ tiêu đánh giá thông qua các trọng số trong việc tính toán hiệu quả tổng hợp kinh tế
- môi trường Theo tác giả thì phương pháp tính trọng số bằng tương quan cho
độ chính xác cao nhất [22]
Đỗ Đức Bảo và cộng sự (2001) đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp ở khu vực lòng hồ huyện Mộc Châu Sơn La Các loại hình canh tác được đánh giá bao gồm: Vườn tạp, nông lâm kết hợp và rừng tự nhiên,…
Trang 22Theo phương pháp này, việc phân tích được phân theo hàng và cột, chúng ta
có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như kinh tế, xã hội và môi trường Phương án được đánh giá cuối cùng thông qua tổng số điểm đạt được Tuy nhiên, theo phương pháp này có một hạn chế là việc cho điểm phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, kinh nghiệm và trình độ của người chấm điểm nên độ chính xác không cao [7]
Gần đây, Phạm Xuân Thịnh (2002) nghiên cứu “Đánh giá tác động của
dự án KFW1 tại vùng dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” Công trình đã đánh giá tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Quá trình đánh giá đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên, việc đánh giá mới chỉ dừng lại ở mặt tích cực, còn mặt tiêu cực của dự án chưa thấy tác giả đề cập đến [23]
Việc đánh giá tác động của dự án trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường cũng được các tác giả Nguyễn Đình Sơn (2003), Đàm Đình Hùng (2003), Lại Thị Nhu (2004), Hoàng Phú Mỹ (2008), Nguyễn Hoàng Linh (2008) thực hiện Trong quá trình đánh giá, các tác giả này đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Nhìn chung những nghiên cứu này đã đánh giá được tác động tổng hợp của dự án trên cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, tuy nhiên phạm vi đánh giá của các tác giả cũng có sự khác nhau và đều chưa làm rõ những ảnh hưởng của cơ chế đầu tư
Trang 23Đinh Đức Thuận (2006) đã chỉ ra rằng, khi xem xét tác động của các dự
án lâm nghiệp đến đói nghèo và sinh kế thì phương thức lập kế hoạch hoạt động có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư của nguồn vốn [21]
Cao Lâm Anh (2007) [6] đã đánh giá tác động của dự án trồng rừng KFW4, đến sinh kế của người dân vùng dự án huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa Nghiên cứu này đã đề cập đến lý thuyết tác động trên cơ sở đưa ra các giả thuyết tác động cùng các chỉ số, chỉ báo tác động Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của dự án đến sinh kế của người dân mà chưa đề cập đến việc đánh giá hiệu quả, hiệu suất, tính thích hợp và khả năng duy trì dự án, mặt khác việc đánh giá mới chỉ ở giai đoạn trước mắt mà chưa phân tích được những tác động lâu dài trong cả chu kỳ của dự án
Trương Tất Đơ (2009) [11] đã tiến hành đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý rừng tại lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái, đây có thể xem
là công trình đầu tiên đi sâu về đánh giá tác động xã hội trong công tác quản
lý rừng, tác giả đã phân tích kỹ mối quan hệ tác động qua lại giữa cộng đồng, địa phương với hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường; chỉ ra sự phù hợp và chưa phù hợp của từng tiêu chí, chỉ số về mặt xã hội theo tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn chỉnh các tiêu chí về mặt xã hội để tiến tới QLRBV và cấp chứng chỉ rừng cho Lâm trường trên cơ sở những dự báo về sự biến đổi của kinh tế - xã hội Tuy nhiên, những tác động về mặt kinh tế, môi trường có ảnh hưởng qua lại đến những tác động về mặt xã hội nhưng chưa được tác giả quan tâm, đánh giá
Bên cạnh công tác giám sát, có thể nói đánh giá tác động dự án, đặc biệt là các dự án đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp là một hoạt động không thể thiếu được và đòi hỏi phải được tuân thủ nghiêm ngặt Chỉ có như vậy mới có
Trang 24thể nhìn thấy rõ hiệu quả cũng như khiếm khuyết trong quá trình đầu tư Đánh gíá tác động cần phải được thực hiện một cách toàn diện trên cả 3 mặt: kinh
tế, xã hội và môi trường; chỉ có như vậy mới có đủ cơ sở đề xuất những giải pháp cho quá trình phát triển bền vững của đất nước nói chung và của ngành lâm nghiệp nói riêng theo tinh thần của Hội nghị quốc tế về môi trường năm
1992, tại Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một
sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước và trên toàn thế giới”
Mặc dù khác với những nước đang phát triển, Việt Nam trong những năm gần đây mới chú trọng đến công tác nghiên cứu đánh giá tác động của các dự án Tuy nhiên cũng đã đạt được những kết quả nhất định góp phần tạo tiền đề để hoạt động này phát triển hơn, hệ thống hơn là thước đo đánh giá hiệu quả của công tác đầu tư
1.3 Đánh giá tác động của Dự án
1.3.1 Trên thế giới
Đánh giá tác động của DA là những việc làm để xem xét một cách toàn diện về các tác động của nó làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và tự nhiên mà cụ thể là kinh tế, xã hội và môi trường đã định trước ở mục tiêu của DA Về phương pháp đánh giá tác động DA, tùy thuộc loại Dự án mà
có phương pháp phù hợp Theo FAO thì đánh giá tác động của DA về mặt kinh tế thường tập trung phân tích lợi ích và chi phí xã hội nên các lợi ích và các chi phí xã hội phải tính suốt cả thời gian mà sản phẩm DA chưa có đoạn kết như
DA trồng rừng phải sau một thời gian nhất định mới có sản phẩm của rừng
Nhưng nhìn chung, để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của DA thì tổng mức đầu tư khi bắt đầu triển khai DA đến khi có sản phẩm đầu ra ở điểm kết thúc DA và mức chiết khấu nguồn đầu tư
Trang 25Đánh giá tác động liên quan về xã hội, H.M Gregersen và Brooks nêu rằng: bất cứ khi nào có một sự thay đổi phát sinh qua một DA như tạo việc làm mới, tăng diện tích canh tác, năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm tăng lên… thì quá trình đánh giá không những phải xác định phần lợi ích gia tăng mà còn xác định các yếu tố lợi ích liên quan xã hội, nếu chỉ căn cứ vào tiền mặt luân chuyển trong quá trình thực hiện DA thì đây là một phân tích đánh giá tài chính đơn thuần chứ không phải một đánh giá kinh tế mang tính xã hội
Về môi trường UNEP, đã xây dựng bản hướng đánh giá tác động môi trường của các DA phát triển Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm dự báo các tác động môi trường của một DA, thể hiện sự ảnh hưởng của kết quả về các hoạt động của DA đối với môi trường
1.3.2 Ở Việt Nam
Hàng loạt các công trình về đánh giá hiệu quả và tác động của các dự
án, đặc biệt là các dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp của Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu thực hiện trong những năm qua, nhất là trong thời gian gần đây khi mà xu thế quản lý rừng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi tất cả các nước phải giám sát chặt chẽ các tác động từ các hoạt động dự án mang lại
Nhóm chuyên gia của chương trình phát triển Nông thôn miền núi Việt Nam - Thuỷ điển (MRDP) và viện điều tra quy hoạch rừng đã nghiên cứu sự thay đổi của thảm thực vật và độ che phủ rừng trong giai đoạn 10 năm (1989- 1998), trên địa bàn 5 tỉnh Lào Cai , Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang và Hà Giang”, Nghiên cứu đã đánh giá sự thay đổi chung của 5 tỉnh và đánh giá chi tiết sự thay đổi của 20 xã trong đó có 10 xã được sự hỗ trợ của chương trình Hợp tác xã Lâm nghiệp (FCP) và 10 xã ngoài 2 chương trình đó
Trong báo cáo đánh giá tác động “Dự án lâm nghiệp xã hội sông Đà trong chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Đức đối với hệ thống canh tác trên
Trang 26địa bàn các huyện Yên châu Tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu”,
do Annette Luibrand (2000), thông qua phương pháp điều tra hộ gia đình đã tiến hành đánh giá tác động của Dự án đến phương pháp canh tác của các hộ nông dân trên các loại hình sử dụng đất mà gia đình hiện có
Nghiên cứu tác động “Công tác giao đất đến một số yếu tố kinh tế, xã hội
ở cấp gia đình ” thuộc Dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà - chương trình hợp tác
kỹ thuật Việt- Đức đối với hệ thống canh tác trên địa bàn các huyện Yên Châu tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu” Scott Fritzen đã đi sâu vào việc phân tích một số mô hình sử dụng đất cấp thôn và hộ gia đình, phân tích hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp của các hộ gia đình, đánh giá chiến lược phát triển kinh tế hộ, sản xuất cấp thôn và tác động của công tác giao đất do
Dự án thực hiện đến đời sống kinh tế xã hội của các hộ gia đình về các mặt chủ yếu như cơ cấu thu nhập, chi phí, khả năng tiếp cận thị trường
Trong báo cáo tổng kết đề án “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế
xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở vùng lòng hồ huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La”, Đỗ Đức Bảo và cộng sự đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp ở vùng lòng hồ Huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La Các loại hình canh tác được đánh giá bao gồm: vườn tạp, cây ăn quả, Nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên Trong phương pháp ma trận môi trường, việc phân tích số liệu dược thể hiện thông qua các hàng và các cột (hàng - các chỉ tiêu đánh giá; cột - trị
số của chỉ tiêu đánh giá) Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như: kinh tế, xã hội và môi trường Những tác động cụ thể của từng hoạt động của từng phương án được đánh giá qua tổng điểm, mức tổng điểm càng cao thì DA càng có hiệu quả Tuy nhiên, chính tác giả cũng thừa nhận rằng phương pháp ma trận môi trường là phương pháp “bán định hướng” và chỉ mang tính tương đối bởi vì
Trang 27việc cho điểm phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan Yếu tố này chủ yếu dựa vào trình độ và kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu Mặc dù vậy đây là phương pháp đơn giản dễ vận dụng nên cho đến nay nó vẫn được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu đánh giá tác động môi trường
Khi nghiên cứu “Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện mô hình trang trại lâm nghiệp hộ gia đình tại Lục Ngạn- Bắc Giang”, Trần Ngọc Bình đã phân tích đánh giá hiệu quả của các mô hình trang trại đến việc phát triển kinh tế,
xã hội và môi trường sinh thái trong khu vực Nhưng để đánh giá, tác giả chỉ
sử dụng một chỉ tiêu phân loại kinh tế hộ gia đình nên tính mức độ thuyết phục của đề tài còn chưa cao
Tháng 5/1997 Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ đã đưa ra “Báo cáo nghiên cứu ban đầu về tác động kinh tế xã hội trực tiếp của Dự án khu Công nghiệp cao Hà Nội tại 5 xã thuộc tỉnh Hà Tây”, Báo cáo nghiên cứu đề cập chủ yếu đến việc khảo sát hiện trạng và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương đến năm 2010, đồng thời dự kiến một
số tác động chính khi Dự án triển khai trên địa bàn Báo cáo nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị trong quá trình thực hiện để phát huy tối đa các tác động tích cực, hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của Dự án đến đời sống kinh tế xã hội trong vùng
Trong nghiên cứu “Đánh giá tác động Dự án hồ chứa nước Nàng Hươm
- Xã Mường Nhà huyện Điện Biên tỉnh Lai Châu”, Vũ Thị Lộc, đã tiến hành phân tích những ảnh hưởng của Dự án đến khả năng mở rộng diện tích, thay đổi hệ số sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề ổn định dân cư vùng Dự án [15]
Năm 1990, Per - H Stahl, chuyên gia về lâm sinh học cùng với nhà kinh tế học Heime Krekula, đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng bạch đàn trồng làm nguyên liệu giấy tại khu Công nghiệp giấy Bãi Bằng - Phú Thọ Trong công trình này, các tác giả nói trên
Trang 28chủ yếu đề cập đến các chỉ tiêu NPV, IRR còn các chỉ tiêu về môi trường - sinh thái và xã hội thì mới được đề cập một cách sơ bộ, chưa đi sâu phân tích
kỹ nên cuối cùng trong kết quả các tác giả chỉ mới đưa ra những dự đoán chung chung
“Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” (Năm 1994), Lê Thạc Cán, đã có công trình tạo cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên cứu tiếp theo [9]
“Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” (1994) Hoàng Xuân Tý, đã tiến hành những nghiên cứu về kinh
tế, môi trường Tuy nhiên trong các phân tích và đánh giá, tác giả thường thiên về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện các mặt trên [25]
Năm 2000, Hubertus Kraienhorst, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã nghiên cứu đánh giá Dự án KfW1, Thông qua kết quả khảo sát tại hiện trường, nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá kết quả thực hiện các Dự án, phân tích ưu nhược điểm của các hoạt động, đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Dự án Báo cáo đánh giá cũng đã nêu bật những thành công của dự án tại 2 tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn, trong đó nhấn mạnh: i) Đã góp phần đưa độ che phủ bình quân của các xã vùng dự án từ 15% đến 36%; ii) Tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế hộ cho một bộ phận dân cư miền núi; iii) Mô hình hỗ trợ công lao động thông qua tài khoản tiền gửi (TKTG) tỏ ra rất hữu hiệu trong việc quản lý nguồn vốn của dự án đúng mục tiêu và là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong việc thúc đẩ các hộ nông dân tham gia trồng rừng; iv) Nhận thức của nông dân cũng được thay đổi khi được tiếp cận với những kiến thức về một nền lâm nghiệp bền vững; v) Về môi trường còn quá sớm để đưa ra nhận định một cách chính xác và có định lượng, tuy nhiên đã nhận thấy những dấu hiệu tích cực trong cải thiện
Trang 29môi trường tại khu vực: nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất dồi dào hơn, chim và thú nhỏ đã xuất hiện trở lại trong các khu rừng trồng, cây tái sinh đã bắt đầu xuất hiện trên các lập địa xấu mà trước khi trồng rừng không có… Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh tính rủi ro cao khi mà 84% diện tích rừng trồng (lập địa D) của dự án là cây thông Mã vỹ, sẽ vấp phải những vấn đề: cháy, sâu bệnh, đơn điệu về sản phẩm, cần phải có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp [26]
Vào năm 2004 và 2007, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã thực hiện cuộc đánh giá cuối kỳ đối với 2 dự án “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn - KfW3” và “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh - KfW3 pha 2” Trong các báo cáo đã nêu rõ: Ngoài những thành quả nổi bật đã đạt được giống như dự án KfW1 trước đây về: độ che phủ, bảo
vệ nguồn nước va chống xói mòn, góp phần phát triển kinh tế xã hội; báo cáo cũng nhận định: ở cả 2 dự án tính chất phát triển bền vững của các dự án KfW được củng cố hơn; những tác động tích cực tới môi trường, tới sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội đã thể hiện ngày rõ nét bởi các tác động của dự án
đã mang lại Những tiềm năng rủi ro đã nêu trong các báo cáo đánh giá về dự
án KfW1 và KfW2 (Trồng rừng tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị” đã được 2 dự án KfW3 và KfW3 pha 2 cải thiện hoặc hạn chế như: Tăng cường diện tích trồng cây bản địa trong cơ cấu cây trồng, cải thiện việc kiểm soát trong lập và quản lý TKCN, cải thiện và phân cấp trách nhiệm trong hệ thống giám sát nội bộ các hoạt động của dự án, cải thiện các khâu trong đo đạc giao đất và thiết kế trồng rừng
Bên cạnh công tác giám sát, có thể nói đánh giá tác động DA, đặc biệt
là các DA đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp là một hoạt động không thể thiếu được và đòi hỏi phải được tuân thủ nghiêm ngặt Chỉ có như vậy mới có thể nhìn thấy rõ hiệu quả cũng như khiếm khuyết trong quá trình đầu tư Đánh giá
Trang 30tác động cần phải được thực hiện một cách toàn diện trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường; chỉ có như vậy mới có đủ cơ sở đề xuất những giải pháp cho quá trình phát triển bền vững của đất nước nói chung và của ngành lâm nghiệp nói riêng theo tinh thần của Hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, tại Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước và trên toàn thế giới”
Mặc dù khác với những nước đang phát triển, Việt Nam trong những năm gần đây mới chú trọng đến công tác nghiên cứu đánh giá tác động của các DA Tuy nhiên cũng đã đạt được những kết quả nhất định góp phần tạo tiền đề để hoạt động này phát triển hơn, hệ thống hơn là thước đo đánh giá hiệu quả của công tác đầu tư
1.4 Phân loại dự án và dự án ODA
Tùy vào cách tiếp cận mà dự án được phân loại như sau:
- Theo quy mô và tính chất: dự án quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C tùy theo mức độ vốn và quy mô đầu tư
- Theo nguồn vốn đầu tư:
+ Dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước;
+ Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước
+ Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
Trong các loại hình dự án còn có một loại dự án đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, đó là dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Chính sách ODA với mục đích chính nhằm thúc
Trang 31đẩy sự phát triển ổn định nền kinh tế quốc tế chủ yếu thông qua hỗ trợ cho sự phát triển bền vững các nguồn tài nguyên, kinh tế và cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là để giúp các nước này giải quyết những khó khăn kinh tế phải đối mặt Các dự án ODA có được phụ thuộc nhiều vào các đối tác hợp tác phát triển
Tại Việt Nam, ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản) kết hợp xóa đói giảm nghèo; xây dựng hạ tầng cơ sở, bảo vệ môi trường,
Các hình thức cung cấp ODA bao gồm:
+ ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả cho nhà tài trợ
+ ODA vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ
+ ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời các khoản tín dụng thương mại
Nhóm ngân hàng Phát triển có vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam là Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Quỹ Hợp tác và phát triển kinh tế (ECDF), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) và Ngân hàng thế giới (WB) Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam thời gian qua được đánh giá tương đối cao
Vốn ODA đã được sử dụng để phục hồi, nâng cấp và phát triển kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, giải quyết một số vấn đề xã hội như xoá đói, giảm
Trang 32nghèo, phát triển y tế, giáo dục và khoa học công nghệ; bảo vệ môi trường; cải cách hành chính, pháp luật; hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA (đặc biệt trong các lĩnh vực giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, công nghiệp năng lượng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, cấp thoát nước và phát triển đô thị, y tế và giáo dục) đã được đưa vào sử dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, khối lượng vốn ODA được giải ngân trong thời gian qua mới chỉ đạt khoảng 70 - 80% kế hoạch đề ra
Thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước, trong vài thập kỷ qua nguồn vốn ODA đầu tư vào lĩnh vực Lâm nghiệp ngày càng tăng Các dự án ODA lâm nghiệp có cách tiếp cận liên ngành, đa lĩnh vực, phát triển nông thôn tổng hợp và mang tính chất của dự án phát triển kinh tế
xã hội nông thôn miền núi Đến nay các dự án đã trồng được 270.000 ha rừng, trồng nông lâm kết hợp 12.000 ha; đã hoàn thành 50 công trình thủy lợi vừa
và nhỏ; đầu tư cơ sở hạ tầng cho nông thôn gồm 647km đường, 21.000 m2trường học và trạm y tế; nâng cao một bước đời sống và dân trí cho người dân vùng nông thôn với việc tạo công ăn việc làm cho khoảng 140.000 hộ gia đình, đào tạo cho hơn 8.100 cán bộ và tập huấn cho 76.400 nông dân
Hiệu quả của các dự án ODA Lâm nghiệp đã góp phần nâng độ che phủ của rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo
và phát triển nông thôn bền vững Vì thế thu hút vốn đầu tư ODA để tiếp tục phục vụ các mục tiêu phát triển là hết sức cần thiết Trước mắt chúng ta cần thực hiện tốt các dự án hiện có, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm và bài học cần thiết cho các dự án ODA sau này, trong các lĩnh vực khác nhau
Trang 33Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí
Sơn Động nằm ở phía Đông của tỉnh Bắc Giang, trung tâm huyện lỵ là
thị trấn An Châu cách thành phố Bắc Giang khoảng 90 km Tọa độ địa lý:
+ Từ 1060 41’ 11’’ đến 1070 02’ 40’’ kinh độ Đông
+ Từ 210 00’ 46’’ đến 210 30’ 28’’ vĩ độ Bắc
- Ranh giới hành chính:
+ Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn
+ Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Quảng Ninh
+ Phía Nam giáp tỉnh Quảng Ninh
+ Phía Tây giáp huyện Lục Nam và Lục Ngạn của tỉnh Bắc Giang Với vị trí địa lý của huyện như trên, Sơn Động có điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa với các huyện trong tỉnh cũng như với các tỉnh lân cận, với Trung Quốc qua cửa khẩu tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn
2.1.1.2 Địa hình, địa thế
Sơn Động có địa hình phức tạp với độ cao trung bình khoảng 450m, nơi cao nhất là đỉnh núi Yên Tử 1.068m và các đỉnh Bảo Đài 875m, Ba Nổi 862m (thuộc dãy Yên Tử), thấp nhất là 52 m thuộc khu vực thung lũng sông Lục Nam Địa hình huyện Sơn Động thành 3 dạng chính sau:
- Địa hình núi (N): Huyện Sơn Động có 2 kiểu địa hình núi đó là núi trung bình và núi thấp có tổng diện tích là 19.165,7 ha, chiếm 22,6% diện tích toàn huyện Trong đó tập trung chủ yếu ở kiểu địa hình núi thấp (N3) là 18.513,65 ha, còn kiểu địa hình núi trung bình (N2) có độ cao từ 701 – 1700m, độ dốc bình quân < 250
Trang 34- Địa hình đồi (Đ): Có diện tích 55.799,54 ha, chiếm 65,9% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó: Đ2 có độ cao từ 101 – 200m chiếm tỷ lệ lớn nhất 47,5% diện tích đồi, có độ dốc bình quân 150
- Địa hình đất bằng bồi tụ thung lũng và ven sông suối (T1, T5): Có diện tích 9.699,89 ha, chiếm 11,5% diện tích toàn huyện
Tóm lại: Địa hình Sơn Động chủ yếu là đồi và núi thấp đến núi trung bình, là nơi có địa hình đồi núi cao nhất của tỉnh Bắc Giang, đặc điểm địa hình, địa mạo khá đa dạng cao hơn các khu vực xung quanh, độ dốc lớn là đầu nguồn sông Lục Nam nên việc khai thác đất đai phải gắn với phát triển rừng, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường Do vậy địa hình huyện Sơn Động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện nói riêng và cả hạ lưu nói chung
2.1.1.3 Khí hậu - Thủy văn
* Khí hậu:
Sơn Động nằm trong vùng khí hậu lục địa miền núi, hàng năm có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Mùa Xuân và mùa Thu là 2 mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hòa, mùa Hạ nóng và mùa Đông lạnh Theo chế độ mưa có thể chia khí hậu của huyện thành 2 mùa:
+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, hướng gió thịnh hành gió Đông Nam, nhiệt độ cao nhất trung bình tháng là 32,90C, mưa nhiều, lượng mưa chiếm 85% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7 – 8 (trung bình tháng 8 là 304mm)
+ Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc, nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng là 11,60C Lượng mưa chiếm 15% lượng mưa cả năm (tháng 1 lượng mưa trung bình chỉ đạt 15,2mm), khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, nhiệt độ xuống thấp do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của một số cây trồng, vật nuôi
* Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:
- Nhiệt độ trung bình hàng năm 22,60C;
Trang 35- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là: 32,90C;
- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 11,60C;
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối : -2,80C;
- Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không quá cao: Từ 6,40C đến 9,90C;
- Lượng mưa bình quân năm 1.564 mm nhưng phân bố không đồng đều, số ngày mưa trung bình trong năm là 128 ngày Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 961,2mm
- Số giờ nắng trung bình cả năm là 1.571 giờ, bình quân số giờ nắng trong ngày đạt 4,3 giờ
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 81%, các tháng có độ ẩm cao thường rơi vào mùa mưa, cao nhất là tháng 8 (86%), thấp nhất vào tháng 12 (77%)
- Chế độ gió: Nằm trong vùng khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa, với 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Tốc độ gió trung bình 1,1m/s Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên huyện ít chịu ảnh hưởng của bão
Nhìn chung điều kiện khí hậu của Sơn Động khá thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, tuy nhiên do địa hình chia cắt và lượng mưa khá lớn, không tập trung đã gây nên một số hiện tượng sạt lở và lũ quét
- Nhánh sông An Châu bắt nguồn từ khu vực 2 xã Tuấn Mậu, Thanh Luận, chảy qua xã Tuấn Đạo dài 11km
- Nhánh sông An Châu bắt nguồn từ Hữu Sản, An Lạc nơi có khu vực rừng nhiệt đới tự nhiên Khe Rỗ, đây là nguồn sinh thủy lớn nhất của sông Lục Nam
Trang 36- Nhánh sông chính chảy trong địa phận Sơn Động dài khoảng 40 km,
từ Khe Rỗ chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến Lệ Viễn sông đổi theo hướng Đông – Tây về Cẩm Đàn gặp các nhánh sông Thanh Luận, sông Cẩm Đàn rồi sang đất Lục Ngạn
Nhìn chung các suối lớn của huyện phân bố trên vùng địa hình phức tạp với độ dốc lớn, khả năng giữ nước ở vùng thượng nguồn thấp, vào mùa mưa nước chảy xiết, xói mòn mạnh gây khó khăn cho sản xuất và đời sống đặc biệt
là các xã vùng cao
2.1.1.4 Địa chất, đất đai
* Địa chất
Trong vùng có các nhóm nền vật chất tạo đất chủ yếu sau :
- Nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn bao gồm các loại
đá sét, phiến sét, phiến mica
- Nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô bao gồm các loại đá
Sa thạch, Cuội kết, Sỏi kết, Cát kết, Sạn kết, Dăm kết, Pút đinh
- Nhóm các sản phẩm phù sa cũ và mới
* Đất đai
Tổng dạng đất trên địa bàn toàn huyện Sơn Động là 120 dạng đất được
tạo bởi các nhóm dạng đất chính sau:
a) Nhóm đất Feralit phát triển trên nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (Fc) có Tổng diện tích 19.537,30 ha, chiếm 23,1% diện tích tự nhiên
Nhóm đất Feralit phát triển trên nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô (c) phân bố ở đai cao từ 200 – 300m, độ dốc 100-200 và độ dày tầng đất trung bình (51- 100cm) Theo bản đồ và số liệu diện tích, nhóm đất này phân
bố trên toàn huyện Sơn Động, Trên nhóm dạng đất này tập trung chủ yếu là rừng trồng Keo, Thông
b) Nhóm đất Feralit phát triển trên nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn (Fs) chiếm tỷ lệ rất lớn, phân bố toàn huyện tổng diện tích
54.758,32 ha chiếm 64,7% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở kiểu địa hình
Trang 37N3; Đ1 và Đ2, nhóm đất này phân bố ở độ cao trung bình từ 200 – 300m so với mặt nước biển, thích hợp trồng rừng nguyên liệu tập trung
c) Nhóm đất bằng ven sông suối và thung lũng (T1)
Là sản phẩm của sự rửa trôi, bồi tụ từ các sông, suối, diện tích 8.938,8
ha chiếm 10,6% diện tích tự nhiên Đất phân bố chủ yếu ở TT.An Châu, xã
An Lập, Long Sơn, Dương Hưu, Cẩm Đàn, Chiên Sơn, Quế Sơn Nhóm đất này được người dân sử dụng làm đất canh tác nông nghiệp và vườn cây
ăn quả (Vải, Nhãn)
d) Nhóm đất bằng ngập nước sông suối, ao hồ (T5)
Diện tích 761,1ha chiếm 0,9% diện tích tự nhiên Nhóm đất này quanh năm ngập nước, phân bố chủ yếu ở ba sông lớn trên địa bàn huyện, một phần nhỏ các ao hồ, đập sử dụng nuôi thả cá và dự trữ nước tưới tiêu đồng ruộng
e) Nhóm dạng đất Feralít mùn trên núi trung bình (FH):
Loại đất này được hình thành ở độ cao > 700m đến 1.700m, có diện tích 668,9 ha, chiếm 0,8% diện tích tự nhiên của huyện Phân bố ở các xã An Lạc, Thanh Luận, Tuấn Mậu và Dương Hưu Tính chất đặc biệt của đất có mùn là lớp thảm mục và tầng mùn tương đối dầy, hàm lượng mùn khá cao (7-8%) Đất thường có màu nâu nhạt và hầu như không có kết von Tuỳ theo từng loại đá mẹ mà đất Feralít mùn trên núi trung bình có đặc tính về màu sắc, thành phần cơ giới, kết cấu, độ chua và hàm lượng dinh dưỡng có khác nhau
Tóm lại: Đất đai Sơn Động khá đa dạng, phong phú với nhiều loại đất được phân bố các địa hình bằng và địa hình dốc, cho phép phát triển hệ sinh thái nông - lâm nghiệp, đất có quá trình Feralít mạnh, tích lũy sắt, nhôm lớn thích hợp với các loại cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và các loại cây ăn quả
2.2.1.5 Hiện trạng tài nguyên rừng
* Diện tích , trữ lượng các loại rừng:
Trên cơ sở kế thừa các tài liệu hiện có của tỉnh Bắc Giang như: Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng; Điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng; Quy hoạch phát triển rừng sản xuất; Kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng…Cập nhật số liệu mới về diện tích rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh
Trang 38rừng và kết quả điều tra bổ sung hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2011 cho thấy diện tích các loại rừng như sau:
Bảng 2.1: Diện tích, trữ lượng các loại rừng
TT Loại đất, loại rừng Diện tích (ha) Tỷ l ệ % Trữ lượng gỗ: m 3
Tre nứa: 1.000 cây Diện tích đất lâm nghiệp 60.409,60 100,0 1.956.006/3.954
Trang 39Kết quả trên cho thấy tổng diện tích đất lâm nghiệp: 60.409,6 ha
- Diện tích đất có rừng là 53.033,99 ha, chiếm 87,8 % tổng diện tích đất lâm nghiệp
- Diện tích đất chưa có rừng: 7.375,6 ha chiếm 12,2 % diện tích đất lâm nghiệp, đây là đối tượng cần phải trồng rừng; khoanh nuôi phục hồi rừng
để nâng cao độ che phủ của rừng là việc làm quan trọng và cấp bách hiện nay của địa phương
- Tổng trữ lượng rừng gỗ là: 1.956.006 m3, trong đó:
+ Rừng tự nhiên: 1.736.537 m3;
+ Rừng trồng: 219.469 m3;
- Rừng hỗn giao (Gỗ - Tre nứa) 3.954 nghìn cây;
* Hiện trạng quy hoạch đất lâm nghiệp phân theo 3 loại rừng
Tổng diện đất quy hoạch cho lâm nghiệp của huyện Sơn Động là 60.409,6 ha, chiếm 71,3% diện tích tự nhiên Trong đó chủ yếu vẫn là rừng
trồng, rừng non phục hồi và rừng nghèo, phân bố không đều (Chi tiết từng loại rừng được thể hiện ở Biểu 2.2)
Hiện nay công tác bảo vệ rừng tại Khu BTTN Tây Yên Tử đang gặp nhiều khó khăn do nằm trong khu vực phát triển công nghiệp nhiệt điện, khai thác mỏ than nên không tránh khỏi ảnh hưởng tiêu cực tới rừng
* Trữ lượng rừng đặc dụng:
Tổng trữ lượng: 897.880 m3 trong đó (rừng tự nhiên: 897.880 m3)
Trang 40Bảng 2.2: Diện tích đất Lâm nghiệp phân loại theo 3 loại rừng
Rừng sản xuất