Hai loài này có khả năng tái sinh mạnh mẽ bằng hạt 25%, bằng chồi rễ 75% Jeanrenauld &Thompson, 1986 - Sử dụng: Vỏ trong của cây được dùng để sản xuất thủ công một lọai giấy rất bền.. -
Trang 1-
PHẠM THÚY LIỄU
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, GIÁ TRỊ SỬ DỤNG VÀ
KHẢ NĂNG GÂY TRỒNG CỦA CÂY DƯỚNG (Broussnetia papyrifera
Vent.) TẠI LƯƠNG SƠN, HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2010
Trang 2-
PHẠM THÚY LIỄU
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, GIÁ TRỊ SỬ DỤNG VÀ
KHẢ NĂNG GÂY TRỒNG CỦA CÂY DƯỚNG (Broussnetia papyrifera
Vent ) TẠI LƯƠNG SƠN, HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Phạm Xuân Hoàn
HÀ NỘI, 2010
Trang 3MỞ ĐẦU
Dướng (Broussonetia papyrifera Vent.) là loài cây gỗ nhỏ thuộc họ
Dâu tằm (Moracea) thân tròn có tán xoè rộng, vỏ màu nâu nhạt, nhiều xơ, đây
là một loài mọc hoang dã trong tự nhiên Vỏ cây Dướng là một trong 6 loại vỏ cây tốt nhất dùng để sản xuất giấy Dó: Dó, Bo, Mận, Dướng, Mộc, Cãnh [37]
Giấy được sản xuất từ vỏ cây Dướng có chất lượng tốt, đặc biệt là giấy không thấm nước, viết không nhoè mực, có độ xốp nhẹ, bền dai, dễ bắt màu, hút ẩm, thoát nhiệt (Bùi Văn Vượng - 2004) [43] Không chỉ có giá trị về thẫm mỹ khi dùng vỏ Dướng làm hàng thủ công như album, túi xách, giỏ hoa, ảnh treo, khung ảnh, sổ tay v.v mà còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn lâu dài các di sản văn hoá dân tộc và nhân loại như sách Hán nôm, sách viết gia phả v.v… Giá trị kinh tế của nó rất cao 3500 đ/tờ khổ A4 loại mỏng và 5000đ/tờ loại dầy (HRPC, 2009)
Ngoài có giá trị từ vỏ, cây Dướng còn có giá trị từ lá: lá xanh đẹp, nhiều lông
có tác dụng hút bụi góp phần làm đẹp, bảo vệ môi trường và có hàm lượng các chất khoáng cao làm thức ăn cho gia súc
Trong những năm gần đây, sản xuất giấy tốt và đồ thủ công mỹ nghệ đẹp, có giá trị xuất khẩu từ vỏ cây Dướng là một trong những thế mạnh cho
sự phát triển làng nghề thủ công ở một số nước trên thế giới như: Thái lan, Mianmar, Nhật Bản [25]…và một số làng nghề thủ công tại Việt Nam như: Phong Khê (Bắc Ninh), An Cốc (Hà Tây cũ), Yên Thái (Hà Nội) Xét về nhiều mặt, giấy Dướng nói riêng và giấy Dó nói chung có ưu thế hơn giấy công nghiệp, có thể tồn tại song song với giấy công nghiệp, bổ sung và làm phong phú thêm các loại hình giấy trong thời hiện đại ngày nay, cũng như sau này
Như vậy, từ một loài cây mọc hoang dã trong tự nhiên con người đã biết tận dụng nguồn tài nguyên cây Dướng góp phần tăng thêm thu nhập,
Trang 4đóng góp thêm một loài cây trồng mới vào cơ cấu cây trồng Nông - Lâm nghiệp
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh vật học, khả năng gây trồng và giá trị sử dụng của Dướng mà mới hỉ tận dụng nguồn tài nguyên có sẵn trong tự nhiên, về lâu dài
sẽ không bền vững
Xuất phát từ những giá trị thực tiễn của cây Dướng, từ nhu cầu của thị trường và điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của địa phương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã có dự án VC004: “Gây dựng tài sản cộng đồng tạo sinh
kế cho cộng đồng” tại 3 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình (2008), nguồn tài trợ là Tổ chức CSEED với sự hỗ trợ Trung tâm phát triển làng nghề thủ công (HRPC) và UBND Huyện Lương Sơn là đối tác Dự án đã xây dựng một xưởng sản xuất giấy Dó từ cây Dướng tại thôn Suối Cỏ, xã Hợp Hòa và
mở ra triển vọng cho sự phát triển nông thôn mới, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người dân miền núi, khôi phục và mở rộng nghề thủ công truyền thống
Cũng như những người thợ thủ công khác, người dân tại Lương Sơn cũng chỉ mới tận dụng cây Dướng mọc hoang dã trong tự nhiên làm nguyên liệu mà chưa quan tâm đến gây trồng loài cây này, làm cạn kiệt tài nguyên, bị động về nguyên liệu cũng như chưa hiểu rõ về giá trị của loài cây này
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, khả năng gây trồng và giá trị sử dụng của loài cây Dướng tại Lương Sơn, Hòa Bình là có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn Đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, giá trị sử dụng và khả năng gây trồng của cây Dướng (Broussnetia papyrifera Vent.) tại Lương Sơn – Hoà Bình” sẽ bước đầu góp phần giải
quyết vấn đề trên
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm một số loại cây cho sợi làm giấy thủ công
1.1.1.1 Lịch sử phát triển
Người Ai Cập cổ đại cách đây 4000 năm đã tước lấy phần vỏ của nhiều loại cây gỗ và nén cho phẳng để làm giấy viết Sau này người ta đã đặt chồng những vỏ cây lên nhau, nén rồi dán chúng lại, sau khi sấy khô có thể dùng để viết Đến năm 105 trước công nguyên, Thái Luân, người Trung Quốc là người đầu tiên hoàn thiện chu trình xeo giấy bằng phương pháp thủ công, đã được lịch sử ngành giấy ghi nhận và góp phần đưa ngành giấy lên một giai đoạn phát triển mới [4][35]
Những sợi giấy đầu tiên xuất hiện ở Lôi Dương - Trung Quốc được làm
từ vỏ cây Dâu, ngâm vào nước và đập rã ra Đến năm 384 trước công nguyên, nghề làm giấy đã lan truyền vào Triều Tiên, năm 610 lan đến Nhật Bản, thế
kỷ thứ III truyền vào Việt Nam, Miến Điện, Ấn Độ, từ đấy nghề làm giấy lan truyền đến các nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ như: Ả Rập (751), Mỹ (1690), Canada (1830) [4]
Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm xơ thực vật, con người lại dùng các xơ
vỏ để làm giấy thủ công và các mặt hàng thủ công khác nhau từ cây gỗ, cây bụi đến cỏ và các thực vật phi gỗ như :
Nhóm loài cây gỗ: Thực vật thuộc chi Dướng (Broussnetia)
Nhóm loài cây bụi: Cây Đay (Hibicus Canabinus), Cây Gai Dầu (Canabis), Cây Thụy Hương (Daphne), cây Lanh (Linum asitatissinum), cây Argeli
(Edgeworthia gardeneri), cây Lokta (Daphne bholua, D papyraceae)
Nhóm cây cỏ và thực vật phi gỗ: Cỏ, rơm rạ
Trang 61.1.1.2 Đặc điểm của một số loại cây cho vỏ làm giấy
- Cây Argeli (Edgeworthia gardeneri), Họ trầm: Thymeleaeceae [14]
Là cây bụi nhiều cành với cành dài Là cây thường xanh có lá nhọn sắc,
có hình lưỡi mác hơi vàng hoặc xanh ( dài 7,5 – 12,5mm) phía trên không có lông, lông tơ phía dưới Hoa nhỏ, màu vàng, vàng ngọt, dày ở đầu cuống (Flora of Langtanli, 1997) Cùng họ với cây thường xanh Argeli giống như
cây bụi rụng lá ở Nhật Bảng có tên là Misumata (Edgewothia papyrifera)
Sinh thái: Agreli mọc ở rừng và đất có cây bụi trên độ cao 1500-3000
m trên mực nước biển Bụi cây mọc nhanh và có thể sống tới 30 năm nếu có kinh nghiệm thu haí hợp lý Mùa hoa giữa tháng11 đến tháng 4
+ Sử dụng: Sợi phía trong vỏ cây Argeli để làm giấy thủ công và dây thừng, giấy, sợi Argeli đôi khi dùng để thay thế Mitsumata, nguyên liệu để sản xuất giấy dùng trong sản xuất giấy tiền Nhật Bản
- Cây Đay (Hibicus Cannabinus) Họ Đay Timiacea [22]
Đặc điểm sinh hình thái được thể hiện qua hình 1.1 dưới đây:
Hình 1.1: Ảnh cây, quả và hoa của cây Đay (Nguồn ảnh: ĐH Cần Thơ)
Trên thế giới cây đay được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất ra các loại sản phẩm hết sức phong phú: dây thừng, thảm bồi, bao tải, bao bì, các loại sản phẩm giấy làm dây đóng gói, các loại vật liệu xây dựng như ván có
độ dày mỏng khác nhau, có khả năng chịu lửa, chống mối mọt
Vỏ của phần thân cây gồm có sợi dài là sợi vỏ (libe) trong khi đó, thân
Trang 7cây chỉ có các sợi ngắn Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, toàn bộ thân cây đay (sơi vỏ và lõi) đã được đánh giá là nguồn nguyên liệu xơ sợi có triển vọng để sản xuất bột giấy (Nieschlag et al 1960) Sợi cây đay, kể cả sợi
vỏ và sợi lõi, có thể được chế biến thành bột giấy như toàn bộ thân cây hoặc được tách ra và chế biến riêng biệt (Kaldor et al 1990) Xơ sợi của bột giấy từ
vỏ cây đay có thể có độ dài tới 5 mm (Clark và Woff 1965), mức trung bình chiều dài 2,6 mm và chiều ngang là 20 cm
Cây Lokta (Daphne bholua, D papyraceae), Họ: Thymeleaeceae [14]
Tên khoa học: Daphne bholua và Daphne papyraceae
Daphne bholua và D papyraceae thường thấy mọc cạnh nhau và nhìn rất
giống nhau Bảng sau đây biểu thị vài đặc điểm nhận dạng cho hai loài (Paudel và Rosset, 1998):
Bảng 1.1 Nhận dạng hai loài Daphne bholua và Daphne papyraceae
Loài
Thân cành Thường xanh hoặc rụng lá
Thẳng đứng hoặc trải rộng
Thường xanh Vươn thẳng nhiều cành
Lá cây Hình elip chuyển đến hình
mác với cuống lá dài 5-10
Quả Đen chuyển đỏ mọng Màu cam và đỏ sau đó đỏ mọng Mùa ra hoa Tháng 11- tháng 4 Tháng 11 đến tháng 4
Phân bố Độ cao 1.800 – 3.600m 1.500 – 2.500m
Trang 8Hai loài này có khả năng tái sinh mạnh mẽ bằng hạt (25%), bằng chồi
rễ (75%) (Jeanrenauld &Thompson, 1986)
- Sử dụng: Vỏ trong của cây được dùng để sản xuất thủ công một lọai giấy rất bền Sản xuất giấy Lokta ở Nepal có thể từ thế kỷ 12 (Trier, 1972) và ngày nay tiếp tục là một ngành thủ công phát triển nhanh và quan trọng
1.1.2 Nghiên cứu về sản lượng vỏ cây
Việc nghiên cứu sản lượng vỏ của một số loài cây cho giá trị thương phẩm, theo tài liệu lưu trữ (Tree CDROM) 1939- 4/1995 CaB Intenational for Asia) (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn) (1995) [6] cho thấy:
- Panait NM (1974) đã nghiên cứu sản lượng của loài Quercus suber ở
Nga Nghiên cứu này tìm ra mối quan hệ giữa khối lượng vỏ (Q) với đường kính ngang ngực (X), chiều cao (Y) và chiều cao bóc vỏ (h) Hàm tương quan biểu hiện mối quan hệ này có dạng
Q = 1,1104lgY + 0,52769lg (Y2 – X2 ) + 0,37147h – 3,64518
- Denisov.S.A (1978) đã xây dựng bảng tra sản lượng vỏ cho loài
phong (Beluta và Beluta pubescens) ở các tuổi 30, 40, 90 cho các cấp lập địa
Ia, I và II ở Nga Quá trình tính toán được dựa vào khối lượng vỏ tươi ở các phân đoạn 2m Tuy nhiên, ở những nghiên cứu này, bảng tra được xây dựng cho quần thể hỗn loài trên cơ sở đã có phân cấp điều kiện lập địa Mặt khác ở phương trình trên có thể nhận thấy sự phức tạp khi xác định các biến X, Y và
H
- Năm 1989, Chang K.H và Sugh.J.K ở Hàn quốc đã nghiên cứu sản
lượng vỏ và lá cũng như hàm lượng các chất khoáng của loài Eucomia
ulmoides ở các tuổi khác nhau Đây là một công trình nghiên cứu đã xác định
được sản lượng vỏ, sản lượng lá và kích thước lá tăng theo tuổi (tuổi cao nhất
là tuổi 12) Ưu điểm nổi bật của nghiên cứu này là đã xác định được sự biến đổi của chất lượng vỏ theo tuổi
Trang 9- Tại Nam Phi, Coetzê.J (1990) đã nghiên cứu xác định bề dầy vỏ cây loài
Acacia mearnsii, từ đó dự đoán sản lượng vỏ trên 1hecta tại thời điểm khai
thác trắng (8-12 tuổi) Việc xác định bề dày vỏ được dựa vào quan hệ giữa đường kính ngang ngực với chiều cao vút ngọn Điểm khác biệt ở công trình này là việc xác định các tham số ảnh hưởng đến bề dầy vỏ (tham số C)
Tham số C chính là điều kiện sinh trưởng của cây, nó phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện khí hậu
- Năm 1973, Loetsh, Zoehchrer và Halleer (dẫn theo Phạm Ngọc Giao)
[5] đã thừa nhận giữa thể tích cây đứng với trọng lượng thân cây có mối liên
hệ theo dạng: V= a + bw + cw2
Tóm lại, việc ước lượng khối lượng và thể tích vỏ của một số loài cây
mà giá trị thương phẩm của vỏ lớn hơn giá trị gỗ là cần thiết.Thực tiễn điều tra rừng thuộc loại này đã xuất hiện 3 phương pháp khác nhau để dự đoán sản lượng vỏ của lâm phần
Phương pháp thứ nhất: Xây dựng biểu dự đoán khối lượng vỏ
Dectlefs.P.PduT (1957) đã dùng tương quan bậc hai để mô phỏng quan
hệ giữa khối lượng vỏ tươi của loài Acacia mollisima ở miền Nam Rhodesia
với đường kính và chiều cao của cây
W = c.d2 +h
Trong đó, c là tỉ lệ hai lần bề dầy vỏ so với đường kính ngang ngực (d)
h là chiều cao cả cây và w là khối lượng vỏ tươi (kg)
Ở phương trình trên, giá trị c có biến động rất lớn, nó phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu và đặc tính di truyền Nếu tham số c được xác định ở từng lâm phần, ở từng địa phương cụ thể sẽ có thể xây dựng được biểu khối lượng
vỏ tươi Từ đó chuyển biểu khối lượng vỏ tươi thành biểu thể tích vỏ
Trang 10Tại Bồ Đào Nha, các tác giả A.A Moraide Macedo [1996] cũng đã sử
dụng phương pháp trên để xây dựng biểu khối lượng vỏ loài Quercuss suber (Theo Loetsh, Zochrer và Hallar)
Phương pháp thứ hai: phương pháp xác định cây tiêu chuẩn bình
quân
Từ năm 1928, lần đầu tiên C.Sprruit và tiếp đó là A.L.Mc Comb (1946)
đã áp dụng các phương pháp cây tiêu chuẩn bình quân để nghiên cứu sản
lượng vỏ loài Cinchona spp Năm 1960, F.Loetsh cũng áp dụng phương pháp này để nghiên cứu loài Acacia decurren ở Tây Jawa (Indoneia), ông đã xác
định phương trình biểu thị tương quan giữa khối lượng vỏ cây với đường kính thân cây có tiết diện bình quân như sau:
LgW = a + b lg Dg
Trong đó: W là khối lượng vỏ tươi (kg)
Dg là đường kính thân cây có tiết diện bình quân
a, b là các tham số của phương trình Đây là phương pháp có thể xác định nhanh được sản lượng vỏ tươi của lâm phần thông qua cây bình quân về tiết diện ngang
Phương pháp thứ ba: Phương pháp thể tích vỏ
H.A.Mayer (1946) đã nghiên cứu đã nghiên cứu và nhận thấy rằng thể tích vỏ có thể được xác định thông qua một hệ số k nào đó từ việc đo đếm các
cây tiêu chuẩn đối với loài Cinchona spp theo phương trình:
Thể tích vỏ = V x ( 1-1/k2)
Trong đó: V là thể tích thân cây cả vỏ Hệ số k có thể biến đổi theo chiều dài cây và thông thường hệ số này được xác định ở vị trí 2/10 chiều dài thân cây và được xác định thành hai phần bằng nhau Nếu ở những cây việc bóc vỏ được tiến hành ở những cành lớn thì hệ số k được tiến hành ở vị trí
Trang 113/10 chiều cao Phương pháp này đưa ra một sự ước lượng chấp nhận được Mặt khác từ thể tích vỏ có thể chuyển đổi sang khối lượng vỏ
Ở phương pháp thể tích vỏ, có thể nhận thấy sự phức tạp trong việc xác đinh hệ số k Bởi lẽ, việc xác định hệ số k phải xác định được chiều cao tại vị
vị trí 2/10 hoặc 3/10 chiều cao cả cây… ngoài ra phải xác định được bề dày
vỏ
ở một số loài cây
Trong điều kiện ở Việt Nam việc nghiên cứu sản lượng vỏ có thể áp dụng theo phương pháp hai là phương pháp cây tiêu chuẩn bình quân Bởi vì khi xác định cây bình quân ở một lâm phần cụ thể thực chất là xác định cây đại diện cho quy luật sinh trưởng ở một vùng có điều kiện sinh thái nhất định,
có biện pháp tác động giống nhau (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn [6])
1.1.3 Nghiên cứu về nhân giống vô tính bằng hom
Nhân giống bằng hom đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất từ lâu, ban đầu chỉ để trồng cây cảnh, sau này được đưa vào tạo cây con phục vụ công tác trồng rừng Những thành tựu đạt được trong nhân giống bằng hom là kết quả nghiên cứu nhiều năm của nhiều thế hệ các nhà khoa học Lâm nghiệp trên thế giới Đây là một tiến bộ trong công tác nhân nhanh giống cây rừng, tạo tiền đề cho việc tăng sản lượng và chất lượng rừng trồng, là một trong những công cụ có hiệu quả nhất cho chọn giống cây rừng (Tewari,1993) [13]
- Hom thân, hom cành là hom được cắt một phần của thân cây non từ
chồi vượt hoặc từ cành non của cây Một số loài như Tre (Bambusa sp ), Luồng (Dendrocalamus memberanaceus) hom giâm có thể là một đoạn thân,
đoạn thân có gốc, đoạn cành hoặc đoạn gốc cành sát thân Hom của các loài thân cây gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây (bao gồm cả chồi vượt)
Trang 12- Hom rễ là loại hom được cắt từ rễ cây Một số loài cây có thể dụng rễ
giâm như Xoan (Melia azedarach), Long não (Cinamumum comphora), Acacia dealbata … (Longman, 1993), Lê (Pynus sp ) (Forman ,1969) Ngay
các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35m3/ ha/ năm.[13]
Theo Komisarov.D.A.(1964) [27] khi nghiên cứu giâm hom với nhiều loài cây đã cho rằng đường kính và chiều dài của hom ảnh hưởng tới khả năng
ra rễ của hom giâm Từ kết quả nghiên cứu, hom có kích thước lớn tốt hơn hom có kích thước nhỏ Cũng theo Komisarov ánh sáng đóng vai trò quan trọng của hom giâm, không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không có hoạt động
ra rễ, ánh áng tự nhiên cần thiết cho ra rễ còn ánh áng đỏ và xanh làm giảm tỉ
lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài ưa sáng, chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm Nhiệt độ thích hợp cho ra rễ phụ thuộc vào mức độ hóa gỗ của hom, hom hóa gỗ yếu, ra rễ tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ thấp (22-22C) so với nhiệt độ cao (270- 300C) Các loài cây Họ Dầu
như: Shorea bractyeolata và Hopea odorata … ra rễ tốt nhất ở nhiệt độ không
khí 280 – 320C
Tewary (1993) [30] cho rằng thời gian chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến
tỉ lệ ra rễ của hom giâm Ánh sáng tán xạ cần thiết cho hom và độ sáng thích
Trang 13hợp khoảng 40-50% ánh sáng toàn phần, ánh sáng đầy đủ thời gian ra rễ ngắn hơn và tỉ lệ ra rễ cũng cao hơn
Đến nay, nhiều tác giả cho rằng xác định lịch nhân giống bằng hom là không nên, bởi vì bắt đầu thời kỳ dinh dưỡng, nhiệt độ sinh trưởng và phát triển của các loài này rất khác nhau trong từng năm
Các loài cây nhiệt đới cần nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp là 28 – 330C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 -300C (Longman, 1993) [27] trong lúc các loài cây vùng lạnh, nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp là 23 - 270C, nhiệt độ giá thể thích hợp là 22 -240C Nói chung nhiệt
độ không khí trong nhà giâm nên cao hơn nhiệt độ giá thể là 2-3 0C
1.1.4 Những nghiên cứu về cây Dướng
1.1.4.1 Phân loại thực vật chi Dướng
- Chi Broussonetia thuộc Họ Dâu tằm (Moraceae)
- Theo một số kết quả nghiên cứu của Đại học Kasetart, Thái lan (1990)
[25]: Thực vật của chi Dướng gồm 9 loài: Broussnetia papyrifera, B kurzii,
B kaemperi, B.kazinoki, B.corolata, B.rubicolata, B intererifolia, B integrifolis và B luconiensis Hai loài đầu tiên là loài bản địa của Thái Lan nhưng chỉ có hai loài Broussnetia papyrifera (tên địa phương là: Po Saa) và B.kazinoki (Kozo) làm giấy thủ công
- Chi Dướng Trung Quốc có 4 loài: Broussnetia papyrifera, B kurzii,
B kaemperi, B.kazinoki Loài Broussnetia papyrifera được phát triển hơn cả
và có nhiều giá trị sử dụng ở Trung Quốc [34]
1.1.4.2 Đặc điểm hình thái
B papyrifera là một cây thân gỗ, chiều cao có thể tới 10-20cm Vỏ màu
xám nhiều xơ Lá rộng có thể là lá nguyên hoặc xẻ 3-5 thùy, các lá xẻ thùy rộng 5-9cm, dài 6-18cm, với các lá xẻ thùy thường có trên các cây con mau lớn, bề mặt khô nháp phía trên, phủ lông tơ phía dưới; mép lá có hình răng
Trang 14cưa; cuống lá 2,3 -8cm, phiến lá xa trục nhiều lông tơ, có lông giữa các gân Các lá kèm có kích thước 15 -20 mm, rộng 8- 10mm Hoa đơn tính khác gốc,
nở từ tháng 4-5, cụm hoa hình cầu đường kính 3-8cm Hoa đực hình bông đuôi sóc nở vào tháng 6-7 [34]
B kazinoki: có hình thái cũng gần giống như B papyrifera chỉ khác là
hoa đơn tính cùng gốc [34]
Quả tụ nhiều nước, đường kính từ 1,5- 3 cm, khi chín màu đỏ hoặc da cam có vị ngọt, là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loại động vật hoang
dã
1.1.4.3 Đặc điểm sinh thái, phân bố, sinh trưởng:
Là loài cây tiên phong ưa sáng và mọc nhanh nơi đất tương đối tốt, ẩm thoát nước tốt, đất có nguồn gốc đá vôi [25] Đất có kết cấu trung bình, chịu được sương gió lạnh mùa đông và có thể sống được trong điều kiện khô hạn
từ 3-4 tháng (có lượng mưa các tháng liên tục < 0mm) [34] Tại Trung Quốc:
B.papyrifera mọc tự nhiên trên sườn đồi, ven rừng, các nương rẫy, các thung
lũng rừng và các khu đô thị ở độ cao dưới 1500m, còn trong rừng nhiệt đới ở Vân Nam phát triển trong rừng mưa ở độ cao 200 - 600m Phạm vi của
Dướng phân bố rộng từ 50- 800m trên mực nước biển, riêng ở Thái Lan phát
hiện thấy một số cây Dướng sống được với độ cao 1500m ở Doi AnKhang
thuộc tỉnh Chiangmai.[24]
Chi Dướng được phân bố chủ yếu ở vùng Đông Nam Á và Trung Quốc, Nhật Bản, Myanrma, Lào và Thái Lan [25] và một số đảo trên Thái Bình
Dương [36] Ở Trung Quốc: B papyrifera được phân bố ở phía Nam Hoàng
Hà, Quý Châu, Hà Nam, Hồ Bắc, Sơn Đông, Tứ Xuyên, Vân Nam, Chiết Giang, ở phía Đông Bắc Trung Quốc và một số tỉnh lân cận ở Hà Bắc
Ở Thái Lan, Dướng phân bố ở hầu hết các tỉnh ngoại trừ miền Nam Peninsula
Trang 15Loài B.kazinoki phát triển trong rừng mưa nhiệt đới và phía Nam Trung
Quốc và được gây trồng ở Nhật Bản [34]
Mặt dù giấy được phát minh ở đất nước Trung Quốc từ đầu thế kỷ thứ
I, nhưng mãi tới năm 610 sau công nguyên, công nghệ làm giấy mới du nhập vào Nhật Bản Tuy nhiên, đến năm 800, kỹ thuật làm giấy Nhật Bản phát triển rất nhanh và được chứng minh là loài B kazinoki (Kozo) có những giá trị cao
để sản xuất giấy tại Nhật Bản được thể hiện qua biểu dưới đây [39]:
Bảng 1.2 Các loại giấy được sản xuất từ vỏ Dướng và giá trị sử dụng
Tên loại giấy theo tiếng
Goyu 90% Kozo Sử dụng chủ yếu cho việc in ấn
Hosokawa ohban 100% Kozo Sử dụng sao lưu tài liệu và bản đồ
Kaji 100% Kozo Sử dụng cho quá trình bảo tồn
Kizukushi 100% Kozo Sử dụng để sửa chữa tranh ảnh
Misu 100% Kozo Sử dụng trong các quá trình bảo tồn Okawara 100% Kozo Sử dụng trong bảo tồn
Sekishu 80% Kozo Sử dụng cho in ấn và bảo tồn
Sekishu kozogami mare 100% Kozo Sử dụng trong sửa chữa tranh ảnh
Sekishu kozogami turu 100% Kozo Sử dụng cho tất cả các loại và tranh ảnh Udagami 100% Kozo Sử dụng để sửa chữa tác phẩm nghệ thuật trên giấy
Tại Thái Lan vỏ chi Dướng đều được sử dụng xuất giấy thủ công với khối lượng rất cao, Supaponhenmin và cộng sự (1999) [28] đã nghiên cứu và
Trang 16ước tính rằng nhu cầu về vỏ trong của B papyrifera hàng năm ở Thái Lan để
làm giấy có thể lên đến 60.000 tấn/năm
Ngoài ra, vỏ chi Dướng còn được sử dụng làm vải, quần áo cho người dân sống ở một số đảo Thái Bình Dương, loại quần áo này được mặc trong các ngày lễ hội: trong đám cưới, đám tang hay này sinh của em bé.[34]
- Để nghiên cứu giá trị sử dụng của lá Dướng, năm 2000, Haruthaithanasan (Thái Lan) [26] đã tận dụng các phần khác của Dướng trong
đó có lá làm thức ăn gia súc Năm 2001, Thaihsa [31] đã nghiên cứu tỉ lệ các
chất dinh dưỡng khoáng ở các bộ phận khác nhau của cây B papyrifera kết
quả được thể hiện ở biểu dưới đây:
Bảng 1.3: Hàm lượng các chất dinh dưỡng ở các bộ phận cây Dướng
Hàm lượng các chất dinh dưỡng tập trung nhiều nhất ở lá cây Như vậy,
lá cây có thể dùng làm thức ăn cho chăn nuôi mà không gây độc tố nào cho gia súc
- Lá có những đặc điểm về hình thái như màu xanh thẫm, đẹp, nhiều lông nên lá có ý nghĩa sinh thái và cảnh quan rất tốt, Dướng được sử dụng
Trang 17trồng làm thành rào cản tiếng ồn và có tính chất sinh thái phòng hộ ở các nhà máy tại Trung Quốc và các đảo Thái Bình Dương.[34]
- Dướng còn có giá trị làm thuốc (dẫn theo Hoàng Xuân Đại, 2009) [38]: Vỏ, rễ cây Dướng có vị ngọt, tính bình lợi tiểu, tiêu sưng Nhựa có tính sát khuẩn nên thường được dùng để đắp các vết thương do ong đốt, chó cắn, rắn cắn
Quả Dướng Đông y gọi là chử thực tử có vị ngọt, không độc, có tác dụng bồi bổ da thịt, ích khí lực, chữa phù thũng trong các tài liệu cổ của Trung Quốc từ thời nhà Tống đến đời Nguyên, Minh có nghi lại những giá trị này (1127-1644)
Theo Diệp Quyết Tuyền, phân tích thành phần trong vỏ cây Dướng trong quả Dướng có 4.75% lignin, canxicacbonat, axitxerotic, các men lipaza, proteaza và zymaza nên chữa được rất nhiều triệu chứng và bệnh như: Người già yếu suy nhược, tiểu nhiều, chân phù, gan nóng sinh vàng mắt, mụn trứng cá, dạ dày, sáng mắt, mạnh gân cốt, chống lão hóa, nhẹ mình Mới đây
hệ dược học của y học Bắc Kinh Trung Quốc nghiên cứu cho thấy trong quả của cây này chứa một chất saponin 0,51% (dẫn theo Đỗ Tất Lợi (1996) [17]
Từ biểu 1.2 có thể tính được dinh dưỡng mất đi khi lấy tất các bộ phận trong khi thu hoạch có thể ước tính được Nếu vỏ trong bị lấy đi thì lượng Nitơ mất khỏi rừng cây 2 năm tuổi, cự ly 1x1m là 2,83kg/ha, nhưng lá bị lấy
đi thì hàm lượng N làm mất đi 40.41kg/ha
Nếu khai thác và lấy tất cả các bộ phận cây Dướng thì N mất đi là 67,63 kg/ha Vậy, nếu khai thác hợp lý và quản lý thích hợp các sản phẩm sau khai thác thì việc bón phân là không cần thiết (Theo Thaiutsa, 2001) [31]
1.1.4.5 Các nghiên cứu về sinh khối và sản lượng:
Các nhà khoa học của Đại học Kasetsart -Thái Lan (1999) [25] đã
nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ đến sản lượng vỏ Dướng (B Papyrifera)
Trang 18ở rừng trồng Wangchin ở miền Bắc Thái Lan và cho kết quả; sản lượng vỏ trong của Dướng trồng ở các khoảng cách 1x1m, 1x2m, 2x2m, 2x4m và 4x4m khi thu hoạch lúc 1 năm tuổi lần lượt là 280kg/ha, 115kg/ha, 113kg/ha và 72kg/ha và sản lượng thu hoạch lúc 2 năm tuổi lần lượt là 350kg/ha, 140kg/ha, 150kg/ha, 99kg/ha và 83kg/ha Kết quả cho thấy năng xuất thu được từ cây Dướng 1 năm tuổi và 2 năm tuổi là không khác nhau
Cũng theo kết quả nghiên cứu trên, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu sinh khối tươi và sinh khối khô của cây Dướng Năng xuất khô của cây cá lẻ được thể hiện thể hiện qua biểu 1.3, cùng với mật độ ở mỗi cự ly trồng năng xuất khô bị giảm nhanh chóng, đặc biệt là cự ly trồng 1x1m so với các cự ly khác Như vậy, ở khoảng cách trồng 1x1m cho sản lượng cao hơn nhiều sản lượng ở các cự trồng rộng hơn ở tất cả các tuổi khai thác Ở 12 tháng tuổi, cự ly 1x1m tổng sinh khối là 5.200kg, cao gấp 2,39 lần tổng sinh khối thu được ở cự ly 1x2m
Trang 19Bảng 1.4 Sinh khối khô trên mặt đất (kg/ha) của B papyrifera ở các
cự ly trồng và các tuổi khác nhau
Tuổi
Khoảng cách
Trang 203-với nghiên cứu trên là nên khai thác Dướng ở khi đạt 1 năm tuổi và đường kính khai thác nên > 2cm
1.1.4.6 Các nghiên cứu kỹ thuật gây trồng:
Kỹ thuật nhân giống: Tại Thái Lan, nhân giống trồng Dướng bằng phương pháp giâm hom cành, 4 tháng tuổi đã ra rễ [25] Tại Lào, nhân giống bằng phương pháp ghép cây, khi khai thác để lại gốc ghép ở những cây có D: 4cm, được trồng trong mô hình nông lâm kết hợp Ở Nhật đang nghiên cứu về phương pháp giâm hom bằng rễ: thời vụ cắt hom trước mùa xuân, kỹ thuật cắt cần chọn cây mẹ 2-3 năm tuổi, chiều dài hom rễ từ 8 -10cm (Sukey,1979) [33] Nhân giống bằng chồi gốc: khi cây cao khoảng 30-40 cm, dùng dao bứng cây nhưng không làm ảnh hưởng đến bộ rễ của cây mẹ, nếu lấy làm vải nên để lại 1 chồi còn lấy làm giấy nên để lại 2- 3 chồi (Krass, 1974) [34]
Kỹ thuât gây trồng: Năm 2001, Thaiutsa và Puangchit (Dự án HUFA) [31] nghiên cứu về Dướng có thể được trồng ở hệ thống nông lâm kết hợp hay độc canh và được xem là loài trồng luân canh trong hệ thống nông lâm kết hợp Nếu được trồng với Dứa, Mít, Dâm bụt, Chuối, thì Dướng được xem như cây lâm nghiệp và nên trồng ở khoảng cách 2x4m trong khi trồng với các loại cây như Tếch, Bạch đàn thì nó được coi như là cây nông nghiệp nên trồng ở khoảng cách4x6m theo hình chữ nhật
Trang 21Từ thế kỷ thứ XI đến triều Lý, giấy Dú nước ta lại được nõng lờn một bước về kỹ thuật Giấy tốt và nổi tiếng khụng kộm gỡ giấy của người Trung Hoa Loại giấy này được làm cống phẩm dõng lờn vua Tống Kỹ nghệ làm giấy của nước ta gắn liền với nhu cầu của xó hội và liờn tục được phỏt triến qua cỏc thời Lý, Trần, Lờ, Nguyễn Bằng chứng là lịch sử đó ghi chộp cỏc địa danh cú nghề làm giấy truyền thống cũn ghi tờn đến tận ngày nay như Yờn Hũa - Kẻ Bưởi (ngoại vi phớa Tõy thành Thăng Long), làng Xuõn Ổ - Tiờn Sơn, Dương Ổ (Yờn Phong) Ngày nay vào thỏng giờng hàng năm người dõn làng An Cốc và Yờn Thỏi vẫn làm giỗ tổ nghề giấy Việt Nam Giấy luụn đồng hành với sự phỏt triển văn húa dõn tộc [4]
Giấy thủ cụng chủ yếu làm từ vỏ cõy Dú, cõy Dướng gọi chung là giấy bản, giấy cú đặc tớnh xốp nhẹ, bền dai vỡ cấu trỳc dạng sợi, cỏc xơ sợi kết cấu với nhau như mạng nhện, đấy là kiểu cấu trỳc ưu thế nhất nờn giấy bền dai và
cú độ xốp cao được chỳng minh là tại cỏc Trung tõm lưu trữ Quốc gia, trong
số cỏc tư liệu về giấy thỡ giấy Dú cú tuổi thọ cao nhất, cỏc tài liệu được sản sinh lõu đời nhất trước khi cỏc tư liệu bảo quản được phỏt hiện Giấy dễ bắt màu, hỳt ẩm, chỏy kiệt: vỡ xốp nờn giấy rất dễ bắt màu khi viết, in Giấy cú tớnh cỏch nhiệt và cỏch õm tốt [36]
Ngày nay, giấy Dú Việt Nam phỏt triển ở tầm cao mới, những người thợ thủ cụng đó làm ra những sản phẩm rất độc đỏo, quý giỏ mang đậm tớnh Việt và chỉ cú Việt nam mới cú chất liệu giấy Dú tốt và đẹp Tuy nhiên, để khôi phục giấy Dú ở một số làng nghề trong những năm tới cần gõy trồng nhiều loài cõy cho vỏ chất lượng để đảm bảo nguồn nguyờn liệu tại chỗ và sản lượng cao nhất
1.1.2.2 Một số đặc điểm cõy cho sợi làm giấy thủ cụng:
Ở Việt Nam đó dựng cỏc xơ vỏ để làm giấy sau:
1 Cõy gỗ: cõy Dướng (Broussnetia papyryfera)
Trang 222 Cây bụi: Cây Niệt gió (Wistroemia indica), cây Dó giấy
(Rhamnoneuron balansae), cây Đay (Hibicus Cannabinus)
Nguyên liệu chủ yếu sản xuất giấy thủ công ở vùng Kinh Bắc và Hà Nội là cây Gió giấy, cây Cãnh một số nơi khác như Lương Sơn, Sơn La, Bắc Ninh là cây Dướng và cây Niệt gió:
- Cây Niệt gió (Wistroemia indica) thuộc họ Trầm Thymeleceace:[17]
Là cây nhỏ, xanh quanh năm cao 0,3 -0.6m, lá hầu như không có cuống, hình trứng thuôn dài, hai đầu tù hơi tròn, phiến lá dài 3-4 cm, rộng 1-2
cm Hoa mọc thành chùm ở đầu cành hay thành bông rất ngắn Quả mọng khi chín màu đỏ tươi, mùa hoa tháng 4-5, quả chín tháng 11 -12.Vỏ thân, cành đều có nhiều sợi cho nguyên liệu làm giấy
Phân bố: Mọc hoang khắp các tỉnh ở rùng núi
- Cây Dó giấy (Rhamnoneuron balansae), Họ Trầm Thymelaeaceae
[3], [36]
Là một loại cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, cao 8-12m, đường kính thân ≤ 20cm, cành non phủ đầy lông Lá mọc cách, phiến hình trứng thuôn, dài 10-20cm, rộng 3-3,5cm, tròn, thót nhọn ở đầu, mỏng, nhẵn ở mặt trên có lông ngắn và nằm ở mặt dưới, bậc hai gần như song song; cuống lá dài 3 - 4mm, có lông và có cánh Hoa màu trắng, lưỡng tính, thơm ống đài dài 1cm, hơi loe ở giữa, phủ đầy lông ở ngoài, nhẵn Nhị 8, xếp thành hai vòng không dài bằng nhau Quả khô hình trứng, dài 7mm; Hạt hình thoi, dài 6mm, rộng 1,7mm
Cây ưa sáng, ưa ẩm, mọc nhanh thường mọc rải rác ven rừng Tái sinh hạt dễ, khả năng nảy chồi khỏe Phân bố ở các tỉnh miền Bắc hoặc Miền Trung trong đó có Hòa Bình, nhiều nơi đã gây trồng dưới tán rừng
Vỏ cây: Dễ bóc, cho sợi làm nguyên liệu sản xuất giấy cao cấp
Trang 231.2.2 Nghiên cứu về sản lượng vỏ
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về sản lượng vỏ và lập biểu sản
lượng như:
- Phạm Ngọc Giao (1984) [5] lập biểu thể tích cây đứng cho rừng
Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) khu Đông Bắc ẩm Việt Nam, dựa vào
quan hệ trữ lượng với các nhân tố sinh trưởng là đường kính và chiều cao
- Trịnh Đức Huy (1985) [9] xây dựng thành công phương pháp dự đoán
sản lượng cho rừng Bồ đề (Styrax tonkinensis) trồng thuần loài đều tuổi tại
trung tâm miền BắcViệt Nam
- Phạm Xuân Hoàn (1996) [6], Phạm Xuân Hoàn - Hoàng Xuân Y(1999) [7] đã tiến hành nghiên cứu thể tích vỏ quế và lập biểu sản phẩm vỏ Quế trồng ở Yên Bái: Kết quả nghiên cứu các công trình này cho thấy có thể dựa vào phương trình đường sinh thân cây để xác định thể tích vỏ Quế tươi một cách chính xác đồng thời có thể dựa vào mối quan hệ giữa bề dày vỏ tại
vị trí D1.3 với thể tích vỏ để xác định nhanh thể tích vỏ quế tại rừng
Tất cả các công trình đã được sử dụng vào trong thực tiễn sản xuất Tuy nhiên, do quan tâm nhiều đến thể tích cây đứng (cả vỏ) và thể tích sản phẩm( không vỏ) Việc đo tính vỏ cây chỉ nhằm chuyển đổi hai loại thể tích này cho nhau mà không quan tâm nhiều đến sản lượng vỏ cây
Qua nghiên cứu hầu hết các tác giả đều cho rằng giữa sản lượng vỏ (thể tích vỏ, trọng lượng vỏ…) của cây có quan hệ mật thiết với đường kính, chiều cao và thể tích thân cây
1.2.3 Nghiên cứu nhân giống vô tính bằng giâm hom
Ở Việt Nam nhân giống bằng hom được tiến hành từ những năm cuối thập kỷ 70 Đến nay, kỹ thuật nhân giống bằng hom được đưa vào ứng dụng rất phổ biến trong các đơn vị nghiên cứu cũng như các đơn vị sản xuất cây con trồng rừng Nhân giống bằng hom là công cụ hỗ trợ rất đắc lực cho các
Trang 24công trình khảo nghiệm giống cho năng xuất cao (Bạch đàn, Keo, Phi lao…), các loài cây bản địa và ứng dụng rộng rãi để nhân nhanh các loại cây quý hiếm nhằm mục đích bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng
Năm 1983 -1989, ở Viện khoa học Lâm nghiệp tiến hành nhân giống
bằng hom với một số loài như Mỡ (Manglietia glauca), Lát hoa (Chukarasia tabularis), Bạch đàn (Eacalyptus)… Tập trung nghiên cứu vào các đặc điểm
cấu tạo, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường và việc xử lý các chất kích thích ra rễ đến tỉ lệ sống, tỉ lệ ra rễ của hom giâm.[13]
Lê Đình Khả (1990) và các tác giả đã tiến hành giâm hom nhiều xuất
xứ khác nhau của cây Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis đã đạt kết quả cao,
các thí nghiệm về các loài giâm hom, môi trường giâm hom, thời vụ và phương pháp xử lý chồi cũng được thực hiện.Từ kết quả nghiên cứu này đã xây dựng được các hướng dẫn kỹ thuật nhân giống bằng hom, phục vụ cho các chương trình trồng rừng Ngoài ra, có một số loài cây quý hiếm như Thông đỏ, Bách xanh cũng được nghiên cứu và đạt kết quả cao Tính đến năm 1997,Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp
đã sản xuất 12000 cây hom cho 60 ha rừng trồng Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các xuất xứ Lê Đình Khả cũng kết luận các xuất xứ khác nhau, tỉ
lệ ra rễ của hom giâm khác nhau Thí nghiệm tiến hành cho Eucalyptus camaldulensis xuất xứ Victoria River cho tỉ lệ ra rễ là 60%, xuất xứ Gibb
River là 85%, xuất xứ Nghĩa Bình là 35% Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom, các rác giả đã kết luận hom cây Mỡ 1 tuổi thì tỉ
lệ ra rễ là 98%, Mỡ 3 tuổi là 47%, 20 tuổi thì không ra rễ, với Keo lá tràm và Keo tai tượng thì hom ngọn và hom sát ngọn có tỉ lệ ra rễ cao hơn (93,3 -100%) so với hom giữa và hom sát gốc (66.7- 97,6%) [11], [20]
Trang 25Các loại hóa chất kích thích ra rễ thường dùng hiện nay là Axit Indol axetic (IAA), Axit Indol butiric (IBA), ABT, TTG, NAA tuy vậy mỗi loại hormon lại có hiệu quả hiệu quả ra rễ khác nhau đối với từng loài cây:
Năm 1997, Phạm Văn Tuấn đã công bố kết quả nghiên cứu về chọn cây
trội và nhân giống Keo lai Acacia auriculifocmic và Acacia magium Theo
tác giả thì hom được lấy ở chồi gốc giai đoạn 2 tháng tuổi tỉ lệ ra rễ đạt 89% nếu xử lý bằng IBA dạng bột và dung dịch [19]
Năm 1999, trong đề án nghiên cứu bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm, tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa tiến hành giâm hom cây Bách xanh
(Calocedrus macrolepis) 2 tuổi và 7,8 tuổi, cây Pơmu (Fokenia hodginsii) kết
quả đạt được như sau: Đối với cây Bách xanh 7-8 tuổi tỉ lệ hom ra rễ đạt cao nhất là 85% ở IBA, ABT 1%; Cây 2 tuổi tỉ lệ hom ra rễ cao nhất là 95% khi dùng IBA, ABT 1,5% Còn đối với cây Pơmu tỉ lệ ra rễ cao nhất là 90% ở NAA 1% và 1,5%
Các loại hormon có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm, vì thế khi dùng riêng lẻ có thể gây ra hiệu quả của từng mặt, còn khi dùng ở dạng hỗn hợp sẽ tạo ra hiệu quả tổng hợp và tăng tỉ lệ của hom giâm,biết lựa chọn các chất với các nồng độ thích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của giâm hom và giảm giá thành cây con: Komixarop (1994) thí nghiệm xử lý
hormon dạng nước IBA và NAA cho Tilia playtyphyllos, và xử lý hỗn hợp
hormon dạng bột IAA+ IBA cho Phi lao (Lê Đình Khả, 1996) đã thấy rằng tỉ
lệ ra rễ, số rễ, chiều dài rễ ở các công thức hỗn hốp với khi xử lý hom bằng chất riêng rẽ [12]
Phạm Văn Tuấn và cộng sự, 2007 khi nghiên cứu về về giâm hom cây Quế với các loại hormon IAA, IBA, ABT cũng chỉ ra rằng: Các loại hormon sinh trưởng cũng làm tăng tỉ lệ ra rễ từ 7-22%, tăng chiều dài rễ từ 0,3 -1,4 cm
Trang 26so với đối chứng Nghiên cứu cũng tìm được loại hormon và nồng độ hormon thích hợp cho giâm hom Quế là IBA nồng độ 1% cho tỉ lệ ra rễ là 86%
Tuổi chồi gốc và tuổi gốc lấy chồi cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm
Ví dụ: Cây Mỡ (Manglietia glauca), hom chồi gốc ở các cây 17-23 tuổi
cho tỉ lệ ra rễ 75-85% Điều này cho phép sử dụng chồi ở các cây trội để nhân giống phục vụ công tác trồng rừng Như vây, quá trình phát triển cá thể của cây được thể hiện ở các giai đoạn: Non, trẻ chuyển tiếp, thành thục [20]
Nhận xét: Hiện nay, giâm hom đang được áp dụng rộng rãi và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất Tuy nhiên đối với những cây lâm nghiệp rất ít công trình nghiên cứu giâm hom từ rễ Những thành tựu trên là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo kế thừa và phát triển, tìm ra những loài cây thích hợp với giâm hom, tìm ra những điều kiện để tạo ra cây hom tốt nhất
1.2.4 Những nghiên cứu về cây Dướng ở Việt Nam
1.2.4.1 Phân loại
Ở Việt Nam chỉ thấy nghiên cứu về loài B Papyrifera và mặc dù cây
Dướng đã được loài người sử dụng rất lâu trong lịch sử làm giấy, đó là loại giấy truyền thống được sử dụng rộng rãi trong các xã hội phong kiến ở Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới với nhiều mục đích khác nhau, nhưng đến nay việc nghiên cứu về nó rất ít, đã có một số tác giả nghiên cứu
về cây Dướng, song phần lớn mới chỉ tập trung vào việc mô tả, phát hiện và giám định tên loài, nêu giá trị và phân bố
1.2.4.2 Đặc điểm hình thái
Đặc điểm hình thái của Dướng được mô tả trong một số tài liệu như sau
- Viện điều tra quy hoạch, 1978 [22] mô tả Dướng là cây gỗ trung bình rụng lá mùa hè, lá đơn mọc cách phiến lá có hình trứng dài hoặc phân 3 dến 5 thùy, đầu mũi nhọn, gốc tròn, gân hình tim vát hoặc đôi khi hình nêm rộng
Trang 27Mép có răng cưa, mặt trên lá có nhiều lông thô, mặt dưới có nhiều lông mềm dài Gân có 3 đôi gân gốc và đôi gân bên, cuống dài 3 - 10cm có lông Lá kèm hình trứng nhỏ, sớm rụng
- Nguyễn Bá (2007) [1] nói đến hiện tượng biến thái và dị dạng của lá Dướng là ở Dướng có thể có lá nguyên trên một cành, lá phân thuỳ trên một cành nhưng cũng có thể cả lá nguyên và lá phân thùy cùng ở trên cùng một cành, đó là sự biến thái của Dướng
Lê Mộng Chân (2000) [3] mô tả: Vỏ cây mầu nâu nhạt nhiều xơ, vết đẽo có nhiều nhựa trắng Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa đực hình bông đuôi sóc rủ, mang nhiều hoa nhỏ, hoa đực mẫu 4 nhị ngắn, mọc đối với đài Cụm hoa cái hình cầu, đường kính 1,2-1,8 cm, đài hợp, xẻ 3 - 4 răng, bầu trên, hai vòi nhụy ở bên, dài và cong Quả phức, hình cầu đường kính 3 cm, khi chín màu đỏ Mùa hoa tháng 5-7, mùa quả chín tháng 10 - tháng 12
1.2.4.3 Đặc điểm phân bố, sinh thái và sinh trưởng
Dướng có biên độ sinh thái rộng, thường gặp ven rừng hoặc đất bỏ hoang sau nương rẫy Là cây ưa sáng, lớn nhanh và có khả năng thích ứng khá rộng với hoàn cảnh Ưa đất ẩm, tơi xốp, đất sau nương rẫy, cây mọc khắp các tỉnh trong các rừng thứ sinh hoặc được gây trồng, đất sau nương rẫy, đất trống đồi núi trọc, tập trung nhiều ở các tỉnh phía Bắc
Khả năng tái sinh hạt mạnh, đâm chồi gốc và rễ cũng tốt Có khả năng trồng rộng rãi [12]
1.2.4.4 Giá trị sử dụng
-Vỏ cây có đặc tính cho nhiều sợi làm giấy chất lượng tốt:
Broussonetia papyrifera là một trong những loài cây được ưa chuộng
sử dụng vì chất lượng giấy làm từ cây Dướng đã được thực tiễn chứng minh
là tốt:
Trang 28Giấy Dó nói chung và giấy Dướng nói riêng là loại giấy được loài người sử dụng từ lâu trong lịch sử, đó là loại giấy truyền thống được sử dụng rộng rãi trong các xã hội phong kiến ở Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới với nhiều mục đích khác nhau Một trong những mục đích sử dụng của giấy Dó là làm tranh dân gian (tranh Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng, Sình của người Việt, tranh thờ cúng của người Tày, Nùng, Dao, Hà Nhì, v.v ); làm đồ chơi trung thu, làm vàng mã, làm pháo, làm hợp chất tạo khuôn đúc đồng, làm quạt, làm đội thêu nổi, in tiền giấy, làm bao bì, gói hàng hoá
…đặc biệt giấy do vua chúa dùng thường là loại giấy quý (giấy lụa, giấy vua phê, giấy sắc)
- Lá có thể làm thức ăn cho gia súc đặc biệt là bà con các dân tộc như :người Mường (Hòa Bình), người Mông (Sơn La) thường sử dụng lá non, cành non băm hoặc nấu cho lợn hay cho hươu, nai, trâu, bò …
Theo Đỗ Tất Lợi (1996) [17], lá Dướng có vị ngọt, tính hàn công dụng trị tả cầm máu, làm thuốc nhuận tràng sử dụng cho trẻ em, nấu xông chữa mạo cảm, trị tứ chi đau, các tứ chi đau do phong tê thấp, chữa viên đường ruột và được dùng trong các bài thuốc dân gian Việt Nam để chữ các bệnh hết sức hiệu quả; kinh nghiệm của người Lai Châu chữa lị thì sắc nước uống
1.2.4.5 Các nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng
Hiện nay ở Việt Nam chưa có các công trình nghiên cứu về sinh khối
và sản lượng cây Dướng
1.2.4.6 Các nghiên cứu về khả năng gây trồng
Ở nước ta, người dân khai thác Dướng ở tự nhiên là chủ yếu, số ít là đem bứng cây ngoài tự nhiên về trồng làm hàng rào và trồng tận dụng vườn tạp và chưa có công trình nào nghiên cứu về khả năng gây trồng thành công,
Năm 2008 khi có dự án VC004 tháng 6 năm 2008 phòng nông nghiệp Huyện Lương Sơn đã tiến hành giâm hom cành và rễ ở cây mẹ trong tự nhiên
Trang 29thử nghiệm với 5000 hom cành và 5000 hom rễ nhưng chưa thành công Lí
do chưa thành công ở giâm hom Dướng có thể do công tác chọn lọc cây mẹ chưa được tốt chưa có tuổi rõ ràng, kỹ thuật chăm sóc còn nhiều khâu chưa thích hợp, cho nên đề tài này tiếp tục nghiên cứu giâm hom theo hai hình thức trên để đưa ra phương thức nhân giống tốt nhất
Nhận xét chung:
Tất cả các dẫn liệu nêu trên cho thấy Dướng đã được biết đến nhưng đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về cây Dướng như là: sản lượng vỏ, bề dày vỏ, bộ rễ của Dướng và giá trị đích thực của nó.Tuy nhiên, những nghiên cứu trên có ý nghĩa khoa học và là tiền đề cho luận văn nghiên cứu này
Đặc biệt, việc nghiên cứu sản lượng vỏ cây và các phương pháp nhân giống dinh dưỡng đã được khoa học điều tra rừng trên thế giới và trong nước nghiên cứu nhưng cây Dướng tại Việt Nam chưa được quan tâm, phát triển cho nên, việc nghiên cứu sản lượng vỏ Dướng và khả năng gây trồng là rất cần thiết để dự đoán sản lượng trong tương lai từ đó tính được giá trị kinh tế
do Dướng đem lại cũng như phát triển Dướng trên diện rộng, đề tài sẽ tập trung vào giải quyết vấn đề trên
Trang 30Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu và giới hạn của đề tài
2.1.1 Mục tiêu
- Mục tiêu tổng quát: Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, giá trị sử dụng và khả năng gây trồng của cây Dướng (Broussnetia papyrifera) tại Lương Sơn - Hoà Bình
- Mục tiêu cụ thể:
+ Tính được giá trị kinh tế của cây Dướng
+ Đề xuất kỹ thuật gây trồng cây Dướng và cung cấp nguồn nguyên
liệu sản suất giấy Dó tại xã Hợp Hòa và Huyện Lương Sơn
2.1.2 Giới hạn của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Cây Dướng mọc tự nhiên nơi đất trống đồi núi trọc hoang hóa
- Địa điểm nghiên cứu: Lâm trường Lương Sơn Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
2.2 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu
Từ khi tái sinh, sinh trưởng, phát triển cho tới khi chết đi cây rừng luôn
ở một vị trí, mọi quá trình biến đổi của cây theo hoàn cảnh và mọi tác động trở lại của cây đều xảy ra trong môi trường sống của chúng ta Mỗi loài cây có đặc điểm hình thái, khu phân bố riêng và có quan hệ chặt chẽ với nhau và với điều kiện nơi mọc hay nói cách khác là chúng có đặc điểm lâm học khác nhau Vì vậy, muốn nghiên cứu về giá trị sử dụng, khả năng gây trồng một loài cây thì phải nghiên cứu kỹ đặc điểm lâm học của từng loài cây
Để rút ngắn thời gian người ta tiến hành nghiên cứu đặc tính các loài cây ở các giai đoạn khác nhau trên nhiều cây tiêu chuẩn, trên các ô tiêu chuẩn tạm thời trong một hoàn cảnh sinh thái nhất định với phương châm " lấy
Trang 31không gian thay thế thời gian", đây là phương pháp thường dùng trong lâm nghiệp Kết quả nghiên cứu đạt được nhanh nhưng độ chính xác còn hạn chế, phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên và công việc thực hiện
2.3 Nội dụng nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của Dướng
2.3.1.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu
- Đặc điểm hình thái
- Đặc điểm vật hậu
2.3.1.2 Tìm hiểu đặc điểm phân bố và tái sinh
- Đặc điểm phân bố tự nhiên
- Đặc điểm tái sinh tự nhiên
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sinh khối của vỏ Dướng
2.3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng
- Phân bố số cây theo D, H
- Quan hệ giữa các đại lượng sinh trưởng
2.3.2.2 Nghiên cứu sinh khối vỏ Dướng
- Khối lượng vỏ của thân và cành
- Quan hệ giữa khối lượng vỏ với các đại lượng sinh trưởng: D1.3, HVN
- Thử nghiệm xây dựng bảng tra khối lượng vỏ trong (tươi)
2.3.3 Nghiên cứu giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của Dướng
2.3.3.1 Giá trị của vỏ cây
2.3.3.2 Giá trị của lá cây
2.3.4 Thử nghiệm nhân giống vô tính
2.3.4.1 Nhân giống vô tính bằng hom cành
2.3.1.2 Nhân giống vô tính bằng hom rễ
2.3.1.3 Đề xuất các biện pháp nhân giống và gây trồng
Trang 322.4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau:
Sơ đồ tóm tắt quá trình nghiên cứu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp kế thừa số liệu
- Kế thừa các tài liệu của khu vực nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế và các tài liệu nghiên cứu về Broussnetia Nguyên tắc kế thừa: chọn lọc và bổ xung thêm những phần còn thiếu
Thử nghiệm nhân giống
Khối lượng lá làm thức
ăn gia súc
Hom cµnh
Hom
rÔ
Đánh giá giá trị sử dụng và hiệu quả của cây Dướng, đề
xuất biện pháp nhân giống và gây trồng hiệu quả
Trang 33- Các tài liệu tham khảo về vấn đề nghiên cứu của đồng nghiệp, các tác giả trong và ngoài nước
- Phương pháp thu thập ngoài thực địa:
- Khảo sát, xác định vùng nghiên cứu tại khu vực đất trống đồi núi trọc tại Lâm trường Lương Sơn - Hoà Bình, Tổng diện tích: 8,9 ha
- Xây dựng bản đồ thực địa khu vực nghiên cứu
2.5.1 Tìm hiểu một số điểm sinh vật học của Dướng
2.5.1.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu
Để tìm hiểu hình thái, vật hậu của Dướng chúng tôi thực hiện phương pháp quan sát ở thực địa đồng thời kết hợp với tra cứu những tài liệu nghiên cứu trước đây tiến hành xác định một số nội dung sau: Quan sát 10 cây Dướng ngẫu nhiên, trong đó có cả cây nhỏ và cây trưởng thành mô tả hình thái cụ thể như sau:
- Thân cành: Mô tả hình dạng, màu sắc, vỏ kiểu phân cành và mức độ phát triển
- Lá, hoa, quả, rễ: Mô tả hình dạng, kích thước, màu sắc,
- Theo dõi hiện tượng chồi nụ, hiện tượng ra lá, rụng lá, quả non, quả già và chu kỳ sai quả
Để xác định kích thước hình thái lá, chúng tôi đã điều tra lá của cây non, cành non, lá của cây già, cành già, trên mỗi đối tượng lấy 50 lá xác định kích thước hình dạng
2.5.1.2 Tìm hiểu đặc điểm phân bố và tái sinh
1 Đặc điểm phân bố
Để nghiên cứu đặc điểm phân bố của Dướng, đề tài dựa vào bản đồ địa hình tại tiểu khu 78 khoảnh 7 diện tích 8.9 ha, lập 12 tuyến điều tra theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, các tuyến cách nhau 1km tổng chiều dài của 12
Trang 34tuyến là 12km Các tuyến điều tra cắt qua các dạng địa hình: thung, chân, sườn, đỉnh
Số liệu thu thập được ở các tuyến điều tra là tần số bắt gặp và phân bố của loài Dướng
2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên
- Căn cứ vào điều kiện địa hình và mục đích nghiên cứu lập 10 ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời trên đồi núi đá có nguồn gốc đá vôi nơi có Dướng phân bố, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500m2 (25x20m) Ô tiêu chuẩn được lập bằng địa bàn cầm tay và thước dây với độ khép kín là 1/200
- Trong ô tiêu chuẩn của lâm phần thiết kế hai tuyến điều tra vuông góc
đi qua tâm ô, mỗi tuyến lập 5 ô dạng bản, được bố trí theo sơ đồ dưới đây:
Diện tích ô dạng bản 4m2 (2m x 2m), trong ô dạng bản điều tra các cây tái sinh (là những cây có D1.3 < 3cm) , phẩm chất (tốt, xấu), nguồn gốc (hạt, chồi, thân ngầm), độ che phủ và phân theo 4 cấp chiều cao (theo phương pháp của giáo trình Lâm học, trường Đại học Lâm nghiệp):
H< 20cm H từ 21-50 cm H từ 51 – 100 cm H >100cm
Nghiên cứu cự li tái sinh tái sinh bằng hình thức nghiên cứu tái sinh dưới tán cây mẹ Chọn 30 cây mẹ sinh trưởng bình thường, không sâu bệnh, không cụt ngọn làm tâm ô, tại các ô lập 04 tuyến điều tra theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc Trên tuyến lập các ô dạng bản diện tích 4m2 (2mx 2m), 4 ô
Trang 35trong tán, 4 ở cự li bằng 1 lần D tán, 4 ô ở ngoài 2 lần D tán của cây mẹ, tổng
là 360 ô Điều tra toàn bộ số cây tái sinh về nguồn gốc và chiều cao, đánh giá phẩm chất
2.5.2 Nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng của Dướng
2.5.2.1 Nghiên cứu sinh trưởng
*) Điều tra trong 10 ô tiêu chuẩn: tiến hành đo đếm toàn bộ những cây
có D1.3 = 3 ≥ 7 cm (coi 3cm là đường kính khai thác tối thiểu) [24] về các chỉ tiêu: D1.3, Hvn, Dt
+ D1.3 được đo bằng thước Palme có khắc vạch tới mm
+ Đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành bằng sào đo cao độ chính xác tới 0,1m
+ Đo đường kính tsán theo chiều Đông Tây, Nam Bắc, xác định tới dm
2.5.2.1 Nghiên cứu về sản lượng cây Dướng
1 Nghiên cứu khối lượng vỏ
- Kết hợp với xưởng sản xuất giấy tại xã Hợp Hoà, khai thác Dướng tại khu vực nghiên cứu Chặt giải tích 60 cây đo đếm các chỉ tiêu: Đo Hvn, D1.3
- Chia theo 02 cấp cỡ kính như sau:
+ D1: 3 cm - 5 cm: 30 cây
+ D2: >5 cm - 7 cm: 30 cây
Vỏ Dướng chia làm 02 loại:
Loại I (vỏ trong): Là lớp vỏ màu trắng sát thân cây
Loại II (vỏ ngoài): Là lớp vỏ màu xanh hoặc màu đen ở ngoài lớp vỏ trong
- Khối lượng vỏ được xác định từ những cây tiêu chuẩn giải tích : Chặt róc những cành có D ≥ 2cm, bóc vỏ trong, vỏ ngoài của cành và thân được cân chính xác trọng lượng từng cây theo thân, cành bằng cân đồng hồ có độ chính xác tới 0,01 kg
Trang 36+ Lấy mẫu điển hình trên 3 vị trí khác nhau của từng cấp kính, đại diện của vỏ trong, vỏ ngoài: Chiều dài 3cm mỗi loại, có trọng lượng khoảng 500g, cân chính xác khi tươi và sau khi sấy với điều kiện sấy khô tới khi khối lượng không đổi (Sấy mẫu tại phòng thí nghiệm khoa chế biến trường ĐHLN) Mỗi cấp kính lấy 3 mẫu đại diện, cành 3 mẫu, tổng là 24 mẫu Mẫu sau khi sấy được cân chính xác bằng cân tiểu li có độ chính xác tới 0,001kg
- Số liệu được ghi vào bảng sau:
Bảng 2.1 Bảng khối lượng vỏ tươi và vỏ khô
Vn (kg)
Tổng Vt
(kg)
Vn (kg)
Tổng
2 Khối lượng lá
Khối lượng lá được xác định sau khi cân toàn bộ lá sử dụng được loại
bỏ những lá quá già ở cành dưới, xấu Lá đã được róc khỏi cành, thân và được
cân chính xác tới 0.01kg Số lượng được ghi vào mẫu biểu
Bảng 2.2 Bảng khối lượng lá tươi
TT cây H (m) D1.3 (cm) W lá (kg)
+ Tính khối lượng trung bình cho từng cây
3 Tính toán và xác định quan hệ của khối lượng vỏ với D, H
+ Tính tổng khối lượng khối lượng vỏ tươi, khô của hai cấp đường kính của vỏ, lá Tính khối lượng trên 1 ha dướng tại khu cực nghiên cứu
+ Xác định quan hệ giữa khối lượng vỏ trong với D, H
+ Xác định quan hệ giữa khối lượng vỏ ngoài với D, H
Trang 37+ Xác định quan hệ giữa vỏ trong với vỏ ngoài
4 Thử nghiệm xây dựng bảng tra khối lượng vỏ trong (tươi)
2.5.3 Đánh giá giá trị sử dụng, hiệu quả kinh tế của cây Dướng
2.5.3.1 Giá trị sử dụng của vỏ
+ Tìm hiểu một số thông tin về giá trị sử dụng của Dướng tại xã Hợp
Hòa Huyện Lương Sơn
+ Tính hiệu quả kinh tế cho 1 ha rừng tại khu vực nghiên cứu dựa vào khối lượng điều tra, đo đếm
2.5.3.2 Giá trị sử dụng của lá
+ Tính hiệu quả kinh tế của lá cho từng cây và cho 1ha rừng hiện tại
2.5.4 Thử nghiệm các công thức nhân giống vô tính
2.5.4.1 Phương pháp giâm hom bằng cành
+ Đối tượng hom: Cây trồng trong vườn thực vật tại xưởng sản xuất giấy Hợp Hoà 1.5 tuổi, sinh trưởng trung bình
+ Thuốc kích thích: IBA và ABT với 3 nồng độ: 25% 50%, 75% và đối chứng (không sử dụng IBA và ABT)
+ Bố trí thí nghiệm phân tích phương sai 3 lần lặp theo khối ngẫu nhiên đâỳ đủ được bố trí như sau :
Gọi A là nhân tố thuốc hóa học lần lượt như sau: A1: IAB, A2: ABT Gọi B là nhân tố nồng độ thuốc: B1: 250ppm, B2:500ppm, B3: 750ppm B4:0ppm thí nghiệm được bố trí như sau:
A1B1 A1B2 A1B3 A1B4
A2B1 A2B2 A2B3 A2B4
Như vậy, cả công thức đối chứng là 9 công thức với 3 lần lặp Mỗi công thức là 30 hom, tổng số hom là 810 hom
Kỹ thuật tạo hom:
Sử dụng dao sắc để cắt vát phần gốc tạo ra góc nghiêng khoảng 30 - 400
Trang 38So với thân hom, chiều dài hom 10-12 cm, sau khi cắt hom được xử lý bằng dung dịch Benlat 1%, chấm thuốc và được giâm vào bầu kích thước 8x 12cm
Ruột bầu là đất mùn tầng mặt đã được xàng mịn và xử lý thuốc tím 0,1% % trước 12 giờ và rửa sạch trước khi cấy hom
Định kỳ hàng tháng phun thuốc chống nấm Benlat 1%, xung quanh và phía trên là khung sắt rộng 1m, dài 5m và cao 1m được phủ nilon trắng, trên cùng là giàn lưới đen che sáng với độ chiếu sáng 75%
Thu thập số liệu:
Thu thập số liệu hom sống, số lượng hom ra rễ, chiều dài rễ, số rễ trên hom được thu thập vào lúc 7giờ sáng của cuối tháng thí nghiệm (30 ngày):
- Khi hom đã bị rụng lá, khô dần và đen thối là hom đã bị chết
- Quan sát rễ vào cuối đợt thí nghiệm, những hom nhú rễ ra khỏi gốc từ 0.5 đến 1cm và có từ 1 rễ trở lên thì quy định những hom đó đã ra rễ, còn hom chưa ra rễ là hom mới ra mô sẹo hoặc phần gốc hom trương phồng lên, đo đếm và ghi vào mẫu biểu thứ tự hom ra rễ, số hom ra rễ, chiều dài rễ (cm), đo bằng thước kẻ có chia đến mm
2.5.4.2 Phương pháp giâm hom bằng rễ
+ Kỹ thuật lấy hom
Chọn những cây khoẻ, rũ đất túm cổ rễ đến khi rụng hết đất, rửa rễ trong một chậu có vòi nước chảy Kích thước chiều dài rễ 5- 10 cm
- Cắt rễ bằng dao sắc, cắt những rễ cái to, tỉa tất cả các rễ bên của rễ mới ra cắt thẳng góc các rễ tỉa tách khỏi rễ cây mẹ, cắt nghiêng
- Đặt đúng hướng phân cực của rễ, phía trên cắt thẳng, phần dưới cắt nghiêng
+ Xử lý:
Trang 39- Xử lý nấm bằng thuốc bột Captan ở dạng bột mịn, đặt rễ trong túi thêm 1 thìa thuốc bột, cho 90 đoạn rễ vào lắc mạnh và làm phồng túi lắc mạnh
để bột chất diệt nấm thấm đều vào rễ , đảm bảo nhiệt độ 18-24 0
+ Giâm rễ vào đất:
Đất đóng bầu là hợp chất than bùn + đất mịn + mùn cưa
Dùng que dùi lỗ sâu 3 - 4 cm cho rễ vào theo hướng thẳng đứng, đổ đất nén chặt, phủ thêm một lớp cát
+ Chăm sóc tưới nước vừa phải để đất không quá chặt và đủ ẩm, khi có
lá đầu xuất hiện tức là có rễ mới Định kỳ phun thuốc chống nấm 2 tuần/1 lần Theo dõi 1tháng/1 lần, thời gian theo dõi là 2 tháng
+ Cách bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu như phần thí nghiệm như hom cành
2.5.1.3 Đề xuất các biện pháp nhân giống và gây trồng
2.6 Tính toán và xử lý số liệu
Số liệu sau khi được thu thập, chỉnh lý số liệu để đảm bảo sự tập trung của số liệu và phản ánh đúng quy luât tự nhiên của đa số ô trong ô tiêu chuẩn
2.6.1.1 Tìm hiểu một số số điểm sinh vật của Dướng
- Tính giá trị trung bình của Hvn, D1.3,DT của 30 ô tiêu chuẩn bằng phương pháp chia tổ ghép nhóm và xử lý thống kê trên phần mềm Exel, SPSS [9] [15]
- So sánh kích thước lá bằng tiêu chuẩn bằng tiêu chuẩn phi tham số của Kruskal và Wallis.[16]
2.6.1.2 Đặc điểm về phân bố và tái sinh
- Đặc điểm phân bố là tần xuất xuất hiện của Dướng tại khu vực nghiên cứu
- Mật độ tái sinh được xác định theo công thức
Trang 40i i
S
000.10Nha
/
(2 -1) Trong đó Ni là số lượng mật độ loài i trên ô tiêu chuẩn
S0: là diện tích ô tiêu chuẩn Dựa vào mật độ từng loài, tính mật độ chung theo công thức: N/ha = Ni/ ha
2.6.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và sản lượng
2.6.2.1 Đặc điểm sinh trưởng
- Phân bố số cây theo cỡ kính: Sắp xếp và chia tổ ghép nhóm bằng phần mềm Exel và SPSS Mô phỏng bằng các phương trình toán học qua biểu đồ tần xuất và lựa chọn phương trình có hệ số tương quan cao nhất
- Nghiên cứu tương quan giữa các đại lượng D1.3 và Hvn
Mô phỏng quan hệ giữa chiều cao với đường kính ngang ngực Để mô
tả quan hệ giữa chiều cao và đường kính cây rừng, có nhiều phương trình toán học biểu thị mối quan hệ giữa H và D và thế đề tài sử dụng ba dạng phương trình được nhiều tác giả sử dụng nhất
Y = a* xb (2 - 2)
Y = a+blogx (2 - 3)
Y = a + bx +cx2 (2 - 4)
Sử dụng phần mềm SPSS, Excel để tìm phương trình thích hợp nhất Điều kiện :
+ Hệ số tương quan lớn nhất
+ Các tham số của phương trình thực sự tồn tại tại sig < 0,05
Phương trình phù hợp nhất phải thỏa mãn 3 điều kiện trên Lập phương trình tương quan giữa khối lượng với các đại lượng
Sử dụng tiêu chuẩn F để kiểm tra sự tồn tại của tỉ tương quan [16 ]