Khi chính phủ của các quốc gia giao quyền quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng, khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dầ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan nhằm quản lý các nguồn tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá của các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng Xu hướng phát triển rừng cộng đồng là yếu tố quan trọng trong phát triển lâm nghiệp ở nhiều quốc gia nhằm định hướng thu hút sự quan tâm của các cộng đồng để đóng góp vào tiến trình quản lý rừng bền vững
Trong những năm qua, ở Việt Nam xu hướng nhận thức về vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều thay đổi Rừng cộng đồng đã tồn tại lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn của cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng Vài năm gần đây, cộng đồng dân cư đã thực sự trở thành người chủ rừng và từ đó nâng cao ý thức bảo vệ rừng, sử dụng rừng hợp lý, góp phần nâng cao đời sống của chính những cộng đồng này
Khái niệm về rừng cộng đồng đã được nhìn nhận một cách rộng rãi và đang phát triển một cách nhanh chóng Thực tế chỉ ra rằng trải qua nhiều thế
hệ, những cộng đồng sống trong rừng, phụ thuộc vào các sản phẩm từ rừng đã đúc kết cho mình những kiến thức bản địa, những luật tục truyền thống trong quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng xung quanh họ
Cộng đồng dân cư thôn bản được hiểu là toàn bộ các hộ gia đình, các cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương Theo quyết định 106/2006/QĐ-BNN về việc ban hành Bản Hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn thì khái niệm “Rừng cộng đồng” được hiểu là rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư thôn để
sử dụng rừng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Trang 2Cho đến nay về mặt pháp luật, rừng đã được giao cho cộng đồng, cộng đồng được khẳng định quyền bảo vệ và phát triển rừng, nhưng việc hưởng lợi
từ rừng như thế nào vẫn chưa được rõ ràng
Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg về Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao rừng Nhưng đối tượng trong quyết định này không có cộng đồng dân cư thôn bản
Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN về Ban hành bản hướng dẫn rừng cộng đồng dân cư thôn Quyết định này chưa phân định được rõ và cụ thể việc hưởng lợi giữa các cộng đồng được các dự án hỗ trợ với các cộng đồng không được các
dự án hỗ trợ; chưa phân định rõ được việc hưởng lợi giữa các cộng đồng được giao rừng được khai thác gỗ với các cộng đồng được giao rừng chỉ để bảo vệ và phát triển
Việc hưởng lợi của cộng đồng sau khi được giao rừng nếu chưa được làm rõ, nhất quán và tương xứng với trách nhiệm của họ trong bảo vệ và phát triển rừng thì chắc chắn không thể quản lý rừng bền vững Nhằm làm rõ vấn
đề trên và trả lời các câu hỏi: Hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng đang diễn ra như thế nào? Có ảnh hưởng đến quản lý rừng cộng đồng không? Giải pháp phân chia, quản lý nguồn hưởng lợi này sao cho việc quản lý bảo vệ rừng được bền vững?
Để góp phần làm rõ những vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu các nguồn hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng được
khai thác gỗ tại các tỉnh Yên Bái, Sơn La và Điện Biên” Đề tài được thực
hiện trên ba cộng đồng thuộc 3 tỉnh: Yên Bái, Sơn La và Điện Biên, là những cộng đồng hiê ̣n đang đươ ̣c Nhà nước giao bảo vê ̣, phát triển rừng và được các
dự án hỗ trợ để nâng cao năng lực quản lý rừng
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Thuật ngữ Cộng đồng theo FAO (1996) “Cộng đồng là những người
sống tại một chỗ, trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” còn lâm nghiệp cộng đồng theo FAO
(1999) là “bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia
vào hoạt động lâm nghiệp”
Theo J.E-Michael Arnld (1999) thuật ngữ Lâm nghiệp cộng đồng được
sử dụng với nghĩa hẹp hơn “Là các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ
chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng”
Thuật ngữ Lâm nghiệp cộng đồng đã được đề cập ở nhiều quốc gia trên thế giới Nó hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững Mặt khác đối với người dân đang sống phụ thuộc vào rừng các giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống của họ Từ quan điểm đó, hình thành các phương thức, các chương trình hoạt động quản lý rừng cộng đồng
Tính đến thời điểm hiện nay lâm nghiệp cộng đồng đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất phần lớn những người bên ngoài cuộc xác định vấn
đề và đề ra quyết định để giải quyết vấn đề đó Kết quả đạt được đều không đáng khích lệ, sự quan tâm của cộng đồng thường theo thời gian mà lắng xuống Rất ít các cộng đồng tiếp tục các hoạt động sau khi những người ngoài cuộc rút lui, và tất nhiên tính bền vững không đạt được Giai đoạn thứ hai những người ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra phần lớn quyết định, nhưng
họ đã bắt đầu tham khảo ý kiến của những người trong cộng đồng, thông qua các cuộc phỏng vấn Kết quả là những người ngoài cuộc đã bắt đầu nhận thức
Trang 4được rằng những người trong cộng đồng có khá nhiều hiểu biết và thường có cách giải quyết vấn đề phù hợp và hiệu quả hơn Giai đoạn thứ ba những người ngoài cuộc chỉ là những người hỗ trợ và thúc đẩy, còn những người trong cộng đồng là những những tích cực xác định vấn đề và đề ra các giải pháp Cách làm này đã mang lại những kết quả đáng khuyến khích làm cho người dân trong cộng đồng tự nhận thức được vấn đề và chủ động trong việc đề ra các giải pháp
mà họ có thể thực hiện được Tuy vậy trong các giai đoạn này vấn đề hưởng lợi
từ rừng cộng đồng cũng chưa được làm rõ
Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp của loài người Tuy nhiên sự thống trị của chế độ thực dân của người Châu Âu diễn ra trên diện rộng và kéo dài cho tới thế kỷ
20 đã có những ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống quản lý cây và rừng cổ truyền ở nhiều địa phương Chính sách thực dân đã đập tan các hệ thống quản
lý cổ truyền về tài nguyên ở các địa phương cùng với những nguồn kiến thức bản địa về tài nguyên và hệ sinh thái nơi đó Trong thời gian hậu thuộc địa, nhiều nhà quản lý sử dụng rừng vẫn chịu ảnh hưởng của những lực lượng từ bên ngoài và cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới
Một thực tế mà chúng ta có thể kết luận rằng, khi mà các cộng đồng dân
cư không phải là nhân tố tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy được trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng Khi chính phủ của các quốc gia giao quyền quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng, khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần được đẩy lùi và cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng, thúc đẩy cho sự phát triển của các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng
Trang 5Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều các nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, cách tiếp cận, áp dụng công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý dựa vào rừng cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia
1.1.1 Châu Á
Tại Châu Á, rừng được coi là một trong những tài nguyên quan trọng nhất Rừng được quản lý bảo vệ dựa trên cơ sở nhóm, ở bất cứ tình huống nào, trách nhiệm quản lý rừng đều được giao cho một nhóm hoặc tập thể như dòng họ, bộ tộc hoặc đẳng cấp (quản lý thôn xã), làng bản hoặc cộng đồng…Rừng ở đây được giao cho một tập thể có tổ chức, được nắm một số quyền về đất và cây rừng, cùng với các sản phẩm trên đó [21,T28] Quản lý rừng cộng đồng ở Châu Á thường được quan tâm chú ý ở một số nước như: Tại Ấn Độ, có nhiều loại rừng lăng miếu, những rừng này đều được các
tổ chức tôn giáo hoặc nhóm cộng đồng địa phương quản lý, đồng thời người dân địa phương ở Ấn độ đã bảo vệ được các đám rừng có diện tích từ 0.5 – 10
ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó hình thành từ những xã hội chuyên săn bắt và hái lượm và việc lấy bất kỳ một sản phẩm nào ra đều là cấm kỵ và nó cũng đã góp phần vào việc duy trì và mở rộng tài nguyên rừng
Ở đất nước này còn tồn tại khái niệm “Nistar” là quyền hưởng thụ cổ truyền các lâm sản như củi, gỗ và tre nứa Vào nửa cuối thế kỷ 19, theo thông tục ở Ấn độ mỗi làng được cấp một diện tích đất hoang hóa và đất rừng bằng hai lần diện tích đất canh tác của thôn bản Tất cả các diện tích rừng thừa ra đều được chỉ định là rừng cấm và được quản lý theo Luật lâm nghiệp Ấn độ Năm 1951 Ấn Độ đã tiến hành quốc hữu hoá các tài nguyên rừng và thực hiện luật cải cách ruộng đất Vào đầu những năm 70, chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển trên đất không lâm nghiệp Do
Trang 6các chương trình LNXH không mang lại kết quả như mong đợi, từ năm 1988, chính phủ ban hành chính sách mới về lâm nghiệp cộng quản trên đất lâm nghiệp Mục tiêu cơ bản là lôi kéo và khuyến khích người dân và cộng đồng của họ tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên rừng trên đất lâm nghiệp của Nhà nước Người dân và các cộng đồng của họ được hưởng các sản phẩm phụ
và một phần sản phẩm gỗ tuỳ theo điều kiện của các bang
Chương trình LNXH được thực hiện trên đất của làng bản và tư nhân Mục tiêu của chương trình nhằm giảm sức ép đối với các khu rừng công nghiệp do chính phủ quản lý Chính phủ huy động nông dân, trường học và các tổ chức xã hội tham gia vào trồng rừng gỗ nhiên liệu Các chương trình lâm nghiệp xã hội tại Ấn độ tập trung giải quyết một số vấn đề như: Giúp đỡ dân nghèo và cố nông được quyền hưởng thụ các tài sản công cộng của thôn bản và đất đai của cơ quan lâm nghiệp trên đó họ có thể trồng các loài cây rừng và các loài cỏ thích hợp; Tuyển chọn các biện pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cho từng khu sinh thái cụ thể; Tổ chức các cộng đồng địa phương để tiến hành phát triển có hiệu quả công tác lâm nghiệp xã hội
Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài sản khác thường gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh Tính chất của việc quản lý tài nguyên rừng ở đây thường có những nét chung và khá hiệu quả về mặt bảo vệ Các chỉ tiêu về quy chế tổ chức thường dựa trên ý kiến thống nhất của cộng đồng và cũng là cốt lõi của những hệ thống quản lý rừng bản địa Những hệ thống rừng bản địa này được xây dựng từ năm 1950, từ đó đến nay Chính phủ Nepan đã có những thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc Nguyên nhân là do nạn tàn phá rừng ngày càng gia tăng và có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân bản địa Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của chính phủ, nhưng việc đó đã thất bại Sau đó đã có nhiều thay
Trang 7đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho chính những người sử dụng chúng ở thôn bản
Tại Thái Lan, từ những năm 1968, chính phủ ban hành chính sách khuyến khích người dân định canh định cư trên các vùng đất đã bị tàn phá nặng nề do đốt nương làm rẫy và khai thác gỗ Chính sách lâm nghiệp năm
- Khuyến khích phát triển mọi hoạt động lâm nghiệp cộng đồng
- Phát triển hệ thống khuyến khích trồng rừng do các cá nhân và hộ gia đình đảm nhận
Năm 1989, lâm nghiệp Hoàng gia đã đưa ra chính sách về phát triển lâm nghiệp cộng đồng Năm 1992, lâm nghiệp Hoàng gia lại đưa ra chỉ thị và hướng dẫn mới qui định phân quyền hạn nhiều hơn cho các cấp tỉnh và huyện, chức năng khuyến lâm được nhấn mạnh hơn là chức năng bảo vệ thuần tuý Thời kỳ những năm 1980, chính phủ phát triển các chương trình lâm nghiệp cộng đồng và hình thành hệ thống khuyến lâm trong toàn quốc Năm
1990, chính phủ ban hành kế hoạch phát triển lâm nghiệp dài hạn
Trong giai đoạn 1954 - 1967, các tổ chức công nghiệp rừng đã hình thành chương trình làng lâm nghiệp trên cơ sở giao giao đất của Nhà nước, các tổ chức lâm nghiệp hỗ trợ xây dựng các làng lâm nghiệp Các tổ chức quốc tế đầu tư vào phát triển lâm nghiệp cộng đồng qua các dự án như: Dự án quản lý vùng đệm, dự
án phát triển lâm nghiệp cộng đồng của SDC Thuỵ Sỹ, dự án bảo tồn thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng của Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới
Trang 8Tại Chiang Mai – Thái Lan, tháng 9/2001 đã tổ chức một hội thảo quốc
tế về lâm nghiệp cộng đồng, trong đó đã phản ánh nhu cầu phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam Nhìn chung việc phân chia lợi ích hay còn gọi là quyền hưởng lợi giữa những người dân cộng đồng bản địa với Nhà nước và các tổ chức bên ngoài cộng đồng ở những nước này vẫn đang là quan hệ mâu thuẫn gay gắt nhất Phần lớn các nước này đều đang phải gánh chịu hậu quả của cách can thiệp từ trên xuống trong việc quản lý tài nguyên mà không quan tâm tới truyền thống địa phương, kinh nghiệm và khả năng của người dân Do chưa có những thỏa thuận hợp lý giữa những thành viên bên ngoài và bên trong cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng và phân chia các lợi ích từ rừng nên dẫn đến hậu quả là tài nguyên rừng và đất rừng ngày càng bị suy giảm Người dân cộng đồng địa phương cũng như là các tổ chức bên ngoài cộng đồng của các nước trên hầu hết đều có những biện pháp cố gắng duy trì nguồn tài nguyên
đã bị suy thoái nhưng chưa đạt được hiệu quả Do đó hầu hết các nước này đều đang phải thử nghiệm thực hiện một số các chương trình, hoặc cải thiện chính sách nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa mong muốn của người dân bản địa cùng với lợi ích của quốc gia như là sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
Tại Indonesia, người dân ở vùng Kalimanta có tập quán canh tác du canh, lúc ban đầu du canh được tiến hành tại các khu rừng tự nhiên, sau đó các diện tích rừng thứ sinh cũng được sử dụng, từng bước các hộ gia đình đã bắt đầu đòi hỏi quyền được sở hữu nương rẫy và đất bỏ hóa Với áp lực dân số ngày càng gia tăng những quyền lợi đó được mở rộng cho thế hệ tiếp theo Những nguồn lâm sản phụ như song mây, gỗ trầm hương và tổ ong đã có sự cạnh tranh và không thỏa hiệp về lợi ích giữa người dân địa phương và những người bên ngoài Tại miền Nam và Tây Sumatra, các thành viên cộng đồng có quyền thu
Trang 9hái lâm sản và mở nương làm nông nghiệp trên đất rừng của làng, trong đó một
số đám rừng được giữ lại và không ai được đụng chạm tới chúng [21, T68, T76]
Tại Tiamor, Indonesia, tất cả đất đai được công khai xếp vào loại adapt tức là đều thuộc quyền sở hữu của địa chủ lớn địa phương, mãi cho tới cuối thế
kỷ 20 những người nông dân mới được hưởng quyền sử dụng đất Vào những năm 1940 và 1950, tại huyện Amarasi, người ta đã đề ra nhiều bước để cải tiến việc quản lý đất đai Những biện pháp đó đều dựa trên bộ luật Adat và sau đó được luật lệ nhà nước củng cố để thi hành tại 64 thôn bản của huyện Chúng gồm có nghĩa vụ trồng các hàng cây Keo dậu (Leucaena leucocephala) theo các đường đồng mức trên các lô nương rẫy trước khi bỏ hóa, và một phần sử dụng đất tách rời các khu canh tác với các khu lâm súc dành cho chăn thả [21, T83].Mặc dù, thành công của các hệ quản lý tập thể được đảm bảo tốt nhất với những nhóm nhỏ, các ví dụ nêu trên cho biết rằng quản lý rừng cộng đồng cũng đã phát triển tại các cộng đồng lớn hơn Tuy nhiên, việc đó cũng đòi hỏi phải tăng cường xác định chính xác và thực hiện các thủ tục dành cho việc kiểm tra theo dõi và thi hành luật lệ đề ra
Năm 1988 chính phủ đã ban hành quy định yêu cầu các công ty khai thác
gỗ phải góp phần phát triển kinh tế - xã hội và quản lý tài nguyên rừng trong 3 chương trình:
- Chương trình lâm nghiệp xã hội: Chính phủ huy động người dân vào phục hồi rừng đước, sản xuất các sản phẩm phụ từ rừng…
- Chương trình phát triển làng bản: Tiến hành phân tích các điều kiện kinh tế - xã hội văn hóa, nâng cao nhận thức của người dân qua tuyên truyền
và huấn luyện, hỗ trợ một số vật tư thiết yếu
- Chương trình định canh định cư: Nhà nước cung cấp sử dụng, hỗ trợ kỹ thuật và dịch vụ để tạo ra nhiều sản phẩm ngoài gỗ cho nông dân
Trang 10Đầu những năm 1980, Bộ Lâm nghiệp Indonesia đã phát triển một chương trình LNXH đối với trồng rừng Tếch trên đất do nhà nước quản lý với
3 mục tiêu là nâng cao hiệu quả trồng rừng và mở rộng các chức năng của rừng, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho nông dân, cải thiện quan hệ giữa Chính phủ và nông dân qua quan hệ địa phương
Năm 1992, chương trình phát triển làng lâm nghiệp được hình thành Năm 1995 đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng Lâm nghiệp
do Bộ Lâm nghiệp quản lý
Năm 1996, Bộ Lâm nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và các trường đại học đã thiết kế một dự án lôi kéo người dân vào bảo vệ và phát triển rừng Các
tổ chức quốc tế cũng đã có các dự án hợp tác với Bộ Lâm nghiệp như dự án phát triển LNXH của GTZ (Đức), quản lý rừng truyền thống với đại học Harward (USA)…
- Tại miền núi ở Nam Á thường có một mắt xích chặt chẽ theo cổ truyền giữa đất nông nghiệp tư và rừng Rừng cung cấp những vật tư quan trọng cho toàn
bộ việc kinh doanh trang trại như phân xanh, năng lượng củi đun nấu, sưởi ấm và cho cả việc xây dựng nhà cửa, chuồng trại dưới dạng gỗ xây dựng và nhà cột Rừng cũng là đất đai chăn thả và cung cấp thức ăn gia súc cho toàn bộ vật nuôi của nông dân trong đó có trâu, bò, dê, cừu là thành phần quan trọng của hệ canh tác địa phương Mối quan hệ khăng khít giữa con người, đất đai, gia súc với rừng trong đó nội bộ các hệ canh tác sinh tồn đã dẫn tới một loạt
tổ chức địa phương nhằm quản lý rừng công cộng trên phần đất lớn của lục địa này Các phương thức quản lý rừng không chỉ hướng về việc thu lượm các sản vật của gỗ mà còn hướng tới việc kiểm tra thu hái thức ăn gia súc và chăn thả trong rừng Nhiều phương thức quản lý như luân canh đồng cỏ, chăn thả gia súc, hoặc chặt cụt ngọn cành cây để nuôi gia súc tại chuồng thường được vận dụng và bổ sung thay thế cho cách chăn thả tự do suốt đêm ngày
Trang 11Tại Phillippin, sau năm 1971, Chính phủ ban hành chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân và cộng đồng trong thời gian
25 năm và sau đó có thể gia tăng thêm thời hạn Tại Phillippin có những cơ chế công nhận quyền sử dụng đất rừng lâu dài cho cộng đồng Đến thời kỳ những năm 1980, Chính phủ phát triển 3 chương trình, trong đó liên kết lâm nghiệp với các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tổng hợp miền núi
Sau năm 1949, Trung Quốc thành lập hệ thống hợp tác xã nông nghiệp
Hệ thống lâm nghiệp chỉ do nhà nước và hợp tác xã quản lý Đầu năm 1978, Trung Quốc thực hiện cải cách và một cửa, hộ gia đình được giao đất và rừng Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình không kể
nó thuộc sở hữu Nhà nước hay tập thể Năm 1984, Luật Lâm nghiệp của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa được chính thức ban hành
Luật Lâm nghiệp yêu cầu mọi cá nhân và tổ chức phải trồng rừng trên khu đất trống đồi núi trọc Quyền sử dụng và quản lý rừng thuộc về tập thể hay cá nhân trồng rừng không kể đất thuộc quyền sở hữu của ai Chính phủ dành 10% ngân sách lâm nghiệp để phát triển chế biến lâm sản, các sản phẩm ngoài gỗ Chính phủ Trung Quốc xây dựng chương trình trồng rừng quốc gia từ năm 1989 đến 2000 với mục tiêu là trồng 20 triệu ha cây mọc nhanh, xây dựng hệ thống rừng bảo vệ và 1 dự án trồng cây chắn cát Đến cuối năm 1991, lượng cây trồng phân tán đã tương đương 13 triệu ha Tuy nhiên, chính phủ vẫn phát triển các chương trình nhằm hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng dưới hình thức tự nguyện
1.1.2 Châu Mỹ La Tinh
Châu Mỹ La Tinh là vùng còn nhiều rừng che phủ nhất trong các nước đang phát triển, với 996 triệu ha rừng và độ che phủ lên tới 48% Hơn một nửa rừng nhiệt đới trên thế giới hiện còn nằm ở khu vực này [21, T194]
Trang 12Tài nguyên rừng là một trong những yếu tố quan trọng đối với vấn đề phát triển kinh tế, sinh thái và xã hội của một đất nước Nhưng ở các nước Châu Mỹ La Tinh hoạt động lâm nghiệp và những hoạt động dựa vào tài nguyên rừng đã không được chú trọng, rừng bị tàn phá, diện tích rừng bị giảm xuống nhanh chóng, kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề như: Xói mòn đất, nguồn nước cạn kiệt, sự tuyệt chủng và biến mất hoàn toàn của nhiều loài động thực vật Suy thoái môi trường, trái đất nóng lên và mất đi nhiều nguồn gen quý hiếm Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia ở Châu Mỹ La Tinh đã thực hiện theo hai cách: Một là Nhà nước nắm quyền quản lý rừng, hai là nhà nước trao trách nhiệm quản lý rừng cho chính những người sử dụng rừng Có thể là cá nhân hoặc tập thể (cộng đồng), kết quả là gắn việc quản lý bảo vệ rừng vào họ, từ đó tạo nên khả năng sử dụng rừng lâu dài bền vững, góp phần cải thiện về môi trường và xã hội
Đối với các nhóm bản địa và tộc người Mestizo ở Châu Mỹ La Tinh, rừng theo cổ truyền xa xưa là nơi người dân có thể đi săn bắt động vật và côn trùng đồng thời thu hái các loài cây và nhiều sản phẩm khác Cây rừng được
sử dụng làm vật liệu xây dựng, cung cấp dược liệu, lương thực thực phẩm, hương liệu, các chất nhuộm, gôm và nhựa Côn trùng được săn bắt như là nguồn chất đạm (protein) và cũng được dùng để khống chế các nạn dịch côn trùng Quyền được hưởng thụ các tài nguyên rừng cho phép người dân bản địa phát triển nhiều phương pháp tạo ra được nguồn lợi tức, làm giảm sự lệ thuộc của họ vào các chương trình hỗ trợ của nhà nước [21, T199]
Hecht, S.B và Cockburn,A (1989, the fate of forest, số phận của rừng)
đã chỉ rõ ra rằng, phần lớn rừng Amazon là sản phẩm do các hoạt động của con người, con người tác động vào các môi trường rừng để phục vụ cho mục đích của mình Các khu rừng trên thực tế đã được quản lý và chúng ta có thể
Trang 13hiểu được các cơ chế quản lý đó qua cơ sở sinh thái và nhân văn của nhân dân bản địa và những người Mestizo [21,T237]
- Tại Châu Mỹ hiện có nhiều điển hình về quản lý rừng và nông lâm kết hợp do các cộng đồng địa phương thực hiện Đó là phương thức làm nương
bỏ hóa tại vùng Amazon của dân bản địa và phương thức nông lâm kết hợp Huastec tại Mexico của người Mestizo
Ở phương thức làm nương bỏ hóa của hai bộ lạc Amuesha và Bora đều sử dụng hệ thống nông nghiệp mà trên thực tế là một sự chuyển hóa của một hệ canh tác hoa màu ngắn ngày sang một hệ nông lâm kết hợp dài ngày Mặc dù phần lớn việc quản lý đều do các gia đình đơn lẻ thực hiện nhưng trang trại thì không có ranh giới vĩnh cửu, các đám nương do một gia đình canh tác thường nằm rải rác ở nhiều nơi khác nhau trên mảnh đất thuộc quyền quản lý của cộng đồng [21, T201]
Hệ sinh thái nông lâm nghiệp của người Huastec thường bền vững và tạo điều kiện cho rừng tái sinh và đảm bảo được các tài nguyên tự nhiên để sử dụng sau này Người Huastec tạo nên các đám rừng thứ sinh và nguyên sinh kết hợp với việc gây trồng cây nhập nội như cà phê, một số luân canh theo kiểu gắn việc sản xuất ngô với rừng thứ sinh đang diễn thế [21, T225]
- Tại Bolivia, mô hình phát triển quản lý tài nguyên rừng đều tập trung vào việc tổ chức các hợp tác xã lâm nghiệp, người ta đã tiến hành xây dựng thêm các xưởng cưa để tạo thêm lợi tức, kết hợp với việc quản lý rừng nhằm đạt được tính sản xuất bền vững Mặc dù cây rừng được tập thể quản lý, người
ta vẫn cần có giấy phép khai thác do các nhà đương cục của chính phủ Bolivia cấp phát hàng năm Cộng đồng dành lại những loài cây nhập nội và có giá trị cao đề xây dựng một quỹ tiết kiệm chỉ được dùng tới khi rất cần thiết [21, T210]
Trang 14- Tại Peru, Chương trình quản lý tài nguyên Selva Trung ương, năm
1980 được phát triển, chương trình này nhằm vào việc quản lý tài nguyên rừng đặc biệt là rừng đầu nguồn với mục tiêu là tạo ra nguồn công ăn việc làm
và lợi tức bằng tiền cho các thành viên cộng đồng đồng thời bảo tồn các rừng
tự nhiên của cộng đồng được quản lý [21, T211]
- Tại Braxin, việc nghiên cứu nhóm người Indieng Kapor tại miền đông Amazon, Braxin đã chứng minh rằng các nhóm bản địa đã xử lý hệ động thực vật và cuối cùng đã làm tăng được tính đa dạng sinh học Điều đó góp phần vào việc duy trì và nâng cao khả năng cung ứng của rừng cho con người trong thời gian dài [21, T226]
- Tại Mexico sự tham gia của nông dân vào việc quản lý, bảo vệ và nâng cao tài nguyên rừng được thực hiện của một chính sách có tên là “Kinh tế lâm nghiệp thôn xã” đã cho thấy sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương
đã là chìa khóa cho sự thành công của các chương trình mong muốn phát triển tài nguyên rừng cộng đồng [21, T238]
Nhìn chung tại châu lục này đã và đang song song tồn tại hai hệ thống quản lý rừng đó là hệ thống quản lý rừng địa phương, được tồn tại và duy trì
do sự tích lũy kiến thức bản địa của người dân trong việc xây dựng các thành phần trong hệ thống đó và hệ thống quản lý rừng gắn với bên ngoài, hệ thống này thường gắn liền với sự hỗ trợ về khoa học và tài chính từ bên ngoài cộng đồng với mục tiêu cuối cùng là nhằm vào các hệ sinh thái và thúc đẩy người dân trong cộng đồng tham gia vào các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng Sự cạnh tranh về mặt hưởng những lợi ích từ rừng của những người dân trong cộng đồng với Nhà nước và các tổ chức bên ngoài ở Châu lục này đã ít gay gắt hơn và bắt đầu bước sang giai đoạn hợp tác cùng phát triển Các chương trình thường chú trọng việc tham khảo và sử dụng những ý kiến người dân ở tại cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng
Trang 151.2 Ở Việt Nam
Ngày nay, quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức quản lý rừng phổ biến ở Việt Nam và tồn tại song song với các phương thức quản lý khác như quản lý rừng của hệ thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhà nước, quản lý tư nhân Trong thực tiễn, có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau, đa dạng và phong phú của phương thức quản lý rừng này, càng khẳng định vai trò của quản lý rừng cộng đồng như: Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước (lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, Ban quản lý các dự án) khoán cho các cộng đồng khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng; rừng và đất rừng của hộ gia đình và cá nhân là thành viên trong cộng đồng tự liên kết lại với nhau thành các nhóm cộng đồng (nhóm hộ) cùng quản lý tạo nên sức mạnh để bảo vệ, hỗ trợ, đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp
Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 cả nước có 10.006 cộng đồng dân cư thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đang quản lý,
sử dụng 2.792.946,3ha rừng và đất trống đồi núi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi núi trọc (chiếm 31,4%) Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của
cả nước (12.873.815 ha) Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do công đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4% Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc dụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29% Cộng đồng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp nêu trên với 3 hình thức sau:
- Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sau
Trang 16đây gọi tắt là giao) với diện tích 1.643.251,2 ha tương đương 58,8% diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng
- Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời nhưng chưa được Nhà nước giao (chưa có bất kỳ một loại giấy tờ hợp pháp nào, gọi tắt là chưa giao) với diện tích 247.029,5ha tương đương 8,9%
Đó là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng
- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức Nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ…) được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi, trồng mới theo hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi tắt là nhận khoán với diện tích 902.662,7ha tương đương 32,3%
Đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ), được thể hiện trong hai bộ luật lớn: Luật đất đai năm 2003 và Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; và các văn bản chính sách khác Khung pháp lý và chính sách này thể hiện các điểm căn bản như cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư cách pháp nhân đầy đủ tuỳ theo từng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối tượng giao hay nhận khoán Cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu dài khi đáp ứng các qui định của pháp luật và chính sách hiện hành Cộng đồng được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo qui định của pháp luật
Các loại rừng cộng đồng hình thành từ các nguồn gốc khác nhau nhưng đều được 3 chủ thể chính quản lý là cộng đồng dân cư thôn, dòng tộc và nhóm hộ hoặc nhóm sở thích Đối với rừng do cộng đồng dân cư thôn và dòng tộc quản lý thường ở các vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trường kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp Rừng do nhóm hộ hoặc nhóm sở thích
Trang 17cùng nhau liên kết để quản lý thường ở các vùng sản xuất và thị trường phát triển, đang dần tiếp cận sản xuất hàng hoá, trình độ sản xuất của các hộ nông dân cao, khả năng đầu tư lớn Chính từ cơ sở này mà quản lý rừng cộng đồng
ở Việt Nam đang dần hình thành theo hai xu hướng phù hợp điều kiện cụ thể
ở từng vùng, đó là quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế và quản
lý rừng cộng đồng cho sản xuất hàng hoá
Quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế ở các vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trường kém phát triển; trình độ quản lý còn thấp Các sản phẩm từ rừng chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng trong cộng đồng như gỗ để làm nhà, củi đốt, khai thác lâm sản ngoài gỗ Rừng được quản lý theo truyền thống được qui định trong hương ước của cộng đồng Nhà nước và địa phương cần có chính sách riêng về qui chế khai thác và sử dụng lâm sản cũng như cung cấp các dịch
vụ kỹ thuật, tổ chức và vốn để cộng đồng có thể quản lý rừng
Quản lý rừng cộng đồng chi sản xuất hàng hoá ở các vùng sản xuất và thị trường phát triển, đang dần tiếp cận đến sản xuất hàng hoá, trình độ sản xuất của các nông hộ cao, khả năng đầu tư lớn Các hình thức quản lý rừng cộng đồng sẽ đa dạng và phong phú ở trình độ cao hơn như thành lập tổ chức kinh
tế rừng cộng đồng có pháp nhân, có thể là hợp tác xã của cộng đồng, doanh nghiệp cộng đồng cho quản lý rừng và chế biến lâm sản, vv…hoạt động theo luật doanh nghiệp Trong trường hợp này cộng đồng dân cư thôn sẽ tiến tới thực sự là chủ thể đầy đủ trong quản lý và sử dụng rừng
Trong những năm qua, nhiều chương trình, đề án, dự án về quản lý rừng cộng đồng của chính phủ, các tổ chức quốc tế được thực hiện ở nhiều nơi mang lại nhiều kết quả Nhiều hoạt động về quản lý rừng cộng đồng được thực hiện trên khắp cả nước đã mang lại nhiều thành công Bài học từ thực tiễn chỉ ra rằng có nhiều điển hình tốt về quản lý rừng cộng đồng bởi các qui ước của cộng đồng, nghĩa vụ và quyền lợi công bằng cho các thành viên trong cộng
Trang 18đồng, các thành viên trong cộng đồng ý thức về rừng bằng sự tự giác vốn có, bằng sự nghiêm khắc của cộng đồng, bằng sự tín ngưỡng hoặc tâm linh
Thực tiễn cũng cho thấy do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể có một mô hình LNCĐ chung mà cần có các loại hình LNCĐ khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể Nhiều vấn đề đang đặt ra cho quản lý rừng cộng đồng như địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư thôn trong quản lý rừng, các khía cạnh về quyền đầy đủ khi cộng đồng tham gia quản lý rừng, kế hoạch quản lý rừng, sử dụng thương mại sản phẩm từ rừng cộng đồng, cơ chế hưởng lợi, tổ chức quản lý rừng
Tại hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng, trên cơ sở phân tích từ thực tiễn về vấn đề xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng, Hội thảo đã đề xuất chính sách liên quan như: Xác lập vị trí pháp lý của cộng đồng khi tham gia quản lý rừng với tư cách là chủ rừng với đầy đủ quyền và nghĩa vụ như các chủ rừng khác được qui định trong các bộ luật; Sự thừa nhận và thể chế hoá rừng do cộng đồng tự công nhận từ lâu đời; Những khía cạnh về chính sách cho phép mở rộng đối tượng rừng giao cho các cộng đồng quản lý như các khu rừng phòng hộ, vùng đệm các khu rừng đặc dụng
Về vấn đề lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, Hội thảo thống nhất kế hoạch quản lý rừng giữ vai trò hết sức quan trọng, là công cụ quan trọng bậc nhất để cộng đồng quản lý rừng Kế hoạch quản lý rừng cần phải được thể chế hoá đầy đủ về nội dung kỹ thuật, trình tự thủ tục và tính bắt buộc cho cộng đồng quản lý rừng Kế hoạch quản lý rừng cộng đồng là cơ sở cho cơ quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp đối với đối tượng là rừng do cộng đồng quản lý Riêng đối với rừng tự nhiên, kế hoạch quản lý rừng được thừa nhận như là phương án điều chế rừng của cộng đồng dựa vào đó cộng đồng kinh doanh rừng tự nhiên theo đúng quy định pháp luật hiện hành về quản lý rừng tự nhiên
Vấn đề hưởng lợi rừng trong quản lý rừng cộng đồng đã trở thành một vấn
đề “nóng” trong hội thảo và cũng là vấn đề đòi hỏi phải có những đột phá về
Trang 19nhận thức, xây dựng cơ chế chính sách và quản lý Những kinh nghiệm từ thí điểm hưởng lợi rừng do cộng đồng quản lý ở một số nơi ở Tây Nguyên cần được nghiên cứu và điểu chỉnh trong chính sách hưởng lợi rừng Định hướng hưởng lợi rừng trong quản lý rừng cộng đồng cần được quan tâm và nghiên cứu để mở rộng và thể chế hoá, đó là: Thứ nhất, thừa nhận và thể chế hoá khai thác thương mại và cơ chế hưởng lợi sản phẩm từ rừng cộng đồng; Thứ hai, dần tiến tới cơ chế hưởng lợi rừng từ dịch vụ môi trường
Tổ chức quản lý rừng cộng đồng được Hội thảo thống nhất một số điểm quan trọng là khuyến khích sáng kiến của cộng đồng trong hình thành các tổ chức quản lý rừng cộng đồng Kiểu tổ chức nửa Nhà nước trong quản lý rừng cộng đồng là khá phù hợp Cần xác lập cơ chế hợp tác và đối tác giữa các tổ chức bên trong và ngoài cộng đồng trong quản lý rừng Để xác lập vị trí pháp
lý và tính pháp nhân của cộng đồng trong quản lý rừng cộng đồng việc hình thành các chủ thể kinh tế đại diện cộng đồng để có đủ pháp nhân quản lý rừng cộng đồng và vấn đề mới cần khuyến khích nghiên cứu, thí điểm
Kết quả Hội thảo cho thấy việc xác lập cơ sở pháp lý một cách rõ ràng về quản lý và chia sẻ lợi ích từ cộng đồng là rất cần thiết vì:
- Cộng đồng cùng tham gia quản lý rừng là một thực tiễn không thể phủ định, dù được thể chế hoá hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại bởi đây là đặc trưng cơ bản của văn hoá và quan hệ cộng đồng vùng cao đã có từ lâu đời
Do đó việc thừa nhận cộng đồng là một chủ thể có pháp nhân luôn có lợi cho công tác quản lý rừng Vấn đề này cần được nghiên cứu và bổ sung vào các
bộ luật để từng bước khẳng định cộng đồng dân cư thôn có đủ tư cách pháp nhân trong quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng
- Sử dụng một phần rừng cho mục đích chung của cộng đồng như cung cấp gỗ làm nhà, giữ nguồn nước, đáp ứng nhu cầu tâm linh, vv…phải được xem là một hình thức hưởng lợi của cộng đồng cần được thể chế hoá một cách
rõ ràng Sử dụng rừng cho mục đích chung của cộng đồng là rất cần thiết
Trang 20trong bối cảnh tương lai và hiện tại khi kinh tế hộ, kinh tế trang trại, sản xuất hàng hoá phát triển có thể là những nguy cơ làm ảnh hưởng đến việc quản lý,
sử dụng và hưởng dụng tài sản chung của cả cộng đồng như đã xuất hiện ở nhiều nơi Thực tế ở nhiều nơi cho thấy cộng đồng hết đất công để dùng cho mục đích chung, không có rừng để bảo vệ nguồn nước của cộng đồng, không
có quỹ công để thực hiện phúc lợi
- Cần có đủ cơ sở pháp lý cho cộng đồng dân cư thôn có tư cách pháp nhân quản lý, sử dụng lâm sản thương mại, nhất là rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng quản lý Những quy định về kỹ thuật trong phương án kinh doanh rừng của cộng đồng cũng cần được sửa đổi sao cho phù hợp với điều kiện của cộng đồng
Kết quả hội thảo là những khuyến cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước
về lâm nghiệp Việt Nam trong quá trình hoạch định cơ chế và chính sách và quản lý phương thức quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở pháp lý tác động đến quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam
Hiện nay, cộng đồng quản lý rừng là một thực tiễn, thực tiễn này đang chỉ ra nhiều hình thái và cách thức cộng đồng tham gia quản lý rừng, trong khi các khía cạnh về mặt pháp lý và chính sách về cơ chế hưởng lợi cho đối tượng cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng đang được từng bước cải thiện nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng Khuôn khổ luật pháp và chính sách của Chính phủ dần được hình thành và tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển
- Luật Dân sự được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2005, quy định: “Cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cả cộng đồng Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng theo thỏa thuận vì lợi ích của cộng đồng”
Trang 21- Luật Đất đai được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành tháng
11 năm 2003 (Gọi tắt là Luật Đất đai 2003) Luật quy định một số điều liên quan đến rừng cộng đồng như sau:
Trong điều 9 khoản 2 của Luật Đất đai có ghi: “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc
có chung dòng họ được Nhà nước giao đất, hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất”; Điều 33 khoản 7 có quy định: “Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất”; Điều 66 khoản 2 “Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng được sử dụng đất ổn định lâu dài”; Điều 71 khoản 4 “Đất nông nghiệp do Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư sử dụng để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số; Các cộng đồng dân cư được giao đất nông nghiệp có trách nhiệm bảo vệ diện tích đất được giao, được sử dụng kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác” và theo Điều 117 khoản 2 “Cộng đồng dân cư sử dụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” Tuy vậy những hướng dẫn cụ thể về việc lập quy hoạch kế hoạch quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn chưa được đề cập đến trong luật này
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành tháng 12 năm 2004 (Gọi tắt là Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004) quy định:
“Nhà nước giao rừng phòng hộ, rừng sản xuất không thu tiền sử dụng đất cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài với tư cách là chủ rừng” Việc cộng đồng dân cư thôn được công nhận là một chủ thể hợp pháp trong việc quản lý rừng và đất rừng đã tạo ra một hành lang pháp lý đảm bảo cho hoạt động quản lý và bảo vệ rừng
Trang 22Tại điều 29 quy định: “Cộng đồng được giao rừng là cộng đồng dân cư thôn có truyền thống gắn bó với rừng trong sản xuất, đời sống, văn hóa, tín ngưỡng; có khả năng quản lý rừng, có nhu cầu và đơn xin giao rừng và việc giao rừng cho cộng đồng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng đã được phê duyệt; phù hợp với khả năng quỹ rừng của địa phương” Khu rừng giao cho cộng đồng dân cư là những khu rừng hiện cộng đồng dân cư đang quản lý, sử dụng có hiệu quả; những khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, phục vụ lợi ích chung khác của cộng đồng
mà không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng để phục vụ lợi ích của cộng đồng
Điều 30 quy định: “Cộng đồng dân cư thôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao rừng được công nhận quyền công nhận quyền sử dụng rừng
ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng; được khai thác sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho các thành viên trong cộng đồng; được sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp theo quy định; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn và được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư khi Nhà nước có quyết định thu hồi”
- Các quyết định, nghị định và thông tư của Chính phủ có liên quan: + Nghị định số 29/CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ đã quy định: Thôn
là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp nhằm giải quyết các công việc nội
bộ trong cộng đồng
+ Quyết định số 13/2002/QĐ - BNV ngày 06/12/2002 của Bộ Nội vụ ban hành về quy chế tổ chức và hoạt động của cộng đồng
- Các Quyết định, Nghị định và Thông tư của Bộ NN&PTNT:
+ Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư
Trang 23thôn Trong đó có hướng dẫn cụ thể về các căn cứ, điều kiện và trình tự thủ tục giao rừng cho cộng đồng (chương II), quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng được Nhà nước giao rừng (chương V), việc lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, xây dựng quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, tổ chức quản lý và giám sát đánh giá việc thực hiện (Chương III,IV,VI,VII)
+ Thông tư số 38/2007/TT - BNN ngày 24/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn Cụ thể là ở mục II phần 5 có hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Cộng đồng dân cư thôn tiến hành họp thôn để thông qua và thống nhất đơn đề nghị Nhà nước giao rừng cho cộng đồng, thông qua kế hoạch quản lý khu rừng sau khi được Nhà nước giao rừng Cộng đồng dân cư thôn nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân
xã sau khi nhận được hồ sơ của cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm thẩm tra điều kiện giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, kiểm tra thực địa khu rừng
dự kiện giao, xác nhận đơn của cộng đồng dân cư thôn và chuyển lên cơ quan chức năng cấp huyện Cơ quan cấp huyện sau khi nhận được hồ sơ từ xã chuyển lên có trách nhiệm xác định đặc điểm khu rừng, lập tờ trình trình Ủy ban nhân dân huyện về việc giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét và quyết định giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn Ủy ban nhân dân cấp xã và cộng đồng dân cư thôn có trách nhiệm thực hiện quyết định giao rừng
+ Công văn số 2324/ BNN - LN ngày 21/8/2007 của Cục Lâm nghiệp
về hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng
+ Quyết định số 434/QĐ - QLR ngày 11/4/2007 của Cục trưởng Cục Lâm nghiệp ban hành bản hướng dẫn xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã và Hướng dẫn giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho
Trang 24cộng đồng dân cư thôn Trong đó nêu rõ nguyên tắc giao rừng cho cộng đồng; căn cứ và điều kiện giao rừng cho cộng đồng; Khu rừng và loại rừng giao cho cộng đồng, trình tự và thủ tục giao rừng cho cộng đồng
Nhìn chung các cơ sở pháp lý trên đây đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Các cơ sở pháp lý trên đã góp phần rất tích cực trong việc hỗ trợ và tạo ra một hành lang pháp lý đảm bảo cho các hoạt động quản lý rừng cộng đồng
Cho đến nay các văn bản pháp luật về đầu tư và tín dụng không quy định cộng đồng dân cư thôn và nhóm hộ là đối tượng được vay vốn đầu tư và hưởng ưu đãi theo luật khuyến khích đầu tư trong nước khi tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp
Các chính sách về hưởng lợi đã được đề cập ít nhiều trong các văn bản liên quan đến giao đất giao rừng trước đây như Nghị định 02/CP ra ngày 15/01/1994, Nghị định 01/CP ra ngày 04/1/1995, Nghị định 163/1999 NĐ-
CP ra ngày 16/11/1999, Quyết định ngày 08/2001 QĐ - TTg ra ngày 11/1/2001 Tuy nhiên, các văn bản chính sách này không quy định các quyền hưởng lợi cho cộng đồng quản lý rừng
Hai văn bản quan trọng quy định chi tiết quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao được thuê và được nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp là quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 178/2001/QĐ - TTg ra ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi nghĩa vụ của hộ gia đình cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và lâm nghiệp (sau đây gọi là quyết định 178) và thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN - BTC của Bộ NN&PTNT và Bộ tài chính ra ngày 03/9/2003 về hướng dẫn thực hiện quyết định 178/2001/QĐ - TTg (sau đây gọi là Thông tư 80) Gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp cộng đồng dân cư nhóm hộ và các tổ chức trong cộng đồng không thuộc phạm vi điều chỉnh của hai văn bản trên
Trang 25Từ các văn bản trên cho thấy, mặc dù cộng đồng được coi là một chủ thể với trách nhiệm rõ ràng trong quản lý rừng, tuy nhiên các văn bản dưới Luật lại chưa quy định rõ việc hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng Ở thực tế hầu hết các cộng đồng thôn bản đều có quy chế/hoặc luật tục quy định việc sử dụng và chia sẻ lợi ích từ việc khai thác tài nguyên từ các khu rừng cộng đồng Các quy chế này thường tự do cộng đồng đề ra (có thể không tham khảo các văn bản pháp quy) hoặc được xây dựng dưới sự hướng dẫn của chính quyền địa phương, kiểm lâm hoặc cán bộ lâm nghiệp thuộc các chương trình 661 hay dự án hỗ trợ của nước ngoài Trong đó thường quy định loại tài nguyên (gỗ, tre nứa, LSNG) và hạn mức khai thác của mỗi loại Ví dụ ở các thôn thuộc xã Yang Mao (Dak Lak) mỗi hộ được phép khai thác không quá
10 m3/năm và cộng đồng được hưởng 100 % sản phảm từ rừng trồng Còn ở một số nhóm cộng đồng thuộc Thừa Thiên Huế lại quy định lượng khai thác không được vượt quá 50 % lượng tăng trưởng Đối với tre nứa và LSNG hầu như người dân thường được khai thác tự do
1.2.2 Những chương trình, dự án về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
Năm 1998 Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã biên dịch tài liệu về Lâm nghiệp cộng đồng cùng Sổ tay cẩm nang Lâm nghiệp cộng đồng do tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO-UNDP) xuất bản về các vấn đề có liên quan đến Lâm nghiệp cộng đồng, như:
“Khái niệm, phương pháp, công cụ phục vụ luận chứng, kiểm tra, đánh giá có sự tham gia của người dân trong LNCĐ”; “Thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng của cộng đồng”… rất hữu ích cho việc nghiên cứu phát triển LNCĐ ở Việt Nam trong giai đoạn tiền phát triển Theo các tài liệu này thì Lâm nghiệp cộng đồng là mọi hoạt động lâm nghiệp được những cá nhân trong cộng đồng thực hiện nhằm tăng các lợi ích mà họ cho là có giá trị Trong hoạt động lâm nghiệp cộng đồng, người trong cuộc được hiểu là những người cùng được xác định nằm trong cộng đồng và có mối quan hệ phụ
Trang 26thuộc vào cộng đồng; người ngoài cuộc là những người có thể tham gia vào một cộng đồng trong một thời gian, nhưng không được xác định với cộng đồng hoặc được cộng đồng xác nhận là thành viên của họ Sự tham gia tích cực của những người trong cuộc và người ngoài cuộc vào tất cả các quyết định có liên quan tới mục tiêu và hoạt động được gọi là sự tham gia Mục đích cơ bản của
sự tham gia là khuyến khích cộng đồng tự quyết, từ đó nuôi dưỡng và phát triển bền vững tài nguyên rừng Thông qua các chương trình, dự án người trong cuộc hoặc cả người trong cuộc và người ngoài cuộc cùng nhau góp sức để đạt được mục đích đã đề ra
- Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển đã cho xuất bản các tài liệu rất hữu ích cho quản lý rừng cộng đồng như: “Điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân, xây dựng kế hoạch ở thôn bản”, “Phát triển Quỹ thôn bản” và tổng quan đào tạo về: “Lập kế hoạch cấp thôn/bản và
hộ gia đình”
- Dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà, chương trình hợp tác với Cộng hòa liên bang Đức cho xuất bản tài liệu “Bộ công cụ PRA cho thôn bản lập kế hoạch phát triển thôn bản” năm 2006 Trong bộ công cụ này có 12 công cụ hướng dẫn từng bước cho người dân địa phương đánh giá được thực trạng, thế mạnh trong sản xuất, những trở ngại, đồng thời thảo luận và tìm ra hướng khắc phục những hạn chế trong điều kiện của thôn bản mình giúp lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch phát triển thôn bản
- Chương trình tài trợ các dự án nhỏ quản lý rừng bền vững rừng nhiệt đới (SGP PTF/UNDP) cho xuất bản Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng -
2007 trong đó có phân tích và hướng dẫn chi tiết về những điều kiện cơ bản trong quản lý rừng cộng đồng; Những cơ sở pháp lý và luật tục tác động đến quản lý rừng cộng đồng và các hoạt động trong quản lý rừng cộng đồng
- Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác xuất bản tài liệu “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương Lâm nghiệp cộng đồng” năm
Trang 272006 Trong đó có trình bày khái quát kinh nghiệm về lâm nghiệp cộng đồng của một số nước Châu Á, tại Việt Nam cẩm nang này cũng đã trình bày, phân tích về các khái niệm, đặc trưng, các tiêu chí nhận biết lâm nghiệp cộng đồng, hiện trạng phát triển, các hình thức quản lý rừng cộng đồng, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng, khuôn khổ pháp lý, điều kiện và các yếu tố tác động đến lâm nghiệp cộng đồng và các chỉ tiêu, phương pháp đánh giá lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam
- Dự án “Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng” - do Cục Lâm nghiệp chủ trì đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý hỗ trợ 40 xã thuộc vùng dự án trong Quản lý rừng cộng đồng Bên cạnh đó cũng đã biên soạn nhiều tài liệu tập huấn và tổ chức các lớp tập huấn với các cấp độ khác nhau nhằm thúc đẩy nhanh và có chất lượng các hoạt động quản lý rừng bền vững cho 90 thôn bản thuộc vùng dự án phát triển như: Tài liệu đào tạo tiểu giáo viên về QLRCĐ; Tài liệu tập huấn hiện trường về QLRCĐ và tài liệu Sổ tay hướng dẫn QLRCĐ Các tài liệu này đang phát huy được giá trị của nó trong việc hỗ trợ và thúc đẩy các cộng đồng xây dựng các hoạt động trong quản lý rừng của mình sau khi được giao rừng; đồng thời các tài liệu này cũng đã đóng góp lớn trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các cán bộ quản
lý lâm nghiệp địa phương cũng như cán bộ xã, thôn về xây dựng các hoạt động quản lý rừng cộng đồng
Các chương trình, dự án trên được coi là các cơ sở kỹ thuật quan trọng trong việc hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam
Tóm lại, những cơ sở pháp lý và cơ sở kỹ thuật về Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam ở trên có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý rừng cộng đồng nhằm mục tiêu bền vững
1.3 Tha ̉ o luâ ̣n
- Tổng quan trên đã cho ta thấy rõ vi ̣ trí quan tro ̣ng của cô ̣ng đồng như thế nào trong quản lý rừng? Quản lý ở đây thể hiê ̣n theo 2 nghĩa: vừa bảo vê ̣ phát triển, vừa hưởng lơ ̣i
Trang 28- Các hình thức quản lý rừng cô ̣ng đồng trong và ngoài nước đã được nêu trên sẽ được đề tài tham khảo để xây dựng nô ̣i dung và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với điều kiê ̣n quản lý rừng cô ̣ng đồng trên đi ̣a bàn ba
tỉnh Yên Bái, Sơn La và Điện Biên
Trang 29Chương 2 MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mu ̣c tiêu tổng quát: Xác đi ̣nh được các nguồn hưởng lợi trong quản lý rừng
cộng đồng làm cơ sở đề xuất các giải pháp để cộng đồng quản lý rừng được bền vững
Mục tiêu cụ thể:
- Xác đi ̣nh đươ ̣c các nguồ n hưởng lơ ̣i từ hỗ trơ ̣ của các dự án
- Xác đi ̣nh đươ ̣c các nguồ n hưởng lơ ̣i từ rừng
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để duy trì và phát triển nguồn hưởng lợi
2.2 Đối tượng, phạm vi, giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu chính là các nguồn hưởng lợi
từ rừng cộng đồng bao gồm tài nguyên rừng cô ̣ng đồng và mô ̣t số dự án hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng được Nhà nước giao ổn định, lâu dài
Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu của luận văn tiến hành ở 3 tỉnh Miền núi phía Bắc gồm Yên Bái, Sơn La và Điện Biên
Rừng cộng đồng được nghiên cứu là:
Rừng tự nhiên được giao cho các cộng đồng (cộng đồng được coi là chủ thể quản lý) chứ không bao hàm các diện tích rừng giao khoán
Chỉ nghiên cứu đối với rừng cộng đồng là rừng sản xuất và rừng phòng hộ Tiêu chí chọn thôn làm địa bàn nghiên cứu:
* Rừ ng trong thôn đã được giao cho cộng đồng dân cư thôn quản lý thể hiện qua quyết định giao đất, giao rừng của Ủy ban nhân dân huyê ̣n ký quyết đi ̣nh giao
* Rừ ng cô ̣ng đồ ng trong thôn không có rừng thuô ̣c đố i tươ ̣ng khai thác theo “Hướ ng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuâ ̣t và thủ tu ̣c khai thác rừng cô ̣ng đồng”
Trang 30trong Văn bản pháp quy và hướng dẫn kỹ thuâ ̣t về quản lý rừng cô ̣ng đồng,
2009, Dự án Chương trình thí điểm lâm nghiê ̣p cô ̣ng đồng (TFF-GA 014-06)
* Cộng đồ ng thôn đươ ̣c dự án hỗ trợ thể hiê ̣n qua văn kiê ̣n của dự án
* Cộng đồ ng dân cư trong các thôn thuô ̣c các dân tô ̣c khác nhau
- Giới hạn nghiên cứu: Đánh giá các nguồn hưởng lợi trong thời hạn thực hiện dự án và thời hạn lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng 5 năm
2.3 Nội dung nghiên cứu
1) Đánh giá các nguồn hưởng lơ ̣i từ hỗ trơ ̣ của các dự án
- Hỗ trợ tiền
- Hỗ trợ nâng cao kiến thức
2) Đánh giá các nguồn hưởng lơ ̣i từ tài nguyên rừng:
- Hưởng lợi từ khai thác gỗ
- Hưở ng lơ ̣i gỗ củi từ chă ̣t nuôi dưỡng
- Hưở ng lơ ̣i từ khai thác LSNG
3) Đề xuất một số giải pháp cơ bản để duy trì và phát triển nguồn hưởng lợi
- Xây dựng Kế hoa ̣ch quản lý rừng cộng đồng
- Xây dựng Quy ước bảo vê ̣ và phát triển rừng
- Thiết lập Quỹ bảo vê ̣ và phát triển rừng và cơ chế quản lý Quỹ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề “Hưởng lợi” phải đặt trong mối quan hệ biện chứng: Quyền lợi - Trách nhiệm của cộng đồng dân cư thôn trong quản lý bảo vệ và phát triển rừng được giao; “Hưởng lợi” là cơ bản, là động lực để nâng cao nhận thức và mở rộng, nâng cao chất lượng các hoạt động trong quản lý rừng
- “Hưởng lợi” thu từ quản lý rừng cộng đồng là chính, do cộng đồng dân cư quyết định và Nhà nước hỗ trợ thông qua chính sách và các chương trình dự án nâng cao năng lực quản lý rừng cộng đồng cho cộng đồng dân cư thôn
Trang 31- “Hưởng lợi” cần tương thích với mức độ phong phú của cấu trúc lâm sinh tài nguyên rừng được giao trên cơ sở đánh giá các nguồn “hưởng lợi” không chỉ từ lâm sản mà “hưởng lợi” còn từ duy trì, phát triển và nâng cao chất lượng quan hệ trong cộng đồng, nâng cao dân trí và cải thiện cảnh quan, môi trường rừng, môi trường thôn bản và giảm thiểu tác động xấu đên xã hội
và môi trường
- “Hưởng lợi” từ quản lý rừng cộng đồng đặt trong phạm trù của lợi ích quốc gia và Nhà nước có trách nhiệm thông qua chính sách, cơ chế điều tiết nguồn kinh phí từ các ngành có liên quan để chi trả cho sòng phẳng và tương thích với trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng
- Triệt để áp dụng phương pháp có tham gia để cộng đồng có cơ hội tham gia vào tất cả các nội dung nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm đồng thời cũng qua sự tham gia đó để chuyển giao nhận thức và kỹ năng điều tra, đánh giá cho cộng đồng
- Các phương pháp cụ thể để thu thập tài liệu và số liệu cần đơn giản, phù hợp với trình độ cộng đồng và kết hợp được giữa khoa học và kinh nghiệm của cộng đồng
2.4.2 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu
1) Chọn các thôn nghiên cứu
- Ba thôn: Thôn Lũng Cọ 2, thuộc tỉnh Yên Bái, bản Lằn thuộc Sơn La
và bản Na Sang II thuộc tỉnh Điện Biên được chọn làm địa bàn nghiên cứu vì
đã đảm bảo được các tiêu chí đặt ra, như:
- Có các dự án trong, ngoài nước hỗ trợ
- Có tài nguyên rừng thuộc rừng sản xuất và rừng phòng hộ cục bộ được Nhà nước giao ổn định, lâu dài (có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trong tài nguyên rừng này có các trạng thái rừng và đất rừng khác nhau, có diện tích để trồng, nuôi dưỡng)
Trang 32- Có các dân tộc khác nhau và có trình độ dân trí khác nhau (để thấy được cách quản lý rừng truyền thống, bản địa khác nhau và khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật trong bảo vệ và phát triển rừng khác nhau của các cộng đồng dân tộc khác nhau)
- Có vị trí tương đối thuận lợi để thông thương, trao đổi với bên ngoài và
vị trí rừng và đất rừng được giao không quá xa khu dân cư của thôn
2) Phương pháp kế thừa tài liệu:
Kế thừa số liệu nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước về chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng cũng như những tài liệu liên quan do các cơ quan có chức năng cung cấp, ban hành Các số liệu tài liệu kế thừa phải đảm bảo được các yêu cầu sau: Chính thống, cập nhật và đầy đủ cũng như độ chính xác theo yêu cầu của chủ đề nghiên cứu
- Các tài liệu kế thừa, bao gồm:
+ Điều kiện cơ bản và bản đồ giao rừng của các cộng đồng thôn bản thuộc địa bàn nghiên cứu
+ Các chính sách, quy định, hướng dẫn của Trung ương có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng
+ Tài liệu có liên quan đến một số dự án hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng như: Dự án Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng (2006 - 2009), Dự án Kfw pha 3 (2007 – 2013 - Nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật quản lý rừng cộng đồng cho cán bộ quản lý Dự án cấp cơ sở và cán bộ cộng đồng dân cư thôn” 3) Phương pháp thu thập số liệu:
- Điều tra, khảo sát hiện trường để thu thập số liệu về trữ lượng, chất lượng tài nguyên rừng, đánh giá tác động môi trường và tác động xã hội trong quản lý rừng cộng đồng làm cơ sở để xác định các nguồn “hưởng lợi” từ tài nguyên rừng quản lý:
Trang 33+ Điều tra trữ lượng, chất lượng tài nguyên rừng: Áp dụng Phương pháp điển hình, mỗi trạng thái rừng lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình, diện tích ô: 500m2, cạnh 20 x 25m Trong ô đo đếm toàn diện các nhân tố: Loài cây; D1.3
(đường kính tại vị trí 1m3 độ cao trên thân cây); Hvn (chiều cao vút ngọn) Bố
trí các ô dạng bản theo tuyến để điều tra cây tái sinh và lâm sản ngoài gỗ (phương pháp điều tra trình bày trong Phụ lục 1)
+ Điều tra tác động môi trường và xã hội: Áp dụng phương pháp điều tra
trên quy mô nhỏ (tự đánh giá không cần các cơ quan có chức năng đánh giá,
các Mẫu phiếu đánh giá trình bày trong Phụ lục 3 và 4)
+ Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng và xây dựng quy ước bảo vệ và
phát triển rừng, quy chế quản lý quỹ bảo vệ và phát triển rừng sử dụng phương pháp có sự tham gia và làm việc theo nhóm
4) Chỉnh lý, tính toán và tổng hợp số liệu:
- Để tính toán trữ lượng và sản lượng gỗ: Áp dụng Phương pháp tính theo số cây và trữ lượng trên cơ sở căn cứ vào các mô hình rừng mong muốn
đã lập cho các tỉnh (Dự án Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng)
- Để đánh giá tác động xã hội và tác động môi trường: Áp dụng phương pháp phân tích định tính với sự tham gia của cộng đồng
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUÂ ̣N
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
3.1.1 Cộng đồng thôn Lũng Cọ 2, tỉnh Yên Bái
a Khái quát điều kiện tự nhiên thôn Lũng Cọ 2
Thôn Lũng Cọ thành lập năm 1969, có tổng diện tích tự nhiên là 597ha, ban đầu có 15 hộ dân, 95 nhân khẩu, chủ yếu là người Dao với những nét văn hóa truyền thống riêng biệt, nhất là các phong tục tập quán liên quan tới việc quản lý bảo vệ rừng Do tăng dân số, người dân lại sống không tập trung nên thôn Lũng Cọ được chia làm 2 thôn: Lũng Cọ 1 và Lũng Cọ 2
* Vị trí địa lý thôn Lũng Cọ 2
Thôn Lũng Cọ 2 nằm cách trung tâm xã Tân Phượng 6 km về phía Đông Nam,
- Phía Đông và Nam giáp xã Lâm Thượng
- Phía Bắc giáp thôn Bó My thuộc xã Tân Phượng
- Phía Tây giáp thôn Khe Bin xã Tân Phượng
* Điều kiện tự nhiên
- Địa hình, địa thế
Thôn Lũng Cọ 2 có địa hình đồi núi cao, độ chia cắt tương đối lớn Độ cao trung bình từ 500 đến 700m, đỉnh cao nhất là đỉnh Đá Đen cao 915m, nơi thấp nhất là 300m
Trang 35Thủy văn: Thôn có suối Làng Cọ chảy qua và có một hệ thống khe đổ vào suối Hệ thống khe suối này có tác dụng rất lớn phục vụ sinh hoạt, sản xuất của người dân trong vùng
* Điều kiện kinh tế, xã hội thôn Lũng Cọ 2
Sản xuất nông nghiệp: Diện tích gieo trồng là 14,1 ha Sản lượng lương thực
có hạt đạt 34,8 tấn/năm, bình quân đầu người đạt 247,0kg lương thực/người/năm Diện tích đất trồng lúa: 5,4ha
Đất trồng cây hàng năm là 8,6ha
Thôn Lũng Cọ 2 có 141 nhân khẩu, 26 hộ Tỷ lệ tăng dân số là 1,1% Toàn thôn có 50 lao động, trong đó lao động trong ngành nông nghiệp chiếm 99% lao động toàn thôn
3.1.2 Cộng đồng bản Lằn, tỉnh Sơn La
a Khái quát điều kiện tự nhiên bản Lằn
Bản Lằn là nơi sinh sống của dân tộc Mường, có 78 hộ Lương thực chủ yếu là gạo tẻ, thu nhập chính là từ trồng ngô
Rừng đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân, cung cấp gỗ, măng tre, cây thuốc, củi đun,…Người dân trong bản có ý thức quản lý, bảo vệ rừng cao, thể hiện thông qua Quy ước cơ sở Bản Lằn
Bản Lằn được giao 228,57ha rừng cộng đồng, với 21 lô rừng, theo quyết định số 890/QĐ-UBND của UBND huyện Phù Yên ngày 31-7-2008 Rừng cộng đồng giao cho bản Lằn có nhiều loại khác nhau, không liền khoảng, nằm rải rác ở quanh bản, xen kẽ với ruộng nương
* Vị trí địa lý
Bản Lằn nằm ở trung tâm xã Mương Do, cách huyện lỵ Phù Yên khoảng 50km, đường nhựa đi lại khá thuận tiện
- Phía Bắc giáp xã Mường Lang;
- Phía Tây giáp bản Kiềng;
Trang 36- Phía Nam giáp bản Do;
- Phía Đông giáp bản Han
* Điều kiện tự nhiên
- Địa hình, địa thế: bản Lằn có địa hình phức tạp bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá, khe sâu và suối
- Khí hậu
+ Nhiệt độ trung bình năm là 23°C, cao nhất là 34°C, thấp nhất là 5°C + Lượng mưa trung bình năm là 1800-2200mm, chiếm 90% lượng mưa
cả năm
+ Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%
+ Số giờ nắng trong năm là 2100 đến 3000 giờ
+ Hướng gió chính là Đông Nam, Đông Bắc và Tây Nam, hàng năm thường hay có gió mùa và rét đậm
Qua số liệu về khí tượng cho thấy khí hậu ở đây không thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cho nhiều loài cây trồng, mùa hạnh khô kéo dài rất nguy hiểm cho công tác phòng và chữa cháy rừng nói riêng và phòng chữa cháy nói chung
Mùa mưa kéo dài đã gây nên hiện tượng xói mòn, rửa trôi tầng đất mặt làm cho đất ngày càng bị bạc màu, đặc biệt là những nơi chưa có rừng, đường giao thông bị sạt lở ảnh hưởng đến vận chuyển hàng hóa và giao lưu bị tắc nghẽn Mùa đông xuất hiện sương mù, sương muối gây ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cây trồng và hoạt động sản xuất kinh doanh của con người, là thời gian thường xuất hiện dịch bệnh
* Hiện trạng dân số, lao động và hạ tầng cơ sở bản Lằn
- Dân số có 366 người, người Mường chiếm 100% Số hộ có 77 và bình quân nhân khẩu hộ là 4,7
Trang 37- Có 2 km đường quốc lộ đi qua, có 4 km kênh mương, có 9 phòng học kiên cố và 4 phòng học tạm
- Đất phi nông nghiệp: 42,50
- Đất chưa sử dụng: 2,41ha đã chuyển sang nương rẫy
3.1.3 Cộng đồng bản Na Sang II, tỉnh Điện Biên
a Khái quát điều kiện tự nhiên bản Na Sang II
* Vị trí địa lý
Bản Na Sang II nằm ở phía Đông Bắc xã Núa Ngam
- Phía Bắc, phía Nam và phía Đông giáp huyện Điện Biên Đông
- Phía Tây giáp bản Na Sang 1 xã Núa Ngam
* Điều kiện tự nhiên
- Địa hình, địa thế: bản Na Sang II có địa hình phức tạp bị chia cắt mạnh bới khe sâu và suối
* Điều kiện kinh tế, xã hội bản Na Sang II
Trang 38Bản Na Sang II là bản của dân tộc Lào (100%), tổng số dân là 310 người, có 60 hộ Bình quân nhân khẩu/hộ là 5,43; tỷ lệ đói nghèo là 21,67% Lương thực chủ yếu là gạo nếp và thu nhập chính là từ trồng ngô trên nương Ngoài ra có các hoạt động sản xuất khác như chăn nuôi trâu bò, lợn và dệt thổ cẩm Rừng đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân: cung cấp măng tre, cây thuốc, củi đun, tre (mỗi năm Na Sang II bán được khoảng vài nghìn cây tre) Nhân dân có ý thức bảo vệ rừng, từ năm 2002 bản đã có Quy ước bảo vệ rừng và có Quy ước nếp sống mới trong đó có điều khoản về bảo vệ rừng
- Giao thông: có 300m đường tỉnh lộ và 300m đường liên xã đi qua
- Có kênh mương dài 5,7km
- Có 1 phòng học và tỷ lệ không biết chữ là 4,52%
- Có 1 y tá thôn
- Kinh tế nông nghiệp là kinh tế chủ yếu của bản, ngoài ra có nghề dệt thổ cẩm
3.2 Nguồn hưởng lợi của cộng đồng từ hỗ trợ của dự án
3.2.1 Dư ̣ án Chương trình thí điểm lâm nghiê ̣p cộng đồng
1) Giớ i thiê ̣u khái quát về Dự án: Đươ ̣c sự hỗ trơ ̣ của Quỹ Ủy thác ngành lâm nghiê ̣p (TFF); Dự án “Chương trình thí điểm lâm nghiê ̣p cô ̣ng đồng” do
Cục Lâm nghiê ̣p tổ chức thực hiê ̣n từ năm 2006 - 2009 với mu ̣c tiêu là xây
dựng và áp du ̣ng thí điểm các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t (trang 3 trong Văn kiện Dự án)
2) Quyền hưở ng lợi của cô ̣ng đồng được nhà nước giao rừng (trang 16) 3) Nhận xét:
- Dự án đã được triển khai 40 xã thí điểm trên phạm vi toàn quốc với các
cộng đồng dân cư khác nhau và hình thức quản lý tài nguyên rừng khác nhau
Trang 39- Dự án đã hỗ trợ nâng cao năng lực cho cô ̣ng đồng trong quản lý rừng về cả 2 mă ̣t: Đào ta ̣o, tâ ̣p huấn và vâ ̣t tư, công thực hiê ̣n
- Đã bổ sung, điều chỉnh các quy phạm pháp luật trong quản lý rừng cộng đồng
Tuy vậy, do cô ̣ng đồng quản lý rừng được giao có quy mô không giống nhau: Diện tích và mức đô ̣ phong phú của tài nguyên rừng khác nhau nên các nguồ n hưở ng lơ ̣i từ dự án và từ tài nguyên rừng khác nhau Đây sẽ là điểm cần thiết mà đề tài cần nghiên cứu để góp phần cu ̣ thể hóa và điều chỉnh các quy phạm quản lý rừng cô ̣ng đồng hợp lý và công bằng
3.2.2 Nguồn hươ ̉ ng lợi từ Dự án Chương trình thí điểm lâm nghiê ̣p
cô ̣ng đồng
a) Hỗ trơ ̣ nâng cao năng lực quản lý rừng thông qua tập huấn kỹ thuật
Mục tiêu của tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng trong quản
lý rừng cộng đồng
* Nội dung tâ ̣p huấn mà dự án đã tiến hành:
- Điề u tra rư ̀ ng cộng đồng, gồm:
+ Hướng dẫn người dân nhận biết lô rừng ngoài hiện trường rừng, làm mốc lô và mô tả lô
+ Xác định các lô rừng gỗ đạt tiêu chuẩn khai thác
Tính số cây khai thác, khối lượng gỗ khai thác và chặt nuôi dưỡng trên 1
lô Sau đó tổng hợp số cây, khối lượng gỗ khai thác
+ Điều tra rừng đối với các lô rừng gỗ đạt tiêu chuẩn khai thác và điều tra rừng tre nứa
+ Tổng hợp các lô rừng theo các biện pháp tác động
- Tập huấn về quản lý rừng cộng đồng
+ Lập kế hoa ̣ch quản lý rừng cô ̣ng đồng, gồm:
Kế hoạch khai thác gỗ, khai thác tre nứa và lâm sản ngoài gỗ
Trang 40Dựa trên trữ lượng gỗ, lâm sản ngoài gỗ tiến hành lập kế hoạch khai thác theo nhu cầu của cộng đồng và theo các tiêu chí kỹ thuật
Kế hoạch trồng rừng
Kế hoạch trồng bổ sung
Kế hoạch nuôi dưỡng rừng
Xác định đối tượng: Là rừng non phục hồi sau nương rẫy (IIA, IIB, IC) Trên các lô này có rất nhiều cây bụi, dây leo và cây thứ yếu làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của các cây gỗ mục đích phục hồi
Xác định tổng diện tích bảo vệ rừng
Xác định biện pháp bảo vệ rừng
Thành lập tổ bảo vệ rừng, các thành viên luân phiên canh gác Làm biển báo đóng ở các vị trí đi vào rừng cộng đồng
Tuyên truyền trong các cuộc họp dân
+ Thiết kế lâm sinh, bao gồ m:
Thiết kế khai thác
Thiết kế nuôi dưỡng rừng tự nhiên
Thiết kế trồng rừng
Thiết kế bảo vê ̣ rừng
+ Xây dựng Quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng
+ Thiết lập Quỹ và quy chế quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng