Còn lại phần lớn các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp vẫn chưa đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định để được FSC cấp chứng chỉ.. Theo ITTO: “Q
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
HOÀNG THỊ THU TRANG
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG, CHUỖI HÀNH TRÌNH SẢN PHẨM VÀ LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TIẾN TỚI CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng vừa là một hiện tượng tự nhiên, vừa là một hiện tượng lịch sử, tài nguyên có thể tái tạo, đóng vai trò mang tính toàn cầu xét cả về khía cạnh kinh tế xã hội và sinh thái học Các tác động của con người đã đang làm rừng bị suy giảm số lượng và chất lượng rừng rõ rệt, các biện pháp truyền thống không thể bảo vệ được diện tích rừng còn lại, nhất là rừng nhiệt đới ở các nước phát triển Tìm kiếm và áp dụng các giải pháp quản lý rừng bền vững (QLRBV), bao gồm chứng chỉ rừng (CCR) là một trong những biện pháp được cộng đồng quốc tế quan tâm nhất hiện nay trong bảo vệ, duy trì và phát triển rừng
QLRBV phải đạt được sự bền vững trên cả ba phương diện kinh tế, môi trường và xã hội Đối với mỗi quốc gia, đó là nhận thức về các giải pháp bảo vệ mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng Đối với chủ rừng đó còn là nhận thức về quyền xuất khẩu lâm sản của mình vào mọi thị trường quốc tế với giá bán cao CCR chính là sự xác nhận bằng văn bản cho chủ rừng đáp ứng được các tiêu chuẩn và tiêu chí QLRBV Chứng chỉ do Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) cấp là một trong những CCR rất được quan tâm hiện nay
Sử dụng các sản phẩm từ gỗ có CCR và tẩy chay các mặt hàng không có nguồn gốc xuất xứ là cách để người tiêu dùng thể hiện thái độ tích cực với rừng Ở một số quốc gia, các hệ thống bán lẻ đang gia tăng yêu cầu cung cấp gỗ đã được chứng chỉ, bắt buộc nhiều tổ chức và Công ty trong mạng lưới lâm sản toàn cầu cam kết sản xuất và buôn bán gỗ Kiểm chứng từng bước trong chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) sẽ giúp cho đơn vị chứng minh được với người tiêu dùng về nguồn gốc thực sự của sản phẩm của mình có chứng chỉ hay không Đánh giá hệ thống CoC bao gồm từ khâu khai thác, chế biến, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, là yêu cầu bắt buộc với việc dãn nhãn và bán sản phẩm từ gỗ có chứng chỉ FSC, đặc biệt khi đơn
vị xuất khẩu gỗ sang các thị trường Châu Âu, Anh và các quốc gia khác
Tài liệu cơ bản để FSC chứng nhận quản lý rừng cho chủ rừng là Bộ tiêu chuẩn QLRBV gồm 10 tiêu chuẩn và 56 tiêu chí QLRBV đòi hỏi chủ rừng phải lập
kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) chi tiết, rõ ràng và giám sát chặt chẽ các hoạt
Trang 3động lâm nghiệp Tất cả các hoạt động từ xây dựng, phát triển rừng đều tuân theo
kế hoạch được lập, trong đó kế hoạch khai thác giữ vai trò quan trọng nhất
Nhìn nhận trên thế giới, nhiều nước đã khá thành công trong việc cấp CCR Ở Việt Nam khái niệm QLRBV còn khá mới mẻ với nhiều đơn vị lâm nghiệp Tính tới tháng 5/2010, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứng chỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC về QLRBV cho Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn [26] Còn lại phần lớn các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp vẫn chưa đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định để được FSC cấp chứng chỉ Bên cạnh đó các đơn vị chưa nhận được một hướng dẫn cụ thể về việc tiến hành đánh giá các tiêu chuẩn QLR và tiêu chuẩn CoC
Công ty lâm nghiệp Yên Sơn là đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc tỉnh Tuyên Quang Nhận thức được cần quản lý rừng theo hướng tiên tiến, Công ty mong muốn được đánh giá quản lý rừng và chuỗi hành trình sản phẩm tiến tới CCR Công ty cũng cần được tư vấn, hỗ trợ phương pháp đánh giá để xác định được những tiêu chuẩn chưa đạt, điều chỉnh hoạt động lâm nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn và tiêu chí QLRBV Để góp phần giải quyết những tồn tại trên cả về mặt lý
luận và thực tiễn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi
hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại Công ty lâm nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Phát triển bền vững không chỉ là sự phát triển trên các mặt kinh tế xã hội (KTXH) mà còn phải đặc biệt chú trọng đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trong đó tài nguyên rừng - nguồn tài nguyên có tác động to lớn với đời sống con người - cần được áp dụng các giải pháp để quản lý tốt nhằm cung cấp ổn định và lâu dài các lợi ích cho con người
Các cuộc tranh luận lớn giữa các bên đấu tranh cho lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nổ ra đầu những năm 1980 thể hiện mối quan tâm về tình trạng rừng trên thế giới Các sáng kiến để giảm diện tích phá rừng khi đó không có hiệu quả Vào cuối những năm 1980, việc tẩy chay gỗ nhiệt đới gặp thất bại, trong một
số trường hợp lại gây ra hiệu ứng ngược Hội nghị Thượng đỉnh thế giới tại Rio de Janerio năm 1992 đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có một cơ chế hiệu quả quản lý rừng Thay vì việc tẩy chay trước đó, họ đã muốn sử dụng thị trường để thúc đẩy lợi ích xã hội, môi trường và hiệu quả kinh tế trong quản lý [25] Lần đầu tiên, những nhà môi trường, xã hội và kinh tế đã cùng nhau tham gia một chương trình quốc tế bình đẳng và thành lập Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) Cho đến nay, FSC vẫn là một môi trường bình đẳng, thống nhất ý kiến chung cho các nhóm lợi ích khác nhau
Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập: PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (tổ chức quốc tế
về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều
Trang 5hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED, Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES); Công ước đa dạng sinh học (CBD) Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa
ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO
và trong tiến trình Hensinki
Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn
định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”
Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất
rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia
và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”
Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn đề chính là: quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững
về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV là:
- Có khuôn khổ chính sách và pháp lý
- Sản xuất lâm sản bền vững
- Bảo vệ được môi trường
- Đảm bảo lợi ích con người
- Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp
Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia (Canada, Malaysia, Indonexia ) và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal FSC và ITTO đã có bộ tiêu của quản lý rừng được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước
Trang 61.1.1 Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và các tiêu chuẩn QLRBV
FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng lớn trên toàn thế giới FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto – Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các
cơ quan cấp chứng chỉ Năm 1994 các thành viên sáng lập đã thông qua các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC, cùng với Quy chế FSC (ngày nay gọi là By-Laws) áp dụng đánh giá cho rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn – Đức Cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng
FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm
xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC
FSC ủy quyền cho 10 cơ quan trên thế giới cấp chứng chỉ có trụ sở tại Anh,
Mỹ, Hà Lan, Đức, Canada, Nam Phi, Thụy Sĩ Tại Châu Á – Thái Bình Dương, Công ty SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp CCR
Các lợi ích FSC tạo ra:
- Lợi ích về môi trường: Đảm bảo cho tất cả mọi người tham gia vào
thương mại lâm sản rằng các đóng góp của họ sẽ giúp đỡ việc bảo tồn hơn là hủy diệt rừng, con người và cuộc sống thông qua các hoạt động
1 Bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất…
2 Duy trì các chức năng sinh thái và thể thống nhất của rừng
3 Bảo vệ các loại động, thực vật quý hiếm và môi trường sống của chúng
- Lợi ích về xã hội: Đảm bảo quyền con người được tôn trọng Nhiệm vụ chính
là yêu cầu có sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan khi xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia hay khu vực
- Lợi ích về kinh tế: Đó là chủ rừng cần phải cố gắng đạt được cách sử
dụng tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến
Trang 7FSC xây dựng 10 tiêu chuẩn cho QLRBV Từ các tiêu chuẩn đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các bộ tiêu chuẩn quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình Các bộ tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó
CCR được áp dụng cho tất cả các đơn vị quản lý rừng với các quy mô lớn nhỏ bất kể là sở hữu nhà nước hay tư nhân Đây là một quá trình hoàn toàn tự nguyện của các chủ rừng Tuy nhiên, đánh giá cấp CCR chỉ được áp dụng cho các đơn vị đang quản lý rừng sản xuất và đang hoạt động quản lý kinh doanh Để được cấp CCR của FSC, chủ rừng phải chứng minh họ đã đáp ứng tất cả các quy tắc, tiêu chuẩn trên Thực chất CCR chính là chứng chỉ chất lượng ISO, là hiệu quả cuối
cùng của QLRBV, được FSC đề cập như là một “công cụ hữu hiệu, giúp cải thiện
quản lý rừng của thế giới” và “là công cụ chính sách mạnh mẽ nhất” trong quản lý
rừng Khi được cấp CCR, chủ rừng sẽ được:
- Xuất khẩu lâm sản vào mọi thị trường khắt khe trên thế giới kể cả Tây Âu
và Bắc Mỹ với giá bán cao hơn
- Rừng cùng với môi trường sinh thái và xã hội có liên quan đến rừng sẽ được giữ gìn, bảo vệ và phát triển tốt hơn
Bên cạnh đó, các đánh giá định kỳ của cơ quan cấp chứng chỉ sẽ giúp chủ rừng tìm ra các điểm mạnh, yếu trong hoạt động kinh doanh của mình
- CCR của FSC giúp bảo vệ thương hiệu và uy tín của chủ rừng với đối tác kinh doanh, các tổ chức tài chính và các tổ chức cơ quan giám sát Các tiêu chuẩn FSC hợp lệ trên toàn thế giới, là tiêu chuẩn duy nhất không có rào cản đối với tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
FSC có hệ thống chứng nhận duy nhất được hỗ trợ bởi tất cả các nhóm môi trường Các nước Mỹ, Úc chỉ chấp nhận CCR của FSC bởi chỉ có FSC quy định:
* Cấm chuyển đổi rừng tự nhiên hoặc môi trường sống khác
* Nghiêm cấm việc sử dụng thuốc trừ sâu rất độc hại trên toàn thế giới
* Nghiêm cấm việc trồng cây biến đổi gen
Trang 8* Tôn trọng quyền của người dân bản địa trên khắp thế giới
* Kiểm soát từng hoạt động chứng nhận ít nhất một năm một lần - và nếu bị được phát hiện là không phù hợp thì giấy chứng nhận bị thu hồi
1.1.2 Các loại chứng chỉ của FSC
Có hai loại chứng chỉ do FSC cấp:
- Chứng chỉ quản lý rừng FSC/FM (FSC forest management certification)
- Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC (FSC chain of custody
certification )
Trong quá trình đánh giá cấp chứng chỉ sẽ có hoạt động kiểm soát gỗ (FSC
Controlled Wood)
1.1.2.1 Chứng chỉ quản lý rừng FSC/FM
FSC không đánh giá cấp chứng chỉ Quá trình đánh giá được thực hiện bởi
tổ chức độc lập gọi là cơ quan đánh giá quản lý rừng Họ đánh giá quản lý rừng đối với các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC cũng như các tiêu chuẩn quốc gia Điều này cho phép FSC vẫn độc lập với quá trình đánh giá và hỗ trợ tính toàn vẹn của hệ thống chứng nhận FSC
Các tiêu chuẩn của FSC:
Tiêu chuẩn 1: Phù hợp với tất cả điều luật và công ước quốc tế
Tiêu chuẩn 2: Quyền và trách nhiệm sử dụng đất
Tiêu chuẩn 3: Quyền người dân sở tại
Tiêu chuẩn 4: Quan hệ công đồng và quyền của công nhân
Tiêu chuẩn 5: Những lợi ích từ rừng
Tiêu chuẩn 6: Tác động môi trường
Tiêu chuẩn 7: Kế hoạch quản lý
Tiêu chuẩn 8: Giám sát và đánh giá
Tiêu chuẩn 9: Duy trì những rừng có giá trị bảo tồn cao
Tiêu chuẩn 10: Rừng trồng
Các tiêu chuẩn về xã hội là tiêu chuẩn 2, 3, 4, 5
Các tiêu chuẩn về môi trường là tiêu chuẩn 6, 7, 9
Các tiêu chuẩn về tuân thủ luật pháp là tiêu chuẩn 1 và 2
Trang 9Các quá trình giám sát và quản lý là tiêu chuẩn 8, nguyên tắc này cũng liên quan đến chuỗi hành trình sản phẩm
Các khu rừng trồng: tiêu chuẩn 10
Các tiêu chuẩn liên quan đến kinh tế: tiêu chí và chỉ số của tiêu chuẩn được thể hiện rõ ở hai nội dung đầu nhưng tiêu chuẩn kinh tế của nó lại không được thể hiện rõ: giá chuyển đổi, giá cố định, hoạt động xã hội và môi trường có thể bị ảnh hưởng bởi giá chuyển đổi trong ngành Các tiêu chuẩn có liên quan: 5, 7 và 8
Nếu chủ rừng tuân thủ đầy đủ các yêu cầu FSC, FSC sẽ trao chứng chỉ Nếu chủ rừng còn thiếu một số điều kiện, chủ rừng phải hoàn thành chúng trong một thời gian cụ thể trước khi nhận chứng chỉ
FM cũng được cấp cho rừng trồng thể hiện ở tiêu chuẩn 10
Để thương mại lâm sản với logo FSC và yêu cầu bồi thường, người quản lý rừng phải có chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm Nó đảm bảo rằng sản phẩm có nguồn gốc từ một khu rừng đã được cấp chứng chỉ cho người tiêu dùng
1.1.2.2 Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC
Với bất kỳ một chương trình cấp CCR nào việc xem xét mối liên hệ của một sản phẩm gỗ từ một khu rừng được cấp chứng chỉ đến khi được chế biến thành sản phẩm cuối cùng và được đem tiêu thụ tại thị trường là một việc rất cần thiết vì nó
cung cấp các cơ sở cho việc dán nhãn sản phẩm Khái niệm này được gọi là chuỗi
hành trình sản phẩm (Chain of Custody) - CoC
Theo quy định của đánh giá CoC thì việc kiểm soát nguồn gốc gỗ phải thông suốt liên kết nhau thành một chuỗi thành các công đoạn cơ bản: từ rừng, đến vận chuyển gỗ về nhà máy, cưa xẻ, sấy, lắp ráp, lưu kho và phân phối Hệ thống CoC sẽ
hỗ trợ đơn vị kinh doanh lâm nghiệp:
- Bảo đảm về các sản phẩm gỗ bán ra và nguồn gốc của gỗ
- Cải thiện các hệ thống tài liệu nội bộ của đơn vị và giúp đơn vị chuẩn bị để đạt được chứng chỉ ISO hoặc chứng nhận khác
- Nếu là Công ty chế biến gỗ, hệ thống CoC có thể giúp cải thiện hiệu quả sản xuất của nhà máy và giúp cho việc sử dụng số vốn đầu tư vào gỗ nguyên liệu hiệu quả hơn
Trang 10- Đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về hệ thống CoC
- Hệ thống CoC đã hoặc sẽ là yêu cầu bắt buộc đối với các sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Châu Âu, Anh và các quốc gia khác
- Hệ thống CoC là yêu cầu cần thiết đối với việc dán nhãn và bán sản phẩm làm từ gỗ được chứng chỉ
Có thể nói chứng chỉ CoC được coi là công cụ chủ yếu đấu tranh với việc khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu
Các tiêu chuẩn FSC áp dụng chứng nhận FSC-CoC hiện đang áp dụng:
Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-004 (Ver 02) - Tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm đối với các Công ty cung cấp và chế biến sản phẩm có chứng nhận FSC
Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-005 (Ver 02) - Tiêu chuẩn FSC dành cho các Công ty đánh giá nguồn gỗ có kiểm soát FSC
Tiêu chuẩn: FSC-STD-30-010 (Ver 02) - Tiêu chuẩn gỗ có kiểm soát FSC dành cho các tổ chức quản lý rừng
Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-201(Ver 02) - Các yêu cầu dán nhãn FSC trên sản phẩm
Liên minh Châu Âu EU gần đây giới thiệu 1 hệ thống giấy phép là một phần của công tác tăng cường hiệu lực luật rừng Dây chuyền cung cấp sản phẩm gỗ từ rừng thông qua việc vận chuyển, lưu kho và chế biến được công khai và kiểm tra tới tận biên giới của EU Còn với các nước nhiệt đới, hệ thống theo dõi hành trình dựa trên giấy tờ thông thường với các nhãn vật lý trên sản phầm gỗ, gần đây các hệ thống thuận lợi hơn đã được phát triển chứng tỏ tính hiệu quả và đáng tin cậy của dây chuyền cung cấp
Một hệ thống CoC được cấp chứng chỉ của FSC phải đáp ứng 5 yêu cầu: 1) Yêu cầu về hệ thống chất lượng
2) Yêu cầu về nguồn cung cấp nguyên liệu
3) Yêu cầu về kiểm tra sản xuất nội bộ; và ghi chép tư liệu
4) Yêu cầu về sản phẩm và dán nhãn sản phẩm
5) Yêu cầu về lưu trữ tài liệu thông tin
Trang 11Trên thị trường có một số hình thức CoC, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu
mà doanh nghiệp sở hữu (mua vào và xuất ra) Hình thức CoC được lựa chọn sẽ quyết định việc xây dựng và thực hiện hệ thống CoC cho doanh nghiệp đó Quy trình FSC có hai hình thức chính là:
- Doanh nghiệp sử dụng 100 % nguyên liệu có đã được chứng chỉ
- Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có sử dụng một tỷ lệ % nguyên liệu chưa có chứng chỉ FSC trộn lẫn với nguyên liệu đã có chứng chỉ
Tuy nhiên, cho dù đơn vị sản xuất 100% gỗ đã được chứng chỉ và sản xuất
riêng gỗ chưa có chứng chỉ thì việc xác nhận và truy tìm nguồn gốc (identification
and traceability) vẫn phải bắt buộc được thực hiện
Ở Brazil hệ thống kiểm tra của Chính phủ sử dụng để thầm tra tính hợp pháp
và nguồn gốc gỗ, sản phẩm gỗ dựa 2 văn bản chính thức và bắt buộc sau: + Giấy phép của Cơ quan khai thác (AUTEX): Văn bản này xác định thể tích gỗ tròn, theo loại cây mà một doanh nghiệp khai thác gỗ được phép lấy ra từ 1 đơn vị sản xuất [24]
+ Giấy phép của cơ quan vận chuyển lâm sản (ATPF): ATPF được phát hành từng kỳ có đánh số để cấp cho việc vận chuyển gỗ và sản phẩm gỗ Mỗi chuyến hàng phải được kèm theo 1 ATPF, được áp dụng cho gỗ sơ chế được vận chuyển tới nơi tinh chế hoặc tới người tiêu thụ cuối cùng
Ở Cameroon việc kiểm tra trước khi khai thác là nền tảng thành lập hệ thống
chuỗi hành trình của Chính phủ Công ty khai thác hoàn thành bản đăng ký khai thác DF10 nêu tên Công ty, đơn vị quản lý rừng và dữ liệu về gỗ riêng lẻ như loại cây, đường kính (ngọn, gốc, trung bình), chiều dài, thể tích và giá trị
Ở Malaysia: Tất cả các rừng bảo tồn ở Peninsular Malaysia và một vài khu
rừng trồng ở Sabah và Sarawak đã được cấp chứng chỉ, chủ yếu bởi Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia Với các khu vực được chứng chỉ, rất dễ theo dõi gỗ tròn tới tận gốc đốn, ở các rừng khác, gỗ tròn có thể được theo dõi tới vùng được chứng chỉ, tại đó gỗ đã được khai thác
Trang 12Các vùng được cấp chứng chỉ để khai thác đều được phân ranh giới rõ ràng trên mặt đất (để tránh khai thác vượt phạm vi) và đã tiến hành kiểm tra để xác định trữ lượng và sự phân bố loài cây Cây bị đổ và để lại được đánh dấu và gắn thẻ để cung cấp các phương thức khác kiểm tra đầu ra Ở vùng được cấp chứng chỉ, gốc cây được đánh số vì vậy gỗ tròn có thể theo dõi đến tận gốc
Hiện nay, ITTO đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương pháp cải tiến phù hợp luật pháp Các Công ty gỗ được khuyến khích giới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều này còn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát
1.1.2.3.Kiểm soát gỗ (FSC Controlled Wood)
Mặc dù thị phần sản phẩm FSC liên tục tăng trưởng, nhưng nguồn nguyên liệu có chứng chỉ cung cấp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu Tạo điều kiện cho các nhà sản xuất cung cấp các sản phẩm có gắn nhãn FSC, FSC đã giới thiệu loại nhãn
“FSC Mixed Sources”, cho phép doanh nghiệp sản xuất được pha trộn nguyên liệu
được chứng chỉ FSC với nguyên liệu không có chứng chỉ Phần nguyên liệu không
có chứng chỉ phải thực hiện đúng theo các tiêu chuẩn kiểm soát được gọi là FSC Controlled Wood, phải tránh năm nguồn gốc sau:
- Gỗ khai thác trái phép
- Gỗ khai thác vi phạm các quyền truyền thống
- Gỗ khai thác trong rừng được chứng nhận có giá trị bảo tồn cao (đặc biệt có giá trị cần bảo vệ) và đang bị đe dọa
- Gỗ khai thác từ rừng tự nhiên chuyển đổi
- Gỗ khai thác từ những cây biến đổi gen
Trang 13Hình 1.1: Biểu đồ cơ cấu chứng chỉ FSC/FM trên thế giới
(Nguồn: Global forest and forest certifical short overview and forest
certification in Vietnam, Lê khắc Côi, 2008) [3]
Diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ chủ yếu tại Châu Âu (47%), Bắc Mỹ (35%), sau đó là Nam Mỹ (11%), trong đó Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương tổng chỉ được 7% Tuy nhiên trong tương lai, Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương sẽ là khu vực rộng lớn đề FSC đánh giá cấp CCR
Hình 1.2: Biểu đồ số lượng chứng chỉ CoC từ năm 2007 đến nay
(Nguồn: Global FSC Certificates 2010-01-15, 2010) [22]
Trang 141.1.2.4 Lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR)
Lập KHQLR là một hoạt động không thể thiếu trong QLRBV, là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý một khu rừng
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất của UNICED năm 1992 nhận định “nguồn
tài nguyên rừng và đất rừng chỉ được quản lý bền vững khi đáp ứng được nhu cầu
về kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần của loài người trong thời điểm hiện tại và cho cả các thế hệ mai sau” QLRBV đòi hỏi một phương pháp lập kế hoạch quản lý
rừng lồng ghép và việc giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp với các nhiệm
vụ chính là:
+ Đánh giá tiềm năng nguồn rừng
+ Khảo sát chuyên đề: đa dạng sinh học và đánh giá tác động xã hội để xác định vùng có giá trị bảo tồn cao
+ Lập bản đồ chức năng rừng
+ Khoanh vùng rừng thành khu vực sản xuất và khu bảo vệ
+ Điều tra quản lý rừng và tính khối lượng được phép khai thác hàng năm + Viết kế hoạch điều chế rừng trung hạn
+ Lập kế hoạch triển khai
+ Thực hiện và giám sát kế hoạch từng lô
+ Đánh giá nội bộ các hoạt động lâm nghiệp và tiến độ thực hiện giữa kỳ + Đánh giá độc lập về tính bền vững
1.1.3 Các tổ chức cấp chứng chỉ rừng khác
Bên cạnh CCR do FSC cấp, cũng có nhiều quy trình CCR được khởi thảo
như quy trình CCR như PEFC (Chương trình chứng nhận các tổ chức CCR) Ở
Châu Á cũng có các Chương trình chứng chỉ quốc gia như Hội đồng chứng chỉ gỗ
(MTCS) ở Malaysia, Viện dán nhãn sinh thái Lambaga (LEI) ở Indonesia
PEFC là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận được thành lập vào năm
1999, khuyến khích QLRBV thông qua chứng chỉ độc lập của bên thứ ba PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV
Trang 15Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS) bắt đầu hoạt động vào tháng 10 năm 2001, sử dụng phương pháp theo từng giai đoạn khi ngày càng nhiều thách thức lớn trong quản lý các khu rừng nhiệt đới phức tạp MTCS sử dụng tiêu chuẩn của Malaysia và các tiêu chí bao gồm 9 quy tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu chí MTCS
có 10 thành viên, chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Malaysia với diện tích rừng được chứng nhận là 4,8 triệu ha
Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indonesia (LEI) được thành lập năm 1994 là một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không phải là cơ quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan thừa nhận một cách chính thức các cơ quan cấp chứng chỉ ở Indonesia Hiện tại LEI đã cấp 5 giấy chứng nhận cho rừng tự nhiên gồm 885.000 ha và một cho rừng trồng với 159.000 ha
Như vậy, rõ ràng CCR ở khu vực Nam Mỹ, Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Phi tiến rất chậm, diện tích được chứng chỉ chiếm diện tích rất nhỏ, chủ yếu là chứng chỉ FSC Phần lớn các nước trong các khu vực này kém phát triển, quản lý rừng còn ở trình độ thấp, các chủ rừng không có đủ nguồn lực cải thiện quản lý rừng để đạt tiêu chuẩn CCR, chi phí cho CCR cũng là một yếu tố hạn chế
1 2 Tại Việt Nam
Khái niệm “bền vững” được thế giới sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 18 là
tiền đề cho QLRBV sau này, thì đến mãi cuối thế kỷ 20 Việt Nam mới dùng khái
niệm “điều chế rừng” để quản lý, kinh doanh lâm nghiệp Đến nay, khái niệm này
vẫn được coi là công cụ truyền thống để quản lý rừng theo phương án điều chế thực hiện theo những quy định trong Quyết định 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác
1.2.1 Tổ công tác quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG)
Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức quốc
tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh Tổ Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài
Trang 16trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng)
Các hoạt động chủ yếu của NWG là:
- Dựa trên cơ sở 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần 9 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang
dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dân cứ sống trong rừng, gần rừng
- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp
- Đánh giá chất lượng quản lý rừng khu rừng
- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện
1.2.2 Các chính sách chính liên quan QLRBV
Năm 2001, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (NFS) giai đoạn 2001-2010 đã xác định quản lý và phát triển rừng theo hướng bền vững là hướng đi chủ chốt Vào đầu năm 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 30% (8,4 triệu ha) diện tích rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ
Như vậy, các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Điều này được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây:
Trang 17+ Luật Đất đai, năm 2003 quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng các
nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Điều 11)
+ Luật Bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004: Điều 9 đã quy định các hoạt
động để đảm bảo QLRBV: Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo PTBV về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển KTXH, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định
+ Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005; trong Chương IV: Bảo tồn và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những quy định liên quan tới QLRBV thuộc các lĩnh vực: điều tra, đánh giá, lập quy hoạch
sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ
và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch
+ Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính
phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý và
phát triển rừng bền vững” với mục tiêu “đến năm 2020, thiết lập, quản lý, bảo vệ,
phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu hecta đất qui hoạch cho Lâm nghiệp ”
Đây là một mục tiêu đầy tham vọng và để đạt được mục tiêu này cần thiết phải xác lập được những định hướng mới trong phát triển nguồn lực trong QLRBV thông qua các chương trình đào tạo, hợp tác và nghiên cứu 5 chương trình trọng điểm của Chiến lược là:
(1) Quản lý và phát triển rừng bền vững (QLRBV)
(2) Bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH và phát triển dịch vụ môi trường
(3) Chế biến thương mại lâm sản
(4) Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm
(5) Đổi mới thể chế chính sách, kế hoạch, giám sát ngành
Trang 181.2.3 Một số hoạt động QLRBV
1.2.3.1 Ở cấp trung ương
-Tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự hỗ trợ
Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG Đông Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh
- Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010
- Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau năm 2010
- Xây dựng các điều kiện QLRBV và CCR với các hoạt động trong giai đoạn 2006-2010 gồm: tiếp tục dự án 661; ra soát và quy hoạch lại 3 loại rừng; quy hoạch
sử dụng đất vĩ mô
1.2.3.2 Ở địa phương
Dựa trên thực tiễn, NWG tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình độ quản lý của các đơn vị Hiện nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện:
+ Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum) 2000- 2002 do JICA tài trợ
+ Dự án hỗ trợ lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Sơ pai (Gia Lai) do WWF Đông Dương tài trợ
+ Chương trình lâm nghiệp của GTZ, hợp phần QLRBV đang hỗ trợ 5 lâm trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là Ma-Drak và Nam Nung (Đắc Lắk) đã
mở rộng ra 3 lâm trường khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái từ 2007-2009
+ Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của TFT tại Việt Nam không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị quản lý rừng như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương sơn (Hà Tĩnh), hành lang vùng đệm 2 VQG Kông Ka Kinh và Kông Cha Răng
+ Tổ chức QLRBV và CCR theo nhóm hộ gia đình thuộc dự án trồng rừng WB3 tại 4 tỉnh miền Trung, từ năm 2008
Trang 19Đặc biệt đối với vùng trọng điểm 4 tỉnh Tây Nguyên, nơi còn khai thác nhiều
gỗ nhất từ rừng tự nhiên, cũng là nơi diện tích và chất lượng rừng bị suy giảm nhiều nhất ở Việt nam, NWG, Cục Lâm nghiệp cùng WWF và Vụ chính sách đã có các hội thảo để từng tỉnh tự đánh giá hiện trạng quản lý rừng của các lâm trường theo các tiêu chí của bộ tiêu chuẩn QLRBV (Buôn Ma Thuột 2001), và hội thảo xây dựng chương trình cải cách tổ chức quản lý lâm trường theo Quyết định 187/TTg của Thủ Tướng Chính phủ (Pleiku 2002) và chọn ra 4 Công ty lâm nghiệp quản lý tốt từ mỗi tỉnh đưa vào mạng lưới mô hình QLRBV là CTLN Kong Plong, Lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Dak N’tao, Lâm trường Bảo Lâm
CCR đang là cơ hội và thách thức cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ Gần đây, hàng loạt đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất nhiều Công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang
có nhu cầu tự thân tham gia quá trình QLRBV cần hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh giá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song mới chỉ nhận được 1 chứng chỉ FSC về QLR Đó là Công ty TNHH trồng rừng Quy Nhơn (QPFT) với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình Định Hiện tại Công ty QPFL khai thác gỗ từ rừng trồng mỗi năm 60.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo
lá tràm, Keo tai tượng, Keo lai và Bạch đàn trắng Trong tương lai, dự kiến khối lượng gỗ khai thác ổn định vào khoảng 120.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo lai QPFL đồng sở hữu Nhà máy dăm gỗ quy mô trung bình (Tập đoàn dăm gỗ Bình Định - BDC) đặt tại thành phố Quy Nhơn Sản lượng khai thác gỗ hàng năm như trên được cung cấp cho BDC để chế biến thành dăm gỗ và xuất khẩu dựa trên kế hoạch quản
lý rừng được lập Bên cạnh việc bán gỗ với giá cao doanh nghiệp cũng đã thay đổi thái độ với rừng và môi trường
Năm 2008, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng cũng thực hiện
đánh giá rừng độc lập về quản lý rừng trồng của mô hình chứng chỉ rừng “theo
nhóm” của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp
chung diện tích rừng trồng hợp thành Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp CCR Qua đánh giá, kết quả cho thấy: các hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam ở các mức độ khác nhau Các khiếm khuyết
Trang 20trong quản lý rừng có thể khắc phục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp, nên việc sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch.[6]
Để lấy được chứng chỉ FSC cần một quá trình lâu dài Việc kiểm soát gỗ của FSC được coi là một giải pháp để hộ trỡ các chủ rừng, đặc biệt là CTLN, các đơn vị sản xuất kinh doanh nhỏ đạt được một phần kết quả của quá trình cấp chứng chỉ trong thời gian ngắn Đối chiếu với tình hình thực tiễn của Việt Nam, chủ rừng cần thực hiện 9 yêu cầu để được xem xét cấp chứng chỉ CoC:
1) Các quy định về duy trì riêng rẽ gỗ tròn có chứng chỉ FSC
2) Quy định về ghi chép, theo dõi khối lượng gỗ có FSC và bán hàng
3) Quy định về viết hóa đơn xuất gỗ FSC
4) Các thông tin trên hóa đơn
5) Nhân viên phụ trách quản lý và bán gỗ FSC
6) Biểu mẫu sử dụng theo dõi và bán gỗ FSC
7) Các quy định về duy trì chứng từ liên quan đến CCR
8) Các tài liệu cần lưu trữ
9) Tập huấn
Tính đến ngày 14/5/2010, số doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ FSC/CoC tăng dần, cả nước đã có 205 doanh nghiệp, đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của FSC/CoC và đang chủ động thích ứng với những đạo luật mới về xuất khẩu gỗ vào thị trường Mỹ và EU
Kế hoạch quản lý rừng bao gồm nhiều nội dung nhưng vấn đề quản lý khai thác giữ vai trò quan trọng nhất Tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủ rừng phải xây dựng KHQLR và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính sau:
Trang 21+ Sự an toàn môi trường trên cơ sở những đánh giá về môi trường
+ Những kế hoạch bảo vệ các loài quý hiếm đang có nguy cơ
+ Những bản đồ mô tả tài nguyên rừng kể cả rừng bảo vệ, những hoạt động trong kế hoạch, và sở hữu đất
+ Mô tả và biện luận về kỹ thuật khai thác và những thiết bị sử dụng
1.2.2.3.Đánh giá việc xây dựng kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam
Ngày 19/7/1989 Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Chỉ thị 15-LSCNR về công tác xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản cho các lâm trường, trong đó hướng dẫn việc xây dựng phương án và quy định kể từ 1991 việc khai thác, quản lý khai thác phải căn cứ vào phương án điều chế Sở dĩ chỉ xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản là do thiếu kinh phí, không có điều kiện xác định chính xác tài nguyên rừng, các cơ sở khoa học để xác định các chỉ tiêu liên quan đến khai thác còn chưa được nghiên cứu đầy đủ mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Trong phương
án của một lâm trường đã thể hiện được 3 nội dung chủ yếu sau:
Phần hiện trạng
- Vị trí địa lý
- Hiện trạng tài nguyên rừng, đất đai
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
- Tình hình quản lý kinh doanh rừng 5 năm trước đây
Phần quy hoạch
- Phân chia các tiểu khu theo rừng phòng hộ và rừng sản xuất
- Phân chia thành các phân trường hoặc đội sản xuất
- Xác định các biện pháp tác động: khai thác, trồng rừng, nuôi dưỡng rừng, làm giầu rừng, nông lâm kết hợp cho từng đối tượng
- Xác định mạng lưới đường
Phần kế hoạch tác nghiệp
- Kế hoạch khai thác cho một luân kỳ 35 năm
- Kế hoạch tác nghiệp cho 5 năm trước mắt
- Trong kế hoạch khai thác tính toán diện tích, sản lượng được phép khai thác hàng năm, xác định tiểu khu đưa vào khai thác trong 5 năm đầu
Trang 22- Sau 5 năm thực hiện sẽ được phúc tra lại về tài nguyên, đánh giá tình hình thực hiện và xây dựng lại kế hoạch cho giai đoạn 5 năm tiếp theo
Ưu điểm của phương án là cơ sở tốt để quản lý rừng, đặc biệt là khai thác, nó
trả lời được 5 câu hỏi cho người quản lý là làm gì (khai thác, trồng rừng, chăm sóc, xây dựng hạ tầng…); ở đâu (ở lô, khoảnh, tiểu khu nào); bao nhiêu (khối lượng công việc); vào thời điểm nào (thời gian thực hiện) và làm như thế nào (biện pháp
kỹ thuật, kinh tế, tài chính, nhân lực…)
Tuy nhiên vẫn tồn tại những khiếm khuyết trong việc lập và thực hiện kế hoạch khai thác như: mới chú trọng nhiều đến QLRBV về mặt kinh tế, còn bền vững về mặt xã hội và môi trường chưa được quan tâm đầy đủ; Về mặt kỹ thuật, các chỉ tiêu kỹ thuật khai thác mới chỉ được xác định dựa vào kinh nghiệm trong và ngoài nước, chưa được nghiên cứu để có một cơ sở khoa hoặc chắc chắn; Chưa xác định chính xác lượng tăng trưởng rừng và không đủ điều kiện để xác định chính xác trữ lượng rừng, dẫn đến không xác định được chính xác lượng khai thác (yếu tố
quan trọng bảo đảm khai thác rừng bền vững)
Đặc biệt trong lập kế hoạch chưa chú ý đến xác định các khu vực loại trừ, chưa xác địa hệ thống đường cho toàn bộ các khu khai thác, mặc dầu đã được quy định trong hướng dẫn xây dựng phương án điều chế Các phương án bảo vệ hệ sinh thái đặc thù, bảo vệ đa dạng sinh học…được xác định rõ ràng
1.3 Tha ̉ o luâ ̣n
Trên thế giới, QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến và hàng loạt quốc gia đang phát triển có rừng tự nguyện tham gia Trong khi phần lớn diện tích rừng được cấp ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ thì CCR ở khu vực Nam Mỹ, Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Phi tiến rất chậm Trình độ quản lý rừng thấp, nguồn lực cải thiện quản lý, thêm đó là chi phí cho CCR khá cao là một trong những hạn chế để các chủ rừng ở các lục địa này tiến tới cấp chứng chỉ
Ở Việt Nam, khi chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường sang phương thức QLRBV đòi hỏi sẽ phải thay đổi một loạt khuôn khổ chính sách ở cấp
Trang 23trung ương; thái độ, quan điểm và sự đồng thuận của các sơ sở sản xuất kinh doanh lâm nghiệp và ngay cả người dân địa phương Tính phức tạp không chỉ thể hiện trên khía cạnh chính sách, công nghệ mà còn về sinh thái, kinh tế, xã hội, đặc biệt là nhận thức về CCR Việc xác định các tiêu chuẩn QLRBV cho mỗi hệ sinh thái của Việt Nam gặp khó khăn do tính đa dạng phức tạp của nó Các lợi ích từ quản lý và bảo vệ rừng chưa hấp dẫn người dân sống trong vùng rừng nên sự tham gia của họ còn rất hạn chế Nguồn vốn cho các hoạt động còn thiếu, thiếu cả cơ chế đảm bảo tham gia của các đối tượng hữu quan vào quản lý rừng Chi phí để đạt tiêu chuẩn CCR lại quá cao, cao hơn so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ
Nhưng cần nhìn vào lợi ích trong tương lai, QLRBV là xu thế tất yếu đối với đơn vị kinh doanh lâm nghiệp Kinh nghiệm của Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn cho thấy có việc được chứng nhận FSC, khi có chứng nhận FSC thì việc kinh doanh của ho ̣ đã có thêm nhiều thuận lợi, đă ̣c biê ̣t là được khách hàng chú ý nhiều hơn Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hoá đem lợi ích đến không chỉ cho doanh nghiệp chế biến lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng nhiều quyền lợi khi có được chứng nhận này Những khó khăn trở ngại nêu trở thành những thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch QLRBV là bước ban đầu rất quan trọng
Đánh giá quản lý rừng phải căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV, nhưng vận dụng các tiêu chuẩn này cho các đơn vị cần linh hoạt, theo điều kiện thực tế đang
có Mục tiêu của CTLN Yên Sơn là quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Công ty chưa có đánh giá nào về quản lý rừng của mình theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, cũng như chưa có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá nào
của các chuyên gia Đề tài “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và
lập kế hoạch quản lý tiến tới CCR tại Công ty lâm nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang” nhằm hỗ trợ Công ty tự đánh giá công tác quản lý rừng của mình để thay
đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR
Trang 24CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
- Lập được KHQLR trong giai đoạn 1 chu kỳ kinh doanh
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
- Đánh giá QLR theo 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí của FSC Việt Nam
- Xác đi ̣nh các khiếm khuyết trong quản lý rừng của Công ty và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.2.2 Đa ́ nh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Viê ̣t Nam
- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo yêu cầu của Việt Nam
- Xác đi ̣nh các khiếm khuyết trong chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.2.3 Đa ́ nh giá điều kiê ̣n cơ bản và lâ ̣p kế hoa ̣ch quản lý rừng cho Công ty
2.2.3.1 Đa ́ nh giá các điều kiện cơ bản
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện KTXH
- Kết quả quản lý rừng
- Đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản
Trang 252.2.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng
1) Căn cứ lập kế hoạch:
- Chức năng, nhiệm vụ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang giao cho Công ty
- Yếu tố thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Yên Sơn
- Kết quả phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản của Công ty
2) Xa ́ c đi ̣nh mục tiêu quản lý rừng
- Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học
- Kế hoa ̣ch giảm thiểu tác đô ̣ng môi trường
- Kế hoa ̣ch giảm thiểu tác đô ̣ng xã hô ̣i
- Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
- Kế hoạch nguồn nhân lực
- Kế hoạch giám sát, đánh giá
- Kế hoạch huy động nguồn vốn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Quan điểm, phương pha ́ p luâ ̣n nghiên cứu
- QLRBV là phương thức quản lý rừng tiên tiến là mu ̣c tiêu chính, CCR là
kết quả của QLRBV
- Đánh giá quản lý rừng căn cứ vào tiêu chuẩn QLRBV, nhưng có vâ ̣n du ̣ng
vào điều kiê ̣n thực tế
- Công ty tự đánh giá có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá
của chuyên gia
- Công ty phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR
- Lập KHQLR có tham gia (tư vấn và chủ rừng)
Trang 262.3 2 Ca ́ c phương pháp nghiên cứu cu ̣ thể
2.3.1.1 Đánh giá quản lý rừng
- Phạm vi đánh giá: đánh giá toàn diện công tác quản lý rừng (bao gồm cả
hoạt động sản xuất kinh doanh) thông qua các tiêu chuẩn
- Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá: Bộ Tiêu chuẩn QLRBV- FSC Việt nam
gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và 160 chỉ số Các tiêu chuẩn được cụ thể hoá bằng các tiêu chí và được thể hiện chi tiết bằng các chỉ số và các nguồn kiểm chứng
Nhóm tiêu chuẩn KTXH
1) Tiêu chuẩn 1- Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC
2) Tiêu chuẩn 2-Quyền và trách nhiệm sử dụng đất;
3) Tiêu chuẩn 3- Quyền của người dân sở tại
4) Tiêu chuẩn 4- Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân
5) Tiêu chuẩn 5- Những lợi ích từ rừng
- Chuỗi hành trình sản phẩm
Nhóm tiêu chuẩn lâm nghiệp và môi trường:
6) Tiêu chuẩn 6- Tác động môi trường;
7) Tiêu chuẩn 7- Kế hoạch quản lý;
8) Tiêu chuẩn 8- Giám sát, đánh giá;
9) Tiêu chuẩn 9- Duy trì những khu rừng có giá trị bảo tồn cao
10) Tiêu chuẩn 10- Rừng trồng
Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giá trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường, tham vấn
- Thu thập các thông tin về các yếu tố tác động đến quản lý rừng
Quy trình đánh giá quản lý rừng tại CTLN Yên Sơn tổng hợp như sau
Trang 27Hình 2.1: Sơ đồ quy trình đánh giá quản lý rừng tại CTLN Yên Sơn
1) Lập kế hoạch nội bộ ban đầu
- Tổ chức cuộc họp nội bộ: nắm bắt khái quát quá trình đánh giá; lên thời gian biểu và phân công nhiệm vụ các nhóm đánh giá; lập danh sách tổ chức cá nhân cần tham vấn; câu hỏi phỏng vấn; lịch phỏng vấn
- Lập danh sách hiện trường
- So sánh văn bản, tài liệu với yêu cầu của bộ Tiêu chuẩn FSC VN
3) Tham vấn các bên liên quan:
+ Nhóm môi trường: Phòng tài nguyên môi trường, các tổ chức bảo tồn + Cơ quan nhà nước: Hạt kiểm lâm, Tài chính, Thuế, UBND xã, các phòng ban chức năng của Công ty
+ Cộng đồng: dân cư sống quanh đơn vị, những hộ được giao đất lâm nghiệp liền kề, những hộ có tranh chấp đất đai với đơn vị
Trang 28Các câu hỏi đã được lập sẵn xoay quanh các vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệ rừng theo các tiêu chuẩn QLRBV của FSC, chuỗi hành trình sản phẩm
4) Khảo sát hiện trường:
Khảo sát hiện trường thực hiện sau khi đã xem xét các kế hoạch quản lý ban đầu và tham vấn các bên liên quan Không tới hiện trường khi không đủ những thông tin cơ bản về các hoạt động quản lý rừng
- Khi họp với cơ quan nhà nước cần bao quát các chủ đề pháp luật; sự tuân thủ của chủ rừng (quy định quản lý đất đai, nộp thuế, BHXH ); danh sách loài quý hiếm địa phương; danh sách hóa chất bị cấm hoặc hạn chế dùng
- Khi họp với các tổ chức môi trường, cộng đồng cần bao quát vấn đề: những khu vực có tranh chấp; các trường hợp có tác động liên quan đến hoạt động của chủ rừng và tổ chức khác; xem xét những loài có nguy cơ bị đe doạ; hóa chất bị cấm; kết quả nghiên cứu hiện tại có tác dụng gì với việc quản lý của chủ rừng
Các câu hỏi đánh giá:
- Đặt những câu hỏi mở, không đặt những câu hỏi dẫn dắt (mớm lời), không thay 180 độ đổi chủ đề khi câu trả lời chưa rõ ràng
- Kiên nhẫn khi hỏi, đưa cùng một câu hỏi cho nhiều người khác nhau (thu được ý kiến đa chiều cho cùng một sự việc)
5) Cho điểm các tiêu chuẩn
Định ra điểm số ban đầu cho các tiêu chí đánh giá, ngay trong quá trình thảo luận tại thực địa Tổng hợp điểm từ:
Điểm bằng chứng chỉ số tiêu chí tiêu chuẩn
Trang 29- Cho điểm đánh giá trong phòng: với các tiêu chí liên quan tới thu thập, lưu trữ các tài liệu, văn bản pháp luật; văn bản cam kết; bản đồ; các loại hợp đồng chiến lược phát triển; kế hoạch quản lý; các báo cáo; danh mục; quy ước
- Cho điểm đánh giá ngoài hiện trường: với các tiêu chí cần kiểm tra việc thực hiện có đúng với kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã nêu trước đó hay không
- Cho điểm tham vấn: với các tiêu chí cần ý kiến của các bên liên quan với chủ rừng để kiểm tra tình hình quản lý của chủ rừng như thế nào; kiểm tra mối liên
hệ giữa chủ thể và chủ rừng, mối quan tâm của chủ thể và những hoạt động quản lý của chủ rừng và chủ rừng đã lý giải như thế nào để giải quyết tranh chấp hoặc làm
rõ những mối liên hệ
Người đánh giá sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số QLRBV của Việt Nam để đánh giá và cho điểm
Mẫu phiếu 1: Phiếu đánh gía tiêu chuẩn , tiêu chí và chỉ số
quản lý rừng bền vững tại CTLN Yên Sơn
Họ tên người đánh gía: Ngày tháng năm 2010
(TP: trong phòng; HT: hiện trường; TV: tham vấn; TB: trung bình )
Cột (4) mô tả việc thực hiện chỉ số: đã thực hiện/chưa thực hiện như thế nào Cột (5) (6) (7) là điểm số đánh giá trong phòng, hiện trường, tham vấn Cột (8) là điểm trung bình
Cột (9) mô tả nguyên nhân lỗi không tuân thủ, khả năng khắc phục
6) Xác định các lỗi không tuân thủ
- Kết luận những nội dung của từng tiêu chuẩn nào chưa làm được, hoặc còn yếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục
Trang 30Lỗi lớn: lỗi không được cấp chứng chỉ, điểm trung bình tiêu chuẩn <5,6 các
tiêu chí ít được thực hiện
Lỗi nhỏ: hầu hết các tiêu chí của tiêu chuẩn được thực hiện
Mẫu phiếu 2: Kết quả tổng hợp khiếm khuyết và khuyến nghị khắc phục
Họ tên người tổng hợp:
7) Viết báo cáo đánh giá
2.3.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm CoC
Phương pháp đánh giá và hệ thông cho điểm của đánh giá chuỗi hành trình
sản phẩm tương tự với phương pháp đánh giá quản lý rừng
Mẫu phiếu 3: Phiếu đánh giá chuỗi hành trình sản phẩmtại CTLN Yên Sơn
Họ tên người đánh gía: Ngày tháng năm 2010
a Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty
1) Kế thừa tài liệu:
Yêu cầu của tài liệu kế thừa do tổ chức có chức năng ban hành; mới nhất;
đảm bảo độ chính xác và sát theo yêu cầu của luận văn Các tài liệu gồm:
- Điều kiện tự nhiên, KTXH của Công ty
- Tài liệu liên quan đến tình hình quản lý, sử dụng rừng từ trước đến nay:
Trang 31- Về kế hoạch: văn bản kế hoạch hiện có; kế hoạch quản lý, kinh doanh hàng năm; kế hoạch khai thác vận chuyển; mở mang đường vận chuyển
- Về đất đai tài nguyên: Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng; Diện tích rừng trồng hàng năm, trữ lượng rừng, đánh giá đa dạng sinh học và rừng có giá trị bảo tồn cao
- Về tổ chức: sơ đồ tổ chức bộ máy, danh sách cán bố, chức vụ
- Về tài chính: danh sách các khoản nộp thuế ngân sách nhà nước, bảo hiểm
xã hội; tổng kết tài chính các năm; tổng kết tài chính 5 năm trở lại
- Các chính sách, quy định của Nhà nước và địa phương liên quan đến quản
lý rừng đã ban hành
2) Tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin cơ bản của Công ty
- Tổng hợp, phân tích điều kiện tự nhiên, KTXH
- Tổng hợp phân tích hiện trạng tài nguyên rừng
- Tổng hợp phân tích các mặt được và chưa được của tình hình quản lý Điều tra chuyên đề:
3) Đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường do cơ quan dịch vụ có chuyên môn cao tiến hành Các tác động môi trường gồm: tác động trực tiếp; tác động gián tiếp; tác động tích cực; tác động tiêu cực Cụ thể:
- Không khí : bụi, tiếng ồn, thành phần CO, CO2, SO2, NH3, … ô nhiễm
- Nước: nước mặt, nước ngầm, số lượng, chất lượng, ô nhiễm, hoá chất ( pH,
DO, COD, TDS, SS, SO4, PO4 BOD5, N-NO3, Fe, Hg, As, Cd, Pb,Cu, Zn, Coliform )
- Biến động môi trường như lũ lụt, hạn hán, cháy
- Đất: xói mòn, rửa trôi, bồi lắng, feralite, ô nhiễm hoá chất
- Môi trường sinh thái: ĐDSH, nguy cấp tuyệt chủng, môi trường sống
Đánh giá cụ thể về các tác động trực tiếp và gián tiếp của các hoạt động cụ thể và mức độ gây hại:
- Tác động có thể xảy ra ở trồng rừng: chất thải vô cơ, khí thải ô nhiễm
Trang 32- Khai thác rừng: xói mòn Khí thải, tiếng ồn…
- Vận chuyển cây giống, duy tu bảo dưỡng đường: bụi, khí thải, cản trở giao thông đi lại trong khu vực, hư hỏng đường…
- Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật: chất thải, chất độc…
- Cháy rừng: ô nhiễm không khí, đa dạng sinh học…
4) Đánh giá tác động xã hội
Đánh giá tác động xã hội là sự phân tích những điều xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định Nó nhìn lại những tác động xã hội đã xảy ra do các hoạt động trước đây gây nên
- Các bước chính để đánh giá tác động xã hội:
+ Thống nhất về các tác động xã hội tích cực mà bạn muốn đạt tới + Phát hiện có các tác động xã hội khác và ai ảnh hưởng đến chúng + Thảo luận những tác động này với những người bị ảnh hưởng + Hành động giảm bớt các tác động tiêu cực theo quản lý rừng
- Các vấn đề cần tìm ra dựa trên tham vấn:
+ Đối tượng nào có thể bị ảnh hưởng + Mức độ ảnh hưởng
+ Cách giảm bớt tác động Tìm hiểu chính xác ảnh hưởng tích cực và tiêu cực mà quá trình sử dụng rừng gây ra đối với người khác Vấn đề đó bao gồm nhiều lĩnh vực như: tuyển dụng, sức khỏe, sử dụng đất, ô nhiễm, quản lý dòng nước
Tham khảo ý kiến của người dân, những người bị ảnh hưởng trực tiếp từ
hoạt động lâm sinh, không thu thập những thông tin không cần Thảo luận giải
quyết vấn đề
b Lập kế hoạch theo phương pháp tham gia
Công ty tự lập kế hoạch quản lý rừng, có sự hỗ trợ tư vấn của chuyên gia theo hướng đảm bảo sản lượng rừng ổn định và bền vững KHQLR chủ yếu tập trung vào kế hoạch khai thác và trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy theo phương pháp cấp tuổi
Trang 33Xử lý, tính toán số liệu
Tính hiệu quả kinh tế: coi các yếu tố về chi phí và kết quả là mối quan hệ động với mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền
Trong đó: - NPV à giá rị hu n ập hiện ạiròngg
- Bt : Giá trị thu nhập tại thời điểm t bao gồm toàn bộ những gì mà DA
thu được
-Ct :Giá trị chi phí tại thời điểm t bao gồm những gì mà DA bỏ ra
- t : Thời gian ( t = 0,1,2,3 )
- n: Số năm hoạt động trong chu kỳ của dự án (8 năm)
- IRR: tỷ lệ thu hồi nội bộ là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có
kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu Khi NPV = 0 thì i = IRR
- BCR: tỷ lệ thu nhập so với chi phí là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên đơn vị chi phí sản xuất
Trang 34CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA CÔNG TY LÂM NGHIỆP YÊN SƠN 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Ranh giới và vị trí địa lý:
Yên Sơn là một huyện miền núi, nằm về phía Đông Nam của tỉnh Tuyên Quang CTLN Yên Sơn đóng trên địa bàn 8 xã thuộc khu vực An toàn khu của huyện Yên Sơn gồm: xã Tiến Bộ, xã Thái Bình, xã Phú Thịnh, xã Công Đa, xã Đạo Viện, xã Trung Sơn, xã Kiến Thiết và xã Kim Quan
- Về ranh giới:
- Phía Bắc : giáp huyện Chiêm Hoá
- Phía Đông: giáp huyện Định Hoá
- Phía Nam : giáp huyện Sơn Dương
- Phía Tây : giáp Sông Lô và thị xã Tuyên Quang
- Vị trí địa lý: CTLN Yên Sơn nằm trong vùng Đông bắc bộ ở vị trí 21045’ -
21055’độ vĩ bắc; 105015’ - 105030’ độ kinh đông
3.1.2 Địa hình địa thế:
Chủ yếu là kiểu địa hình đồi núi, bị chia cắt bời nhiều suối, khe Toàn khu vực có độ cao trung bình là 350 m Địa thế nhiều dốc trung bình dưới 300, độ dốc lớn nhất là 450
Các nhóm đất phát triển từ các loại đá mẹ sa phiến thạch và phiến thạch sét
là một quỹ đất tiềm năng, phù hợp với sản xuất lâm nghiệp và nông lâm kết hợp
Tổng diện tích Công ty quản lý và sử dụng là 5857,38 ha, giao cho các đội sản xuất đóng trên các xã quản lý như sau:
Trang 35Biểu 3.1: Phân bố diện tích đất đai của Công ty ở các xã STT Tên xã Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Đội quản lý
- Khu vực thường có gió bão từ tháng 7 đến tháng 8, xuất hiê ̣n sương muối
từ tháng 11 đến tháng 12
- Độ ẩm trung bình khoảng 80% Lượng mưa tập trung vào tháng 7-tháng 8, lượng mưa bình quân đạt 1.700 – 1.800mm, lượng mưa bình quân tháng cao nhất : 230mm, lượng mưa tháng thấp nhất: 100mm
- Nhiệt độ bình quân từ 22 - 25oC, tối đa: 39 - 40C, thấp nhất 12 -14C
b Thuỷ văn: Trong khu vực có 2 hệ thống sông là : Sông Lô và sông Phó Đáy
Ngoài ra còn có các ngòi, suối nhỏ tạo thành mạng lưới sông, suối tương đối dày
3.1.5 Tài nguyên động thực vật rừng
- Thực vâ ̣t: Nhìn chung, tài nguyên thực vật trong vùng rất đa dạng và phong phú, tầng tán chính trong rừng tự nhiên vẫn còn nhiều cây gỗ lớn như Nghiến, Táu các loại thuộc họ tre, nứa; các loài cây trồng trong rừng trồng chủ yếu là Mỡ
và Bồ đề và Keo Dưới tán rừng là tầng cây bụi thảm tươi gồm rất nhiều loài cây
Trang 36thuộc các họ như: họ Cà phê, họ Trúc đào, họ Sim mua, họ Thầu dầu ngoài ra tham gia vào tầng tán rừng còn có các quần phiến dây leo,quần phiến dây phụ sinh,quần phiến cây ký sinh
- Động vật rừng cũng khá phong phú với nhiều loài chim thú khác nhau Tuy nhiên ở đây vẫn chưa phát hiện những loài quý hiếm trong sách đỏ của quốc gia và thế giới
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Hiện trạng dân số, dân tộc, lao động,việc làm thu nhập
- Dân số: địa bàn Công ty quản lý thuộc địa bàn có gần 27000 nhân khẩu,
trong đó hơn 12000 lao động Mật độ phân bố không đều, phần lớn tập trung sống gần ven đường quốc lộ 379 và quốc lộ 2C, còn lại sống rải rác xen kẽ những khe
lạch nhỏ
- Dân tộc: dân tộc Kinh chiếm 25,3%, dân tộc Tày 25%, còn lại 49,7% là các
dân tộc Nùng, Dao, Cao Lan Trước đây tập quán canh tác của họ đơn giản, sản xuất nông nghiệp đơn thuần nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn Nhưng được sự
hỗ trợ Nhà nước triển khai các công trình thủy lợi, kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất nên những năm gần đây đời sống của họ đã no đủ hơn
- Số lao động có tên trong biên chế của đơn vị : 183 người
- Lao động có việc làm thường xuyên : 149 người
- Thu nhập bình quân 2,75triệu đồng/người/tháng
3.2.2 Y tế và và giáo dục
- Y tế : có 1 bệnh viện đa khoa An toàn khu cách trụ sở Công ty 1 km về
hướng thị xã Tuyên Quang Bệnh viện có 15 bác sĩ, 60 y tá và y sĩ Tất cả các xã cũng đã có trạm xá, cán bộ y tế ở các thôn bản đảm bảo cho việc phục vụ khám
chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ các bệnh thông thường cho nhân dân
- Giáo dục: có một trường cấp III và các xã đều có trường cấp I+II và mạng
lưới phân trường, mở lớp đến tận thôn bản Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, hàng năm đều được cử đi tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn
Trang 373.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng
3.2.3.1 Cơ sở hạ tầng của Công ty
Trụ sở chính của Công ty nằm ở xã Trung Sơn, là một công trình nhà kiên cố
3 tầng với nhiều phòng ban chức năng, còn các trạm sản xuất đóng ở các xã Bên cạnh trụ sở còn có nhà khách và 2 dãy nhà tập thể dành cho công nhân viên
3.2.3.2 Giao thông
Trong vùng có tuyến đường Quốc lộ 379, Quốc lộ 2C, ngoài ra còn có mạng lưới đường giao thông liên xã, liên thôn Đường ô tô đã đến được tất cả các xã trong vùng thuận lợi vận chuyển hàng hoá, song các đường này do vận chuyển nhiều nên
bị hư hỏng, cần được thường xuyên duy tu, bảo dưỡng và sử chữa hàng năm
3.2.3.3 Thủy lợi
Các công trình thuỷ lợi, hồ đập lớn và hệ thống kênh mương nội đồng đã và đang được kiên cố hoá Đến nay tất cả các xã trong vùng đã có điện lưới quốc gia và 80% dân số được sử dụng điện
3.3 Tình hình quản lý, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
3.3.1 Sự hình thành Công ty lâm nghiệp Yên Sơn
CTLN Yên Sơn được thành lập vào tháng 3 năm 1974, tiền thân là Lâm trường Tân Tiến Đến năm 2009, Lâm trường Yên Sơn đổi tên thành Công ty lâm nghiệp Yên Sơn Từ năm 1974 đến 1972 nhiệm vụ lâm trường là quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng, trồng rừng nguyên liệu giấy phục vụ cho nhà máy giấy Bãi Bằng, khai thác gỗ phục vụ cho công tác xây dựng, sản xuất đồ mộc, gia dụng Từ năm 1993, thực hiện cơ chế đổi mới nền kinh tế của Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang hạch toán kinh doanh độc lập Hiện nay Công ty lâm nghiệp Yên Sơn
là Công ty nhà nước độc lập thuộc UBND tỉnh Tuyên Quang hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp nhà nước, các luật khác có liên quan và điều lệ Công ty Công ty có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước, các ngân hàng theo quy định của pháp luật Cơ cấu tổ chức:
Trang 38Hình 3.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty lâm nghiệp Yên Sơn
Ghi Chú:
Quan hệ chỉ đạo trực tiếp Quan hệ phối hợp chức năng Nhiệm vụ chính của Công ty:
- Quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
- Sản xuất kinh doanh rừng
- Làm dịch vụ sản xuất cây giống cho toàn vùng
- Làm chủ các dự án đầu tư
3.3.2 Hiện trạng tài nguyên rừng
Theo Quyết định số 310/QĐ-CT ngày 26 tháng 02 năm 2007 của Uỷ ban
nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc phân 3 loại trên địa bàn tỉnh, diện tích rừng
Công ty quản lý được phân chia như sau:
Biểu 3.2: Phân chia các loại rừng CTLN Yên Sơn quản lý
Trang 393.3.2.2.Rừng tự nhiên
Diện tích rừng tự nhiên là 3159,64 ha Rừng tự nhiên sản xuất là 2936,74 ha còn lại là rừng tự nhiên phòng hộ Nhìn chung trạng thái rừng chủ yếu là nghèo kiệt đang phục hồi, ít tính đa dạng sinh học, trữ lượng thấp
3.3.3 Hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
3.3.3.1 Trồng rừng
Diện tích rừng Công ty trồng là 2.433,66 ha, diện tích trồng rừng sản xuất là 2040,36 ha và diện tích rừng trồng phòng hộ là 403,3 ha Trước đây vốn trồng rừng của Công ty do nhà nước cấp Những năm trở lại đây, Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh, hoạt động trồng rừng của Công ty chủ yếu nhờ vào nguồn kinh phí do bán lâm sản, các nguồn của các dự án nhà nước như dự
án 661, 327 Năm 2008, diện tích rừng trồng đạt 220 ha, năm 2009 đạt 276,6 ha Hầu hết loài cây được trồng là Keo lai
Công ty đã rà soát đất đai và đang tiến hành việc giao đất, giao rừng cho các
hộ gia đình, tổ chức và các đơn vị quản lý sử dụng Xong công tác quy hoạch, phân mục đích sử dụng đất rừng còn nhiều bất cập nên việc giao đất chưa hoàn thành Thường xảy ra việc tranh chấp đất đai giữa người dân và công ty Diện tích đất trồng rừng phòng hộ hiện do lực lượng khuyến lâm bảo vệ nhưng thực chất thì rừng
là của dự án, đất là của dân nên rất khó khăn trong công tác quản lý
3.3.3.2 Khoanh nuôi bảo vệ rừng
Sau khi có chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đóng cửa rừng
tự nhiên, Công ty đã xác định khoanh nuôi bảo vệ rừng là vấn đề quan trọng, phải
Trang 40ngăn chặn khai thác rừng trái phép, đốt rừng làm rẫy, lấn chiếm đất rừng bằng lực lượng các đội bảo vệ phối hợp Kiểm lâm, Công an và chính quyền các xã
3.3.3.3 Khai thác và chế biến lâm sản
Nguồn khai thác lâm sản chủ yếu là rừng trồng Trung bình mỗi năm Công ty khai thác từ 13.000- 14.000m3 gỗ cung cấp cho nhà máy giấy Bãi Bằng, Công ty lâm sản Tuyên Quang Trong tương lai, gỗ Công ty còn là nguồn nguyên liệu cho nhà máy giấy An Hòa
3.4 Đánh giá chung
3.4.1 Công tác quản lý rừng và tổ chức quản lý trong 5 năm qua
- Công tác quản lý rừng và đất rừng được thực hiện tốt, giải quyết tương đối tốt với những tranh chấp, xâm lấn đất đai
- Diện tích đất được phủ kín bằng rừng trồng và rừng tự nhiên khoanh nuôi,
độ che phủ của rừng hơn 90% đã nâng cao tác dụng của rừng tới điều hòa nguồn nước suối, hồ đập, chống xói mòn, hạn hán, lũ lụt, sạt lở
- Tạo việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi trong địa phương, đã tham gia vào việc chuyển giao kỹ thuật thâm canh trồng rừng tới nhân dân trong địa bàn
- Sản lượng rừng thấp Từ năm 2002, Công ty đã trồng loài Keo lai sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện lập địa, theo hướng thâm canh
3.4.2 Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội
3.4.2.1 Những thuận lợi:
- Đất đai phù hợp với nhiều loài cây lâm nghiệp, cây công nghiệp
- Là vùng trung tâm cung cấp nguyên liệu giấy cho nhà máy giấy An Hoà lại
có điều kiện tự nhiên thuận lợi để trồng rừng kinh doanh nguyên liệu giấy như: Gần nhà máy giấy, vận chuyển lâm sản bằng đường bộ, đường thuỷ dễ dàng
- Lao động nông, lâm nghiệp chiếm 83% tổng số lao động và bằng 43,9% dân số trong vùng nên có nguồn lao động dồi dào để xây dựng dự án
- Điều kiện cơ sở hạ tầng trong vùng phát triển như: Điện lưới tới xã, hệ thống đường giao thông thuận tiện và vị trí khu vực dự án gần nhà máy giấy nên việc giao lưu với thị trường, tiêu thụ lâm sản khá thuận lợi